Trong mỗi tác phẩm của riêng mình, nhà văn, người nghệ sĩ phải luôn sáng tạo nên những biểu tượng mới bởi quá trình sáng tạo nghệ thuật là quá trình nhận thức thế giới khách quan, nhưng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp của luận văn 13
6 Cấu trúc luận văn 14
B PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA NGUYỄN TRỌNG TẠO 15
1.1 Một số vấn đề lí luận về tư duy thơ 15
1.1.1 Khái niệm tư duy 15
1.1.2 Khái niệm tư duy nghệ thuật 16
1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật 16
1.1.2.2 Tư duy thơ 18
2.2 Quan niệm thơ Nguyễn Trọng Tạo 19
2.2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp 19
2.2.2 Quá trình sáng tác 22
2.2.3 Quan niệm thơ 25
2.2.3.1 Thơ là sự chắt lọc từ những trải nghiệm của cuộc sống 27
2.2.3.2 Thơ phản ánh cuộc sống đời thường chân thực 29
2.2.3.3 Thơ là sự đổi mới không ngừng 32
2.2.3.4 Thơ ca la ̀ ngôn từ rung lên bằng âm nhạc 37
2.2.3.4 Thơ là tiếng sét ái tình 39
2.2.3.5 Thơ chưa hay vì thơ nói thật lòng 41
*TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: 43
CHƯƠNG II: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO 46
Trang 42.1 Cái tôi trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp của cái tôi đang tư duy 46
2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ 46
2.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 49
2.2 Các dạng biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 51
2.2.1 Cái tôi chiến sĩ 51
2.2.2 Cái tôi “ham chơi” thích phiêu bạt 59
2.2.3 Cái tôi trữ tình đời tư thế sự chất vấn cuộc đời 65
2.2.4 Cái tôi trữ tình dung hòa giữa hiện đại và truyền thống 70
2.2.5 Cái tôi trữ tình dân gian huyền ảo vận động trong không gian thời gian 79
2.2.6 Cái tôi trữ tình khao khát tình yêu nhưng nhuốm màu cô đơn 85
2.2.7 Cái tôi trữ tình hòa đồng với nhân vật trong thơ 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 : 96
CHƯƠNG 3 : NGÔN NGỮ VÀ BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO 96
3.1 Giới thuyết về ngôn ngữ trong thơ 97
3.2 Ngôn ngữ trong tư duy thơ Nguyễn Trọng Tạo 101
3.2.1 Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo là ngôn ngữ "hòa giải" giữa cái mới và cái cũ 102
3.2.1.1- Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo là ngôn ngữ thơ chân thành, giản dị 102
3.2.1.2- Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo đựợc xây dựng bằng nhiều chất liệu mới, là sự vận động thành công của quá trình cách tân thơ 105
3.2.2 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường 110
3.2.3 Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo là ngôn ngữ đặc biệt giàu nhạc tính và màu sắc 115
3.2.4 Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi - đa nghĩa 119
3.3 Biểu tượng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 120
3.3.1 Biểu tượng trong tư duy thơ 120
Trang 53.3.1.1 Khái niệm biểu tượng 120
3.3.1.2 Phân biệt biểu tượng với ẩn dụ, biểu tượng với hình tượng 121
3.3.2 Những biểu tượng đặc sắc trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 123
3.3.2.1 Biểu tượng Cỏ 123
3.3.2.2 Biểu tượng Con đường 127
3.3.2.3 Biểu tượng Sao 130
3.3.2.4 Biểu tượng Trăng 132
3.3.2.5 Biểu tượng Ngọn Lửa 136
3.3.2.6 Biểu tượng Gió 138
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3: 141
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1.Tư duy là hoạt động nhận thức, là đời sống trí tuệ của con người
Tư duy bắt đầu từ tư tưởng và cuối cùng lại tạo ra tư tưởng Nói như vậy có nghĩa là tư duy phụ thuộc rất nhiều vào tư tưởng,vào thế giới quan, nhân sinh quan của con người và thời đại Xã hội có tự do tư tưởng thì tư duy cũng như khả năng nhận thức, khả năng sáng tạo của con người càng được phát huy mạnh mẽ
Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với các sự vật hiện tượng, truy tìm các mối quan hệ và biểu diễn các mối quan hệ đó bằng ngôn ngữ Như vậy việc tiếp cận văn chương nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng từ góc độ tư duy nghệ thuật thực sự là một hướng tiếp cận có chiều sâu và mang tính hệ thống
Trong mỗi tác phẩm của riêng mình, nhà văn, người nghệ sĩ phải luôn sáng tạo nên những biểu tượng mới bởi quá trình sáng tạo nghệ thuật là quá trình nhận thức thế giới khách quan, nhưng không vì thế mà nhà văn được phép sao chép nguyên si hiện thực khách quan, mà phải nhìn sự vật, hiện tượng qua lăng kính chủ quan để từ đó sáng tạo những hình tượng nghệ thuật Quá trình đó chính là quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đời sống, những hình tượng trong tác phẩm có tác động trở lại lối sống và suy nghĩ của con người Như vậy ta
có thể hiểu tư duy nghệ thuật là hoạt động nhận thức của nhà văn, là quá trình đấu tranh tìm tòi để nhận thức hiện thực và khái quát hiện thực một cách nghệ thuật theo logic chủ quan Mặt khác tư duy nghệ thuật chính là quá trình nhận thức của độc giả về tác phẩm nghệ thuật, có thể nói tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật
Trang 7Phương tiện biểu hiện của tư duy nghệ thuật là ngôn ngữ, nhờ có ngôn ngữ người nghệ sĩ có thể bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình, thông qua trí tưởng tưởng phong phú và sự liên tưởng tinh tế người nghệ sĩ đã sáng tạo ra những hình tượng, biểu tượng mới Tư duy nghệ thuật luôn thăng hoa cùng những tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén đời sống, biết nắm bắt tinh thần thời đại, biết dự báo tương lai Vì vậy tư duy nghệ thuật gắn liền với quá trình sáng tác, bị chi phối bởi tư tưởng, quan niệm của từng nhà văn, từng thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện cách nhìn, cách khái quát hiện thực riêng của nhà văn, thể hiện bản sắc, cá tính sáng tạo của nhà văn, ở một góc độ nào đó thì tư duy nghệ thuật có
sự giao cắt và làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn
1.2 Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ trẻ vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong khi những cây bút như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Mạnh Hảo… đã được nhiều người nhớ thì Nguyễn Trọng Tạo vẫn mải miết kiếm tìm Nhưng không vì thế mà sự xuất hiện của Nguyễn Trọng Tạo lại bị lu mờ, ông đã tạo ra một tiếng thơ mới mẻ cho nền thơ ca dân tộc bằng một giọng điệu rất riêng không giống bất kỳ ai Cũng từ đó cho
đến nay Nguyễn Trọng Tạo được xem như một “người tận lực cho thơ”, một
nhà thơ – nhạc sĩ – họa sĩ Người nghệ sĩ đa tài, đa tình này phải sắm quá
nhiều vai trong làng văn nghệ với nhiều sự cách tân, đổi mới trong làng thơ hiện đại Việt Nam
Là một nghệ sĩ đa tài, đa tình và mang nhiều hệ lụy, Nguyễn Trọng Tạo được độc giả bốn phương yêu mến và ngưỡng mộ không chỉ qua những ca
khúc nổi tiếng như “Làng quan họ quê tôi”; “Khúc hát sông quê; Đôi mắt đò
ngang” Mà ông còn là người làm nên báo thơ, vẽ nên cờ thơ, viết hàng trăm
bài phê bình thơ, phổ nhạc cho thơ Và trong một bài phỏng vấn báo chí ông
đã thổ lộ “Thơ mới là cái nghiệp của tôi” Phần hay nhất của thơ ông nằm ở
Trang 8thời hậu chiến, đây là giai đoạn ông chủ trương một thứ thơ đời thường Hướng về đời thường, thơ gần với con người, những vui buồn nhân thế cũng được đề cập đến sâu sắc hơn Những tập thơ của ông thể hiện rất rõ sự vỡ giọng và sự thay đổi về tư duy nghệ thuật Đó là quá trình tự nhận thức lại chính mình và người khác
Trong suốt chặng đường sáng tác, Nguyễn Trọng Tạo đã có những đóng góp lớn cho nền thơ ca dân tộc Với 10 tập thơ và 2 trường ca đầy đặn, ngoài ra còn có các tập thơ in chung vơi các tác giả khác như Nguyễn Hoa, Nguyễn Thụy Kha…Ông còn có các tác phẩm văn xuôi, tập phê bình tiểu luận, các album nhạc nổi tiếng, cùng một loạt các giải thưởng, cái tên Nguyễn Trọng Tạo đã trở thành cái tên quen thuộc trong làng thơ ca Việt Nam
Tìm hiểu về thơ Nguyễn Trọng Tạo, chúng tôi nhận thấy đa số các nhà nghiên cứu chủ yếu tiếp cận từ góc độ tiểu sử - cuộc đời, thể loại để đi vào thế giới nghệ thuật, chứ chưa có công trình nào nghiên cứu thơ Nguyễn Trọng Tạo từ góc độ tư duy nghệ thuật một cách toàn diện Chính vì vậy nghiên cứu thơ Nguyễn Trọng Tạo từ góc độ tư duy, chúng tôi hy vọng sẽ hé mở ra được nhiều điều lý thú trong thế giới nghệ thuật thơ ông
2 Lịch sử vấn đề
Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh có nhận xét: “Tôi quyết
rằng trong thi ca Việt Nam chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hung tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính,
kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” Thì
chưa đầy 30 năm sau lịch sử văn học Việt Nam lại một lần nữa được chứng kiến sự phát triển một cách đông đảo, mạnh mẽ của những cây bút trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ như: Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo,
Trang 9Dương Hương Ly, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật….Có thể khẳng định cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc là một mảnh đất màu mỡ khơi nguồn sáng tạo cho biết bao văn nghệ sĩ, mỗi nhà văn nhà thơ lại mang những phong cách sáng tạo khác nhau, không ai giống ai, cùng làm phong phú thêm cho nền văn học nước nhà Bàn về văn học giai đoạn này nhà thơ Hoàng Cầm
có nhận xét: “Thơ Hữu Thỉnh là thơ lấp lánh, thơ Phạm Tiến Duật là thơ thông minh, thơ Nguyễn Đức Mậu là thơ đậm đà, thơ Nguyễn Duy là thơ thuần việt, thơ Bằng Việt là thơ trí tuệ, thơ Vũ Quần Phương là thơ sang trọng, thơ Nguyễn Trọng Tạo là thơ tài hoa”
Hành trình đến với thơ Nguyễn Trọng Tạo là hành trình tự tìm tòi, khám phá trên cơ sở trực tiếp từ tác phẩm và những nhìn nhận cá nhân Sở dĩ
tôi nói như vậy vì thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là một "chân trời" mới, một "dư
địa" rộng rãi chưa được khám phá một cách cặn kẽ và có hệ thống
Nói đến Nguyễn Trọng Tạo là nói đến một tâm hồn nghệ sĩ đa dạng Anh đã bước vào nghệ thuật với nhiều phương diện: là một nhà thơ, một nhà phê bình và là một nhạc sĩ Một khúc hát quan họ, một bài thơ tình, một trang văn hay một trang phê bình giúp bạn có những cảm xúc khác nhau về một Cẩm Ly, một Bảo Chi hay một Tào Ngu Tử (các bút danh khác của Nguyễn Trọng Tạo)
Trong suốt quá trình sáng tác Nguyễn Trọng Tạo đã có những đóng góp không nhỏ cho nền thơ ca nước nhà, tên tuổi và những sáng tác của ông không chỉ thu hút được sự chú ý của độc giả yêu văn thơ trên khắp mọi miền tổ quốc, thậm chí có những bạn văn, bạn thơ, thích thơ ông và thuộc nhiều thơ ông Mặc dù Nguyễn Trọng Tạo đã nhận được không ít lời khen tặng từ bạn đọc nhưng chưa thực sự nhận được sự quan tâm của giới
nghiên cứu và phê bình
Trang 10Trên thi đàn thơ đương đại Việt Nam, thơ Nguyễn Trọng Tạo đã tạo được bước đột phá trong cách tư duy và hình thức thể hiện Thơ ông có sức sống bền bỉ, dẻo dai qua những chặng đường văn học và lịch sử của dân tộc Quan tâm và viết lời bình cho thơ Nguyễn Trọng Tạo chỉ mới xuất hiện ở một
số người, chủ yếu là bạn thơ và những người quen biết ông Nhà thơ Vũ Cao
lúc sinh thời đã nhìn ra sự khác biệt của Nguyễn Trọng Tạo, ông viết: “Anh
như một người lẻ loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người cứ trùng điệp qua lại Thật khó xếp Nguyễn Trọng Tạo vào một lớp nhà thơ nào,
một bên nhưng là để tìm cho mình một hướng đi riêng, một hướng đi mang tên Nguyễn Trọng Tạo Ông giống như một Chàng lãng tử hành hương trong hành trình đi tìm Đạo Trên chặng đường đi đầy chông gai và vực thẳm đó, người hành hương luôn khát khao gặp được những cảm xúc thơ mãnh liệt Thơ giống như Người tình trăm năm của cuộc đời Nguyễn Trọng Tạo – một người tình chung thủy và tươi mới!
Nhà văn Nguyễn Đình Thi lại cho rằng: “Khác hẳn những nhà thơ
không hiểu chính mình đang viết gì Tạo không viết những câu thơ bí hiểm, không viết những câu thơ tự đánh đố mình và đánh đố bạn đọc để làm ra vẻ mình là một nhà thơ có tư duy cao Thơ Tạo thể hiện tư duy của chính Tạo, không phải tư duy vay mượn của người khác, và ông khẳng định: “trên bảng ghi công những văn nghệ sĩ đổi mới thực sự đổi mới hiệu quả, có tên Nguyễn Trọng Tạo”[63]
Hoàng Cầm với “Đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo” là sự đồng cảm của hai
tâm hồn nghệ sĩ Riêng Trọng Tạo, ông chỉ đi theo nhịp bước nghìn năm của
dân tộc, nhịp song hành là chính, nhịp chẵn, hai - bốn và cả sáu - tám, cả chín
- mười, rất nhiều câu thơ dầu số chữ lẻ vẫn luôn theo nhịp chẵn như vợ chồng,
âm dương, như đôi chim liền cánh, hễ nghe kỹ từ phía trong hay phía ngoài
Trang 11cửa ngôn từ, nhất là ở những dấu lặng và khoảnh cách giữa hai câu, tôi vẫn thấy cái ung dung thư thái của nhịp chẵn, nhịp sáu - tám
Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha đã từng nhận xét về Nguyễn Trọng Tạo:
“Một người “ngả nghiêng với những khát vọng cách tân nghệ thuật… ứa
nghẹn những bức bách đời thường”[66] Thật vậy, nhà thơ luôn miệt mài lao
động nghệ thuật để thổi hồn mới cho trang thơ của mình, làm cho những bài thơ của mình mang hình sắc riêng, là “một phát minh về hình thức, một khám phá về nội dung” Khi đọc thơ ông chúng ta bắt gặp ngay “chất Nguyễn Trọng Tạo”, đặc biệt là cách sử dụng biện pháp tu từ quen thuộc, nương mình trên phông nền truyền thống để tạo dựng một sức bật vươn đến những tứ thơ lạ, những cách tổ chức ý tưởng thơ độc đáo Nguyễn Trọng Tạo đã có những đóng góp tích cực cho quá trình đổi mới thơ ca Những đóng óp đáng quý ấy một lần
nữa khơi nhắc ý niệm : “lẽ sống của Thơ là sự đổi mới không ngừng”
Nguyễn Đăng Điệp tiếp cận “Nguyễn Trọng Tạo - cái chớp mắt với
nghìn năm”[61] nhìn từ phương diện cá tính sáng tạo, đưa lại mỹ cảm mới
trong cách tiếp nhận Hồ Thế Hà có cái nhìn đầy tin yêu và khát vọng trong
“Thơ Nguyễn Trọng Tạo - hành trình của niềm tin và khát vọng”, “Sức bền
của một hồn thơ”[64] Phạm Phú Phong trong bài viết “Nguyễn Trọng
Tạo”[63], có cái nhìn tổng quan nhưng còn giản lược về quá trình sáng tác thơ
văn của nhà thơ Bài viết của Nguyễn Đỗ “Về một “Tạo” của Nguyễn Trọng
Tạo”[64] đề cập đến một số nét đặc trưng của Nguyễn Trọng Tạo trong thơ
nhưng chỉ dừng lại ở vài điểm cơ bản Hoàng Phủ Ngọc Tường với lời tựa
ngắn cho tập Đồng dao cho người lớn đã tiếp cận phong cách thơ Nguyễn Trọng Tạo (chủ yếu là tập Đồng dao) từ góc nhìn “Người Ham Chơi”:
“Thế giới hiện đại ưa chuộng một gã người có bộ mặt bông đùa dễ thương gọi là Homo luduss, Người Ham Chơi Khác với những tiền bối của
nó là Người Làm (Homo fabien) và Người Biết (Homo sapien) vốn đã có mặt
Trang 12từ văn hóa nhân loại cổ xưa, Người Ham Chơi cũng Làm, cũng Biết thông thái mọi điều Nhưng gã lại là một tay giang hồ khí cốt, nhìn đời như một khu vườn hoan lạc, nơi đó gã sa đà theo những cuộc vui với tâm thức cóc cần, nhẹ nhõm Cũng có người nhăn nhó khi nói đến gã, nhưng gã không bận tâm về điều ấy Người Ham Chơi lãng đãng giữa cõi đời cũng là để làm nhẹ bớt căn bệnh hay cau mặt của những kẻ thích tỏ ra nghiêm nghị”[66]
Trịnh Thanh Sơn với “Thơ trữ tình Nguyễn Trọng Tạo”[62] đã khái lược diện mạo chung của năm mươi tư bài thơ tình trong tập Thơ trữ tình Lê
Huy Mậu, Ngô Minh trong bài viết “Nguyễn Trọng Tạo - người tự sắm vai
mình” và “Có thể bạn chưa biết Nguyễn Trọng Tạo…”, “Nguyễn Trọng Tạo
như tôi biết”[66], chủ yếu kể lại những mẩu chuyện bên lề về cuộc sống lao
động, sinh hoạt, sáng tác của nhà thơ Thanh Thảo tiếp cận, nhưng chủ yếu
là ghi lại những cảm xúc và suy nghĩ của Nguyễn Trọng Tạo về hai loại hình
nghệ thuật thơ và nhạc dưới hình thức phỏng vấn : “Lan man với Nguyễn
Trọng Tạo trên tàu thống nhất”[67]…
Tuy vậy nhưng những bài nghiên cứu, đánh giá, bài viết này có quy mô vừa và nhỏ, chỉ giới hạn trong một bài báo và phạm vi bao quát cũng rất hạn chế, hầu hết mới chỉ đánh giá về một tập thơ, hay một phẩm chất nào đó trong hồn thơ của ông, thường thiên về cảm xúc hay ở dạng lời bạt, lời tựa Đã có
những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thơ ông như: Luận văn thế giới nghệ
thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo của Hoàng Minh Tường, cũng mới chỉ tếp cận
thơ ông theo hướng thi pháp học Nhưng công trình nghiên cứu này cũng bước đầu hé lộ ra những chân trời trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Như vậy có thể khẳng định thế giới thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là một khoảng lặng đang nằm trong sự chờ đợi, và lẽ đương nhiên nghiên cứu thơ Nguyễn Trọng Tạo
từ góc độ tư duy nghệ thuật thì còn quá mờ nhạt và chưa hệ thống
Trang 13Chính vì vậy việc nghiên cứu thơ Nguyễn Trọng Tạo dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật sẽ đi vào tìm hiểu sâu hơn cái tôi trữ tình của nhà thơ, qua đó khẳng định nhân sinh quan, thế giới quan sâu sắc của ông thông qua cái tôi trữ tình, những biểu tượng đặc sắc cùng những phương tiện ngôn ngữ được thể hiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn “Thơ Nguyễn Trọng Tạo từ góc độ tư duy nghệ thuật”
được thực hiện trên cơ sở nghiện cứu, khảo sát hệ thống nhân vật trữ tình, biểu tượng và ngôn ngữ thi ca
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là toàn bộ thơ Nguyễn Trọng Tạo (kể cả trường ca ) Nhưng để có cái nhìn toàn diện hơn về thơ Nguyễn Trọng Tạo, trong quá trình nghiên cứu, khảo sát chúng tôi luôn đặt thơ ông trong dòng chảy của nền văn học dân tộc, trong sự so sánh, đối chiếu với một
số nhà thơ khác Tất cả nhằm đưa ra những kết luận khách quan về tư duy thơ Nguyễn Trọng Tạo, góp phần khẳng định chỗ đứng và giá trị của thơ ông đối với nền thơ ca dân tộc
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng một cách tổng hợp
những kiến thức về lí luận văn học, văn học sử và những phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể
- Phương pháp loại hình học
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo Việc nghiên cứu tư duy thơ qua sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tình, qua hệ thống biểu tượng, qua ngôn ngữ đã góp phần làm rõ hơn
Trang 14quá trình biến đổi của ngôn từ, cảm xúc trong việc hình thành phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo
Tìm hiểu tư duy thơ Nguyễn Trọng Tạo trong tiến trình chung của thơ Việt Nam hiện đại sẽ góp thêm cái nhìn toàn diện, khách quan về toàn bộ sáng tác thơ của ông Qua đó khẳng định hướng nghiên cứu từ góc độ tư duy nghệ thuật với hiện tượng văn học thực sự là một hướng nghiên cứu tích cực, cần được tiếp tục phát triển
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ
Nguyễn Trọng Tạo
Chương 2: Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Chương 3: Ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TƯ DUY THƠ VÀ
QUAN NIỆM THƠ CỦA NGUYỄN TRỌNG TẠO
1.1 Một số vấn đề lí luận về tư duy thơ
1.1.1 Khái niệm tư duy
Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học
cơ bản mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật Tâm lí học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại của tư duy với các phương diện khác nhau của nhận thức Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau Sinh lý học nghiên cứu ở cơ chế thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của quá trình tư duy của con người…Như vậy tư duy à toàn bộ hoạt động tâm lý của con người, chỉ con người mới có Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não, M.Rodentan, P.Iudin định nghĩa về tư duy
trong cuốn Từ điển triết học như sau: “ Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính
của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi, gần 16 tỉ tế bào thần kinh”
Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự việc, hiện tượng mà ta chưa từng biết Như vậy, nghĩa là tư duy khác với ý thức, bởi lẽ ý thức là sự phản ánh hiện thực của hoạt động tâm lý Tư duy cũng khác với lý trí, vì lý trí là cái logic có tính nguyên tắc của nhận thức, trong khi đó tư tưởng lại vừa là kết quả, vừa là xuất phát điểm của tư duy Điều này giống với quá trình nhận thức, khi sự nhận thức chưa có, thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc
Trang 16Ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng, mà quan trọng hơn cả ngôn ngữ chính là phương tiện để diễn đạt tư
duy “Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản
ứng có tính chất bản năng trước hiện thực Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ
là những tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất của hiện thực [ 23,tr19 ] Và như vậy ngôn ngữ thơ cũng chính là
phương tiện để biểu đạt tư duy thơ
1.1.2 Khái niệm tư duy nghệ thuật
1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật
Trong “ từ điển thuật ngữ văn học” có nhận định: Tư duy nghệ thuật
là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Phương tiện của tư duy là ngôn ngữ
Cơ sở của tư duy là tình cảm dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể), có thể cảm nhận, theo xác suất khả năng và tất yếu Như vậy điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật chính là sáng tạo, rồi biểu đạt nó qua các biểu tượng nghệ thuật Mỗi người nghệ sĩ đều có cách lựa chon biểu tượng khác nhau để bộc lộ tư duy và cách nhìn thế giới của mình
Mỗi nhà văn, nhà thơ lại nhìn thế giới theo những cách riêng biệt, có
cá tính tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo Nhưng không phải cứ làm thơ, viết văn là được gọi là người nghệ sĩ, là được độc giả nhớ đến tên tuổi
Trang 17Cái khác nghiệt của văn chương là ở chỗ hướng đến cái tôi, cái cá nhân, cái duy nhất, vì vậy phải thực sự say mê, tìm tòi và sáng tạo thì cái độc đáo của người nghệ sĩ mới bộc lộ, tạo ra sự độc tôn như nhất Nghệ thuật chân chính
là nghệ thuật không dung nạp sự sao chép, khiên cưỡng, làm theo vài kiểu mẫu mà người khác đưa cho Nghệ thuật phải là sự tìm tòi sáng tạo khơi nhũng nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về tư duy
nghệ thuật, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành nhận định: “ Tư duy nghệ thuật
là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối sâu sắc của thế giới quan và nhận sinh quan của người sáng tác”[
26,tr54 ] Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ tư tưởng, tình
cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của
tư duy “Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là
năng lượng tình cảm còn lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành” [26,tr54]
Nếu như truyện, ký, kịch, tiểu thuyết là những bức tranh rộng lớn phản ánh hiện thực cuộc sống một cách khách quan, tư tưởng của người sáng tạo được gửi qua những phát ngôn của nhân vật chính, tạo nên cốt truyện chặt chẽ thể hiện quan niệm, cách nhìn cuộc sống sinh động như nó vốn hiện hữu Với ưu điểm phản ánh ở phạm vi rộng lớn nên bước vào thế giới của các tác phẩm tự sự nói chung, người đọc dễ dàng cắt nghĩa, lý giải và định nghĩa hoàn chỉnh về tư tưởng, ngụ ý mà tác giả thông qua câu chuyện của mình gửi tới đọc giả Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong
đó các nhận vật có đường đi và số phận của chúng Bằng những độc thoại, đối thoại tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn xung đột Ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới quan của con
Trang 18người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu Qua đây ta nhận ra, thơ trực tiếp gắn với thế giới tâm hồn của con người, mà tâm hồn con người lại mang những cung bậc cảm xúc vô cùng phúc tạp, lại mờ ảo như sương khói, nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác, nhưng rất khó đúc kết, không thể khái quát thành một định nghĩa hoàn chỉnh
1.1.2.2 Tư duy thơ
Tư duy thơ là phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình khả năng biểu hiện phong phú nhờ kho biểu tượng của thơ phong phú và đa dạng Biểu tượng mà nhà thơ sử dụng có khi gần gũi, có khi trừu tượng vời vợi cách xa, có khi chi là những sự vật vô cùng nhỏ bé không
có giá trị trong cuộc sống nhưng mang sức khái quát cao Tùy vào cảm xúc và dụng ý, trí tưởng tượng, chiều sâu suy luận mà thi sĩ chọn cho mình những biểu tượng khác nhau Thơ là sự bộc lộ trực tiếp tâm tư, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn, là tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim Đặc trưng chủ yếu của thơ là cảm xúc, là tình cảm, do đó thơ hướng đến chức năng biểu hiện Ở thơ, ta bắt gặp những thăng trầm của cảm xúc, đó có thể là nỗi niềm riêng tư trong hạnh phúc lứa đôi, về tình yêu đôi lứa, về nỗi đau chia ly, về khát vọng sống….Đó cũng là những suy tư về nhân tình thế thái, về số phận của con người, thăng trầm của xã hội, ở đó có tình yêu quê hương, đất nước, có niềm tự hào dân tộc… Thơ sẽ tồn tại mãi khi con người còn có nhu cầu bộc cảm xúc vui buồn của mình, vì vậy thơ có đóng góp lớn và tạo ra tiếng nói rất riêng không thể thiếu của nền văn học dân tộc
Từ những đặc trưng của thơ, mà thi sĩ có khả năng liên tưởng phong phú mà đa dạng, nhờ đó mà tư duy thơ có khả năng hướng nội, hướng ngoại Tùy từng thời đểm, phong cách riêng mà thi sĩ chọn cho mình những cách tư duy phù hợp Tư duy hướng nội thường phổ biến trong thơ trung đại và thơ
Trang 19lãng mạn, nơi cái tôi thi sĩ lên ngôi Ở đó tác giả thường tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội tại của mình Tư duy hướng ngoại phổ biến ở giai đoạn văn học cách mạng, thi sĩ say mê thể hiện cái ta trong mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của cộng đồng Đối tượng mà tư duy hướng ngoại phản ánh là cuộc sống xã hội được trình bày dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ
Mặt khác, phương tiện biểu đạt của tư duy nghệ thuật nói chung là ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ của thơ nói riêng là lớp ngôn từ rung lên từ nhịp đập của trái tim, do vậy rất ngắn gọn, cô đọng và súc tích Ngôn ngữ thơ có thể cùng lúc biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể, trực tiếp Ngôn ngữ của thơ là ngôn ngữ của thị giác, thính giác, cảm giác, ở đó hội tự đầy đủ ba yếu tố: thơ, nhạc và họa Tính nhạc xuất hiện trong nhịp điệu câu thơ, lời thơ, ngân nga trong trái tim độc giả dù lời thơ đã dứt Bắt nhịp vời nền thơ ca dân tộc, thơ Nguyễn Trọng Tạo là sự kết hợp hài hòa tư duy hướng nội và tư duy hướng ngoại, tạo nên dấu ấn riêng, mang đậm nét cá tính Thơ ông có sự hòa hợp giữa thơ ca – hội họa – âm nhạc – điêu
khắc, ông đã đem vào thơ "nổi hoài nhớ yên lành", để diễn giải những từ khúc
riêng tư và những đa đoan cháy bỏng của cuộc đời, rồi từ đó gieo vào tâm hồn người đọc những tình cảm yêu mến lạ lùng, để lại niềm hoài nhớ mênh mang cho độc giả Được xem là người biết nắm bắt thời thế, nên khi bước ra khỏi chiến tranh, trong lúc tên tuổi của các nhà thơ đình đám khác dường như đang dần lắng xuống, thì thơ ông lại như vút cao lên để khẳng định vị trí của mình trong dòng chảy của văn học dân tộc
2.2 Quan niệm thơ Nguyễn Trọng Tạo
2.2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Trọng Tạo sinh ngày 25 tháng 8 năm 1947 trong một gia đình nho học ở làng Trường Khê, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Ông lớn lên
Trang 20trong không gian thấm đẫm hồn đất, hồn lúa của cả một vùng quê cổ kính Nơi đó, cái quạt mo, ánh trăng, đường làng và ngai ngái mùi rơm rạ xóm thôn
đã đi dài theo cuộc đời của người nghệ sĩ đa tài cầm-kỳ-thi-họa “Kẻ ham chơi” vẫn cứ “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” cho thỏa chí tang bồng cùng trời đất Cứ như thế, Nguyễn Trọng Tạo trải qua hơn 60 năm sóng gió và đầy trải nghiệm của mình với những vần thơ đầy tính dự báo khắc khoải, bay qua
thời gian về lẽ đời được mất
Cả cuộc đời gắn bó với nghiệp thơ ca, ông được bạn bè trong giới ví như “người tận lực cho thơ Làm thơ hay làm việc gì cũng phải say mê và
“tận lực” mới mong có thành công Khi đã chọn thơ làm nghiệp, thì nhà thơ phải biết vượt qua nhiều chông gai, sóng gió trên hành trình sự nghiệp
Năm 1969 tham gia quân đội, thuộc Đoàn 22, Quân khu 4, rồi làm Đội trưởng Đội tuyên truyền văn hóa Đoàn 22B, Trưởng đoàn văn công xung kích
Sư đoàn 341B Năm 1976 được Tổng cục Chính trị điều về Hà Nội tham gia Trại viết văn quân đội rồi vào học Đại học viết văn Nguyễn Du khóa I Năm
1982 làm trưởng ban biên tập Nhà Văn hóa Quân khu Bốn Năm 1988 chuyển về làm công tác biên tập xuất bản tại Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên Năm 1990 cùng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhà văn Nguyễn Quang Lập sáng lập tạp chí Cửa Việt, làm biên tập và phụ trách mỹ thuật tạp chí này bộ đầu tiên gồm 17 số Năm 1997 làm Thư ký Tòa soạn tạp chí Âm nhạc thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam Nguyễn Trọng Tạo còn là họa sĩ minh họa và trình bày mỹ thuật tạp chí Cửa Việt, tạp chí Âm Nhạc, báo Thơ, tác giả măng-sét tạp chí Sông Hương, Sông Lam, Hồng Lĩnh, báo Thơ Ông là người nghệ sĩ đa tài vừa là nhà thơ, vừa là nhà báo, vừa là một họa sĩ, lại vừa
là một nhạc sĩ Ông có nhiều đóng góp lớn trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Sáng tác bài thơ đầu tiên năm 14 tuổi, sáng tác bài hát đầu tiên năm 20 tuổi Xuất bản tập thơ đầu tiên (Tình yêu sáng sớm, in chung cùng Nguyễn
Trang 21Quốc Anh) năm 1974 Ông là tác giả của những tập thơ, trường ca như Đồng
dao cho người lớn (1994-1999), Nương thân (1999), Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc)(1981), Những bài hát Làng Quan Họ quê tôi, Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang, tác giả Biểu tượng Ngày thơ Việt Nam,
Cờ thơ… Đến năm 2011, Nguyễn Trọng Tạo đã xuất bản 20 đầu sách gồm
thơ, văn, nhạc, phê bình, tiểu luận; đoạt 14 giải thưởng văn học nghệ thuật từ năm 1969 cho đến bây giờ Đặc biệt, năm 2012, ông đã được Giải thưởng
Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với tập thơ Đồng dao cho người lớn và Trường ca Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc)
Nguyễn Trọng Tạo tâm sự về mối nhân duyên đến với nghệ thuật: “Đã
gọi là duyên thì nó là tự nhiên, nhân duyên là chuyện của giời” Bài thơ đầu tiên của tôi năm 14 tuổi, giọng thơ già như người lớn (Bạn ơi trăng quá ngây
thơ/ Còn tôi cằn cỗi, già nua thế này/ Bao giờ tôi hóa làn mây/ Hẳn tôi muôn
thuở sum vầy cùng trăng…) Năm 16 tuổi, tôi vẽ “tranh bờ Hồ” cùng bạn đi
bán tận chợ Vinh, chợ Giát nên mới có câu thơ ghi lại chuyện này “Những
bức tranh sơn thủy đầu tiên/ đã chiêu đãi chúng tôi quýt cam và bánh mì/ Trưa
no nê nhìn phố xá trăm màu/ tối tìm chỗ ngủ lang thang nhớ mẹ” Khi 18 tuổi
cũng viết một bài hát cho đội văn nghệ xã tham gia hội diễn huyện, bài
“Sóng sông Bùng” Cũng năm đó, tự làm một chiếc đàn violon, và từng chơi cây đàn này trong buổi chào cờ của Trường cấp 3 Diễn Châu 2 thời Mỹ ném bom miền Bắc Trước khi vào lính, bắt đầu ghi nhật ký bằng thơ vào sổ tay, được nhà thơ Trần Hữu Thung mời tiếp nhà thơ Phùng Quán một đêm trắng
ở quê, uống rượu và đọc thơ Được 2 nhà thơ khuyến khích làm thơ, và chép cho anh Trần Hữu Thung ba bốn bài, anh ấy đưa vào một cuộc thi ở tỉnh và được giải thưởng” [http://vietvan.vn]
Cuối năm 2011, nhà thơ ra mắt tập sách “Nguyễn Trọng Tạo – Thơ và
trường ca” Tuyển tập gồm 296 bài thơ và 2 trường ca này được xem là
Trang 22những gì tiêu biểu nhất của trong sự nghiệp thơ ca của cuộc đời Nguyễn Trọng Tạo đầy sóng gió Nhà thơ chia sẻ, ông đã tự mình lựa chọn các tác phẩm để đưa vào cuốn sách này và có thể coi đó là những tác phẩm tiêu biểu nhất, đánh dấu một chặng đường sáng tác đầy say mê và trách nhiệm của nhà thơ xứ Nghệ kể từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến sau đổi mới và cho tới ngày hôm nay Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp nhận
định: “Nguyễn Trọng Tạo thực sự là người có những đóng góp đáng quý
trong quá trình đổi mới thơ ca Trong những thi phẩm xuất sắc của mình, ông
đã ngộ ra được lẽ sống của thơ là sự đổi mới không ngừng Chính vì thế mà ông trở thành một gương mặt sáng giá trong đội ngũ những nhà thơ mấy thập niên qua [64]
2.2.2 Quá trình sáng tác
Là lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiển chống Mỹ, được đào tạo một cách bài bản để trở thành một nhà thơ, vì vậy quá trình sáng tác thơ của Nguyễn Trọng Tạo cũng chính là hành trình hình thành tư duy nghệ thuật Quá trình sáng tác thơ Nguyễn Trọng Tạo được chia làm hai giai đoạn chính trước và sau 1975
Trước năm 1975, Nguyễn Trọng Tạo chủ yếu viết về chiến tranh, cùng một đề tài, nhưng thơ ông có sự tìm tòi, phát hiện những điểm sáng
của cảm xúc ở Tình yêu sáng sớm (1973) Tuy nhiên ở giai đoạn này
Nguyễn Trọng Tạo đã rất vững vàng khi thể hiện chiến tranh và tâm hồn con người thời chiến ở những bình diện mới, với vốn sống, với văn hoá phong phú Không nổi đình nổi đám như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, thơ ông giống như một mạch nước ngầm nhẹ nhàng lan tỏa, thấm sâu vào tâm hồn, nhờ đó mà người đọc đã nhận thấy ở ông một tư duy thơ sắc sảo, trẻ trung, đầy dự cảm
Trang 23Sau năm 1975, đặc biệt là những năm đất nước đầy biến động khi đứng trước công cuộc đổi mới, Nguyễn Trọng Tạo nhanh chóng nhập cuộc Thơ ông đã có một bước chuyển quan trọng từ tính chất sử thi sang trữ tình, đó là
bước chuyển từ các trường ca Con đường của những vì sao(1981) và Tình ca
người lính (1984), sang các tập thơ Sóng thuỷ tinh và Gửi người không quen mà bản lề là Tản mạn thời tôi sống Đây cũng chính là bước chuyến biến
của tư duy thơ, từ tư duy thơ hướng ngoại đến tư duy thơ hướng nội, tác giả thể hiện thế giới tâm tư sâu kín của mình khá độc đáo
Người sao, thơ vậy, nếu như trước kia, trong văn học hiện đại 1930 –
1945 ta bắt gặp một người thơ nồng nàn tha thiết như Xuân Diệu, một người văn cá tính, uyên bác như Nguễn Tuân, một cây bút ký sự tài hoa, phóng túng bay bổng như Hoàng Phủ Ngọc Tường Ngày nay, bước chân vào làng thơ ca hiện đại Việt Nam sau kháng chiến chống Mỹ, ta lại thấy một người thơ ham chơi, mang trong mình những mối quan hoài về cuộc đời Với một trái tim đầy nhạc, bước chân phiêu lãng đã đưa Nguyễn Trọng Tạo qua mọi miền quê
để trải nghiệm những khóc cười nhân thế Bước vận động trong tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo nằm trong sự chuyển mình chung của văn học sau 1975, khẳng định tên tuổi Nguyễn Trọng Tạo, bên cạnh Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh, Lâm Thị Mỹ Dạ,… làm thành đội hình mới với những giọng điệu bất ngờ, mới mẻ, đôi khi táo bạo
Là một nhà thơ đa mang, lắm mối, nhưng trước sau gì Nguyễn Trọng Tạo vẫn sống chết với thơ Nhìn từ chiều dài lịch sử, thơ Nguyễn Trọng Tạo
đã từng một thời phơi phới tin yêu, tha thiết thật lòng, trong trẻo đến vô ngần với niềm lạc quan của giới trí thức “xếp bút nghiên lên đường ra trận” Nhưng phần thơ hay nhất của ông lại nằm ở thời hậu chiến Ngòi bút của Nguyễn như gặp một vụ mùa bội thu khi bắt nhịp vào cuộc sống hổi hả, xô bồ của thời kỳ đổi mới, Nguyễn Trọng Tạo nhanh chóng nhận ra diện mạo cuộc sống từ
Trang 24những đổi thay, biến động Đồng thời nhà thơ cũng sớm nắm bắt được mối quan hệ của con người, đặc biệt là con người cá nhân Ông đặt mình trong mọi mối quan hệ, từ đó, có cách cắt nghĩa riêng về cuộc sống Nguyễn Trọng Tạo đã tìm một lối rẽ như là sự chuyển “kênh” để tiếp nhận những giá trị từ cuộc sống và gửi gắm lại cho người đọc Thơ của ông thời kỳ này bàng bạc một niềm tin thấm đẫm vẻ đẹp quá vãng Ở đó, ông kí thác khát vọng về cuộc sống tươi đẹp, ngập tràn hạnh phúc được an ủi, sẻ chia nhưng vẫn luôn tỏ bản lĩnh vững vàng khi giãi bày các hiện tượng của đời sống Đọc thơ ông ở giai đoạn này, tôi lại liên tưởng đến văn của Thạch Lam, hơi thở của thơ như phảng phất ở nơi này, lại bàng bạc ở nơi kia, nó nhẹ nhàng như cơn gió, nhưng lại có sức lay động và ám ảnh lớn
Trong suốt những cuộc dông dài của đời mình, Nguyễn Trọng Tạo đã nhận ra nỗi cô đơn nguyên thuỷ của loài người, hơn lúc nào hết, nhà thơ muốn quay về cái hồn quê bình dị như quay về với bản sắc truyền thống Và người
đọc nhận thấy Đồng dao cho người lớn ra đời như một tất yếu của sự lớn lên
từ những chiêm nghiệm về bản thân và cuộc đời sau Tản mạn thời tôi
sống Đồng dao đã thật sự là “tiếng hát ngu ngơ của Người Ham chơi (…) qua bao nhiêu nẻo đường không tên của trần gian, đi xuyên đá để tới bên vực thẳm của phế tích, và đến cùng kiệt gã theo tờ lịch mỏng nhảy vào kiếp luân hồi”[ http://www.thivien.net] Tập thơ là tiếng nói của trái tim cô đơn, tha thiết yêu cuộc sống, muốn cống hiến nhưng lại mang trong mình nhiều dự
cảm Có lẽ vì thế mà ở Đồng dao cho người lớn ta thấy nỗi cô đơn đã được
tác giả khái quát thành triết lý Đằng sau những vần thơ bồng bềnh, phiêu lãng
là chiều sâu của cảm hứng về nhân thế là những lăn lóc của thân phận mà thi
sĩ đã trải qua và thấu hiểu
Qua hai tập thơ Đồng dao cho người lớn và Thế giới không còn
trăng đã hình thành một cách đầy ý thức và quyết liệt cho giọng điệu và
Trang 25phong cách “giễu nhại đau buồn”, thể hiện rất rõ sự “vỡ giọng” và sự thay đổi
về tư duy nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Đó chính là quá trình tự
nhận thức lại chính mình và người khác
Đi sâu vào nghiên cứu tư duy thơ Nguyễn Trọng Tạo, ta thấy ông không chỉ đem đến cho thơ một nguồn cảm hứng mới mẻ, hơn thế ông tạo ra được bước chuyển biến mới bằng việc nhận diện sâu sắc bản chất cuộc sống Nhà thơ hướng ngòi bút về những nỗ lực có tính dự báo, đào sâu, thăm dò hiện thực bằng cách nhìn biện chứng Thơ là người thư ký trung thành của thời đại, là tấm gương phản chiếu thế giới tâm hồn, có lẽ nhận thức rõ sứ mạng cao cả của thơ, nên ngòi bút tinh tế của ông đã hướng đến mọi ngóc nghách của cuộc sống và phản ảnh chân thực tài tình cuộc sống ấy bằng ngôn
từ của trái tim Ông cố gắng phát hiện những cơ sở tồn tại khách quan của đời sống như không gian, thời gian và những giá trị vĩnh hằng khác như tình yêu,
lẽ sống… Nhà thơ đặt con người trong mối quan hệ đa dạng của cuộc sống để cắt nghĩa mọi hiện tượng và tâm lý con người, đặc biệt là con người đời tư -
cá thể Từ đây, tư duy thơ của ông nghiêng hẳn về phía hướng nội và đầy chất triết lý Càng về sau, tư duy thơ Nguyễn Trọng Tạo càng tăng cường các yếu
tố hư ảo, tiềm thức và trực giác
Tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo là sự tích hợp một cách nhuần nhuyễn và sâu sắc giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại Tư duy thơ ông đã thể hiện sự phản ứng nhanh khi nắm bắt được cái mới nhưng luôn “bảo thủ” trước những giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc Đó là một tư duy tích hợp, đa chiều cạnh, đã tìm được sự hài hoà thống nhất trong khối đa dạng và mâu thuẫn
2.2.3 Quan niệm thơ
Bước vào thời hậu chiến, không khí văn chương thật sinh động, sôi nổi Tất cả các nhà văn, nhà thơ đều phới phới một niềm hạnh phúc hân hoan,
Trang 26sống trong những ngày hội của đất nước, Nguyễn Trọng Tạo đã xuất hiện như một hiện tượng trên văn đàn, một cơn gió lạ của thơ ca dân tộc Gần như cùng
một lúc, ông được ba tờ báo lớn nhất nước ta thời bấy giờ là Nhân dân, Văn
nghệ và Văn nghệ Quân đội tặng giải thưởng thơ hay của năm 1978 Đến nay,
ông đã có một “gia tài” thơ văn tương đối đồ sộ, tên tuổi của ông trở nên quen thuộc với những người yêu thơ
Nhà thơ Lê Huy Mậu cho rằng, thơ Nguyễn Trọng Tạo là “thơ tài hoa” khác với nhà thơ Hoàng Cầm khi cho thơ ông là “thơ của người nhàn” Còn
nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, trong một bài viết về tập thơ Thế gới không còn
trăng đã gọi giọng thơ của ông là “sự giễu nhại và nỗi đau buồn sâu thẳm”
Giống với Trần Đăng Khoa, Nguyễn Trọng Tạo được gọi là nhà thơ rất có duyên khi viết cho thiếu nhi Những bạn nhỏ luôn tìm thấy trong tác phẩm của ông những tình cảm mới mẻ, những ý tưởng đẹp đẽ, những áng văn lấp lánh
mê hồn Ngược lại, bạn đọc lớn tuổi lại gặp gỡ ở đây biết bao kí ức tuổi thơ tươi rói đã bị lãng quên khoả lấp
Thơ tình yêu Nguyễn Trọng Tạo thường say đắm và buồn Nỗi buồn trong thơ tình của ông được nâng lên thành một triết lý hoặc là một định đề - bất di bất dịch Ở đó, ông hiện lên như một “con người ngỡ là từng trải, từng trải qua chiến trường, qua cả “tình trường” mà không hề chai sạn, cứ run rẩy như thuở mới vào đời, như một khúc mộng mơ, như một kẻ mắc nợ” Mỗi người khi đọc thơ ông lại có cách cảm nhận riêng biệt, không ai giống ai Sở
dĩ, có sự phong phú đa dạng trong nhận thức thơ ông như vậy là vì: Ông đã đưa đến cho bạn đọc những quan niệm vô cùng mới mẻ và khác hẳn với những quan niệm về thơ trước đó Ông là người có nhiều đóng góp lớn cho sự đổi, khám phá mới về thơ đương đại Việt Nam trong sự đối sánh với nét đẹp
dĩ vãng (phong trào thơ mới) và khát vọng hướng đến một nền thơ rực rỡ trong tương lai
Trang 272.2.3.1 Thơ là sự chắt lọc từ những trải nghiệm của cuộc sống
Nguyễn Trọng Tạo vốn là con người có tâm hồn đa mang, trái tim nhạy cảm, lối sống phóng khoáng, ông đã đi nhiều nơi, qua mọi vùng miền,
để rồi chắt lọc những điều mắt thấy, tai nghe thành những câu thơ đầy nhạc điệu, mang tính triết lý sâu sắc
Có thương, có nhớ, có khóc có cười
có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi
Hai câu thơ rất giản dị, lời thơ chân thành, mộc mạc, dễ đọc, dễ nhớ nhưng lại mang nhiều ý nghĩa Lời thơ đã dẫn dắt người đọc về với cuộc sống của con người trong cõi nhân thế Ở đó vui buồn lẫn lộn, thương nhớ đan xen,
đó là những cảm xúc của con người trong cuộc đời Sông có khúc, người có lúc, ai cũng có những khi khổ đau, vui sướng, ai cũng chất chứa trong tim những niềm thương nỗi nhớ, những ngọt ngào đắng cay Nhưng cuộc đời con người cũng ngắn ngủi chẳng tày gang, chỉ cần một cái “chớp mắt” là mọi nỗi đau nhân tình thế thái đã trở thành dĩ vãng
Đáng chú ý hơn, hai câu thơ cho thấy rõ quan niệm của Nguyễn Trọng Tạo về người nghệ sĩ Đó là, đã dùng ngòi bút tâm hồn của mình để mang thơ đến tặng cho đời, thì người thơ phải thấu hiểu sâu sắc rằng: Sự sống còn của
người viết là phải nương thân vào chữ nghĩa “Nơi ấy hồn nằm trong xác và
xác ngụ trong hồn Không còn cách nào khác , tư cách của nhà thơ chỉ có thể
đo ướm bằng sự tỏa sáng của những con chữ Tại đó, anh ta trình với mọi người cái vân tay vân chữ của mình trên tờ căn cước bằng giấy trắng mực đen Hay, dở đã thuộc về kẻ khác Mọi phân trần hay biện hộ của nhà thơ đều
trở thành vô nghĩa”[61,tr6]
Với Nguyễn Trọng Tạo, “thơ là những ám ảnh tâm hồn”, “thơ là một
chớp sáng”, “thơ được làm bằng máu, thơ gần với nước mắt hơn là tiếng cười” Ông bộc bạch: “Tôi nương thân vào chính thơ tôi Thơ lại nương náu
Trang 28trong từng con chữ và điệu nhạc vang lên từ cõi tâm linh nào xa thẳm Thơ là cái bóng của tôi hay tôi là cái bóng của thơ, tôi nào có biết”[61,tr517] Tác
giả mượn thơ để tự giãi bày về mình, qua thơ độc giả thấy được nỗi ám ảnh quan hoaì thường trực trong tâm hồn ông Hơn nữa qua những lời thơ tưởng như là lời tâm sự rất đỗi bình thường của ông trong đời sống khi nói chuyện
về thơ, người đọc đã nhận rõ được mối quan hệ sâu sắc giữa thơ và người làm
thơ Suy nghĩ của ông về thơ quả thực rất mới lạ: “Con người không có thơ thì
chỉ là cái máy bằng xương bằng thịt Thế giới không có thơ thì chỉ là một cái nhà hoang”[61,tr526] Thơ giống như gió, con người ta không thể dùng mắt
thường mà nhìn thấy, không thể dùng tay mà nắm bắt mà thơ chỉ có thể cảm nhận bằng những giác quan của trái tim, bằng sự tinh tế của tâm hồn đang tràn ngập ý thơ Không ai biết thơ từ đâu tới, thơ đi về đâu, nhưng thơ mang trong mình những năng lực siêu phàm huyền bí Có lẽ thơ bắt đầu từ những trái tim đang đập nhịp yêu thương, và điểm đến của nó là tìm đến với sự đồng cảm của con người trong thế giới muôn hình vạn sắc Trong thế giới ấy thơ có một sức mạnh phi thường, thơ giúp người gần người hơn, thơ làm đẹp cho đời, thơ làm cho cuộc sống này luôn hân hoan trong những giai điệu khi bổng khi trầm của đời Với Nguyễn Trọng Tạo, thơ có lẽ được xem là bức chân dung tự họa đầy đủ và sinh động nhất về một người thơ ham chơi, phiêu lưu cùng trời đất gió trăng, nhưng chất đầy trong tim những mối suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm về đời tư thế sự
Vẽ tôi mực rượu giấy trời nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau
vẽ tôi thơ viết nửa câu nửa câu ma quỷ đêm sâu gợi về
( Tự họa)
Trang 29Thơ là nguồn cảm hứng, là nơi ông giãi bày những buồn vui của đời tư,
thế sự: “Thơ làm cho ta buồn vui lúc nào không hay Thơ làm cho ta thoát
ngoài tục luỵ phiêu diêu cùng trời đất, hoà nhập với thiên nhiên, hoặc đồng cảm cùng đồng loại” [61,tr526]
Rồi một ngày thành phố sẽ nổ tung
bởi những hạt sự thật
Ông làm thơ là để giãi bày tâm trạng, để thăng hoa cảm xúc, do đó thơ ông khi nói về sự trải nghiện trong cuộc sống hiện đại khá sâu sắc và thấu đáo Ông vừa tỏ ra tôn kính những nét truyền thống thơ ca của văn học Việt, vừa gửi vào đó những hình ảnh, cụ thể, hấp dẫn đem đến cho độc giả một sự tươi mới sống động của văn học đương đại Việt Nam Thơ Nguyễn Trọng Tạo được xem như sự chắt lọc những tinh hoa văn hóa của các thế hệ nhà văn
đi trước, kết hợp với lối tư duy hiện đại đem đến cái lạ trong tiếng thơ ông
Và cái lại đó đã trở thành một niềm hứng khởi, say mê đối với độc giả nhiều thế hệ
2.2.3.2 Thơ phản ánh cuộc sống đời thường chân thực
Thơ ca là tấm gương phản chiếu cuộc sống chân thực khách quan, nhà thơ là người thư ký trung thành của thời đại, nghĩa là đã là thi sĩ thì không thể
“mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, mà phải quan sát cuộc sống và thể hiện
cuộc sống qua ngôn ngữ một cách sinh động như nó vốn tồn tại Nguyễn Trọng Tạo – Người thơ ham chơi có tâm hồn phóng khoáng, phiêu lưu lại cho
rằng: “Thơ phải là tấm gương phản chiếu cuộc sống đời thường chân thực”
có như vậy thơ mới làm tròn sứ mạng của mình, làm tròn chức năng của mình đối với cuộc đời Từ quan niệm ấy, Nguyễn Trọng Tạo đã viết lên những vần thơ thực sự có giá trị sâu sắc và cảm động, khiến cho độc giả đọc thơ ông, không thôi bị ám ảnh, day dứt Giữa những bộn bề của cuộc sống đời thường, chúng ta bắt gặp không ít những con người nhà quê lưu lạc giữa chốn thị
Trang 30thành, để rồi nhận ra mình là kẻ bơ vơ giữa dòng đời tấp nập Đó có thể là bạn, là tôi, hay là bất cứ ai, câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo, mới đọc tưởng như vô nghĩa, nhưng ngẫm kỹ người đọc sẽ thấy đó là nỗi niềm tâm trạng của thi sĩ nói riêng, và của tất cả những người sống tha phương nơi đất khách nói chung
Ngơ ngác giữa phố một thằng nhà quê nhớ thương mộ tổ biết bao giờ về
(Lưu lạc)
Câu thơ dung dị mà chân chất, thật đến bất ngờ đã tạo ra được cái nét duyên dáng, mang lại cho câu thơ một điệu tâm hồn độc đáo Tài năng của Nguyễn Trọng Tạo nằm ở chỗ ông biết cách đổi giọng để tạo ra sự hài hòa giữa vần điệu và cảm xúc, khiến cho mỗi hình ảnh thơ của ông hiện lên chân thật và
vô cùng sinh động như đang tồn tại ngay trước mắt người đọc Viết về hình ảnh người mẹ nhà quê, có lẽ không ai đạt đến độ tinh tế, khéo léo như ông
Mẹ tôi dòng dõi nhà quê trầu cau từ thuở chưa về làm dâu
áo sồi nâu, mấn bùn nâu trắng trong dải yếm bắc cầu nét duyên
( Mẹ tôi )
Đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo ta thấy, những điều nhỏ bé tầm thường nhất trong cuộc sống cũng được ông viết thành thơ, khái quát thành một triết
lý, qua đó bày tỏ quan điểm của người cầm bút Đồng dao cho người lớn của
ông được xem như một bức tranh hiện thực sinh động về đời sống, về thế giới
nội tâm, về những ao ước thầm kín, thậm chí Đồng dao cho người lớn còn là
những đố kỵ hờn ghen, những toan tính lọc lừa, nhỏ nhen ích kỷ của con
Trang 31người thời hiện đại Mặc dù vậy, thơ Nguyễn Trọng Tạo không phải là sự miêu tả ngợi ca hay đả kích, lên án những hiện tượng xã hội nóng bỏng mặc
dù ông chủ trương làm thơ gắn với đời thật: “Thơ là sự đối diện với sự thật
được chưng cất… Làm thơ là hoá giải thời đại vào ngôn từ Thơ tôi không bao giờ thoát khỏi những xung đột thời đại, dù đó là những bài thơ tưởng như riêng tư nhất Tôi muốn thơ tôi là thơ của đương đại” [61,529]
Văn chương và cuô ̣c sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của
nó chính là con người , mà phải là con người trong các mối quan hệ với thế giới xung quanh Vì thế nên con người trở thành đối tượng miêu tả chủ yếu để văn học có một điểm tựa nhìn ra thế giới bên ngoài Con người lịch sử, con người cá nhân, con người xã hội là trọng tâm đánh giá các mối quan hệ Do
đó người nghệ sĩ phải đi nhiều, hiểu nhiều, phải chọn những phương tiện để bộc lộ mọi mặt trong đời sống của con người
Tuy vậy vấn đề con người trong văn học rất khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ và chuẩn xác Con người là một khái niệm không đơn giản, chúng ta chỉ biết rằng cuộc sống và nghệ thuật được tạo nên từ con người và con người trở thành đối tượng quan trọng hàng đầu của người nghệ sĩ Văn học không phải là chuyện văn chương mà là chuyện cuộc sống, trước hết là con người Như vậy một tác phẩm văn học muốn tồn tại và tự khẳng định được những nét riêng của mình bao giờ cũng phải lấy điều trên làm "tiêu chí" quyết định Có thể nói, văn học ra đời không phải góp phần giải thích thế giới mà tham gia cải tạo thế giới, không chỉ miêu tả con người đơn thuần mà thắp sáng lòng nhân ái, lối sống nhân văn trong bản thân một cá nhân
Nguyễn Trọng Tạo cũng cho rằng, thơ phải nói lên được những ước
mơ, niềm tin và khát vọng về cuộc đời và tình yêu Thơ còn là sự cứu rỗi, là đôi cánh để nâng đỡ, xoa dịu lòng người khi chống chếnh, hụt hẫng tìm lại sự bình an nơi lòng mình Nhưng đồng thời, thơ phải thuyết phục người đọc
Trang 32thích ứng với cái lạ bằng lí lẽ, ngôn ngữ riêng của mình để họ không cảm thấy chơi vơi, huyễn hoặc Đến với thế giới thơ Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o , đô ̣c giả như đang được sống giữa cuô ̣c đời , trải nghiệm cuộc đời qua từng câu chữ Mọi cung bâ ̣c của cảm xúc , thế giới muôn màu của cuô ̣c sống , con người ở khắp mọi miền tổ quố c, hiển hiê ̣n trong thơ ông sinh đô ̣ng , mỗi người mang mô ̣t dáng hình, dáng vẻ Nếu ai đó cho rằng thơ ca chỉ là thứ làm cho tâm hồn con người thoát ly khỏi hiê ̣n thực cuô ̣c sống , đắm chìm trong những mơ mô ̣ng viển vông, bay bổng và lãng mạn trên đôi cánh thần tiên và sẽ thấy thất vọng khi đă ̣t thơ đối sánh với cuô ̣c đời Thì Nguyễn Trọng Tạo lại cho rằng “thơ chính là đời”, cuô ̣c đời sẽ giúp cho thi sĩ thăng hoa cảm xúc để làm thơ Nếu
đã đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo, cảm được cái hồn thơ thân mật, hồn hậu với chất quê đầy mặn mà và sâu lắng đó, chắc chắn bạn sẽ cảm được hơi thở và nhịp đập của một trái tim giàu men say cuộc đời, đa tình với thơ ca
2.2.3.3 Thơ là sự đổi mới không ngừng
Nhà thơ không chỉ là công dân của một quốc gia mà phải là công dân của thời đại Nhà thơ phải biết biến hiện tại, tương lai thành quá khứ để tạo ra kinh nghiệm sống và cảm xúc mới Đứng trên lập trường và xứ mệnh
của nhà thơ, ông khẳng định dứt khoát, “không ai muốn làm thơ cũ, phải làm
thơ mới”, từ đó ông bộc bạch: “Tôi là mẫu người sáng tác không nhạt nhẽo (…), tôi chấp nhận mọi sự sáng tạo Tôi chấp nhận tất cả, nếu trong đó chứa một điều gì đó, một mầm mống của sự mới mẻ”[61,tr530]…Quan niệm của
Nguyễn Trọng Tạo, rất gần gũi và giống với quan niệm sáng tác của nhà văn Nam cao, họ đều có chung một suy nghĩ: văn chương phải là sự sáng tạo, phải
có sự đổi mới, cái hay của văn chương không phải là vẻ êm ái mơn man rả rích trong mỗi ngõ nhỏ của đời sống tình cảm Mà cái hay, cái đẹp của văn chương phải là sự mạnh mẽ, lớn lao tạo ra một bước ngoặt đột biến trong đời sống văn học Nhà thơ không chỉ là người biết chiêm ngưỡng cái đẹp, hưởng thụ cái đẹp mà còn phải biết tìm kiếm và sáng tạo ra cái đẹp
Trang 33Ngay từ những ngày đầu tiên khi cầm bút, với ý thức sẽ trở thành nhà thơ, đem thơ để tô điểm cho cuộc sống, tỏ tình với đời, Nguyễn Trọng Tạo luôn mê mải với những tìm tòi về nội dung và hình thức Với ông chủ thể sáng tạo có tài luôn hướng tới cái mới lạ Không mới lạ thì không thể gọi là sáng tạo Ông là nhà thơ luôn trăn trở với nghề ; từ bao đời nay, văn chương
đã thành nghiệp của người cầm bút Với ông, đó là nghề: “ộc ra con chữ/ ộc
ra tâm can kiến tạo sinh thành” (Nhà văn) Nguyễn Trọng Tạo gọi nhà văn là
“bác thợ cày/ cày trên giấy trắng”, họ sống và phải trải qua cuộc sống với nhiều tâm thức, luôn đặt niềm tin như đá tảng giữa cuộc đời “không thể không
tin gì mà viết” Và thiên chức người cầm bút, phải thức tỉnh và hướng thiện
con người đến những điều tốt đẹp
Với Nguyễn Tr ọng Tạo, văn chương không đơn thuần chỉ là tìm kiếm và tôn thờ cái đe ̣p , bởi nếu nhà văn chỉ mải mê đi kiếm tìm , họ sẽ dễ đi vào con đường sáng tác theo quan niệm “văn chương vị nghệ thuật” Cái mới
mẻ, khác lạ của Nguyễn Trọng Tạo nằm ở chỗ: Ông đã kết hợp hài hòa, dung
dị hai trường phái nghệ thuật “vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” trong ngòi bút sáng ta ̣o của mình Ông chủ trương ta ̣o ra cái đe ̣p ở trong thơ , nhưng cái đe ̣p đó phải xuất phát từ cuộc đời, từ cuô ̣c đời mà ra, và phải vì con
người thì đó mới là cái hay, cái đẹp Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o cho rằng “ khi thơ ca
trong tình hình trăm hoa đua nở , trăm nhà đua tiếng , thì sẽ xuất hiện vô số niềm vu i tầm tầm , nỗi buồn tầm tầm , yêu ghét tầm tầm , có nghĩa là vô số những tác phẩm tầm tầm, cỏ dại lấn át những mầm cây.”[61,tr528] Và những
tác phẩm tầm tầm ấy theo như quan niệm của Nam Cao sẽ khiến độc giả quên ngay sau khi đọc, và chính người sáng tạo nghệ thuật cũng cảm thấy xấu hổ
Cuộc sống con người luôn từng giờ, từng ngày đổi thay, và để bắt nhịp với cuô ̣c sống ấy thơ ca cũng phải luôn tìm tòi, đổi mới Thơ không thể mãi là sự nhàm chán cũ kỹ , sáo mòn đến vô cảm , nhà thơ cũng cần phải có tâm
Trang 34huyết, niềm đam mê , khao khát cái mới , khao khát sự đổi thay , làm phong phú hơn cho thi đàn cũng chính là làm phong phú thêm cho tâm hồn của con người thời đa ̣i Khi cầm bút sáng ta ̣o , ông thường trăn trở, và cách suy tư của Nguyễn Trọng Tạo cũng giống như những người đang trăn trở t rong tình yêu, đó chính là mối tình dai dẳng , bền bỉ chân thành tha thiết của ông dành cho thơ, dành cho đời:
Với Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o , thơ ca cũng giống như khuôn mă ̣t của con người, khám phá mãi mà không thấy chán , mỗi khám phá la ̣i là mô ̣t điều thú
vị riêng Thơ ca giống như tình, như rượu làm say lòng người Nhưng cái say
mà thơ ca đem lại không phải là sự quằn quại về thể xác , cũng không phải là sự đau đớn về tinh thần, cái say của thơ ca mãnh liệt hơn say tình, bởi đó là sự gắn kết và ta ̣o ra sự đồng cảm của những trái tim Thơ từ sự đau khổ mà thành, từ niềm ha ̣nh phúc mà có, từ niềm vui mà hiển hiển, từ cái tình mà đắm say, thơ khiến ngườ i ta phải nghiền ngẫm , si mê và có phần yêu đến cuồng nhiê ̣t điên da ̣i Thơ Nguyễn Trọng Tạo nhức nhối bao người bở i những câu hỏi như xoáy vào tim gan:
Thơ ̀ i tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
câu tra ̉ lời …thật không dễ dàng chi
Dấu (…) như ngắt ma ̣ch cảm xúc, băn khoăn, dăn vă ̣t, ngổn ngang trăm mối: Thơ phải luôn đổi mới và đổi mới thơ t heo cách nào mà vẫn lưu giữ được những vẻ đe ̣p truyền thống Câu hỏi đó, không phải có thể mô ̣t câu mô ̣t lời mà trả lời được , có nhà thơ cả đ ời chẳng lý giải nổi , những cũng có nhà thơ chỉ cần qua mô ̣t tác phẩm , họ cũn g tìm ra chân lý Bản thân Nguyễn Trọng Tạo cũng phải chịu nhiều sóng gió cuô ̣c đời và chắt chiu khát vọng mới
có một gương mặt thơ sáng giá như ngày hôm nay Thơ Nguyễn Trọng Tạo, tài hoa, đằm thắm, vừa triết lý, lại cao siêu trừu tượng, nhưng la ̣i giản di ̣ thâ ̣t đến bất ngờ Nhà thơ đã đưa chất men nồng của rượu , của tình vào thơ , tạo
Trang 35sức sống mới có lúc như da diết , có lúc lại cuồng nhiệt, có khi ngọt ngào đằm thắm, tình tứ đến mãnh liê ̣t, thơ ông giống như ma ̣ch nước ngo ̣t âm ỉ chảy, len lỏi từng ngóc ngách sâu kín của trái tim con người
Bàn luận về văn chương , và sự đổi mới thơ ca đương đại , Nguyễn
Trọng Tạo tâm sự : “ Làm văn chương không thể không có kế thừa Nghệ
thuật khởi đầu là bắt chước, bắt chước thiên nhiên, bắt chước cuộc sống và bắt chước văn thơ của nhau Không bắt chước ta thì cũng bắt chước Tây Không bắt chước người hôm nay thì cũng bắt chước người hôm qua Bắt chước và sáng tạo Tuổi trẻ là tuổi phát triển mạnh nhất về sức khỏe, tâm lý,
tư duy, sáng tạo… Tác giả lớn đâu phải vì già hay trẻ, Vũ trọng Phụng mất năm 27 tuổi mà sự nghiệp văn học của ông rất lớn Hàn Mặc Tử cũng vậy, một tài thơ thuyết phục như thế mà cũng chỉ sống được có 29 tuổi! Tôi nghi là
cứ bắt chước Tây mãi như thế là một sự sai lầm vì không có gốc… Tôi không phải là người “bài Tây” mà ngược lại, tôi và thế hệ chúng tôi cũng đã từng cách tân theo Tây, nhưng rốt cuộc tôi quay về với cái gốc Việt, gốc phương Đông như làm mới “đồng dao” thì người ta mới thực sự thích tôi chứ Đó là một bài học của riêng tôi, nhưng xét cho cùng thì các nhà thơ Việt Nam được
ưa chuộng đều rất vững cái gốc truyền thống dân tộc của mình.[
Muốn làm thơ hay , muốn ta ̣o nét riêng cho phong cách thơ mình , thì
người nghê ̣ sĩ phải có vốn sống Vốn sống của nhà văn bao gồm sống (trải
nghiệm và quan sát), đọc (xem, nghe), viết (sáng tạo) Những kẻ cẩu thả thì thường sống hóng hớt, vớt váng Những vốn sống kiểu đó lớt phớt , không bền Vốn sống có cả hoan hỉ và đau đớn , có cả hi vọng và tuyệt vọng , có cả yêu thương và phẫn nộ Vốn sống cũng như điện nạp vào bình ác -quy để tỏa sáng cho bóng điện sáng tạo của tác giả Hết điện thì đèn sẽ mờ, sẽ tắt Những cây bút trẻ thường thiếu vốn sống là vì chủ quan về thanh xuân, hoặc thiếu sự
Trang 36quan sát chiêm nghiệm thực tế Trở lại nhà văn trẻ Vũ Trọng Phụng, ta thấy vốn sống ngồn ngộn trong các tiểu thuyết, ký sự của ông Trong đó có thể nói rằng, óc tưởng tượng của ông thật siêu phàm Nhưng tưởng tưởng cũng bắt nguồn từ vốn sống và khát vọng mà có Người nghèo nàn óc tưởng tượng thật khó mà trở thành nhà văn lớn Những người viết trẻ ở ta hiện nay thường nhạt
vì thiếu vốn sống và thiếu cả óc tưởng tượng, vì thế họ lấy hình thức để che dấu sự thiếu hụt đời sống của mình trong tác phẩm Hãy nạp vốn sống như nạp điện vào bình ác-quy sáng tạo thường xuyên mới có thế “cày sâu cuốc bẫm” được, đặc biệt là với các tác giả viết văn xuôi
Anh là chiếc hộp đen tích đầy sự sống lai ghép những mảnh đời thành nhân vật bước ra chân thiện mỹ thấp hèn hay độc ác
chẳng là ta mà sao vẫn là ta?
Một thế giới riêng nhà văn mang tới cho ta yêu cho ta giận cho ta thương cho ta thấy nhân gian buồn vô tận những nỗi buồn chấu cắn chẳng buồn hơn
Anh báo động một ngày tình tan rữa sói thay người thống soái cả trần gian trong tuyệt vọng anh tin từng con chữ
sẽ cứu rỗi địa cầu dù con chữ mong manh
Bởi anh là nhà văn anh là người chưa nhũn não…
( Nhà văn )
Trang 37Bài thơ cho ta thấy rõ nhất quan niệm về thơ và người cầm bút của Nguyễn Trọng Tạo, thơ cần phải đổi mới , và nhà thơ phải tạ o ra được những vần thơ mê đ ắm say lòng người Và thơ Nguyễn Trọng Tạo chính là sự đổi mới về cái nhìn, về cảm xúc và phương diện biểu hiện Chính nhà thơ Vũ Cao lúc sinh thời cũng đã nhìn ra sự khác biệt của Nguyễn Trọng Tạo khi ông viết:
"Anh như một người lẻ loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người
cứ trùng điệp ồn ào qua lại Thật khó xếp Nguyễn Trọng Tạo vào một lớp nhà thơ nào Ngòi bút anh thoải mái nói những điều không dễ nói ra"[http/www.nhathonguyentrongtao.org]
Còn nhà văn Nguyễn Đình Thi thì cho rằng: "Khác hẳn những nhà thơ
không hiểu chính mình đang viết gì, Tạo không viết những câu thơ bí hiểm, không viết những câu thơ tự đánh đố mình và đánh đố bạn đọc để làm ra vẻ mình là một nhà thơ có tư duy cao Thơ Tạo thể hiện tư duy của chính Tạo, không phải tư duy vay mượn của người khác", và ông khẳng định: "Trên bảng ghi công những văn nghệ sĩ đổi mới thực sự và đổi mới hiệu quả, có tên Nguyễn Trọng Tạo"[http/www.nhathonguyentrongtao.org]
2.2.3.4 Thơ ca la ̀ ngôn từ rung lên bằng âm nhạc
Trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu thơ văn Viê ̣t Nam , tôi nhâ ̣n thấy Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o rất tinh tế khi quan niê ̣m về vai trò, chức năng và bản chất của thơ ca với cuô ̣c đời Thơ ca không đơn thuần chỉ là những con chữ thông thường, mà thơ ca chính là những ngôn từ rung lên bằng âm nhạc , đó là những khúc nha ̣c tình c ủa cuộc đời đang ngân rung trong trái tim nhà thơ và lan tỏa sang tâm hồn người đo ̣c Đo ̣c thơ Nguyễn Trọng Tạo, có bài ta không thể phân biê ̣t đó là câu thơ hay là lời hát mà lại ngân nga vang xa đến thế Âm điê ̣u trong thơ ông cứ n hẹ tênh, du dương, khi bổng, khi trầm Cấu trúc thơ ông hàm chứa rất nhiều âm nha ̣c là vì thế Nhạc cất lên từ nhịp :
Chia cho em một đời tôi
Trang 38Nhạc cất lên từ vần : “tình trao mắt cho thơ , trời xanh mi ướt bờ / tình
trao nắng cho mưa , chìm vào nhau bất ngờ ” (Rượu chát) Nhạc cất lên từ sự
bung phá mô ̣t cách phóng túng để diễn tả chính xá c màu của nhi ̣p điê ̣u Nhưng thủ pháp thường gă ̣p nhất trong thơ Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o là cách tổ chức điê ̣p khúc Điê ̣p trong bài , điê ̣p bằng lối hai câu song song nương tựa vào nhau, vì vậy mà thế giới thơ Nguyễn Trọng Tạo đầy nhạc, nhạc thơ phải diễn
tả được nhạc lòng mới khiến cho người đọc dễ say sưa Nhạc đem đến cho thơ ông gio ̣ng điê ̣u da diết , phiêu lãng, có khi chơi vơi , nhà thơ như phiêu diêu bay bổng trong tâm tưởng, lang thang trong cõi nhớ
Nhắc tớ i Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o, nhiều ba ̣n trẻ chỉ nghĩ ông là mô ̣t nha ̣c sĩ của những ca khúc đình đám ăn sâu vào tâm hồn người Viê ̣t như “Khúc hát sông quê” hay “ Làng quan ho ̣ quê tôi” mà không chú ý tới vị trí và niềm đam
mê suốt đời của ông Nhưng khi đã đo ̣c thơ Nguyễn Trọng Tạo rồi, ta mới nhâ ̣n ra chất thơ, chất nha ̣c ấy đã hòa quyê ̣n với nhau hun đúc lên tài năng và bản lĩnh của một nhà thơ – nhạc sĩ
Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o quan niê ̣m, thơ chứa chất và tiềm ẩn nhiều nhạc tính nhất Nhạc tính trong thơ được chi phối bởi các yếu tố của thuộc tính âm thanh và đơn vị âm thanh Cốt lõi bên trong thơ ông như có một dòng âm nhạc đang cuộn chảy
Trang 39Nguyễn Trọng Tạo có cách gieo vần đa dạng, luôn thay đổi linh hoạt để phù hợp với nội dung biểu hiện Việc gieo liên tiếp những vần bằng và nguyên âm dòng giữa đã tạo nên những thanh âm vừa trong trẻo, vừa nồng nàn, say đắm Các vần bằng gieo ở mỗi cuối câu thơ làm cho ý thơ gợi mở,
hình thành nên lối nhạc êm đềm và tha thiết Ông cũng hết sức thành công về
mặt thanh điệu khi phối hợp thanh bằng - trắc tạo thành những đoản khúc, diễn tả các cung bậc thanh âm khác nhau
Nhạc điệu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo không chỉ dừng lại ở âm thanh
mà còn ở ngôn ngữ, ngôn ngữ đã tạo cho thơ ông một chất nhạc dồi dào “Học
lấy cái nhoè mờ trong thi pháp phương Đông, Nguyễn Trọng Tạo đã biết tựa vào âm nhạc để trình bày các ý tưởng của mình”.[61.tr8]
Thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là những khúc tình ca giàu sắc màu , dường như chiếc bút cọ mềm mại uyển chuyển đã làm thơ ông ánh lên sự lung linh gợi cảm Âm thanh màu sắc trong thơ Nguyễn Trọng Tạo giàu sự tinh tế , các
nốt nha ̣c được pha trộn một cách tuyệt diệu Những khúc tình thơ ấy được
khêu gợi tối đa từ mọi miền của tâm hồn, cảm xúc và sự vận động của mọi giác quan Vạn vật dưới con mắt nhà thơ đều được đánh bóng lên rực rỡ, khác thường mà nồng nàn tha thiết
2.2.3.4 Thơ la ̀ tiếng sét ái tình
Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o cho rằng : muốn làm thơ hay phải xem thơ như người ba ̣n giãi bầy tâm sự, phải khám phá thơ ở mo ̣i cung bâ ̣c cảm xúc giống như tình yêu , phải say đắm thơ giống như say đắm người tình , phải chiêm ngưỡng thơ giống như chiêm ngưỡng mô ̣t thiếu nữ đang ở thời xuân sắc với
vẻ đẹp vừa khêu gợi quyến rũ , vừa đằm thắm bí ẩn Thơ với Nguyễn Trọng Tạo cũng như tình yêu xuất phát từ trái tim một cách rất tự nhiên mà con người không biết trước và chuẩn bi ̣ được Tình yêu sét đánh đến nhanh làm ngây ngất lòng người , cảm xúc của th ơ, ý thơ, tứ thơ cũng chợt đến như mô ̣t
Trang 40sự bất ngờ, như mô ̣t cơn gió thoảng qua kẽ tay , và nhà thơ phải nhạy cảm để nắm bắt được ý thơ ấy Thơ không là gió , nhưng thơ la ̣i là tình , cái tình mà thơ đem la ̣i giống như mô ̣t tiến g sét có khả năng biến trái tim và lí trí con người trở nên u mê điên da ̣i Nếu trước kia trong phong trào thơ m ới, Xuân Diê ̣u xem thiên nhiên như mô ̣t tình nhân để say đắm tình tự , thì nay Nguyễn Trọng Tạo lại xem thơ giống như một người yêu – người yêu mà suốt đời ông khao khát khám phá, chiếm lĩnh
Như ông giáo già anh sợ những ngôn từ trần trụi tráo trở thơ ơi anh say mu ̀ i nguyên khiết của em
……trong cơn giãy giụa sống chư ̃ bấm vào anh những móng tay hồng câu thơ giai điê ̣u sóng
….là em đó thơ ơi
và nước mắt
từ con chữ ứa ra những chồi lộc non tươi
Với Nguyễn Trọng Tạo thơ cũng khiến tâm hồn con người trở nên điên đảo, thi sĩ đau khổ vì thơ , hạnh phúc vì thơ , thơ làm trái tim thêm trong trẻo song thơ cũng khiến lý trí con người chứa đầy bóng tối Tình yêu có khi âm thầm lă ̣ng lẽ , có lúc rạo rực đắm say , có khi lại hờn ghen hậm hực , và tiếng sét ái tình mà thơ ca đem lại ấy đã giúp thi sĩ thăng hoa cảm xúc và gửi la ̣i cho đời những bông hoa thơ thắm tươi khoe sắc
Những yêu ghét giâ ̣n hờn , những vui buồn sống chết …không có gì thuô ̣c về con người la ̣i xa ̣ với thơ Thơ da ̣o gót nhe ̣ nhàng đến những chỗ tăm tối tận cùng của con người , cõi người Cách đi của thơ là cách đi của sóng điê ̣n (con người thường chỉ cảm giác thấy sóng điê ̣n trong tình yêu ) Mô ̣t tia chớp sáng lòa làm hiê ̣n rõ mo ̣i vâ ̣t trong đêm đen , mô ̣t sức nóng la ̣ lùng làm trào lên cảm xúc sung sướng đê mê Và chính thơ làm vỡ ra những bí mật