1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế định hợp đồng trong bộ luật dân sự việt nam

100 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 25,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức công xã nguyên thuý tan rã và sự hình thành nhà nước Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra những chuyến biên vô cùng lớn lao vé kinh tế-xã hội.. - Trong các cộng đổng, n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

Chủ biênPHẠM ĐIỀM và ThS v ũ THỊ NGA

thể tác giảTập

Trang 3

LÒI (ỈIỚI THIỆU

Nlià Iiước và pháp luật 1(1 hiện tượng xã hội vỏ CÙHÌỊ phức tạp, luôn biến dộng và có những tliay đổi to lớn troiiíỊ những nâm IỊần đáy Nhận thức về lìlià nước và pháp luật đóng vai trồ rất quan trọng trong nliận thức của cán bộ và nhân dân

về xã hội, clứnli trị, vân hỏa Nliận thức đó giúp cho việc liếp cận và giải quyết một cách đúng đắn các vấn đê thực tiễn vé nhà nước và pliáp luật.

Mật trong những lìội dung quan trọng của khoa liọc vê nhà nước và pháp luật là Lịch sử nhà nước và pháp luật tliẻ

ý ới M òii học này trình bày nliững vấn để CƯ bản vé lịcli sử

Iilu) nước và pháp luật qua các thời kì: Chiếm hữu nỏ lệ, pluuiq kiến, tư sán và xã hội chú nghĩa.

D ể đáp ứììg nhu cáu dào tạo, học tập và tìm hiểu vê nhá Iiước và pháp luật, Trường đại học luật Hà Nội xuất

bản cuốn Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thê

giới Cuốn sách sẽ là tài liệu bô ích đối với các sinh viên luật ííược đào tạo dưới những hình thức khác nhau; các cán bộ làm công tác pliáp lí, công tác quán lí cũng như Iiltữnạ ai muốn tìm hiểu một cách cỏ hệ thống về nhà Iiước

và pháp luật.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc

TRUỒNG ĐAI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 4

PHẦN THỨ NHẤT

Sự TAN RÁ CỦA CÔNG XÃ NGUYÊN THUỶ - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

I TỔ CHỨC CỦA CÔNG XÃ NGUYÊN THUỶ

Việc nghiên cứu tổ chức của công xã nguyên thuỷ góp phần lý giải nguổn gốc của nhà nước và pháp luật, đổng thời

để hiểu rõ những tàn dư của nó trong xã hội có nhà nước.Trải qua hàng triệu năm sống thành bầy, vé sau con người bước vào xã hội có tổ chức cao hơn, đó là công xã nguyên thuỷ (cách ngày nay khoảng 40.000 năm)

Từ quan hệ tạp hôn, con cái chỉ biết mẹ, dần dần trong quan hệ hôn nhân diễn ra sự biến đổi quan trọng: những người cùng dòng máu mẹ không được kết hôn với nhau

Những người này hợp thành một cộng đổng gọi là thị tộc

Như vậy, thị tộc được hợp thành do quan hệ huyết thống Về kinh tế, thị tộc hình thành do quá trình phát triển của lực

lượng sản xuất Tliị tộc là lùnh thái xã hội cơ bán của công

xã nguyên thuỷ vì từ nó mà hợp thành các hình thái tổ chức khác (hào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc) Thị tộc phát triển qua hai giai đoạn: Thị tộc mẫu hệ (chế độ mẫu quyền) thị tộc phụ hệ Trong thị tộc phụ hộ, chê độ hôn nhân một vợ

Trang 5

dòng họ cha, và đó là chế độ phụ quyến Thị tộc có ruộng đất, rừng rú, có tên gọi riêng, (theo tên cây cò chim thú), eo khu vực cư trú ricng Việc quản lý điều hành hoạt dộng cua

thị tộc do til trường và thủ lĩnh quân sự đám đương Những

người này do các thành viên của thị tộc bầu ra

Một sổ thị tộc có quan hệ hỏn nhân với nhau hợp thành một bào tộc Bào tộc có vai trò quan trọng, như thực hiện các lễ nghi tôn giáo và hội hè, tổ chức lực lượng vũ trang bảo vệ bộ lạc,

Một sô bào tộc hợp thành một bộ lạc Bộ lạc có tên gụi nơi ở, tiêng nói, phong tục tập quán, ruộng đất riêng Đứng đầu bộ lạc là tù trưởng bộ lạc do hội nghị hộ lạc bau

ra Tù trướng bộ lạc có quyền giải quyết những công việc cần kíp, không quan trọng giữa hai kỳ hội nghị bộ lạc và

có quyển triệu tập hội nghị Hội đồng bộ lạc bao gom: tù trướng bộ lạc, các tù trướng và thủ lĩnh quân sự của thị tộc Đến thời kỳ thị tộc phụ hệ, quản lý công việc của thị tộc là một trướng lão có tông tộc cổ nhất trong thị tộc Ncn hội đồng bộ lạc còn được gọi là: hội đồng trưởng lão Hội đồng bộ lạc có quyền thảo luận, quyết định những vấn (lề quan trọng của bộ lạc như tuyên chiến, đình chiến, cứ sứ giả của bộ lạc mình hoặc tiếp sứ giả của bộ lạc khác, chia chiến lợi phẩm V.V

Dần dần, một sô bộ lạc liên kết với nhau, tạo thành liên minh bộ lạc Hội đồng liên minh bộ lạc gồm những tù trưởng của các bộ lạc và các thị tộc Hội đồng thảo luận và quyết nghị những công việt của Hên minh theo phưưng thút dan chủ Mọi quyết nghị phải được sự nhất trí hoàn toàn cùa các thành viên Các quyết nghị đó khi đưa về các hộ lạc

Trang 6

cũny phái được hội đồng hộ lạc tán thành thì mới có hiệu lực Liên ninh bộ lạc có hai thù lĩnh tối cao, không ai hưn ai

vé quyển hạn và chức trách

Như vậy, trong chế độ công xã nguyên thuý, thị tộc, bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc là những hình thức tổ chức xã hội vừa có mỏi quan hệ chật chẽ với nhau, vừa có vai trò và

tổ chức quin lý khác nhau

Trong 3hạm vi từng cộng đổng, mọi thành viên đểu có nghĩa vụ vi quyển lợi như nhau (kể cả các thủ lĩnh) Cái bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi thường hàng sự tự nguyện hoác bằng áp lực của dư luận cộng đồng Quyén hạn của các thủ lĩnh, do cộng đổng trao cho, mang tính xã hội, chưa phải là quyén lực chính trị

II TỔ CHỨC' CÔNG XÃ NGUYÊN THUỶ TAN RẢ

VÀ S ự HĨNH THÀNH NHÀ NƯỚC ĐẶC ĐlỂM c o n

ĐƯỜNG HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC ở PHƯƠNG ĐÔNG

1 Tổ chức công xã nguyên thuý tan rã và sự hình thành nhà nước

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra những chuyến biên vô cùng lớn lao vé kinh tế-xã hội Công xã nguyên thuỷ lâm vào vòng suy sụp và tan rã, nhường bước cho sự ra đời của nhà nước

Kim loti được dùng để chê tạo công cụ sản xuất đã mớ

ra thời đại ( v i m kill Từ đây năng suất lao động có bưức phái triển nhảy \ọt Những dấu vết của việc chê tạo công cụ đổng sớm nhất h ện nay chúng ta biết được là thuộc thiên niên kỷ

Trang 7

thứ IV TCN, cư dân Lưỡng Hà, Ai Cập dùng nhiều công cụ đổng trong sản xuất và đời sông Khoáng nứa cuối thiên

niên kỷ thứ II TCN, vùng Tây Nam Á và Ai CẠp xuất hiện nghé luyện sắt và công cụ sắt được sử dụng Những công cụ bằng kim loại (nhất là công cụ sắt) cùng với kinh nghiệm sản xuất của con người tích luỹ được, đã tạo nén bước phát triển nhảy vọt trong trồng trọt và nghé thù công Nhiều vùng

ở Bấc Phi và Châu Á, cư dân còn biết làm những công trình thuỷ lợi để tưới tiêu nước Trồng trọt phát triển đã thúc đấy nghề chăn nuôi cũng phát triển Do vậy dần đến sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất: nghề trồng trọt và nghề chăn nuôi tách rời nhau, có những bộ lạc chuyên về chăn nuôi và những bộ lạc chuyên nghề trổng trọt Các nghề thủ công phát triển mạnh, dẫn đến sự hình thành những nhóm người chuyên làm nghề thủ công Từ đó nghé thủ công tách khỏi nông nghiệp Đây là sự phân công lao động xã hội lần thứ hai Sự chuyên môn hoá của các ngành sản xuất làm xuất hiện và phát triển việc trao đổi sản phẩm giữa các bộ

lạc, giữa các vùng từ Bắc Phi sang Châu Á, từ phương Đông sang phương Tây Ngay trong một công xã, người nông dân

và người thợ thủ công cũng trao đổi sản phẩm với nhau

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và nền kinh tế nguyên thuỷ đã dẫn đến những hệ quả rất quan trọng

1 Sự xuất hiện tài sản tư hữu Nãng suất lao động được nâng cao, làm cho sản phẩm xã hội tăng nhanh Ngoài phần tiêu dùng hàng ngày, con người đã có của cải dư thừa để dành Quá trình phân hoá tài sản bắt đầu diễn ra và phát triển theo những con đường sau:

Trang 8

- Trong các cộng đổng, những người có địa vị đã chiếm được nhiều của cải dư thừa cùa tập thể.

- Do sự phát triển của sức sản xuất, đại gia đình phụ quyén được phân thành nhiéu gia đình nhỏ, bao gồm vợ chồng và con cái, mỗi gia đinh nhỏ ấy là một đơn vị kinh tế,

có tài sản riêng như công cụ sản xuất, tư liệu lao động và nhũng thứ đó được truyền lại cho con cái từ đời này qua đời khác, củng cô' thêm chế độ tư hữu

- Của cải và tù binh trong chiến tranh cũng là một nguồn tài sản quan trọng bị những người có địa vị trong bộ lac ihắng trận chiếm đoạt thành của riêng mình

2 Công xã nông thôn xuất hiện thay thế công xã thị tộc phụ hệ đang dần dần tan rã Sự phân hoá tài sản và địa vị giầu nghèo trong xã hội đã dẫn đến tình trạng những người giàu có muốn từ bỏ bà con thân thuộc túng thiếu, vì nghĩa

vụ giúp đỡ những người anh em họ hàng theo phong tục cổ truyền đã gây trở ngại cho việc tích luỹ của cải của gia đình

họ Còn nhiều người vì nghèo khó phải đi tới những vùng khác để sinh sông Mối quan hệ dòng máu kết dính các thành viên trong thị tộc bộ lạc bị cắt đứt Ranh giới của thị tộc bộ lạc bị xáo trộn và phá vỡ Thay vào đó là một hình thức tổ chức cộng đồng mới Cộng đổng công xã láng giềng bao gồm những người ớ chung một vùng đất, có cùng một

số lợi ích chung về kinh tế xã hội, có mối quan hệ láng giềng (chứ hầu như không có quan hệ dòng máu) Công xã láng giềng bao gồm công xã nông thôn (hình thức phổ biến nhất) trong cư dan nông nghiêp và cong xã du mục trong cư dân chăn nuôi Thay thế công xã thị tộc, công xã nông thôn

Trang 9

thuý Theo c Mác1": công xã nông thôn mang tinh hai ni.it; trong công xã vừa có chê độ tư hữu tài sán (công cụ sản xuất, súc vật, nhà ở), vừa có chê độ sở hữu chung của tỏng

xã (phần lớn ruộng đất, sông bãi, rừng rú) Ruộng đát của công xã được chia cho các gia đình cầy cấy theo ky hạn nhất định và gia đình được chiêm hữu thành quá lao động của mình Điều đó đẩy mạnh sự phát triển của tài sán tư hữu Quá trình phát triển của chê độ tư hữu tất yêu dần đến việc hình thành các tập đoàn người trong xã hội có địa vị kinh tế khác hẳn nhau:

Tập đoàn thứ nhất là những người giầu có bao gổm:

- Trước hết là các quý tộc thị tộc trong công xã, hộ lạc, liên minh bộ lạc

- Những thương nhân tích luỹ được nhiều của cái và hắt người sản xuất phải phụ thuộc họ về kinh tế

- Nhiều tăng lữ nắm cả vận mệnh tinh thần và vật chất của cư dân Họ trở nên giàu có

- Một số ít người vốn là nông dân, bình dân hoặc một sô

ít thợ Ihủ cóng do tích luỹ được nhiéu kinh nghiệm sản xuất, dần dần giầu lên

Tập đoàn thứ hai chiếm đông đảo trong xã hội là nông dân thợ thủ công Họ có chút ít tài sản

Tập đoàn thứ ba là những tù binh chiến tranh bị biên thành nô lệ Những nông dân thợ thủ công bị phá sản, cũng

bị thành nô lệ

Những tạp đoàn trên chính là các giai cấp: chủ nô, bình

(1) Xem: C.Mác Engen, V.I Lc Nin: Bàn vé các xã hội tién tir bản Nhà XIIAt bản khoa học xã hôi, Hà Nôi 1975.

Trang 10

dân, nô lệ Mâu thuẫn giai cấp đôi kháng nảy sinh, dần dần phát triển tới mức độ không thê điều hoà được Các hình thức tố chức trong xã hội nguyên thuý không thế giải quyết được thực trạng đó và nó không còn phù hợp đê tổn tại Giai cấp giầu có cần phải có một tổ chức mới để củng cô và tâng cường địa vị của mình So với tổ chức của công xã nguyên thuỷ, tổ chức mới này không những có sự phát triển vượt bậc vé lượng mà cái quan trọng hơn, là sự thay đổi hẳn về chất Đó là bộ máy bạo lực, gồm bộ máy quan chức hành chính, toà án, nhà tù, quân đội, cảnh sát, để đàn áp những người lao động Tổ chức mới này là nhà nước.

Quá trình hình thành nhà nước có thể được tóm tắt bằng giản đổ sau:

Sự phát triển của lực lượng sản xuất —► kinh tế phát triển và có sự phân công lao động xã hội —► sự xuất hiện của cải dư thừa để dành và chế độ tư hữu —» sự hình thành các giai cấp —* và mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hoà được nhà nước ra đời

2 Đặc điểm con đường hình thành tihà nước ử phương Đông

Trên đây là quy luật hình thành nhà nước nói chung, đặc biệt đó là thực tế ở phương Tây Vấn để này đã được F

Eligen đúc kết trong tác phẩm nổi tiếng "Nguồn gốc của gia đình, cùa chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ngày nay, khi

mà tài liệu về lịch sử phương Đỏng cổ đại không còn hiếm, nhiều học giả nhìn nhân lại và thấy rằng con đường hình thành Nhà nước đầu tiên ở phương Đông có một số đặc

Trang 11

được hình thành ớ lưu vực các con sông lớn Điểu kiện thiôn nhiên đã chứa đựng sẵn trong đó hai mặt đôi lập: ưu đãi và thử thách Ncn bất cứ một cộng đồng dân cư nào ở đíìy cũng phải tiên hành công cuộc trị thủy và thiìy lợi Do tính cáp bách thường xuyên, quy mô to lớn của công cuộc trị thuỷ, thủy lợi nên công xã nông thôn với chê độ sở hĩru chung về ruộng đất được bảo tồn rất bén vững Chế dộ tư hữu vé ruộng đất lúc đầu hầu như không có và sau đó hình thành và

phát triển rất chậm chạp c Mác viết: "Trong hình thức Á châu (ít ra cũng trong hình thức chiếm ưu thế), không có sở hữu mà chỉ có việc chiếm dụng cùa cá Iiliân riêng lẻ, kẻ sở hữu thực tế, thực sự là công xả, do đỏ sở hữu chỉ tổn tại với

tư cách là sớ hữu chung vê ruộng đất mà thôi"{U Trong thư trao đổi giữa C.Mác và F.Engen, hai ông cho rằng; "Việc không có chế độ tư hữu ruộng đất quả thật là chìa khoứ dể hiểu toàn bộ phương Đ ông'i2) Chiếc chìa khoá đó giúp

chúng ta lý giải một thực tế lịch sử ở phương Đông: sự phan hoá xã hội thành kẻ giầu người nghèo diễn ra rất chậm chạp, chưa thật sâu sắc và mức độ phân hoá chưa cao lắm so với lịch sử quá trình hình thành nhà nước ở phương Tây Bới vậy

ở phương Đông, quá trình hình thành, định tính và định hình của các giai cấp cũng diễn ra chậm chạp và không sắc nét, mâu thuẫn giai cấp đối kháng phát triển chưa tới mức độ gay gát và quyết liệt Nhưng dù trong môi trường kinh tế -xã hội mới như vậy, nhà nước đã phải ra đời Chính công cuộc trị thủy - thủy lợi không chỉ là yếu tố duy trì chế độ công hữu vê ruộng đát, mà còn là một yêu tố thúc đáy nhà nước

(1), (2) Xem: C.Mác, F.Engen, V.I Lênin: Bàn vé các xã hội tiẻn tư bàn, Sdd,

ìr 88, 49.

Trang 12

phải ra đời sớm Trước đó lổ chức của công xã thị tộc, với quy mô tổ chức và hiệu lực của nó, không còn đủ khả năng

tổ chức công cuộc chống lũ lụt và tưới tiêu Đồng thời, nhu cầu tự vệ cũng là một yếu tô tịuan trọng thúc đáy sự ra đời sớm của nhà nước Như vậy, nhân tố trị thủy - thủy lợi và tự

vệ tuy bản thân chúng khống thể sản sinh ra nhà nước, nhưng có thể thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước trên cơ

sớ phân hoá xã hội đã ở một mức độ nào đó Nhà nước ra đời sớm, sớm cả về mặt thời gian và về mặt không gian, do điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc biệt của phương Đóng Đó là đặc thù thứ nhất của con đường hình thành nhà nước ở phương Đỏng

Trong hoàn cảnh chế độ công hữu về ruộng đất, sự phân hoá giáu nghèo và mức độ máu thuẫn giai cấp như vậy, thì quyền lực nhà nước và tổ chức nhà nước được hình thành như thế nào? Trước hết và chủ yếu là ớ vai trò của tầng lớp quý tộc thị tộc Trong tác phẩm Chống Đuyrinh của

F.Engen co một đoạn lý giải về vấn để này: "Ngay từ đầu trong mỗi công xã đó, có một sô' lợi ích chung nào đó mà việc gìn giữ thì phải trao cho những cá nhân, tuy là có sự kiểm soát của toàn thể: xét xử những vụ tranh chấp, trừng phạt nhữììị kè lạm quyền, trông nom các nguồn nước nhất

là ở các xu nóng, và sail cùng là những chức nănạ tôn giáo

do tính chất nguyên thuỷ và dã man của hoàn cảnh D ĩ nhiên là những cá nhân đó có một sự toàn qu\ền nào đỏ, và tiêu biểu cho những mầm mỏng của quyền lực nhà nước

Dần dần h r ì ương sản xuất tăng thêm, dân sô dỏng đúc hơn

tạo ra ở dâv là lợi ích chung, ở kia là sự xung đột về lợi ích giữa các càng đồng veri nhau, và sự tập hợp những cộng

Trang 13

dồng thànli nhữniị tập thê quan trọn % hơn lại ạáv ra một sự phán công mới và việc tliànli lập nhữnạ cơ quan mới dể bào

vệ lợi ích chung và chống lại lìliữn^ lợi ích dối kháng - Những cơ quan dỏ, lúc bấy giở với tư cácli là dại biểu cho lìliững lợi ích chung của toàn nhóm đã có đỏi với mỗi cộng dồng riêng biệt một địa vị đặc biệt, đỏi khi đỏi lập ngay với cộng đống ấy, rồi chẳng bao láu sau đó có ngay một tinli cliất độc lập CÒII nliiều hơn nữa do việc k ế thừa nhiệm vụ lù việc tự nỏ thảnh một tục lệ trong cái thê giới mà mọi việc đêu xảy ra theo tự nhiên, hoặc là do việc ngày cà nạ kliôm> thế nào bỏ được những cơ quan như thế khi mà những xung đột với các nhóm khác ngày càng tâng thêm Như thế nào

mà í ừ cái việc chuyển sang có địa vị độc lập đối với xã hội, thì với thời gian chức nâng xã hội dã có thể dẩn dàn vươn lẻn thành sự thống trị đối với xã hội, như thê nào mà hễ ờ dâu gập thời cơ thuận lợi người đầy tớ ban đầu lại biến thành người chủ, như th ế nào mà tùy theo hoàn cảnli, người chủ dó lại biến thành tên vua chuyên chê hay tên chúa tỉnli

ở phương Đỏng trong chừng mực nào đó, cuối cùng cũng dùng đến cá bạo lực, nliư thế nào mà rồi sau cùng những cá nhản thống trị hợp lại thành một giai cấp thống trị ở đây, điêu quan trọng chỉ là nliận thấy rằng, bất kỳ ở đâu, một chức năng xã hội cũng là cơ sở của sự thống tri chính trị, và

sự thông trị chính trị cũng chỉ có thể tồn tại được lâu chừng Iiào mà IIÓ làm tròn chức năng xã hội đã giao phó cho nó"{ 1'

Như vậy, trong tất cả phạm vi các còng đổng (ihị tộc, bộ

(1) Xem: F.Engen: Chông Đuyrinh Nxb Sự thật, Hà Nội 1971 ti 304-305.

Trang 14

lạc liên minh bộ lạc) tầng lớp qúi tộc thị tộc lúc ban đầu

vốn thực hiện "chức iiâniỊ xã lìội" đảm bảo lợi ích chung của

cả cộng đồng, rồi chuyên sang "địa vị dộc lập đôi với xã liội" và cuối cùng "vươn lén tlìành sự thông trị đỏi với xã hội" Đó là con đường hình thành nhà nước của nhiều nước

phương Đông Đây là đặc thù thứ hai của con đường hình thành nhà nước ở phương Đóng

III S ự RA ĐỜI CỦA PHÁP LUẬT

Pháp luật ra đời khi nhà nước xuất hiện Xét về phương diện khách quan, nhà nước và pháp luật phát sinh cùng một nguồn gốc, khi mà chế độ tư hữu được xác lập, xã hội phân hóa thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giai cấp đôi kháng không thể điều hòa được Xét về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra và trở thành một phương tiện của nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.Pháp luật ra đời là một tất yếu khách quan Trong các tổ chức cộng đổng của công xã nguyên thủy, quan hệ giữa các thành viên được điều chính bằng phong lục tập quán và được mọi người tự nguyện chấp hành, không có sự cưỡng chế bằng bộ máy bạo lực Nhưng khi nhà nước xuất hiện, phong tục tập quán, với bán chất của nó là theo nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội đã không phù hợp với việc bảo vệ địa vị, quyền lợi riêng của nhà nước, của giai cấp thông trị Khi nhà nước được hình thành và quốc gia được thiết lập, các quan hệ xã hội phát triển vượt bậc cả

vê bé rộng và bê sâu, cả vé lượng và vé chất, thì phong tục tập quán không còn có thể điều chinh được tất cả các quan

Trang 15

hệ xã hội Đe đáp ứng nhu cầu khách quan đó, một loại quy phạm xã hội hoàn toàn mới, khác hán với phong tục tập quán đã ra dời, dó là pháp luật.

Vậy thực tố pháp luật được hình thành như thế nào? pháp luật được hình thành bằng nhiều cách với những hình thức khác nhau

Trước tiên và phổ biến nhất trong buổi ban đầu là nhiều

phong tục tập quán được "nhà Iiước hóa” , "luật pliáp lìóa"

trở thành tập quán pháp San những phong tục tập quán đã

có từ ngàn xưa, chính quyền nhà nước sử dụng những phong tục, tập quán có lợi cho giai cấp thống trị để điều hành xã hội và bằng biện pháp cưỡng chế Có những tập quán pháp tuy nhà nước không chính thức công nhận, nhưng được nhà nước mặc nhiên thừa nhận Có những tập quán pháp được nhà nước đưa vào nội dung các bộ luật Điều đó được thổhiện trong bộ luật Manu của Ấn Độ cổ đại, bộ luật Hãm mu

ra bi của Lưỡng Hà cổ đại, bộ luật La Mã Như vậy có tập quán pháp không thành văn và tập quán thành văn Đặc biệt

ở phương Đông, công xã nông thôn có tính tự trị rất cao và tồn tại bền vững, nên ở đây, tập quán pháp là lệ cùa công xã

và giữ vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan

hệ xã hội, điển hình như ở Ấn Độ, Trung quốc, Việt Nam

Sự ra đời của pháp luật thàn văn là sự tất yếu trong quá trinh hình thành và phát triển của pháp luật Pháp luật ihành văn xuất hiện từ khi con người có chữ viết Theo tài liệu khảo cổ, chữ viết ra đời ở Ai Cập cách ngày nay 7.000 năm Chữ viết cũng ra đời rất sớm ờ Trung Quốc (đời Hạ - Thương chữ viết đã xuất hiện) Pháp luật thành vãn lúc đầu

Trang 16

là những vãn bản đ(Tn hành, sau đó dần dần từng bước được pháp điển hóa lại thành bộ luật Pháp luật thành văn

ra đời ở những nơi kinh tê tự cung tự cấp là chính, muộn và chậm phát triển vì ớ những nơi này tập quán pháp có thê phát huy vai trò điều chính quan hệ xã hội Ngược lại, ở những nước có sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa, pháp luật thành văn thường được hình thành sớm và phát triển mạnh (đương nhiẽn một điều kiện không thể thiếu được là phải có chữ viết) Bởi vì tập quán pháp không thể đảm đương nổi việc điểu chính các quan hệ xã hội rất phong phú sâu rộng và chặt chẽ mới nảy sinh trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa

Đó là những nước ở vùng Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã Khi xuất hiện ban đầu, luật pháp thành văn thường được ghi trên mai rùa, xương thú, thẻ tre, tấm đá, bảng đồng Điều này gây ra không ít khó khăn trong việc ghi chép, xây dựng văn bản pháp luật Cộng vào đó trong xã hội có rất ít người biết chữ, người biết chữ thường chỉ là những người trong đội ngũ quan chức Sự ra đời của pháp luật thành vãn đánh dấu hước phát triển vỏ cùng quan trọng của luật pháp Tuy nhiên lúc đầu sự hình thành và phát triển của luật pháp thành vãn gặp một số trở ngại không nhỏ như vậy Và tập quán pháp vẫn có vai trò to lớn irong việc điều chỉnh quan hệ xã hội.Nhìn chung lại, từ cuối thiên niên kỉ thứ IV đến trước công nguyên, cư dân trên thê giới đã không giống nhau về phương diện phát triển xã hội Một mặt, có nhiều bộ lạc quá

độ hước vào thời đại kim khí và một hộ phận trong đó hát đầu phát sinh giai cấp, nhà nước và pháp luật Mặt khác trên nhiều vùng của địa cầu đặc biệt là vùng rừng núi phương

Trang 17

Bắc cùng toàn bộ lục địa Châu Mĩ và Châu úc, thời kì ây và mãi về sau này nữa vẫn còn là thời kì đồ đá và chế độ công

xá nguyên thủy chưa hề bị suy vong

Sự ra đời của nhà nước và pháp luật là bước nháy vọi dầu tiên trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đánh dấu bước khởi đầu của lịch sử nhà nước và pháp luật Nhà nước và pháp luật đầu tiên trong lịch sử nhân loại là nhà nước và pháp luật chiêm híru nô lệ

Trang 18

Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của ch ế độ tư hữu và của nhà nước", sự ra đời của các nhà nước ở Hy Lạp,

La Mã cổ đại (và nhà nước của người Giéc manh sau này)

được F.Engen miêu tả và đúc kết thành lí luận của phạm trù

"ììiịUồn ÍỊÔC nhà nước".

Hy Lạp, La Mã là nển văn minh lớn và phát triển nhất của thế giới cổ đại

A HY LẠP CỔ ĐẠI

Lãnh thổ của các quốc gia chiếm hữu nô lệ ớ lly Lạp cổ đại gồm lục địa Hy Lạp ngày này cùng các đảo thuộc biểnÊgiê và vùng Tây Tiểu Á Với giao thông biển thuận lợi, Hy

Trang 19

Lạp đã sớm tiếp xúc với nén văn minh phương Đông.

I NHŨNG NHÀ NUỚC Tốỉ c ổ KHÁI QUÁT CHUNG LỊCH SỬ CÁC NHÀ NUỚC CỦA NHŨNG QUỐC GIA - THÀNH BANG SAU ĐÓ

1 Những nhà nước tôi cổ ở Crét và Mi xen

Qua hai tập sử thi "I li át" và "Ô đi xê" cùng các hiện vật của khảo cổ học, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, ở thiên niên kỉ II TCN từng tồn tại nền vãn hóa đồng thau Crét - Mi xen

Cư dân Crét giỏi nghề dệt, chãn nuôi, trổng trọt và buônbán với Ai Cập, Tiểu Á Do đó, sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc Đến đầu thiên niên kỉ II TCN, một sô quốc gia chiếm hữu nô lệ được hình thành và tồn tại độc lập với nhau Đến giữa thiên niên kỉ đó, những tiêu quốc này được hợp nhất thành một nhà nước với hình thức quân chủ chuyên chế như nhiều nước ở phương Đông

Ở Mi xen, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế cũng dần dần phá vỡ trật tự của công xã nguyên thủy Đến khoảng thế

kl XVII TCN, một sô nhà nước cũng được hình thành và cùng tổn tại khoảng 500 năm Đó là các vương quốc quân chủ chuyên chế Nhiều cuộc chiến tranh đã nổ ra giữa các vương quốc, như cuộc chiến tranh Tơ roa

Quan hệ chiếm hữu nô lệ ở Crét và Mi xen chưa phát triển lắm Nô lệ chủ yếu được dùng vào việc hầu hạ chủ Vào thế kỉ XII TCN, các nhà nước ở Crét vả Mi xen đêu bịngười Đô riêng chinh phục và tiêu diệt Ở Hy lạp, hình thái công xã nguyên thủy được tái lập

Trang 20

2 Khái quát chung vé quá trình hình thành, phát triển và suy vong của các nhà nước ử các quốc gia - thành hang

xã hội Trong công xã vai trò của hội nghị nhân dân giảm sut rất nhiều, những công việc quan trọng hầu như do các quý tộc thị tộc quyết định Thủ lĩnh quân sự vừa là kẻ chỉ huy lực lượng vũ trang, vừa là người xử án và phụ trách việc

tế lễ Đây chính là một tổ chức dân chủ quân sự điển hình trong lịch sử chế độ công xã nguyên thủy thế giới Có thể nói thời Hô Me là giai đoạn chuẩn bị và chuyển tiếp từ chế

độ công xã nguyên thú sang xã hội có giai cấp và nhà nước

- Giai đoạn thứ hai (thê kỉ VIII - VI TCN) là giai đoạn

xuất hiện giai cấp và nhà nước Trong giai đoạn này, cơ sở kinh tê tiếp tục được phát triển và đưa đến hai hệ quả:

Hệ qủa thứ nhất, nếu như ở thời Hô me có sự phân hóa

xã hội thành các tầng lớp, thì ở giai đoạn thế kỉ VIII - VI TCN, xã hội hình Ihành ba giai cấp: chủ nò, nô lệ, nông dân

và thợ thủ công Trong đó chủ nô, nô lệ là hai giai cấp đặc

Trang 21

lớp chủ nô quý tộc, có tầng lớp chú nô mới không phái là quý tộc thị tộc Đó là các chủ xướng, chù thuycn, thương nhân giầu có vé kinh tc và khá đông đào vé Nỏ lượng.

Hệ quá thứ hai, là sự hình thành các thành bang Hy Lạp

cổ đại có địa hình tự nhiên khá đạc biệt, có nhiều thung lũng hẹp, giao thông với nhau rất khó khăn Các thành bang dần dần hình thành ở những thung lũng đó Người dân coi thành bang như tổ quốc của minh Thông thường hạt nhan của thành bang là một thành phố, bao quanh thành phô là những cánh đổng Diện tích của từng thành hang không lớn lấm từ 800 - 8000 kin2, dân số cũng chỉ từ vài ngàn đến vài chục ngàn người Các thành bang là những trung tâm kinh

tế, chính trị, tôn giáo của Hy Lạp Có thành bang chuycn sản xuất nông nghiệp Có thành bang công thương nghiệp rất phát triển Đa sô các thành bang vừa có sản xuất nông nghiệp vừa có công thương nghiệp phát triển Cả Hy Lạp có hàng chục thành bang, độc lập về chính trị với nhau Mỗi thành bang đểu có chính quyền riêng, lực lượng vũ trang riêng là luật lệ riêng

Như vậy, các thành bang đã trớ thành những quốc gia - nhà nước theo đầy đủ nghĩa của nó Hình thức tổ chức nhà nước của từng quốc gia - thành bang không giống nhau, là cộng hoà quý tộc chủ nô hoặc là cộng hòa dân chủ chủ nô

Và lịch sử nhà nước cổ đại ở Hy Lạp là lịch sử của những quốc gia thành bang ấy

b Thời kì phát triển và phồn thịnh của nhà nước ị trước

Trang 22

Người Hy Lạp lập những thành hang ớ những vùng đất mà

họ chiếm được

Vào nửa đầu thê kỉ V TCN, đến lượt mình, các thành hang ớ Hy lạp phải liên hợp với nhau chông lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Ba Tư (" và giành được thắng lợi Trước và sau cuộc chiến tranh chống Ba Tư đó, giữa các thành bang ở Hy Lạp thường diễn ra các cuộc chiến tranh với nhau, tiêu biểu là cuộc chiến tranh giữa những người Xpác cùng đổng minh với Aten và đồng minh của họ (431 -

404 TCN)

Thắng lợi to lớn của người Hy Lạp đối với đế quốc Ba

Tư, đã kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế Hy Lạp Quan hệ nô lệ phát triển đến tột đính Nô lệ được sứ dụng rộng rãi trong mọi ngành kinh tế, nông nghiệp, công thương nghiệp Nô lệ trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội Quan hệ nô lệ ở Hy Lạp trớ thành quan hệ nô

lệ điên hình trong lịch sử thế giới cổ đại

c Thời kì suy vong và sụp đổ của nhà nước (thếkỉ IV -IITCN)

Từ thế kí IV TCN, các thành bang Hy Lạp lâm vào cuộc khủng hoảng và ngày càng trớ nên trầm trọng Từ giữa thế

kỉ IV trước công nguyên, Hy Lạp bị đê quốc Ma xê đoan(2) tán công và thông trị (mặc dù các thành bang Hy Lạp vẫn dược mang hình thức độc lập) Trong các thành bang Hy Lạp, một sô chủ nô càng trở nên giầu có Ngược lại, hàng

( 1 ) Đ ế quốc Ba Tư được hình thành từ Iran và hành trướng rất manh ra bên ngoài từ nửa cuối tlìế kì VI trước công nguyên Ba Tư là mỏt dế quốc hùng mạnh, nối tiếng trong lịch sir thế giới cố đại

(2) Ma xê đoan nằm ờ vùng dông bắc bán đảo Ban Căng là một quốc gia chiếm hữu nô lệ hình thành và phát triển sau các thành bang Hy Lap Đ ế quốc

Trang 23

loạt người tự do (chủ yếu là nông dân, thợ thủ công) bị phá sán Tầng lớp vô sản lưu manh ngày càng đồng đảo Mâu thuần giai cấp rất gay gắt Các cuộc đấu tranh của nô lê và dân nghèo diễn ra ngày càng quyết liệt Thể chê dân chủ chủ nô mất dần vai trò của nó Quan hệ bóc lột nô lệ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của xã hội Từ thế kí III TCN, mầm mông quan hệ sản xuất phong kiến bắt đầu nảy sinh Đến giữa thê kỉ II TCN, toàn bộ Hy Lạp bị rơi vào ách thông trị của La Mã một đế quốc chiêm hữu nô lệ còn đang trên đà phát triển.

Trong bức tranh toàn cảnh các nhà nước thành bang ở

Hy Lạp, nổi lên hai thành bang lớn và tiêu biêu nhất, là Xpác và Aten

II NHÀ NUỚC CỘNG HÒA QUÝ TỘC CHỦ NÔ XPÁC

Xpác nằm giữa vùng đổng bàng Lacôni, thuộc vùng nam

Hy Lạp Đất đai và sông ngòi ở Xpác rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Nhà nước Xpác điển hình cho hình thức nhà nước cộng quý tộc chủ nô

1 Sự ra đời của nhà nước

Quá trình hình thành nhà nước Xpác đổng hành với quá trình xâm lược và thiết lập ách thông trị của người Đô riêng

ở Xpác

Vào thế kỉ XII - XI TCN, người Đô riêng tràn từ phương Bắc tới chiếm vùng Lacôni của người Akêăng Cả hai tộc người này cùng đang ở trạng thái công xã nguycn thuỷ đang tan rã Vào thê kỉ IX TCN, người Đô riêng xây dựng thành Xpác Trong quá trình xâm chiếm của người Đô riêng, ở

Trang 24

Xpác dần dần hình thành các mầm mông của xã hội có giai cấp và nhà nước Thê kl VIII - VII TCN, người Đỏ riêng tiếp tục tổ chức xâm lược vũ trang chiếm được thêm một vùng đồng bàng bên cạnh là và biến cư dân ớ đây (người Ilốt) thành nỏ lệ tập thể Sau cuộc xâm chiếm đó, quan hệ nô lệ xuất hiện trọn vẹn Sự phân hoá giai cấp cũng được xác lập vững chắc với việc phân chia cư dân thành ba tập đoàn xã hội - ba giai cấp khác nhau.

- Người Xpác (tức người Đỏ riêng và một sô người Akêăng

đã được "Đôriẽng hoa'), là kẻ thống trị, hợp thành "công xã bình đẳng” Toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà

nước Ruộng đất ớ Lacôni và Metxêni được chia thành nhiéu khoảnh, giao cho các gia đình Xpác sử dụng, nhưng không được bán hoặc chia thành mảnh nhỏ Người Xpác có quyén

để lại cho con cháu ruộng đất và cả gia đình người Ilôt cư trú ở đó Nguồn sống chính của chủ nô Xpác là tỏ ruộng đất

Họ không làm các nghề thủ công hoặc buôn bán.(1>

- Người Ilôt là nô lệ tập thể của tập thể chủ nô Xpác Nô

lệ không thuộc quyén sở hữu riêng của từng chủ nô Vì thế, chủ nô không có quyền bán hoặc giết nô lệ Nhà nước quản

lý và phân phối nô lệ Khi nhà nước giao khoảnh đất cho người Xpác sử dụng thì cũng giao luôn những gia đình Ilôt

cư trú ỏgđó cho người nhận ruộng Người Ilôt cày cấy ruộng

đất của chủ nô và nộp tô Loại hình "nô lệ công cộng” của

xpác là một hiện tượng khá đặc biệt

- Người Piriecơ (gồm cư dân của vùng Lacôni tức người

(1) Từ nửa đẩu thê kỷ thứ IV TCN, chê độ bình quân ruộng đất bị huỷ bỏ Nhà nước cho phép mua bán ruộng đất Nhiểu người Xpác bị mất ruộng đất, biến thành vô sản Nghề buôn bán, cho vay nâng lãi thâm nhập mạnh vào nền

Trang 25

Akêăng bị chinh phục và những người từ nơi khác di ur tới),

có một ít ruộng đất và làm nghe thủ công, buôn hán Tuy là

người ur do nhưng họ không được tham gia "cóiiỊị \(1 hình đẳng", không được hướng các quyền chính trị Họ phái nộp

thuế cho nhà nước và đi lính

Nhà nước Xpác được thiết lập theo quá trình phàn hoa giai cấp như vậy Nhàm ngăn chặn không cho tầng lớp công tỉurơng nghiệp tức người (Piriecơ) giàu lên phát triển thế lực, nhà nước Xpác đã thi hành chính sách hạn chê cõng thương nghiệp Thành bang Xpác là quốc gia nồng nghiệp

Hội đổng trưởng lão gồm 28 vị trưởng lão và 2 vua Trướng lão là người từ 60 tuổi trứ lên được lựa chọn trong hàng ngũ quý tộc có danh vọng Hội đồng trướng lão có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước Hội đồng có quyền quyết định những vấn đề có liên quan đến vận mệnh quốc gia, như chiến tranh và hoà bình

Về hình thức, hội nghi công dân là cơ quan quyền lực cao nhất Mọi người Xpác từ 30 tuổi trờ lên đéu có quyền tham gia hội nghị công dân do vua triệu tập Trong hội nghị, công dân có quyền thông qua hay phản đôi những quyết

Trang 26

định cúa hội đồng trướng lão bằng những tiếng thét, chứ không được tháo luận, góp ý gì Khi biếu quyết vấn đề quan trọng, những người dự hội nghị xếp hàng theo hai phía đồng

ý hay không đồng ý và bàng cách ấy người ta biết được bên nào đa số Hội nghị công dân là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng lai mang tính hình thức Hội nghị công dân do vua triệu tập Nên nó không phải là cơ quan thường xuyên của nhà nước, có hội nghị hay không là do vua có triệu tập hay không Trừ vấn để quan trọng, còn các vấn đé khác được biêu quyết bàng những tiếng thét Phưưng thức biếu quyết này rất

mơ hổ dễ bị lợi dụng làm sai lệch ý kiến của hội nghị Đặc biệt, hội nghị cóng dân chi có quyền thụ động biểu quyết những quyết định của một cơ quan khác mà khống có quyển thảo luận, góp ý gì cả, lại càng không có quyền chủ động quyết định những vấn để quan trọng của quốc gia

Ve sau do mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, xung đột giữa hội đổng trướng lão và hội nghị công dân càng thêm trầm trọng, một cơ quan có quyén hạn rất lớn được thiết lập: Hội đổng 5 quan giám sát - Hội đồng này là đại biểu của tập đoàn quý tộc bảo thủ nhất Chức quan giám sát được bầu hàng năm hội đồng này có quyền giám sát vua, hội đồng trướng lão, triệu tập và chú trì hội nghị của hội đồng trưởng lão, hội nghị công dán, có quyền giải quyết mọi công việc ngoại giao, tài chính, tư pháp và kiểm tra tư cách của công dân Như vậy, chức năng, quyền hạn của hội đồng 5 quan giám sát bao trùm lên tất cả các cơ quan khác Thực chất, nó

là cơ quan lãnh đạo tối cao của nhà nước, nhằm tập trung mọi quyền lực vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô

Nhà nước Xpác đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng quân sự Quân lính được trang thiết bị tốt, cách tổ chức chặt

Trang 27

chẽ, huân luyôn công phu, kỹ thuật tác chiên cao, dã nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đôi Lục quân Xpác là lực lương tác chiến mạnh nhất ở Hy Lạp Việc xây dựng quân đội không phải chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn đòi hỏi mọi người dân Xpác phải quan tâm Đến 7 tuổi, trỏ em trai khoe mạnh phải vào sống tập trung trong trại trẻ cùa nhà nước và chịu sự giáo dục rất nghiêm khấc Cách huấn luyện của Xpác nhàm đào tạo những thanh niên khoé mạnh, dũng cảm, nhanh nhẹn, chịu khép mình vào kỷ luật Đến 20 tuổi thanh niên Xpác mới được chính thức trớ thành người lính

và đến 60 tuổi họ mới trút bỏ được bộ quần áo lính

Trong quá trình phát triển của lịch sử Hy Lạp cổ đại, nhà nước Xpác là dinh luỹ của thê lực chủ nô lạc hậu, phản động nhất, chông lại những thành bang theo chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Quyền lực nhà nước được tập trung đến mức tối đa vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô và quyén dân chủ của những người tự do bị hạn chế tới mức tối thiểu Bới vậy, nhà nước Xpác là chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô - một hình thức nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô điển hình Vậy tại sao ờ Xpác phát sinh hình thức cộng hoà quý tộc chủ nô mà không nảy sinh hình thức cộng hoà dân chủ chủ nô?

Thứ nhất là do nguyên nhân kinh tế Ruộng đất ở Xpác

thuộc quyền sớ hữu của nhà nước mà thực chất là thuộc quyển định đoạt của tầng lớp quý tộc thị tộc cũ Những người bình dân là người Xpác tuy được chia ruộng đất để sử dụng, nhưng họ cũng chỉ là những chủ đất, chủ nô loại vừa

và nhỏ và bị phụ thuộc vào tầng lớp quý tộc thị tộc Chú nô lớn chính là những quý tộc thị lộc Bởi vậy, hụ là nhữngngười có thế lực và tiềm lực kinh tế rất mạnh Ở Xpác trong một thời gian dài, việc mua bán ruộng đất bị cấm và công

Trang 28

thương nghiệp bị hạn ché phát trien Vì vậy tầng lớp chủ nỏ mới chậm phát triển đê làm đôi trọng đối với tầng lớp quý tộc chủ nô.

Thứ hai là do nguyên nhân về chính trị xã hội Nhà nước

Xpác là kết quả trực tiếp của cuộc chiến tranh xâm lược và chinh phục, nên giai cấp chủ nô phái có một tổ chức quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay một sổ ít người để đảm bảo duy trì được ách thống trị của mình Trong những người dân tự do, chí có người Xpác có quyền chính trị còn người Piriecơ không có quyển tham dự vào mọi sinh hoạt nhà nước, lại càng không có quyén tham gia chính quyển nhà nước Vì vậy ứ Xpác khác với nhiéu thành bang khác, các cuộc đấu tranh của bình dân với tầng lớp quý tộc, chủ nô lớn phát triển chậm và ở mức độ ít quyết liệt hơn

Chính do cơ sở kinh tế và những đặc thù chính trị - xã hội đó, nên ở Xpác phát sinh và tồn tại chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô

ni NHÀ NUÓC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ CHỦ NÔ ATEN

Aten là trung tâm của vùng đồng bằng Attích, thuộc miền trung Hy Lạp Bờ biển phía Tây của Aten có nhiểu hải cảng tốt

Nhà nước Aten là điển hình của hình thức nhà nước cộng hoà dân chủ chủ nô

1 Sự ra đời của nhà nước

Cũng như nhiều vùng khác ớ Hy Lạp khoảng thê kỷ VIII - VI TCN, Aten dần dần bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước

Trang 29

Ở Aten, công thương nghiệp phát trien rất sớm và với tốc độ rất nhanh Bên cạnh tầng lớp quý tộc chủ nô, tầng lớp chủ nô mới (chú xướng, chủ thuyền, thương nhân) xuất hiện rất sớm, tăng nhanh về sô lượng và mạnh vé kinh tế Họ giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành, phát trien chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô sau này ở Aten.

Nhờ kinh tế phát triển Aten thống nhất được cả vùngÁttích Sau đó mỗi bộ lạc ở đây được chia thành 12 vùng Đổng thời cư dân tự do (trừ nô lệ) được phân thành 3 tầng lớp: quý tộc, nông dân, những người làm công thương nghiệp, ở Attích còn có người Mêtếch ớ những vùng xa xổi

di cư tới Họ không thuộc ba tầng lớp trên, nhưng họ có quyền tự do thân thể

Lúc đầu, tuy tổ chức thị tộc vẫn tổn tại, nhưng dần dần

bị biến chất Quý tộc thị tộc là những người có nhiều quyền hành nhất Hội nghị nhân dân đóng vai trò không quan trọng trước sự lộng quyền của hội đổng quý tộc Hội đổng quan chấp chính do quý tộc bầu lên, dần dần nấm mọi quyền hành Ban đầu nhiệm kỳ của quan chấp chính là suốt đời, về sau cứ 10 nãm bầu lại một lần, cuối cùng thì một nãm bầu một lần

Như vậy, tổ chức thị tộc dần dần đã bị phá hoại về cả hai mặt Một là, lần đầu tiên sự phân chia cư dân không phải theo những tập đoàn huyết thống, mà theo địa vực cư trú và tài sản Hai là, trong xã hội xuất hiện một quyền lực công cộng - quyền lực nhà nước và bộ máy nhà nước Với cách tổ chức bộ máy nhà nước như thế, quyền lực được tập trung vào tay nhóm quý tộc chủ nô Rõ ràng, khi mới ra đời, nhà nước ớ Aten là nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô như nhà nước Xpác chứ chưa phải là chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô

Trang 30

2 Quá trình nhà nước Aten chuyển hoá sang chính thẻ cộng hoà dân chủ chủ nỏ

Do sự độc quyển thống trị trong nhà nước của tầng lớp quý tộc chủ nổ, nên trong xã hội Aten, bên cạnh mâu thuẫn gay gắt giữa nô lệ với chủ nô, còn mâu thuẫn sâu sác giữa các tầng lớp cư dân tự do (tầng lớp chủ nô công thương, nông dân, thợ thủ công và người Mêtếch) với tầng lớp quý tộc chủ nô Trong cuộc đấu tranh gay gắt và dằng co giữa hai phe phái này, những thắng lợi của tầng lớp dân tự do được thể hiện qua các cuộc cải cách do chủ nô công thương khởi xướng, thực hiện Và qua đó, chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô từng bước được xác lập và phát triển

a Cải cách của Xôlông đặt cơ sở và bước đầu hình thanh chính tliể cộng lìoà dân chủ chủ nô

Năm 594 TCN, Xôlông - người đại diện cho tầng lớp chủ nô công thương, được bầu làm quan chấp chính Ông ra sắc lệnh bãi bỏ nợ nần, cấm quý tộc biến những người nông dân không trả được nợ thành nô lệ Từ đây, hàng ngũ nông dân ngày càng đông đảo và trở thành chỗ dựa của nhà nước Căn cứ vào tài sản, số lượng lương thực có được hàng năm, Xôỉông chia cư dân tự do thành 4 đẳng cấp

Đẳng cấp thứ nhất (gồm những người giầu nhất) có thể nắm những chức vụ quan trọng nhất trong nhà nước, như quan chấp chính, ủy viên hội đổng trưởng lão Song họ phải

có nghĩa vụ cung cấp tiền của để xây dựng hạm đội và chi phí trong những ngày lễ quan trọng

Các đẳng cấp thứ hai, thứ ha có thể được hầu vào hội đổng 400 người do xỏlông lạp ra Đẳng cấp thứ tư có quyền tham gia hội nghị công dân nhimg không được bầu vào các

Trang 31

chức vụ của Nhà nước Hội đổng 400 người gồm đại hiểu của các địa phương Đó là cơ quan tư vân cao cấp, chuẩn bị

những vân để quan trọng đê đưa ra hội nghị công dân quyết nghị, đồng thời có nhiệm vụ giải quyết một sô công việc thường ngày Hội đồng quý tộc được đổi tên thành hội đồng trường lão Xổlông còn lập ra toà án công dân Mọi công dân đều có quyền tự bào chữa cho mình và quyền được chống án

Cải cách của Xôlông đưa lại những hệ quả rất quan trọng

- Tước bỏ bớt được quyền lợi kinh tế và quyền lực chính

Trang 32

Trước hết, ông chia cư dân Aten thành 3 khu vực Cứ mỗi khu vực lại chia thành 10 phân khu Và cứ 3 phân khu

hợp thành một "bộ lạc" mới Như vậy, có tất cả 10 "bộ lạc”

Sự phân chia cư dân theo cách đảo lộn và trộn lẫn như vậy

đã xóa bỏ hoàn toàn những bộ lạc cũ, đồng thời cũng thủ tiêu ánh hường của quý tộc đôi với công dân

Clixten mở rộng hội đồng 400 người thành hội đồng 500

người, mỗi "bộ lạc" được cử 10 người Mọi công dân đều có

thể được bầu làm thành viên của hội đồng (thời Xôlông, những người của đảng cấp thứ tư khổng được ứng cử vào hội đồng 400 người) Clixten còn lập ra hội đồng 10 tướng lĩnh Hội đổng này nắm quyền chi huy quân đội, đồng thời cũng

là cơ quan hành chính cao nhất Rất nhiều ngoại kiều được ban cấp quyển công dân nên hàng ngũ công dân càng đông đảo hơn Để chông lại âm mun thiết lập nền độc tài, Clixten đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò Hàng năm vào mùa xuân, đại hội công dân họp phiên đặc biệt Trong cuộc họp này mọi người có quyền viết tên người mà mình nghi là có âm mưu độc tài Người nào có trên 6.000 phiếu, sẽ bị trục xuất khỏi Hy Lạp

Như vậy, đến thời Clixten, cơ sở xã hội của bọn quý tộc

bị phá huỷ triệt để Và vơí cơ cấu tổ chức quyển lực nhà nước, với việc công dân tham gia vào sinh hoạt chính trị như

đã trình bày ở trên, chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô đã được thiết lập đầy đủ, theo đúng nghĩa của nó

c Cải cách cùa Pêriclét, chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô phát triển tới đỉnh cao

Vào giữa Ihế kỷ V TCN, Pêriclét, đại diện cho tầng lớp chủ nô mới tiếp tục thực hiện nhiểu cải cách quan trọng

Trang 33

Nhà nước cấp một sô lương cho nhân viên cơ quan nhà nước Sổ ticn lương tuy không nhiều so với giá trị vật chất thời bấy giờ, nhưng cũng tạo điéu kiện thuận lợi cho những công dân nghco làm các chức vụ chính quyén Từ năm 457 TCN trở đi có một số người thuộc tầng lớp trung, tiếu nông được bầu làm quan chấp chính và những chức vụ khác Cá sì quan, binh lính, thuỷ thủ cũng được Cấp lương.

Đặc biệt, Pêriclét xãy dựng một bộ máy nhà nước quy

củ, thể hiện đỉnh cao của chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô

và là một điển hình của chính thê nhà nước đó ở Hy Lạp

Những năm Pêriclét cầm quyền là thời kỳ phát triển rực

rỡ nhất cùa nền chính trị Aten Aten thực sự trở thành trường học lớn của toàn Hy Lạp vì thể chế chính trị tiến bộ thời bấy giờ

3 Tổ chức bộ máy nhà nước

Chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Aten từng bước được xác lập và bộ máy nhà nước được hoàn thiện nhất vào thời Pêriclét

- Hội nghị công dân: là cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước, cứ khoảng 10 ngày họp một lần Trong những kỳ họp ấy, mọi công dân đều có quyền thảo luận và hội nghị đi đến quyết nghị những vấn đề lớn của nhà nước, như chiến tranh và hoà bình, giám sát các cơ quan nhà nước, bầu những quan chức cao cấp của nhà nước, xét duyệt những việc quan trọng nhất của toà án Hầu hết các chức vụ cao cấp của nhà nước do hội nghị công dân bầu bàng phương pháp bỏ phiếu hay biểu quyết Hội nghị công dân còn có quyền ban hoặc tước quyển công dân, cung cấp lương thực cho thành phô V.V

Trang 34

Như vậy, nếu như ớ chính thê cộng hoà quý tộc chủ nô, quyền lực nhà nước tập trung vào hội đổng nguyên lão, thì ứ chính thể cộng hoà dân chú chú nỏ, quvén lực nhà nước được thể hiện ớ hội nghị công dân Đó là điểm khác nhau cư bản giữa hai chính thê - hai hình thức nhà nước cộng hoà.

- Hội đồng 5(X) người: có vai trò rất quan trọng sau hội nghị

công dân, được bầu bằng cách bỏ phiếu Mỗi "bộ lạc" được bầu

50 người của mình từ 30 tuổi trở lên Hội đổng chia thành 10 nhóm luân phiên nhau làm việc trong một năm Nó là cơ quan đại diện của nhà nước về đối ngoại Hội đồng thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân, giải quyết những việc không quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công dân Hội đổng có quyền quán lý tài chính, giám sát công việc của các nhân viên chính quyền, thảo luận sơ bộ các vấn

đề quan trọng trước khi đưa ra trình hội nghị công dân

- Hội đồng 10 tướng lĩnh: được bầu hàng năm bàng cách biểu quyết giơ tay trong hội nghị công dân Thành viên của hội đồng có thể được bầu nhiều nhiệm kỳ Hội đồng chỉ huy quân đội, thực hiện những chính sách đối ngoại, nhưng nó chịu sự kiểm soát của hội nghị công dân Thành viên của hội đổng không được cấp lương nên chỉ những cõng dân giắu có mới đảm nhận chức vụ này

- Tòa hổi thẩm: là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất, được bầu ra hàng nãm bằng phưcyng pháp bỏ phiếu

ở hội nghị cổng dân Công dân từ 30 tuổi có quyền ứng cử Nhiều luật lệ đã được ban hành để ngăn chặn tình trạng hối

lộ, thiếu công minh trong xét xử Mọi người có quyền phát đơn kiện, có quyền bào chữa cho hị cáo Bị cáo cũng có quyền tự bào chữa

Trang 35

nhà nước Quân đội Aten được trang bị tốt và lực lương hái quân rất mạnh Cảnh sát là lực lượng báo vệ trật tự xã hội.Nhà nước Aten, về hình thức là cộng hoà dân chủ nhưng

là chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Cũng như các nhà nước chủ nô khác, nhà nước Aten được xây dựng trên cơ sớ chế độ tư hữu và quan hệ bóc lột nô lệ Nỏ bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp chủ nô Chỉ có bọn chủ nố và rất ít người lao động tự do mới được hướng quyền chính trị, còn phụ nữ, kiều dân, nô lệ ở ngoài vòng sinh hoạt chính trị Luật pháp còn quy định ai có cha mẹ đểu là người Aten thì mới được hưởng quyén công dân Đời sông lao động nghèo khó không cho phép nông dân ớ vùng At tích xa xôi có thể thực hiện được quyền công dân của mình Vì vậy, tổng sô công dân Aten có khoảng 3 vạn đến 3,5 vạn mà mỗi kỳ họp hội nghị công dân thường chỉ có khoảng 2 đên 3 ngàn người Chỉ có những phiên họp đặc biệt bỏ phiêu bằng vỏ sò mới có trên 6000 người

4 Pháp luật

Aten là thành bang công thương nghiệp, có chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô phát triển nhất ở Hy Lạp, nên pháp luật phát triển

a Vê nguồn luật

Nguồn cơ bản của luật Aten là các đạo luật Sự tuân thủ các đạo luật được coi là yếu tô bức thiết của nền dân chủ.Một đạo luật được hình thành từ thê kỷ VI TCN là đạo luật mang tính hệ thống hoá cổ nhất của luật pháp Aten Đạo luật này nổi tiếng bởi tính cực kỳ tàn bạo, ví dụ trộm cấp rau quả cũng bị trừng trị như tội giết cha: tử hình Những nhà làm luật lúc đó cho rằng, các tội dù nhỏ cũng

Trang 36

đáng được xứ như vậy Đến thời Xôlông, một sô hình phạt quá nặng của đạo luật này bị bãi bỏ Trong chính thể cộng hoà dân chú chủ nô, các đạo luật đều do hội nghị công dânthông qua Ớ Aten các đạo luật thường được ghi trên các tấm đá và để ớ quảng trường thành phố.

Nguồn thứ hai của luật pháp Aten là những tập quán không thành văn Khi xét xử, nếu hành vi nào đó không có đạo luật quy định ihì quan toà thường dựa theo tập quán pháp

b Quan hệ pháp lý vê tài sản

Pháp luật điều chỉnh các quan hệ về tài sản đạt đến trình

độ phát triển cao Theo pháp luật, chủ sở hữu đưưng nhiên

có quyển sử dụng đất đai, súc vật, nỏ lệ, có lợi cho mình Các quan hệ tiền tệ, trong đó có nạn cho vay nặng lãi, cũng được pháp luật điều chỉnh khá tỉ mí Đặc biệt luật pháp của Aten và nhiều thành bang khác ở Hy Lạp đã coi quyến tư hữu là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm Quyền tư hữu được bảo vệ bằng nhiều biện pháp hà khắc Trộm cắp thường bị xử phạt bằng án tử hình Quan hệ hợp đồng cũng được luật pháp chú trọng Điểu kiện bảo đảm việc thực hiện hợp đổng là thê chấp, cầm cố, đặt cọc, người bảo lãnh

c Luật hình sự

Luật hình sự so với luật dân sự kém phát triển hưn Luât hình Aten vẫn bảo tổn một số tàn tích củã chế độ công xã

nguyên thuỷ, đặc biệt là sự trả thù bằng máu Ví dụ, khi phát

hiện người vợ đang ngoại tình, người chồng có thể giết tình địch và được coi là vô tội Việc giết hại hoặc xúc phạm sứ thần được xem là tội chống tôn giáo Bởi theo quan niệm đương thời, sứ thần được thượng đế che chở, bảo vệ Trong các tội phạm chính trị, những tội sau đây được coi là trọng

Trang 37

tội: phân quốc, vỏ thẩn Những ai phạm vào các tội đó đều

bị tử hình

Đặc biệt, luật pháp Aten đã có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa tội cô ý và tội vô ý Các tội giết người có chủ ý đểu bị kết án tử hình Còn các vụ làm chết người do thiếu cân trọng, hoặc do vô tình, thì thường chì bị trục xuất ra khỏi đất nước Việc lượng hình còn phụ thuộc vào mức độ hậu quá

mà tội phạm gây ra, vào vai trò của từng bị cáo trong vụ án Luật hình sự Atcn có quan niệm: giảm nhẹ tội tuỳ theo một

sô hoàn cảnh khách quan khi phạm tội

Các hình phạt do toà ần áp dụng rất đa dạng: đánh bằng roi vọt, ngồi lcn bàn chông, chọc mù mát, tử hình bằng các hình thức: dùng đá đập cho đến chết, chặt đầu, nhẹ nhíu là cho uống thuốc độc Ngoài các hình phạt chính còn có các hình phạt phụ như: tịch thu tài sản, tước quyền công dân Nhà tù thường là các hầm ngầm dưới đất, không có cửa sổ không có ánh sáng lọt vào

số phiếu không đồng ý hằng nhau, người đứng đầu phiên toà

có quyền quyết định cuối cùng

Trang 38

I NHÀ NƯỚC

1 Sự ra đời của nhà nước

Trước khi La Mã chiếm toàn hộ Italia, vé đại thể bán đảo này có 3 tộc người sinh sông ở 3 vùng Vùng Nam Italia là nơi người Hy Lạp đã đến kinh doanh và lập một sô' thành bang từ thế kỷ VIII - VI TCN Vùng Bắc Italia là nơi cư trú của người Êtơrútxcơ; Người La tinh cư trú ở miển trung Italia Thê kỷ VIII TCN, người Latinh dựng thành La Mã

Vì vậy, họ được gọi là người La Mã

Quá trình hình thành nhà nước La Mã là kết quả của cả hai yếu tố:

Sự phân hoá xã hội, phân hoá giai cấp ở tộc người La tinh và tộc người Êtơrútxcơ và cuộc đấu tranh của người La

Mã chống lạ ách thống trị của người Êtơrútxcơ Thê kỷ VIII - VI TCN, xã hội của người La Mã cũng giống như thời Hôme ở Hy Lạp Cùng với sự phái triển của lực lượng sản xuất, tài sản tư hữu xuất hiện Hội nghị nhân dân và viện nguyên lâu của chế dọ Ihị tộc vãn giữ vai trò nhát định song

đã bị quý tộc thị tộc lợi dụng Bên cạnh hai cơ quan đó, còn

Trang 39

người chi huy quân đội, tăng lữ cao nhất, người xét xử những vụ kiện trong nội bộ công xã Xã hội người La Mã thời kỳ này là chế độ dân chủ quân sự bộ lạc Xã hội dân dần bị phân hoá thành quý tộc chủ nô, nô lệ, bình dân và từng bước chuyển sang xã hội có giai cấp.

Vào thế kỷ VII - VI TCN, người Êtơrútxcơ đạt tới trình

độ phát triển cao về thủ công nghiệp và buôn bán Theo

truyền thuyết, người Êtơrủtxcơ có 12 "thành plìô" (có lẽ là những bộ lạc) Đứng đầu mỗi "thủnli phó" - bộ lạc là một

thủ lĩnh quân sự kiêm tăng lữ và là chủ nô có thê lực Đứng

đầu 12 "tliànli phô11 - bộ lạc (tức liên minh bộ lạc) là một

"vua” (thủ lĩnh của liên minh bộ lạc), do các "tliành phô" hộ

lạc bầu ra, có chức năng chỉ trông coi việc tê lể mà thôi Công xã nguyên thuỷ của người Êtơrútxcơ là chê độ dân chủ quân sự bộ lạc đang tan rã nghiêm trọng và dần dần giai cấp xuất hiện

Như vậy, người La Mã và người Êtơrútxcơ đéu ở trình độ phát triển tương đối giống nhau về kinh tế và phân hoá giai cấp Đây là tiền đề cơ sở vật chất chín muồi để nhà nước ra đời Còn cuộc chinh phục và chống chinh phục giữa hai tộc người này chỉ là yếu tô' thúc đẩy sự ra đời của nhà nước

Vào thế kỷ VI TCN, La Mã bị người Êtơrútxcơ chinh phục và thống trị Cũng trong thời kì này, cuộc đấu tranh giữa bình dân và quý tộc rất gay gắt dẫn tới cuộc cải cách của vua Xécviút Tuliút Ông tổ chức lại công xã La Mã theo nguyên tắc địa vị và tài sản, chứ không căn cứ vào quan hệ huyết thông Ba bộ lạc trước kia bị xóa bỏ và xáo trộn Thay

vào đó là bốn "hộ lạc' mới được xác lập Thực chất, những

"bộ lạc" mới này là các khu vực hành chính Căn cứ vào tài

sản ruộng đất, cư dân La Mã (những người có ruộng đất)

Trang 40

được chia làm 5 đẳng cấp Do có nhiều thay đổi trong tiến

trình phân hoá tài sản, nên cứ 5 năm đãng ký lại đẳng cấp mội lần Đẳng cấp thứ nhất (gồm những người có nhiểu ruộng đất nhất) được tổ chức 80 Xãngturi (đơn vị) bộ binh

và 18 Xãngturi kị binh Các đảng cấp thứ hai, thứ ba và thứ

tư mỗi đẳng cấp có 20 Xăngturi bộ binh Đẳng cấp thứ nãm (gồm những người có ít ruộng đất nhất) có 30 Xăngturi bộ binh, (vì đẳng cấp này đông người nhất) Còn những người nghèo không có ruộng đất tuy không được xếp vào đẳng cấp nào cả, nhưng được tổ chức 5 Xăngturi bộ binh Như vậy, quân đội La Mã có tất cả 193 Xãngturi

Xăngturi không chỉ là đơn quân sự mà còn là đơn vị chính trị Khi bầu cử, mỗi Xăngturi được bỏ một phiếu Và như thế, đẳng cấp thứ nhất (đẳng cấp giầu có), bao giờ cũng chiếm được đa sô' phiếu: 98 phiếu trên tổng số 193 phiếu.Cuộc cải cách của Xécviút Tuliút đánh dấu sự sụp đổ của chế độ công xã thị tộc và sự hình thành nhà nước

F.Engen viết "Người ta phá vỡ cái trật tự xã hội cũ dựa titẻn sự,Hên liệ cá nhân vê huyết thống, và thay vào đó, người ta

đã lập ra một cơ cấu nhà nước mới, thực sự dựa trên cơ sở phân chia địa vực và trên sự chênh lệch về tài sản"(i)

Song song với cuộc đấu tranh trên, còn có cuộc đấu tranh của nhân dân La Mã chống ách thống trị của bọn quý tộc Êtơrút xcơ và kết thúc bàng việc đánh đuổi tên vua cuối cùng cùa người Êtơrút xcơ là Tác canh II khỏi La Mã vào nãm 509 TCN Quá trình cuộc đấu tranh này cũng đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của nhà nước La Mã

(I) F Engen: Nguồn góc của gia đinh, của ché dộ tư hữu và của nhà nước

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w