1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu tìm hiểu cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa công an nhân dân việt nam

100 145 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thống kê, so sánh - đối chiếu các kiểu định nghĩa, cách tổ chức nội dung thông tin trong cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa nói chung, Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam nó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Quang Năng

Hà Nội, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG 8

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản về từ điển và từ điển học 8

1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của từ điển và từ điển học 8

1.1.2 Chức năng và đặc điểm cơ bản của từ điển 10

1.1.3 Cách phân loại từ điển 14

1.2 Nhận thức chung về từ điển bách khoa 17

1.2.1 Đặc điểm, chức năng của từ điển bách khoa 17

1.2.2 Cách phân loại từ điển bách khoa 19

1.3 Cấu trúc của từ điển 21

1.3.1 Cấu trúc của từ điển giải thích 21

1.3.1.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích 21

1.3.1.2 Cấu trúc vi mô của từ điển giải thích 22

1.3.2 Cấu trúc của từ điển bách khoa 23

1.3.2.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển bách khoa 23

1.3.2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa 25

1.4 Các kiểu định nghĩa của từ điển 28

1.4.1 Các kiểu định nghĩa trong từ điển giải thích 28

1.4.2 Các kiểu định nghĩa trong từ điển bách khoa 32

1.5. Nhận thức chung về Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam 38

Tiểu kết 41

Chương 2: MỘT SỐ KIỂU ĐỊNH NGHĨA TRONGTỪ ĐIỂN BÁCH KHOA CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM 42

Trang 4

2.1 Dẫn nhập 42

2.2. Một số kiểu định nghĩa trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam 42

2.2.1 Định nghĩa bằng phương pháp phân tích 42

2.2.2 Định nghĩa bằng phương pháp dùng từ bao 46

2.2.3 Định nghĩa bằng từ đồng nghĩa, từ có nghĩa tương đương 52

2.2.4 Định nghĩa dựa vào từ trái nghĩa 56

2.3. Một số vấn đề còn tồn tại trong các định nghĩa khái niệm của Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam 58

Tiểu kết 65

Chương 3: NHỮNG NỘI DUNG ĐƢA VÀO LỜI GIẢI THÍCH TRONG MỤC TỪ CỦA TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM 68

3.1. Một số kiểu cấu trúc nội dung mục từ trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam 68

3.1.1 Mục từ thuật ngữ - khái niệm 68

3.1.2 Mục từ tên riêng 74

3.1.2.1 Mục từ về nhân vật 74

3.1.2.2 Mục từ về tổ chức 77

3.1.2.3 Mục từ về sự kiện, vụ án 81

3.1.2.4 Mục từ về văn kiện 82

3.2. Tính hệ thống trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam 83

3.2.1 Tính hệ thống trong từ điển bách khoa 83

3.2.2 Tính hệ thống trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam 84

Tiểu kết 89

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ điển là loại sách có chức năng xã hội rộng lớn Nó cung cấp vốn từ ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, giúp cho việc học tiếng mẹ đẻ và học ngoại ngữ, mở rộng vốn hiểu biết của con người về sự vật, khái niệm trong thế giới tự nhiên và xã hội Từ điển là một sản phẩm khoa học có tác dụng đặc biệt đối với sự phát triển văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí và mở rộng giao lưu giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau

Trong thời đại ngày nay, số lượng phát hành, số lượng chủng loại và chất lượng của

từ điển nói chung, từ điển bách khoa chuyên ngành nói riêng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học kĩ thuật của một quốc gia Trong tình hình đó, việc nghiên cứu từ điển học, cả lí luận và thực tiễn có tác dụng lớn trong việc nâng cao chất lượng biên soạn từ điển

Việc biên soạn và xuất bản từ điển ở nước ta đã có nhiều dấu hiệu đổi mới Số lượng và chủng loại từ điển tăng trưởng đáng kể trong vài ba năm gần đây Một

số quyển từ điển đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, với sự phong phú hơn cả về cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có nhiều quyển từ điển chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, thậm chí có những sai sót lớn về nội dung cũng như in ấn

Trong bối cảnh về sự ra đời và phát triển của từ điển học trên thế giới nói chung, công tác nghiên cứu lí luận từ điển học và biên soạn từ điển ở nước ta cũng được hình thành trong thời gian có muộn Gần đây, tuy đã được quan tâm chú ý và có một số thành tựu đáng kể, nhưng nhìn chung, từ điển học Việt Nam vẫn chưa phát triển kịp với yêu cầu của thời đại Trong khi đó, cùng với sự phát triển của các bộ môn ngôn ngữ học khác và sự bùng nổ của công nghệ tin học, từ điển học ở một

số nước phát triển đã có những bước tiến mạnh mẽ và không ngừng

Trang 6

Tình hình trên đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lí luận và

kinh nghiệm từ điển học Luận văn với đề tài “Bước đầu tìm hiểu cấu trúc vi

mô của Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam” hi vọng có thể đóng

góp phần nào cho nhiệm vụ quan trọng và cấp bách này

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là cấu trúc vi mô hay còn gọi là cấu

trúc mục từ của Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam xuất bản năm

2005 Đi sâu hơn nữa, luận văn tiến hành tìm hiểu các kiểu định nghĩa để từ đó

rút ra các mẫu định nghĩa trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam

Không chỉ dừng lại ở đó, luận văn còn đi sâu tìm hiểu những nội dung được thể hiện và cách tổ chức, sắp xếp các nội dung đó trong lời giải thích của một số nhóm loại mục từ tiêu biểu trong Từ điển

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ một số vấn đề về cấu trúc vi mô của

Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam Đó là: một số mẫu định nghĩa

được sử dụng; và, những nội dung được đưa vào lời giải thích của mục từ trong

Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ đối chiếu, so sánh yêu cầu của từ điển học hiện đại với thực tiễn biên soạn từ điển ở nước ta qua cuốn

từ điển được chọn làm đối tượng nghiên cứu là Từ điển bách khoa Công an nhân

dân Việt Nam Trên cơ sở đó, hệ thống hoá, khái quát hoá, mô hình hoá một số

mẫu định nghĩa cơ bản, những nội dung đưa vào lời giải thích của mục từ trong

Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 7

- Thống kê, so sánh - đối chiếu các kiểu định nghĩa, cách tổ chức nội dung

thông tin trong cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa nói chung, Từ điển bách khoa

Công an nhân dân Việt Nam nói riêng với từ điển giải thích, đồng thời, trong một số

trường hợp, đối chiếu với yêu cầu của lí thuyết từ điển học hiện đại

- Vận dụng một số khái niệm và phương pháp của logic học, đặc biệt là phương pháp quy nạp để khái quát một số vấn đề

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Đây là luận văn đầu tiên đề cập đến vấn đề định nghĩa trong Từ điển bách khoa

Công an nhân dân Việt Nam Trong tình hình các công trình nghiên cứu từ điển

học ở Việt Nam nói chung và trong ngành công an nói riêng còn quá ít, những kết quả nghiên cứu dù là bước đầu của luận văn có thể góp một phần nhỏ vào việc bổ sung lí luận cho lĩnh vực khoa học này

Trong một chừng mực nào đó, những kết quả nghiên cứu cụ thể của luận văn về các kiểu định nghĩa, cách xử lí các nội dung trong lời giải thích của mục từ có thể được vận dụng trong việc biên soạn nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo sự nhất

quán, tăng sự hấp dẫn cho Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí thuyết

- Chương 2: Một số kiểu định nghĩa trong Từ điển bách khoa Công an

nhân dân Việt Nam

- Chương 3: Những nội dung đưa vào lời giải thích trong mục từ của Từ

điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Một số khái niệm cơ bản về từ điển và từ điển học

1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của từ điển và từ điển học

Do nhu cầu của xã hội, một trong những loại sách ra đời sớm là từ điển Quyển từ điển đầu tiên trên thế giới là quyển từ vựng do người Hy Lạp biên soạn thế kỉ V trước Công nguyên; thu thập và giải thích các từ khó trong các tác phẩm thời cổ đại, đặc biệt những tác phẩm của Homer Ở Việt Nam, trước đây mấy thế kỉ,

chỉ có những từ điển song ngữ đối chiếu như “An Nam – Lustan – La tinh” (“Việt –

Bồ - La”) do Alexandre de Rhades biên soạn, xuất bản ở Roma năm 1651; tiếp theo

là một số từ điển Hán - Việt cỡ nhỏ như “Tam thiên tự giải âm” do Ngô Thì Nhậm biên soạn, xuất bản năm 1831, “Thiên tự văn giải âm”; và một số quyển từ điển đối chiếu Pháp – Việt như Dictionnaire Franais-Annamite et Annamite-Franais (G.Aubaret, Paris, 1867), Petit Dictionnaire Franais-Annamite (P.J.B Trương Vĩnh

Ký, Sài Gòn, 1884) Cuối thế kỉ XIX mới có quyển từ điển giải thích tiếng Việt đầu

tiên, Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895) và sau hơn ba mươi năm sau mới có quyển thứ hai, Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức (1931)

Cuối thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học, kinh tế, giáo dục trên phạm vi toàn cầu, nhu cầu về từ điển của xã hội tăng nhanh, từ điển được biên soạn và xuất bản với số lượng lớn và nhiều chủng loại đa dạng Đặc biệt, gần đây, sự bùng nổ của công nghệ tin học đã tạo ra một bước phát triển mới trong

Trang 9

các khâu biên soạn, in ấn từ điển; sản phẩm từ điển không chỉ là những quyển sách bằng giấy mà còn ở dạng từ điển điện tử

Ngược lại với thời điểm ra đời của từ điển, từ điển học lại ra đời rất muộn Đến những năm bốn mươi của thế kỉ XX, lí thuyết từ điển học mới được khởi

xướng bằng bài viết “Thử bàn về lí thuyết đại cương về từ điển học” của

L.V.Serba Đến năm 1971, bộ môn từ điển học đã có bước ngoặt đáng kể với sự

ra đời của hai công trình: Giáo trình từ điển học của Ladislav Zgusta, xuất bản ở Praha và Nghiên cứu từ điển hiện đại bằng tiếng Pháp về ngôn ngữ học và kí

hiệu học của Josette Rey Debove, xuất bản ở Paris Gần đây, với sự phát triển

mạnh mẽ của ngôn ngữ học nói chung, của ngữ nghĩa học, từ vựng học nói riêng,

từ điển học cũng phát triển mạnh mẽ

Ở Việt Nam, nhiều bài viết có giá trị thể hiện sự quan tâm của các tác giả trong

lĩnh vực này, như: Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới (Hoàng Phê, 1969); Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta (Vương Lộc, 1969); Một số ý

kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong từ điển tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1969); Về việc giải thích nghĩa của từ nhiều nghĩa trong từ điển tiếng Việt (Nguyễn Văn Tu,

1969); Một số kinh nghiệm biên soạn từ điển ngôn ngữ ở các nước xã hội chủ nghĩa (Bùi Khắc Việt, 1969); Việc chọn và giải thích từ ngữ miền Nam trong một quyển từ

điển tiếng Việt loại phổ thông (Nguyễn Quang, 1970); Vấn đề biên soạn hư từ trong việc biên soạn từ điển giải thích (Hồng Dân, 1971);… Các bài viết trên đã đề cập đến

nhiều mặt, nhiều vấn đề cần chú ý trong thực tế biên soạn từ điển tiếng Việt

Đến năm 1997, mới có một công trình chuyên đề về từ điển học, Một số

vấn đề từ điển học, gồm tập hợp 9 bài viết, đúc kết những kinh nghiệm biên soạn

Trang 10

từ điển ở nước ta và một số vấn đề lí luận từ điển học Các bài viết trong công trình này đã đi sâu vào một số vấn đề lí luận từ điển, như: những nét khái quát về cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô, hệ thống các kiểu chú, phương pháp biên soạn từ điển đồng nghĩa… Tuy nhiên, các vấn đề mà các tác giả đề cập đến trong công trình này đều là những vấn đề trong từ điển giải thích, không có tác giả nào đề cập đến các vấn đề của từ điển bách khoa, nhất là vấn đề về các kiểu định nghĩa

Ngày nay, từ điển học đã được coi là một bộ môn ngôn ngữ học ứng dụng quan trọng, với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các loại hình từ điển, cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô Gần đây, giới từ điển học còn chú ý đến hai mặt khác nữa là lịch sử của từ điển và việc áp dụng công nghệ tin học vào công tác biên soạn từ điển

1.1.2 Chức năng và đặc điểm cơ bản của từ điển

 Khái niệm từ điển:

Từ điển là một công cụ đắc lực giúp cho con người nắm vững công cụ ngôn ngữ

và sử dụng có hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời góp phần chuẩn hoá ngôn ngữ

Theo tác giả Nguyễn Văn Tu, từ điển là “sách tra cứu bao gồm các từ, ngữ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, giải thích ý nghĩa của các đơn vị được miêu tả, cung cấp những thông tin khác nhau về chúng hoặc dịch chúng ra một ngôn ngữ khác, hoặc thông báo những kiến thức về các đối tượng do chúng biểu thị” [30, tr 269]

Trong cuốn Giáo trình từ điển học (1971), L Zgusta đã dẫn ra một định nghĩa về từ

điển của C.C Bergl mà ông cho là một trong những định nghĩa tốt nhất: “Một cuốn từ điển là một danh mục được sắp xếp có hệ thống của các hình thức ngôn ngữ đã được

xã hội hoá, thu thập từ những thói quen nói năng của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định và được người biên soạn chú giải sao cho người đọc có một trình độ nhất định

Trang 11

hiểu được ý nghĩa của từng hình thức ngôn ngữ riêng rẽ và biết được những điều cần yếu về chức năng của nó trong cộng đồng ngôn ngữ ấy” [47, tr 245]

Trong công trình Một số vấn đề lý luận và phương pháp luận cơ bản về từ điển học

và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm, các tác giả

cho rằng: “Từ điển là một công trình tra cứu, lưu chứa các từ ngữ tách rời của vốn từ ngữ chung (hay một bộ phận các từ ngữ chuyên biệt) của ngôn ngữ, kèm theo các thông tin (đầy đủ hoặc chỉ một số thông tin) về chính tả, cách phát âm, ý nghĩa, cách dùng, các từ đồng nghĩa, sự phái sinh và lịch sử của các từ ngữ đó Để tiện tra cứu, ở phần lớn các từ điển, các từ ngữ được sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái; các thông tin được minh hoạ bằng những trích dẫn từ các tác phẩm văn học” [46, tr 9]

Từ những định nghĩa và sự tường giải về từ điển, có thể thấy một số đặc tính chung trong từ điển như sau:

- Từ điển là loại công trình dùng để tra cứu, giúp cho người đọc tìm kiếm những thông tin qua các từ ngữ được tập hợp và trình bày (các đầu mục từ)

- Các đầu mục từ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, có thể đi kèm là các thông tin phụ liên quan đến đầu mục này

- Trong mỗi mục từ, được trình bày có hệ thống là các nội dung thông tin (tri thức) – phần còn lại ngoài các đầu mục từ, có vai trò giải thích nội dung của đầu mục từ hoặc cung cấp các thông tin về đối tượng đã được nêu trong đầu mục từ

 Chức năng của từ điển:

1 Từ điển có chức năng cung cấp thông tin Đây là chức năng cơ bản của

từ điển và chi phối các chức năng khác Bằng cách diễn đạt tri thức ngắn gọn, cô đọng nhất, từ điển là một phương tiện hữu hiệu để tàng trữ và cung cấp thông tin

Trang 12

các thông tin do từ điển cung cấp có thể là các thông tin về ngôn ngữ, văn hoá,

xã hội, kinh tế, khoa học…

2 Từ điển giúp giải thích, cung cấp và hướng dẫn cách sử dụng từ ngữ của một ngôn ngữ, do đó, từ điển còn có chức năng nữa là chức năng phục vụ giao tiếp, giúp cho việc giao tiếp trong nội bộ một dân tộc cùng sử dụng chung một ngôn ngữ hay giữa các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ khác nhau

3 Từ điển có chức năng hướng dẫn, giáo dục ngôn ngữ Từ điển là công

cụ đắc lực trong việc dạy và học ngôn ngữ Người sử dụng từ điển thường coi từ điển là người thầy không lời, là trọng tài trong các cuộc tranh luận về từ ngữ

4 Từ điển có chức năng chuẩn hoá ngôn ngữ Ngôn ngữ rất đa dạng và luôn luôn vận động phát triển Hiện tượng một chuẩn mới hình thành bên cạnh một chuẩn cũ luôn luôn tồn tại, nhất là trong lĩnh vực từ vựng Cái mới và cái cũ song song tồn tại trong một thời gian, thường là cuối cùng cái cũ nhường chỗ cho cái mới, nhưng không phải bao giờ cũng vậy Từ điển phải thường xuyên được cập nhật, giới thiệu chuẩn ngôn ngữ trong sự biến đổi, phát triển nên từ điển đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hoá ngôn ngữ

5 Ngoài các chức năng trên, từ điển còn có thêm chức năng phục vụ nghiên cứu Qua từ điển người ta có thể rút ra được những nguyên tắc, lí luận về

từ điển học, đồng thời cũng có thể lấy từ điển làm tư liệu nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác của ngôn ngữ học

 Đặc điểm của từ điển:

Để thực hiện các chức năng nêu trên, từ điển có những đặc điểm riêng khác biệt với tất cả các loại sách khác

Trang 13

1 Là một loại sách phục vụ nghiên cứu giáo dục, từ điển có tính khoa học Tính khoa học được thể hiện ở nhiều mặt, từ việc xác định nguyên tắc biên soạn, phạm vi thu thập từ ngữ đến cách thức định nghĩa, cung cấp các thông tin

mở rộng Đối với từ điển bách khoa, độ chính xác là thước đo của tính khoa học

2 Từ điển thu thập và giải thích các từ ngữ được dùng trong đời sống của con người, cũng có nghĩa là nó đề cập đến mọi khía cạnh của đời sống hiện thực, dù muốn hay không muốn, nó phản ánh một sự lí giải và một cách đánh giá về các vấn

đề văn hoá, khoa học, chính trị, xã hội Theo Hoàng Phê, từ điển phản ánh thế giới quan, quan điểm, lập trường của người biên soạn, dù rằng người biên soạn có đầy

đủ ý thức hay không về việc đó Do đó, từ điển mang trong mình tính tư tưởng

3 Đặc điểm thứ ba của từ điển là tính tiện dùng Từ điển là loại sách công

cụ mang tính phổ cập (trừ các từ điển chuyên ngành), có đối tượng sử dụng là đông đảo người sử dụng ngôn ngữ ở những trình độ khác nhau Điều này đòi hỏi ở từ điển tính tiện dùng, dễ hiểu, dễ tra cứu Điều này dường như ít nhiều mâu thuẫn với đặc điểm về tính khoa học của từ điển Mâu thuẫn đó làm cho công tác biên soạn từ điển càng trở nên khó khăn Dung hoà được mâu thuẫn này, đảm bảo đồng thời hai yêu cầu khoa học và tiện dùng của từ điển là cả một nghệ thuật

4 Một kết quả của sự dung hoà đó được biểu hiện qua phương thức trình bày của từ điển Từ điển luôn được tổ chức theo hai cấu trúc: cấu trúc vĩ mô (cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng từ) và cấu trúc vi mô (cấu trúc mục từ) Kiểu cấu trúc đó làm cho từ điển không lẫn lộn với các sách khác, các thông tin trong từ điển được trình bày một cách vừa khoa học, vừa tiện dùng Với từ điển, tính khoa học và tính tiện dùng là hai đặc điểm cơ bản

Trang 14

1.1.3 Cách phân loại từ điển

Trên thế giới đã từng có nhiều học giả nổi tiếng đề cập đến vấn đề phân loại từ điển như Shcherba (1940), Makiel (1959, 1967), Cornyn (1967), Gelb (1968), Zgusta (1971)… Ở Việt Nam, phải kể đến Nguyễn Ngọc Trâm (2003), Dương

Kỳ Đức (2000), Chu Bích Thu, Vũ Quang Hào (2005), Nguyễn Trọng Báu… Nhìn chung, cách phân loại của các tác giả mới chỉ dừng lại ở mức khái quát, chưa đi vào từng loại cụ thể Đáng chú ý là cách phân loại của L.V.Sherba phân chia từ điển theo 6 cặp đối lập:

1 Từ điển hàn lâm và từ điển tra cứu: từ điển hàn lâm phản ánh ý thức

ngôn ngữ hiện thực, thống nhất của cả cộng đồng trong một thời gian nhất định, còn từ điển tra cứu không nhất thiết có sự thống nhất của cả cộng đồng, từ ngữ

có thể được thu thập ở những thời đại khác nhau, những địa phương khác nhau

2 Từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ: từ điển bách khoa cung cấp

thông tin về sự vật, hiện tượng, khái niệm; từ điển ngôn ngữ cung cấp thông tin

về kí hiệu ngôn ngữ

3 Từ điển thesaurus (từ điển tổng toàn) và từ điển thông thường: từ điển

thesaurus thu thập toàn bộ từ ngữ có trong một ngôn ngữ (dù chỉ xuất hiện một lần)

và những lời trích dẫn có chứa các từ ngữ đó; từ điển thông thường thì chỉ thu thập những đơn vị từ có tính ổn định và một số thí dụ minh hoạ Sự đối lập giữa hai từ điển này thực ra là sự đối lập giữa tư liệu ngôn ngữ và hệ thống ngôn ngữ

4 Từ điển thông thường và từ điển ý niệm: từ điển thông thường lấy vỏ

ngữ âm của từ làm cơ sở, các đơn vị được sắp xếp theo trật tự chữ viết; từ điển ý niệm lấy nội dung của từ làm cơ sở, các đơn vị được sắp xếp theo nhóm chủ đề

Trang 15

5 Từ điển giải thích và từ điển đối dịch: từ điển giải thích nhằm làm sáng

tỏ bản chất kí hiệu của một ngôn ngữ bằng chính ngôn ngữ ấy Từ điển đối dịch nhằm làm hiểu rõ một ngôn ngữ khác

6 Từ điển phi lịch sử và từ điển lịch sử: từ điển phi lịch sử phản ánh từ

ngữ trong một khoảng thời gian hiện thời còn từ điển lịch sử phản ánh cả quá trình lịch sử, sự xuất hiện, sự biến đổi và thậm chí cả sự mất đi của các từ ngữ [dẫn theo 18, tr 42-43]

L.Zgusta phân loại cụ thể hơn cho từ điển ngôn ngữ và đưa thêm một tiêu chí về

cỡ của từ điển Ông cho rằng, sự phân loại đầu tiên, có tính chất bao quát nhất là

sự phân biệt giữa từ điển ngôn ngữ và từ điển bách khoa Theo ông, “các từ điển ngôn ngữ chủ yếu đề cập đến ngôn ngữ, tức là đề cập đến các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ và tất cả các đặc tính ngôn ngữ của chúng Ngược lại, các từ điển bách khoa chỉ đề cập chủ yếu đến các denotate của các đơn vị từ vựng, chúng cho những thông tin về thế giới ngoài ngôn ngữ có tính chất vật chất hoặc phi vật chất” [47, tr 246]

Tiếp tục phân loại từ điển ngôn ngữ, ông chia ra thành các loại cơ bản theo bốn tiêu chí sau:

1 Theo tiêu chí thời gian, có sự đối lập giữa từ điển lịch đại và từ điển đồng đại Theo L.Zgusta, đây là một trong những sự phân loại quan trọng nhất đối với các từ điển ngôn ngữ Ông đã nêu ra các đặc điểm khác biệt giữa hai loại

là, trong khi từ điển lịch đại chỉ quan tâm chủ yếu đến lịch sử, sự phát triển của

từ ngữ cả về nghĩa và hình thức, thì nhiệm vụ của từ điển đồng đại là đề cập đến kho từ vựng của một ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển nhất định của nó Đồng thời ông cũng lưu ý đến “tình trạng luôn có sự chồng chéo giữa lĩnh vực của từ điển lịch sử với lĩnh vực của từ điển đồng đại”, “khái niệm về từ điển được coi là đồng đại chỉ có tính chất tương đối”

Trang 16

2 Theo phạm vi thu thập toàn bộ hay một bộ phận từ vựng của một ngôn ngữ, có từ điển phổ thông và từ điển hạn chế (hoặc đặc biệt) Tính chất “hạn chế” hay “đặc biệt” của từ điển hạn chế là do quyết định của người biên soạn chỉ lựa chọn thu thập một bộ phận hẹp từ ngữ nhất định Có thể có nhiều tiêu chuẩn lựa chọn, nên có nhiều loại từ điển hạn chế khác nhau, chẳng hạn như từ điển phương ngữ, từ điển học sinh, từ điển thuật ngữ một ngành… Đối lập lại, từ điển phổ thông thu thập toàn bộ ngôn ngữ phổ thông, nghĩa là ngôn ngữ chuẩn toàn dân được dùng một cách phổ biến Loại này lại được chia nhỏ hơn nữa, thành từ điển miêu tả - chuẩn và từ điển miêu tả - chung Từ điển miêu tả - chuẩn khác từ điển miêu tả - chung ở một tính chất cơ bản là nó không chỉ “tìm ra cái gì là chuẩn trong thời kì từ điển được phát hành” mà còn định ra tiêu chuẩn cho người sử dụng trong tương lai Nghĩa là từ điển miêu tả - chuẩn không chỉ phản ánh những tính chất và quy tắc phổ biến của ngôn ngữ hiện thời mà còn “lường trước tình hình sử dụng của tương lai” dựa vào quy luật phát triển của ngôn ngữ”

3 Theo số lượng ngôn ngữ được miêu tả, có từ điển một thứ tiếng và từ điển hai thứ tiếng (thường rất ít từ điển có từ ba thứ tiếng trở lên) Mục đích của

từ điển hai thứ tiếng là giúp cho việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác hoặc cho việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác không phải là tiếng mẹ đẻ Do tính không đồng hình giữa các ngôn ngữ, từ điển hai thứ tiếng gặp rất nhiều khó khăn trong việc đưa ra các đơn vị từ vựng tương đương

4 Tiêu chí cuối cùng là dựa vào cỡ từ điển, có từ điển cỡ nhỏ và từ điển

cỡ lớn Đây là một trong những mặt không thể nói được thật chính xác mà chỉ có thể là sự đánh giá có tính chất ấn tượng Cỡ của từ điển không chỉ là khối lượng

và như vậy số lượng mục từ của từ điển, có thể nói một cách chính xác, chỉ nêu

Trang 17

lên được một cách khái quát về khả năng thông tin của nó Phần lớn phụ thuộc vào bản thân mục từ được thực hiện như thế nào

Trên đây chỉ là “khung” của các sự phân loại Các tiêu chí ở mỗi sự phân loại trên có thể tiếp tục được cụ thể hoá, và theo đó có thể phân loại từ điển thành nhiều loại nhỏ hơn Thêm nữa, do các tiêu chí tương đối độc lập, nên có thể có

sự phối hợp một số tiêu chí trong sự phân loại từ điển Điều này dẫn đến tình trạng là trên thực tế các kiểu loại từ điển rất đa dạng, phong phú Sự phân loại từ điển có ý nghĩa đặc biệt

1.2 Nhận thức chung về từ điển bách khoa

1.2.1 Đặc điểm, chức năng của từ điển bách khoa

Từ điển bách khoa được phát triển từ từ điển Từ điển bách khoa xuất hiện

là do sự ảnh hưởng qua lại và xích lại gần nhau giữa bách khoa toàn thư và từ điển ngôn ngữ Chính vì vậy, khi nhận diện khái niệm từ điển bách khoa, một mặt người ta cố gắng phân biệt nó với từ điển ngôn ngữ (chủ yếu là từ điển giải thích); mặt khác, phân biệt nó với bách khoa thư

Từ điển bách khoa có đặc điểm chung với các loại từ điển và bách khoa thư ở chỗ, chúng đều là các công trình tra cứu, giúp người đọc tìm hiểu các thông tin; các đầu mục từ được sắp xếp theo một trật tự nhất định; các thông tin trong mục từ được trình bày một cách có hệ thống Tuy nhiên, người ta cũng nhận thấy giữa chúng có những sự khác biệt nhất định

Từ điển giải thích cung cấp mọi thông tin về bản thân kí hiệu ngôn ngữ, còn từ điển bách khoa cung cấp thông tin về sự vật, khái niệm được từ ngữ biểu thị Phạm vi thu thập của từ điển giải thích là các đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ Còn từ điển bách khoa, do lấy sự vật, khái niệm làm đối tượng, nên chỉ thu thập

Trang 18

những từ có ý nghĩa biểu vật, biểu niệm cụ thể mà không phụ thuộc vào nhân tố người sử dụng hay hoàn cảnh nói năng Nhiệm vụ của từ điển bách khoa là cung cấp kiến thức về các đối tượng do từ ngữ biểu thị, còn nhiệm vụ của từ điển ngôn ngữ là cung cấp kiến thức về chính các đơn vị từ ngữ Do nhiệm vụ khác nhau như vậy mà thông tin trong từng mục từ của từ điển giải thích có thể là toàn bộ các thông tin về kí hiệu ngôn ngữ, bao gồm rất nhiều mặt như thông tin về ngữ

âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ dụng, ngữ pháp…; ngược lại, thông tin trong từ điển bách khoa là các thông tin về sự vật, khái niệm mà từ đầu mục biểu thị, ngoài phần định nghĩa còn có thể có thông tin mở rộng về lịch sử ra đời, quá trình phát triển… Vì vậy, lời giải thích trong từ điển bách khoa sâu hơn, rộng hơn, nhưng cấu trúc vi mô thì thường đơn giản hơn từ điển giải thích

Định nghĩa trong từ điển bách khoa là định nghĩa khái niệm, là sự giải thích chính xác, đầy đủ những đặc trưng cơ bản của khái niệm, sự vật mà từ ngữ biểu thị Định nghĩa từ ngữ trong từ điển giải thích chỉ nhằm nêu lên những đặc trưng khu biệt của từ đủ để người sử dụng nhận biết và phân biệt nó với những từ ngữ khác Tuy nhiên, trên thực tế, “những đặc trưng cơ bản của khái niệm, sự vật mà

từ ngữ biểu thị” trong từ điển bách khoa và “những đặc trưng cơ bản của từ ngữ” trong từ điển giải thích không phải lúc nào cũng có ranh giới rõ ràng Nếu hình dung một từ mà từ đó quy chiếu một sự vật thì không một tiêu chí khách quan nào có thể giúp chúng ta phân biệt một định nghĩa về từ theo nghĩa phân tích từ

đó về ngữ nghĩa, với một định nghĩa về sự vật, vì trong định nghĩa người ta đi tới

sự vật bằng từ và từ bắt buộc phải trả trở về sự vật Theo quan điểm chung của số đông các nhà nghiên cứu, trong nội dung nghĩa từ bao giờ cũng có một hàm lượng thông tin bách khoa Xu hướng chung hiện nay của từ điển học hiện đại là lời giải thích trong từ điển giải thích càng ngày càng có xu hướng gần với lời giải thích trong từ điển bách khoa, nói một cách chính xác hơn, thông tin bách khoa ngày càng được chú ý nhiều hơn trong từ điển giải thích

Mặc dù đều là "công trình bách khoa", nhưng giữa từ điển bách khoa và bách khoa thư cũng có những khác biệt nhất định Bách khoa thư có chức năng

hệ thống hoá toàn bộ tri thức cơ bản và chuyên sâu, nhiều mặt về một hay nhiều

Trang 19

ngành khoa học hoặc hoạt động thực tiễn Từ điển bách khoa lại có chức năng cung cấp những thông tin vắn tắt phổ cập về các khái niệm của một hay nhiều ngành khoa học hoặc hoạt động thực tiễn Nếu như bách khoa thư được dùng chủ yếu để giáo dục, tự học, tự nghiên cứu về nhiều mặt qua các chủ đề tri thức độc lập, thì từ điển bách khoa lại chủ yếu được dùng để tra cứu, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng Số lượng mục từ trong bách khoa thư thường ít nhưng chủ đề lại rất rộng và có biên độ dài Ngược lại, số lượng mục từ trong từ điển bách khoa nhiều, nhưng chủ đề hẹp và có biên độ ngắn

Như vậy, “từ điển bách khoa là một dạng công trình tra cứu có tính chuyển tiếp giữa

từ điển ngôn ngữ và bách khoa thư (vừa có tiêu chí chung với từ điển ngôn ngữ vừa

có tiêu chí chung với bách khoa thư); có chức năng cung cấp những thông tin vắn tắt chung quanh các khái niệm khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật hay tri thức thực tiễn khác

Đây là loại sách chủ yếu để người ta tra cứu, tìm hiểu” [46, tr 12]

1.2.2 Cách phân loại từ điển bách khoa

Trong công trình Một số vấn đề lí luận và phương pháp luận cơ bản về từ

điển học và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm,

các tác giả cho rằng, từ điển bách khoa và bách khoa thư có nhiều điểm khác

nhau nhưng có đặc điểm chung về tính sự kiện của thông tin được chuyển tải

trong các mục từ Theo cách mà Nguyễn Kim Thản đề xuất, các tác giả đã sử

dụng công trình bách khoa làm tên gọi chung cho từ điển bách khoa và bách

khoa thư Công trình bách khoa là loại công trình tra cứu phản ánh tri thức của một xã hội Theo các tác giả, có nhiều cách phân loại từ điển bách khoa, có thể

kể đến một số cách phân loại thường gặp sau:

Trang 20

a, Dựa vào nội dung có thể phân các công trình bách khoa thành 2 loại

lớn: công trình bách khoa tổng hợp và công trình bách khoa chuyên ngành Công trình bách khoa tổng hợp là những công trình tra cứu điển hình của một quốc gia, thường bao gồm nhiều tập, trong đó trình bày tri thức về tất cả các ngành khoa

học, kĩ thuật, văn hoá, nghệ thuật Thuộc về loại này có thể kể đến Từ điển bách

khoa Xô Viết của Liên Xô, Americana của Mĩ (30 tập), Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (74 tập), Từ điển bách khoa Việt Nam (4 tập)… Công trình bách

khoa chuyên ngành trình bày tri thức về một ngành khoa học, kĩ thuật, văn hoá, nghệ thuật nhất định (hoặc một bộ môn của một ngành khoa học, một chuyên đề

nào đó) Thuộc về loại này có thể kể đến Bách khoa toàn thư Triết học của Liên

Xô (5 tập, 1960 – 1970), Bách khoa toàn thư về nhiếp ảnh của Anh (1949), Từ

điển bách khoa sinh học của một tập thể tác giả Việt Nam (năm 2003)…

b, Dựa vào quy mô có thể chia các công trình bách khoa thành hai loại chủ

yếu: công trình bách khoa cỡ lớn và công trình bách khoa cỡ nhỏ Công trình bách khoa cỡ lớn thường có dung lượng hàng chục tập trở lên, có khi tới hàng

trăm tập Thí dụ: Bách khoa thư thần học của Linh mục Mingne 168 tập, Bách

khoa toàn thư Tây Ban Nha – Mỹ (1805 – 1933) gồm 80 tập, Bách khoa toàn thư Xô Viết cỡ lớn, in lần thứ nhất 66 tập… Công trình bách khoa cỡ nhỏ thường

từ vài ba tập đến chục tập Thí dụ : Bách khoa toàn thư Xô Viết cỡ nhỏ (10 tập)

Bách khoa toàn thư Bungari cỡ nhỏ (5 tập)…

c, Dựa vào đối tượng phục vụ có thể phân chia thành công trình bách khoa cho

thiếu niên, nhi đồng (Bách khoa toàn thư trẻ em của Liên Xô Deskaja Encykiopedija,

in lần thứ ba 12 tập) công trình bách khoa cho thanh niên (Encyclopaedia Britannica

Junior, 15 tập, 1948; Richards Encyclopaedia, 15 tập, 1939…)

Trang 21

d, Dựa vào phương tiện truyền đạt có thể phân chia các công trình bách

khoa thành: sách in, đĩa CD, mạng internet, âm thanh, mùi vị

e, Theo phạm vi đề cập có thể phân chia các công trình bách khoa thành

công trình bách khoa chung và công trình bách khoa riêng (địa phương, dân tộc…) Công trình bách khoa chung là loại công trình cung cấp thông tin về toàn thế giới và toàn quốc Bách khoa thư của các nước Anh, Mĩ, Pháp, Trung Quốc… thuộc loại này Công trình bách khoa riêng (địa phương, dân tộc…) là

loại công trình cung cấp thông tin về một bộ phận trong nước, chẳng hạn, Bách

khoa thư về Moskva, Bách khoa thư về Leningrat ở Liên Xô, Bách khoa thư Hà Nội, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng ở Việt Nam

1.3 Cấu trúc của từ điển

1.3.1 Cấu trúc của từ điển giải thích

1.3.1.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích

Các mục từ trong từ điển giải thích được thu thập theo những tiêu chí nhất định, tạo thành một bảng từ có tính hệ thống, đảm bảo sự nhất quán, có cấu trúc chặt chẽ Đây là cấu trúc có quan hệ dọc, suốt từ đầu đến cuối quyển từ điển, nên được gọi

là cấu trúc vĩ mô “Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc bao gồm toàn thể các mục từ được sắp

xếp theo một trật tự xác định; còn có thể gọi là cấu trúc bảng từ” [44, tr 26]

Đối tượng chính của từ điển giải thích là từ vựng Các đơn vị được thu thập trong bảng từ của từ điển giải thích rất rộng và có cấu tạo đa dạng Bảng từ

có thể bao gồm từ (chiếm phần lớn), các đơn vị lớn hơn từ (ngữ cố định, thành ngữ…), các đơn vị nhỏ hơn từ (yếu tố cấu tạo từ),… Số lượng các đơn vị trong bảng từ phụ thuộc vào việc lựa chọn mục từ Vấn đề này nói chung rất phức tạp,

Trang 22

hiện nay chưa có một tiêu chuẩn chung nào về việc lựa chọn mục từ Công việc này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cỡ, loại từ điển, số lượng, chủng loại của các nguồn tư liệu, ngữ cảm của người biên soạn

Là sách công cụ dùng để tra cứu, từ điển bao giờ cũng được sắp xếp theo một trật tự nhất định Tuỳ theo loại hình ngôn ngữ, có thể có nhiều cách sắp xếp khác nhau, chẳng hạn, có thể sắp xếp theo trật tự chữ cái, theo chủ đề, theo tần

số, hoặc theo bộ chữ (đối với từ điển tiếng Hán),… Tuy nhiên, cách sắp xếp phổ biến nhất là xếp theo trật tự bảng chữ cái

1.3.1.2 Cấu trúc vi mô của từ điển giải thích

Giống như các loại từ điển khác, cấu trúc vi mô của từ điển giải thích cũng bao gồm hai phần chính: mục từ và các thông tin trong mục từ đó Như vậy, mục

từ trong từ điển là đơn vị đặc biệt, đa chức năng, hay còn gọi là đơn vị kép, nó vừa là đơn vị cơ bản của cấu trúc vĩ mô (trong mối quan hệ dọc, với hệ thống bảng từ), vừa là đơn vị của cấu trúc vi mô (trong mối quan hệ ngang, với các thông tin về chính bản thân nó)

L.Zgusta gọi hai thành phần chính của cấu trúc vi mô là “phần đề” (mục từ) và

“phần chính” (các thông tin) J.Rey Debove coi mục từ trong từ điển có cấu trúc như một câu, trong đó đơn vị mục từ là chủ ngữ, các thông tin là vị ngữ Hai quan niệm này cùng nêu lên một đặc tính cơ bản của cấu trúc mục từ là tính “đề -

thuyết” Trên cấu trúc bề mặt, “phần đề” chỉ gồm một yếu tố, đó là mục từ, còn

“phần thuyết” thường là nhiều yếu tố, đó là các thông tin nhiều mặt về mục từ Nhưng xét về cấu trúc sâu, mỗi cấu trúc vi mô bao gồm nhiều cấu trúc đề - thuyết bình đẳng với nhau Bởi vì mỗi thông tin đều có quan hệ trực tiếp với mục từ làm thành cấu trúc đề - thuyết, nhưng trên bề mặt, phần đề luôn luôn được tỉnh lược (chỉ xuất hiện một lần duy nhất) Nối giữa “phần đề” và “phần thuyết” là một số hệ từ

Trang 23

Những hệ từ này có thể hiển ngôn hoặc không hiển ngôn nhưng rất dễ được khôi phục ở dạng hiển ngôn Tiếp thu và phát triển quan niệm này vào nghiên cứu từ điển tiếng Việt, Chu Bích Thu đã khai thác sâu hơn các mối liên kết trong cấu trúc

vi mô Ngoài tính tỉnh lược là đặc trưng cơ bản, còn phải kể đến các mối liên kết bằng phép liên kết tuyến tính và phép lặp [x 44, tr 105 – 110]

Theo tác giả Chu Bích Thu, các loại thông tin thường thấy trong cấu trúc

vi mô của từ điển giải thích là: chính tả, ngữ âm, từ loại, phong cách, phạm vi sử

dụng, kết hợp cú pháp, kết hợp từ vựng, định nghĩa, kết hợp từ vựng – cú pháp, định hướng ngữ dụng, đồng nghĩa – trái nghĩa, ví dụ Các thông tin này được thể

hiện bằng những phương tiện đa dạng, tuỳ thuộc vào từng ngôn ngữ, vào quan niệm từ điển học của những người biên soạn Thông thường các thông tin về từ loại, phong cách, sắc thái… được thể hiện bằng những kí hiệu viết tắt; các thông tin về ý nghĩa, cách dùng… thường được trình bày đầy đủ

1.3.2 Cấu trúc của từ điển bách khoa

1.3.2.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển bách khoa

Theo tác giả Phạm Hùng Việt, “cấu trúc vĩ mô trong từ điển bách khoa chính là bảng đầu mục từ - tên gọi các khái niệm, sự vật, sự kiện, nhân vật… mà thông tin về chúng được trình bày trong mục từ” Thông thường, bảng mục từ của từ điển bách khoa được lập dựa trên sự phân loại tri thức và khoa học của các

ngành và bộ môn; các cuốn từ điển, từ điển thuật ngữ; các ấn phẩm đã công bố

và các nguồn tư liệu khác [x 46, tr 63-65]

Theo tác giả, bảng đầu mục từ trong từ điển bách khoa chính là việc thể hiện cụ thể của việc phân loại tri thức, là bước triển khai của phân loại tri thức và liên kết nội dung, là bộ khung của từ điển bách khoa Ngoài những đặc trưng cơ bản như tính tư tưởng, tính khoa học, tính hiện đại, đồng thời bảo đảm tính ngắn

Trang 24

gọn, dễ tra cứu, bảng từ trong từ điển bách khoa phải quán triệt ba mục tiêu, đó là: tính hiện thực trong phân loại khoa học; sự phát triển của các ngành khoa học

và xu hướng liên kết các bộ môn khoa học; khuynh hướng xuất hiện các ngành khoa học mới [x 46, tr 64]

“Bảng đầu mục từ mang tính khoa học phải được xây dựng trên cơ sở phân loại tri thức đưa vào từ điển bách khoa theo một chu trình khép kín, có tầng bậc và cấp độ, đặc biệt là đầu mục từ phải mang tính khái niệm Nó phải bao gồm đầy đủ những khái niệm của các chuyên ngành khoa học Mỗi chuyên ngành cũng phải hoàn chỉnh về mặt kết cấu và nội dung, nghĩa là mỗi chuyên ngành, đến lượt mình, cũng phải đầy đủ các bộ môn khoa học Nó cũng phải phản ánh tính thống nhất và kế thừa tri thức

cổ kim, được ghi nhận qua các tên gọi (đầu mục từ) của các khái niệm” [46, tr 64]

“Phân loại tri thức được coi là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chuẩn bị, lập kế hoạch, xây dựng bảng từ, biên soạn nội dung và biên tập bản thảo Tuỳ theo sự phát triển của khoa học ở từng thời kì, từng nước, mục đích yêu cầu của từng loại từ điển bách khoa và ý đồ của những người tổ chức mà chọn cách phân loại” [46, tr 64] Việc phân loại tri thức không phải là liệt kê các thành phần tham gia một cách hình thức, mà là phải xác định được các mối quan hệ nội tại của từng thành phần tham gia và giữa các thành phần Chỉ khi nào lập được mạng lưới quan

hệ và dựng được bộ khung cho từ điển bách khoa thì mới coi là hoàn thành phân loại tri thức

Trong quá trình xây dựng bảng mục từ tổng hợp, cần tránh tính ngẫu hứng, thiếu khách quan, thiếu quan điểm tổng thể, toàn diện, đôi khi còn có biểu hiện thiên kiến, bản vị của một số người biên soạn Do vậy, trước khi xây dựng

Trang 25

bảng đầu mục từ phải nghiên cứu kĩ các hệ thống phân loại khoa học và hình thành được bảng cấu trúc các chủ đề theo phân loại khoa học, các ngành, phân ngành, các

bộ môn khoa học, các khái niệm, các thuật ngữ, các chủ đề tri thức, các sự kiện, các

tổ chức, các địa danh, nhân vật… Trên cơ sở bảng cấu trúc phân loại mục từ mới có thể xây dựng được một bảng mục từ tổng hợp, để bảo đảm không trùng lặp, không

bỏ sót, và từ đó hình thành được các mục từ biệt lập và liên ngành, thuộc nhiều loại khác nhau, dưới các hình thức dài, trung bình và ngắn [x 46, tr 69]

1.3.2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa

Cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa là thiết kế bên trong (mục từ) của từ điển bách khoa Cấu trúc vi mô đưa ra các thông tin mang tính sự kiện, chi tiết

về khái niệm, sự vật, hiện tượng, nhân vật… được nêu ra ở đầu mục từ

Theo tác giả Phạm Hùng Việt, mục từ trong từ điển bách khoa phải là một khái niệm hoàn chỉnh hoặc một chủ đề tri thức độc lập, có thể tra cứu, tìm đọc độc lập Đối với cùng một chủ đề, từ điển có thể trình bày với những kiến thức ở mức

độ nông sâu khác nhau để thích hợp với các loại độc giả có trình độ văn hoá khác nhau và có nhu cầu học tập, nghiên cứu khác nhau Mục từ của từ điển bách khoa cần hướng tới ba yêu cầu:

- Tính tri thức: yêu cầu tri thức phải chuẩn xác, chắc chắn;

- Tính tư liệu: yêu cầu tư liệu phải cơ bản, tinh gọn, chuẩn xác;

- Tính tra cứu: yêu cầu đảm bảo cho độc giả có thể tra tìm được rất nhanh, đọc được dễ dàng, nghĩa là phải giúp cho độc giả có thể sử dụng thời gian ngắn nhất, có thể tra cứu thuận lợi nhất, tìm đọc được những tri thức và tư liệu cần thiết

Trang 26

Đối với những mục từ dài, trình bày những khái niệm quan trọng, những chủ đề rộng thường có phân tầng lớp, cấp bậc có ghi các tiêu đề Những tiêu đề này cũng là những đơn nguyên tri thức để tra cứu, tìm kiếm

Đầu mục từ trong từ điển bách khoa là tên gọi mục từ có thể được biểu thị bằng một khái niệm (từ, thuật ngữ), một tên riêng, hoặc một cụm từ có kèm tên riêng, đặt ở đầu mục từ, được sắp xếp theo abc…, hoặc theo đề tài, tra cứu theo chữ cái đầu của tiếng đầu tiên Căn cứ vào hình thức của đầu mục từ có thể xếp

tất cả các đầu mục từ vào hai khối: khối khái niệm (từ, thuật ngữ) và khối tên

riêng (kể cả những cụm từ có kèm theo tên riêng)

Khối khái niệm (từ, thuật ngữ) là khối bao gồm những khái niệm phổ biến

chung cho toàn thể nhân loại, khái niệm đặc thù của từng dân tộc hoặc khái niệm riêng của từng ngành khoa học Những khái niệm này có thể được biểu thị bằng một

từ, một thuật ngữ hoặc một cụm từ Ví dụ: áo, áp thấp nhiệt đới, bội chi ngân sách…

Khối tên riêng (đầu mục từ là tên riêng hoặc đầu mục từ ngoài danh từ

chung có kèm tên riêng) Khối này được phân ra các loại sau đây:

- Đầu mục từ chỉ tên người (nhân vật)

- Đầu mục từ chỉ tên đất (địa danh)

- Đầu mục từ chỉ các tổ chức, cơ quan…

- Đầu mục từ chỉ sự vật cụ thể (sự vật có tên riêng hoặc kèm theo tên riêng)

- Đầu mục từ chỉ sự kiện

- Đầu mục từ chỉ quan niệm

- Đầu mục từ chỉ văn kiện – tài liệu lịch sử

Trang 27

- Đầu mục từ chỉ mật danh, danh pháp, khẩu hiệu, danh hiệu…

Việc xếp theo các loại trên cũng chỉ mang tính ước lệ Tuy nhiên, nó có một ý nghĩa thực tiễn, vì có liên quan đến việc phân phối tỉ lệ, việc sắp xếp đầu mục từ cho thuận tiện việc tra cứu Thông qua tỉ lệ các loại đầu mục từ và thông qua việc sắp xếp,

có thể đánh giá phần nào cấu trúc của cuốn từ điển bách khoa và nội dung của nó

Trong từ điển bách khoa, mục từ là đơn vị tra cứu chính, chứa đựng những thông tin nhằm giải thích hoặc chỉ dẫn khoa học của các khái niệm, tên gọi có mặt trong bảng từ chuyên ngành hoặc bảng từ tổng hợp Thành phần đầy đủ trong một mục từ có thể bao gồm:

- Đầu mục từ (hoặc đề mục) tức tên gọi mục từ

- Định nghĩa, nội dung giải thích đầu mục từ và những chỉ dẫn khoa học

có liên quan đến đầu mục từ

- Minh hoạ, ảnh, bản đồ

- Thư mục, tư liệu trích dẫn và xuất xứ của tư liệu

- Tên tác giả biên soạn mục từ

Trong một mục từ không nhất thiết phải có đầy đủ năm thành phần trên Thành phần trong một mục từ nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào loại hình mục từ và vào từng công trình bách khoa cụ thể Dung lượng (kí hiệu in hoặc con chữ) cũng không giống nhau, có mục từ chỉ vài ba chục kí hiệu in, nhưng cũng có

mục từ cũng có tới vài chục nghìn kí hiệu in [x 46, tr 69-78]

Trang 28

1.4 Các kiểu định nghĩa của từ điển

1.4.1 Các kiểu định nghĩa trong từ điển giải thích

Định nghĩa là thành phần hạt nhân trong số các thông tin của cấu trúc vi mô trong một cuốn từ điển giải thích Giải thích từ ngữ trong từ điển là công việc quan trọng nhất, khó khăn nhất và thường bị phê phán nhiều nhất

Khảo sát định nghĩa trong một số cuốn từ điển1, các tác giả của công trình “Một

số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận của thế giới và Việt Nam về biên soạn các loại từ điển ngữ văn” đã chỉ ra các phương pháp định nghĩa được

sử dụng trong các từ điển giải thích tiếng Việt:

 Phương pháp định nghĩa bằng phân tích (định nghĩa tự nhiên)

Đặc điểm cơ bản của lời giải thích trong từ điển là cách giải thích tự nhiên – kiểu giải thích thường gặp trong đời sống Giải thích tự nhiên là diễn đạt từ ngữ A bằng từ ngữ B, trong đó B và A phải có cùng nội dung, B phải đồng nghĩa với A Giải thích tự nhiên có hai đặc điểm: đây là một hoạt động tự nhiên trong đời sống xã hội khi có yêu cầu làm cho người khác hiểu mình, bằng cách sử dụng năng lực mở rộng, triển khai của ngôn ngữ; dùng cái dễ để giải thích cái khó, cái

biết rồi để giải thích cái chưa biết Ví dụ: mục từ đi có thể định nghĩa:

- HP: (Người, động vật) tự di chuyển bằng những động tác liên tiếp của chân, lúc nào cũng vừa có chân tựa trên mặt đất, vừa có chân giơ lên đặt tới chỗ

khác Trẻ đi chưa vững Chân đi chữ bát Cho ngựa đi thong thả bước một

1

(1) Việt Nam tự điển – Hội Khai trí – Tiến Đức, Sài Gòn 1931 (viết tắt KT)

(2) Tự điển Việt Nam phổ thông, Đào Văn Tập, Sài Gòn, 1951 (viết tắt DVT)

(3) Việt Nam tân từ điển, Thanh Nghị, Sài Gòn, 1952 (viết tắt TN)

(4) Tự điển Việt Nam, Lê Văn Đức, Sài Gòn, 1970 (LVD)

(5) Từ điển tiếng Việt, Việt Tân chủ biên, HN, 1977 (viết tắt VT)

(6) Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, Tp HCM, 2000 (viết tắt DTD)

(7) Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân, Tp HCM, 2000 (viết tắt NL)

(8) Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội, 2000 (viết tắt HP)

Trang 29

- KT: Dời bước; dùng cách gì làm cho ở chỗ này dời ra chỗ khác Chân đi;

đi xe; đi tầu

- DVT: Bước chân mà tiến lên Loài chim cũng như loài người đi bằng hai

chân; loài thú đi bốn chân

- DTD: Di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác bằng những bước chân Trẻ tập

đi Đi từng bước một Đi bách bộ

 Phương pháp định nghĩa bằng cách dùng từ bao

Đây là phương pháp định nghĩa của logic học Nội dung của nó là quy sự vật, hiện tượng, khái niệm vào khái niệm cùng loại rộng hơn, rồi vạch ra những đặc trưng khu biệt của khái niệm được giải thích Phương pháp định nghĩa này là một dạng đặc biệt của phương pháp định nghĩa bằng phân tích

- DVT: Một thứ rau có củ hăng hăng, cay cay, dùng làm gia vị Thịt đầy

sanh, không hành không ngon

- TN: Loại rau như cây cỏ, có củ vị hăng và cay cay, thường dùng làm đồ gia vị

 Phương pháp định nghĩa bằng dùng từ đồng nghĩa

Là kiểu định nghĩa bằng cách đưa ra từ đồng nghĩa với từ đang cần định nghĩa Đây là kiểu giải thích phổ biến trong từ điển và cũng là kiểu giải thích từ ngữ thường gặp trong giao tiếp

Trang 30

Ví dụ: định nghĩa của mục từ heo:

- HP: (phg.) Lợn

- KT: Con lợn

- DVT: Lợn Heo sữa; heo con; thịt heo, lòng heo

- VT: dt Lợn

- NL: Từ miền Nam chỉ con lợn

- DTD: Lợn Nói toạc móng heo (tng)

- TN: Có nơi gọi là lợn, súc vật nuôi để ăn thịt

 Phương pháp định nghĩa bằng cách dùng từ trái nghĩa

Là phương pháp định nghĩa bằng cách phủ định từ (hoặc các từ) có ý nghĩa đối lập với từ được định nghĩa

Ví dụ: định nghĩa của mục từ ngắn:

- HP: Có chiều dài dưới mức bình thường, hoặc không bằng so với các vật

khác; trái với dài Áo may dài quá Cắt tóc ngắn Năm ngón tay có ngón

dài ngón ngắn (tng.)

- KT: Nói về một chiều so sánh với chiều khác mà kém Trái với dài

- DVT: Trái với dài, về không gian Áo ngắn; đường ngắn; ngắn tay với

chẳng tới trời

- VT: Có hai đầu gần nhau trong không gian hay thời gian Phố ngắn; Ngày

vui ngắn chẳng đầy ngang (K)

- LVD: Vắn, cụt Truyện ngắn; Cơn lạnh còn có cơn nồng, Cơn đắp áo

ngắn cơn chung áo dài

Trang 31

- NL: Có chiều dài rất hạn chế trong không gian hay trong thời gian Đừng

chê lươn ngắn mà tham chạch dài (tng.); Ngày vui ngắn chẳng đầy gang (K); Sông sâu, sào ngắn khôn dò (cd)

- TN: Cụt, trái với dài Tóc ngắn Sào ngắn

 Phương pháp định nghĩa bằng chỉ dẫn

Là phương pháp định nghĩa bằng cách đưa từ đang cần định nghĩa ra so sánh với một đối tượng của thế giới ngoài ngôn ngữ Đối tượng ngoài ngôn ngữ được chọn phải là cái điển hình nhất, phổ biến nhất, có thuộc tính dễ gợi sự liên tưởng nhất tới nghĩa của từ Phương pháp giải thích này thường được áp dụng với những từ biểu thị sự cảm nhận trực tiếp hiện thực như cảm nhận về màu sắc, mùi vị, âm thanh

Ví dụ: định nghĩa của mục từ cay:

- HP: Có vị làm cho tê xót đầu lưỡi, như vị của ớt Quả ớt cay Rượu cay

Gừng cay muối mặn

- KT: Nói cái vị hăng nồng làm cho tê tái đầu lưỡi Nghĩa bóng là căm tức một việc gì

- DVT: Chỉ vị nóng nồng, thường làm cho lưỡi tê tái, của những chất như ớt, tiêu

- DTD: Có vị nồng, làm cho tê đầu lưỡi Cay như ớt Rượu cay Gừng cay

muối mặn

 Phương pháp định nghĩa bằng cách nêu chức năng của từ ngữ

Là phương pháp dùng siêu ngôn ngữ miêu tả để nêu lên chức năng của từ được định nghĩa Đây là cách định nghĩa thường áp dụng cho các hư từ

Ví dụ: định nghĩa của mục từ và:

Trang 32

- HP: Từ biểu thị quan hệ liên hợp giữa hai sự vật, hiện tượng, quá trình,

tính chất cùng loại, cùng phạm trù Tôi và nó Nó biết tiếng Hán, và tiếng

Nhật Mưa to và gió lớn

- KT: Cùng, với Tôi và anh Người và vật

- DVT: Cùng, với Anh và em; người và vật // Dùng đũa đưa đồ ăn vào

miệng: và cơm; và đồ ăn.// tl Vài

- LVD: Với, cùng, tiếng kèm theo người, vật hay sự việc chót khi đã kể

nhiều rồi Anh tìm nó và bảo nó đến đây

- NL: Từ dùng để nối hai từ, hai mệnh đề để thêm ý Anh và tôi cùng đi;

Cháu rất ngoan và học rất giỏi

- DTD: Từ biểu hiện quan hệ liên hợp giữa hai sự vật, hiện tượng, quá trình,

tính chất, hoạt động cùng loại Tôi và anh; đẹp người đẹp nết; nói và làm

đi đôi với nhau [x 22, tr 266-273]

1.4.2 Các kiểu định nghĩa trong từ điển bách khoa

1.4.2.1 Vài nét về định nghĩa khái niệm trong logic học

Để nhận biết và phân biệt các sự vật, hiện tượng khác nhau trong thế giới xung quanh, con người cần phải có khái niệm về các sự vật, hiện tượng đó Khi diễn đạt khái niệm ra bằng ngôn từ, chúng ta có lời định nghĩa Trong cuộc sống của mỗi con người, có lẽ ai cũng đã từng nhiều lần có nhu cầu tạo lập và tạo lập được những định nghĩa để tìm hiểu và phân biệt các sự vật, hiện tượng vô cùng đa dạng, phong phú xung quanh mình Định nghĩa chính là việc nêu lên những thuộc tính bản chất để nhận biết sự vật, hiện tượng, đồng thời phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác

Trang 33

Tuy nhiên, định nghĩa khái niệm là một vấn đề hết sức phức tạp, nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học, với logic học, triết học Trong tác

phẩm Logic học phổ thông, tác giả Hoàng Chúng đã đưa ra một số đặc điểm cơ

bản của định nghĩa khái niệm như sau:

Cấu trúc logic của định nghĩa thường có dạng “A là B”: trong đó A là khái niệm được định nghĩa, là khái niệm mới, cần được làm sáng tỏ; B là khái niệm định nghĩa, trong đó nêu lên các dấu hiệu đặc trưng, phân biệt với những khái niệm khác đã được biết Đến lượt mình, thành phần B lại có nhiều cấu trúc logic khác nhau Chẳng hạn, dựa vào mối quan hệ rộng hơn, hẹp hơn giữa các khái niệm người ta có thể có hai cách định nghĩa:

Định nghĩa những khái niệm mới hẹp hơn những khái niệm đã biết bằng

cách nêu ra chủng và sự khác nhau về loại theo công thức (⋀ là dấu của phép hội, đọc là và):

Khái niệm được định nghĩa = chủng

⋀ sự khác nhau về loại

Đây là cấu trúc logic tiêu biểu nhất, được sử dụng phổ biến để định nghĩa khái niệm trong các ngành khoa học cũng như trong đời sống Thí dụ như định

nghĩa cá: “Động vật có xương sống, sống ở nước, thở bằng mang, bơi bằng vây”

Phân tích cấu trúc logic của định nghĩa này ta có: “động vật có xương sống” là khái niệm rộng hơn “cá”; “sống ở dưới nước”, “thở bằng mang” và “bơi bằng vây” là những đặc điểm để phân biệt “cá” với các loài động vật quen gọi là “cá” nhưng lại

không phải là “cá” (cá sấu là loài bò sát, cá mực là loài thân mềm, cá heo là loài thú

vì chúng đẻ con và nuôi con bằng sữa theo đúng đặc trưng của loài thú); ngược lại

Trang 34

có những loài chúng ta tưởng không phải là cá thì chúng lại là cá đích thực Ví dụ: lươn và chạch đều là cá vì chúng có đủ bốn đặc trưng nêu trên, mặc dù mang và

vây của chúng rất nhỏ, nhưng chúng vẫn dùng mang để thở và dùng vây để bơi

Hoặc định nghĩa những khái niệm mới, rộng hơn những khái niệm đã biết bằng cách liệt kê những khái niệm hẹp hơn được bao hàm trong khái niệm ấy trong công thức (⋁ là dấu của phép tuyển, đọc là hoặc):

Khái niệm được định nghĩa = B1

một trong ba khái niệm đó Nghĩa là ta có: “tội nhận hối lộ là một loại tội hối

lộ”, tương tự như vậy với “tội đưa hối lộ” và “tội môi giới hối lộ”

Theo quan niệm của logic học truyền thống, định nghĩa khái niệm phải tuân theo ba quy tắc sau:

Quy tắc 1: Chỉ được sử dụng những khái niệm đã biết, đã được định nghĩa

từ trước Vi phạm quy tắc này có thể đưa đến các định nghĩa vòng quanh, định nghĩa luẩn quẩn

Trang 35

Quy tắc 2: Định nghĩa phải tương xứng, nghĩa là khái niệm được định nghĩa

và khái niệm định nghĩa phải đồng nhất (có cùng ngoại diên) Vi phạm quy tắc này có thể đưa đến định nghĩa quá rộng hoặc định nghĩa quá hẹp

Quy tắc 3: Định nghĩa cần ngắn gọn, không chứa đựng những dấu hiệu có thể suy

ra được từ những dấu hiệu khác đã được nêu lên trong định nghĩa [x 4, tr 111-126]

Trong tác phẩm Logic học, tác giả Vương Tất Đạt cho rằng: “định nghĩa

khái niệm là thao tác logic nhờ đó phát hiện nội hàm của các khái niệm hoặc xác

lập ý nghĩa của các thuật ngữ, và tuỳ theo đối tượng cần định nghĩa, có định

nghĩa thực tế (trả lời câu hỏi “đối tượng được biểu thị bằng thuật ngữ đó là gì”)

và định nghĩa duy danh (trả lời câu hỏi “thuật ngữ ấy có nghĩa là gì”) Bằng

những thao tác khác nhau, có thể tạo nên những kiểu định nghĩa khác nhau:

- Định nghĩa qua giống gần gũi và khác biệt về loài là định nghĩa trong

đó chỉ ra lớp đối tượng và các dấu hiệu nhờ đó đối tượng được định nghĩa tách ra

từ lớp đối tượng ấy;

- Định nghĩa theo nguồn gốc là định nghĩa vạch ra nguồn gốc tạo thành

đối tượng được định nghĩa;

- Định nghĩa qua việc chỉ ra quan hệ của đối tượng với các mặt đối lập

của nó được sử dụng để định nghĩa các khái niệm có ngoại diên cực kì rộng –

các phạm trù

Ngoài ra còn có thể kể đến các thao tác định nghĩa khác như miêu tả, nêu

đặc trưng, so sánh, phân biệt” [x 6, tr 33-36]

1.4.2.2 Đặc điểm và phương pháp định nghĩa khái niệm trong từ điển bách khoa

Trang 36

Từ điển học mượn cách định nghĩa của logic học, và tất nhiên, định nghĩa khái niệm trong từ điển cũng phải tuân theo ba quy tắc nêu trên của định nghĩa khái niệm trong logic

Khi định nghĩa khái niệm cần phải xác định, phải chỉ ra được một cách rõ ràng, dứt khoát khái niệm được định nghĩa, nghĩa là định nghĩa phải nêu bật được những đặc trưng bản chất nhất của khái niệm Nội dung, ranh giới giữa các khái niệm không cho phép sự mập mờ, nhập nhằng mà phải rất rõ ràng, tách bạch Định nghĩa khái niệm phải nêu một cách hoàn toàn chính xác, đầy đủ nội dung nghĩa của khái niệm để người tiếp nhận nó nhận biết và phân biệt với những khái niệm khác một cách rõ ràng Định nghĩa khái niệm trong từ điển vừa phải tuân theo các quy tắc của định nghĩa khái niệm trong logic, đồng thời, phải đáp ứng các yêu cầu khoa học nhưng dễ hiểu; phải là một định nghĩa tự nhiên; vừa cụ thể lại vừa khái quát

Định nghĩa khái niệm trong từ điển bản chất là giải thích nội dung của khái niệm theo cách nói vòng Yêu cầu của cách giải thích này là tự nhiên, để hiểu và tương đối chính xác Hầu như rất khó đòi hỏi nó chính xác một cách tuyệt đối như định nghĩa khái niệm trong logic học Dù có vay mượn thuật ngữ “định nghĩa”, có dựa trên cơ sở nền tảng các quy tắc của định nghĩa khái niệm trong logic nhưng định nghĩa khái niệm trong từ điển “là một cách giải thích tự nhiên mà giá trị” Định nghĩa cần phản ánh đúng sự tồn tại của ngôn ngữ tự nhiên với những sự nhập nhằng không tránh khỏi và những ranh giới không thể xác định một cách rõ ràng, tuân theo một loại logic riêng của ngôn ngữ tự nhiên: logic mờ

Trang 37

Định nghĩa khái niệm trong từ điển phải đủ cụ thể để có thể hiểu được một cách tương đối chính xác nhưng đồng thời lại phải khái quát để có thể bao hàm được mọi khả năng, mọi khía cạnh của khái niệm

Để đáp ứng yêu cầu dễ hiểu, một nguyên tắc của định nghĩa từ điển là phải dùng từ dễ để giải thích từ khó, dùng cái đã biết để giải thích cái chưa biết “Từ dễ” được hiểu là những từ thông dụng, được sử dụng phổ biến, có sắc thái trung tính; “từ khó” được hiểu là những từ ít dùng, từ cũ, từ cổ, từ địa phương,… “Cái chưa biết” đương nhiên là ý nghĩa của mục từ đang được giải thích; “cái đã biết”

ở đây được hiểu là toàn bộ những từ (trừ mục từ đang được giải thích) có mặt trong cấu trúc vĩ mô Như vậy, nói một cách khác, để đáp ứng yêu cầu dễ hiểu, trong lời định nghĩa chỉ được dùng những từ được thu thập trong quyển từ điển, nhưng tránh sử dụng những từ cũ, từ cổ, từ địa phương…, và tất nhiên là không được dùng từ đầu mục trong lời định nghĩa của chính từ ấy

“Một tính chất cơ bản khác của định nghĩa tự nhiên là không bao giờ nó là một câu hoàn chỉnh” [29, tr 27] Định nghĩa thường là một ngữ và “thường có hình thức một nhóm từ hướng tâm” [47, tr 319] Từ đóng vai trò “tâm” trong ngữ ấy thường có chức năng ngữ pháp tương đương với từ đầu mục Nghĩa là thông thường, định nghĩa của một danh từ là một danh ngữ, định nghĩa của một động từ là một động ngữ…

Đối với từ điển bách khoa, có thể xây dựng được các mẫu định nghĩa (thông tin), tương tự các mẫu định nghĩa các lớp, loại từ ngữ, đối với từ điển giải thích Tuy nhiên, từ điển bách khoa do lấy sự vật, khái niệm làm đối tượng, nên không thu thập những đơn vị từ vựng như yếu tố cấu tạo từ, những từ có ý nghĩa quan

hệ, ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái, chẳng hạn như hư từ, đại từ, cảm từ và

Trang 38

trợ từ Từ điển bỏch khoa cũng khụng thu thập những tớnh từ so sỏnh cú ý nghĩa đỏnh giỏ như : lớn – bộ, to – nhỏ, tốt – xấu… Những khỏi niệm thụng thường như: bố, mẹ, núi, cười, đi, đứng…; cỏc khỏi niệm rất khú vạch ra nội hàm của

nú, mà chỉ cú thể chỉ ra bằng trực quan như cỏc từ chỉ màu sắc, từ tượng thanh, tượng hỡnh… từ điển bỏch khoa cũng khụng thu thập Từ điển bỏch khoa chỉ thu thập những từ cú ý nghĩa biểu vật, biểu niệm cụ thể mà khụng phụ thuộc vào nhõn tố người sử dụng hay hoàn cảnh núi năng Chớnh vỡ vậy, từ điển bỏch khoa khụng sử dụng phương phỏp định nghĩa bằng chỉ dẫn (phương phỏp giải thớch được ỏp dụng với những từ biểu thị cảm nhận trực tiếp hiện thực như cảm nhận

về màu sắc, mựi vị, õm thanh) và phương phỏp định nghĩa bằng cỏch nờu chức năng của từ ngữ (cỏch định nghĩa ỏp dụng cho cỏc hư từ)

1.5 Nhận thức chung về Từ điển bỏch khoa Cụng an nhõn dõn Việt Nam

Khi đề cập đến từ điển bỏch khoa và bỏch khoa thư, Vũ Quang Hào cho rằng từ điển bỏch khoa chuyờn ngành là loại từ điển bỏch khoa mà nội dung tri thức của nú phản ỏnh “tri thức khoa học của một chuyờn ngành, một lĩnh vực hoạt động thực tiễn”

Cụng tỏc cụng an là một lĩnh vực hoạt động thực tiễn Từ điển bỏch khoa Cụng an

nhõn dõn Việt Nam thuộc loại từ điển bỏch khoa chuyờn ngành – chuyờn về lĩnh vực

cụng tỏc cụng an Vỡ vậy, cú thể hiểu: Từ điển bỏch khoa Cụng an nhõn dõn Việt Nam

là một bộ sỏch tra cứu cú tớnh chuyờn ngành, trỡnh bày một cỏch hệ thống, chớnh xỏc, ngắn gọn cỏc tri thức về cụng tỏc cụng an và cỏc tri thức khỏc cú liờn quan mật thiết đến cụng tỏc cụng an, trờn cơ sở hệ thống tư liệu, tài liệu đó được đỏnh giỏ, tổng kết

Từ điển bỏch khoa Cụng an nhõn dõn Việt Nam cú 3.659 mục từ với độ

dày 1.516 trang, khổ 16 x 24cm Đõy là công trình khoa học lớn, chứa đựng những vấn đề lí luận cơ bản của ngành Cụng an và những tri thức quan trọng quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gỡn trật tự, an toàn xó hội; được đỳc kết trong suốt quỏ trỡnh xõy dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực

Trang 39

lượng Công an nhân dân, góp phần quan trọng vào việc thống nhất nhận thức về những vấn đề lí luận cơ bản của ngành, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, giảng dạy ở các học viện, trường công an và chỉ đạo thực tiễn các đơn vị, công an các địa phương

Căn cứ vào hình thức thể hiện, hệ thống mục từ của Từ điển bách khoa

Công an nhân dân Việt Nam được phân thành hai loại: mục từ thuật ngữ - khái

niệm và mục từ tên riêng Đến lượt mình, từng loại này có thể tiếp tục được phân

ra thành các loại nhỏ hơn nữa Loại mục từ nhân vật, được chia thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Loại mục từ tên tổ chức, được chia thành: tổ

chức trong nước và tổ chức nước ngoài… Trong Từ điển bách khoa Công an

nhân dân Việt Nam, tỉ lệ mục từ khái niệm chiếm đa số so với mục từ tên riêng

Trong loại mục từ tên riêng thì tỉ lệ giữa các loại cũng không giống nhau

Căn cứ vào lĩnh vực tri thức, hệ thống mục từ trong Từ điển bách khoa

Công an nhân dân Việt Nam gồm hai loại: mục từ về tổ chức và công tác công

an (bao gồm các mục từ về tổ chức và các mặt công tác của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam); và mục từ có liên quan mật thiết đến công tác công an (bao gồm các mục từ thuộc các lĩnh vực: pháp luật, tôn giáo, dân tộc, tâm lí, khoa học – kĩ thuật, chính trị xã hội, tổ chức và hoạt động của lực lượng công an trên thế giới có mối quan hệ hợp tác với Công an nhân dân Việt Nam hoặc là đối tác cần quan tâm tìm hiểu của Công an nhân dân Việt Nam)

Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam là một loại từ điển bách khoa

chuyên ngành, các mục từ trong Từ điển đều là các thực từ và được sắp xếp theo thứ tự chữ cái abc Các đơn vị trong bảng từ của Từ điển không chỉ dừng lại ở đơn

vị là từ, cụm từ có liên quan đến lĩnh vực mà Từ điển đề cập tới mà còn bao gồm cả

Trang 40

các thành ngữ (rút dây động rừng, tát nước từng vũng…), các chữ viết tắt, danh pháp, tên riêng… Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam đã chú ý thu thập

các thuật ngữ - khái niệm trong và ngoài ngành công an Việc thu thập cũng như định nghĩa các thuật ngữ - khái niệm và các mục từ tên riêng đã dựa vào các tiểu ban chuyên môn gồm một số chuyên gia đầu ngành, nên đã làm được rất tốt

Do đặc điểm công tác của lực lượng Công an có liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nên các tri thức có liên quan mật thiết đến công tác công an cũng bao gồm tất cả các lĩnh vực này như: pháp luật, tôn giáo, dân tộc, kĩ thuật…Ở lĩnh vực pháp luật, đó là các mục từ phản ánh về các chế định, các quy phạm pháp luật, các thuật ngữ - khái niệm pháp lí, các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan đến các mặt công tác của lực lượng Công an nhân dân Lĩnh vực tôn giáo được phản ánh trong Từ điển là các hoạt động tôn giáo, các tổ chức tôn giáo thường bị các thế lực thù địch lợi dụng xâm phạm an ninh, trật tự hoặc tiềm

ẩn những dấu hiệu phức tạp về an ninh, trật tự Các tri thức về khoa học kĩ thuật ứng dụng, các khái niệm, thuật ngữ và tên riêng thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác có liên quan mật thiết đến công tác của lực lượng Công an nhân dân cũng được phản ánh trong Từ điển Ngoài ra, tri thức trong Từ điển bách khoa thư Công an nhân dân Việt Nam còn bao gồm cả các tri thức về tổ chức và hoạt động của lực lượng công an trên thế giới có mối quan hệ hợp tác với Công an nhân dân Việt Nam hoặc là đối tượng cần quan tâm tìm hiểu của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

Ngoài phần bảng từ, Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam còn

bao gồm bảng, ảnh, hình vẽ - được bố trí xen kẽ trong bảng từ hoặc làm thành phụ lục Bảng, ảnh, hình vẽ cung cấp một số thông tin bổ sung, giúp cho việc

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w