Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài - Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của lý thuyết phân quyền, từ đó tham khảo, vận dụng những giá trị hợp lý cho v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
2 PGS.TS Nguyễn Minh Phương
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN TIỄN SĨ CẤP ĐHQG
Luận án tiến sĩ
PGS TS Nguyễn Minh Phương GS TS Dương Xuân Ngọc
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận án là trung thực, chính xác Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Duy Tú
Trang 4MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 8
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền .8
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước .9
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền .14
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước .22
1.3 Đánh giá chung về tình hình, kết quả nghiên cứu việc tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam 29
1.3.1 Những kết quả đạt được .29
1.3.2 Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu .29
Chương 2: LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 33
2.1 Lý thuyết phân quyền: khái niệm, lịch sử hình thành, phát triển và nội dung 33
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 33
2.1.2 Khái lược lịch sử hình thành, phát triển và nội dung của lý thuyết phân quyền .43
2.2 Phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở một số quốc gia điển hình trên thế giới 55
2.2.1 Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Anh .56
2.2.2 Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Pháp 56
2.2.3 Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Hoa Kỳ .68
2.2.4 Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Trung Quốc .73 2.3 Giá trị chung của lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ
Trang 5Chương 3: THAM KHẢO NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY 84
3.1 Căn cứ chính trị - pháp lý tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam 84
3.1.1 Quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin về nhà nước .84
3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản về Nhà nước pháp quyền Việt Nam .89
3.2 Thực tiễn tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay 97
3.2.1 Tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam từ 1945 đến 1992 .98
3.2.2 Tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam từ 1993 đến 2013 108
3.2.3 Tổ chức bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam từ 2014 đến nay 115
3.3 Những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay - tham khảo từ những giá trị của lý thuyết phân quyền 122
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ THAM KHẢO NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN 134
4.1 Phương hướng tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền 134
4.2 Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam trên cơ sở tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền 141
4.2.1 Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đảm bảo sự phân công, phối hợp, kiểm soát có hiệu quả giữa các cơ quan quyền lực nhà nước cấp trung ương 142
4.2.2 Đảm bảo sự phân công, phối hợp, kiểm soát có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương 159
4.2.3 Đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước 165
KẾT LUẬN 173 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND: Hội đồng nhân dân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại cho thấy các tư tưởng về nhà nước và tổ chức nhà nước luôn chiếm vị trí rất quan trọng Trong đó, nổi bật nhất là tư tưởng phân chia và kiểm soát quyền lực nhà nước, mà ngày nay được nhiều nhà nghiên cứu gọi là lý thuyết phân quyền Nhà triết học cổ đại Aristote là một trong những người đầu tiên ở phương Tây nêu ra tư tưởng chia hoạt động của nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử Trong thời kỳ Cách mạng tư sản thế kỷ XVII - XVIII, tư tưởng này được tiếp tục bổ sung , phát triển với những đại biểu như: J Locke, S Montesquieu, T Hobbes, I Kant… Tư tưởng cốt lõi của lý thuyết phân quyền cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình Bất cứ ở đâu, lúc nào có quyền lực là sẽ xuất hiện xu hướng lạm quyền và chuyên quyền, do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các cơ quan nhà nước thì phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và không tập trung quyền lực, mà phân chia nó cho các bộ phận độc lập nắm giữ Sự phân chia quyền lực ở đây phải được thể hiện trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật Pháp luật phải mang tính khách quan và thừa nhận các quyền tự do cá nhân; bản chất của nó là sự thể
hiện ý chí chung của nhân dân
Với mục tiêu là chống lại chế đô ̣ đô ̣c tài chuyên chế , lạm quyền và bảo đảm quyền tự do của con người, lý thuyết phân quyền đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản kể từ ngày đầu Cách mạng tư sản cho đến ngày nay Trên cơ sở lý thuyết phân quyền, thực tiễn
đã hình thành những chính thể nhà nước khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và truyền thống văn hóa của từng quốc gia như chính thể Tổng thống, chính thể Đại nghị (Cộng hoà và Quân chủ) và chính thể Hỗn hợp Thực tiễn chính trị - pháp lý
tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều nước trong hàng trăm năm qua đã chứng tỏ những giá trị của lý thuyết phân quyền như phê phán, phủ định chế độ tập quyền quân chủ
Trang 8chuyên chế, độc tài và đề cao giá trị của Hiến pháp, pháp luật, đặt nền móng hình thành thể chế chính trị dân chủ; quyền lực nhà nước thuộc nhân dân và được trao cho các nhánh quyền lực nhà nước khác nhau (lập pháp, hành pháp, tư pháp) nhằm đảm bảo chuyên môn hoá chức năng, nhiệm vụ của mỗi nhánh quyền lực, tăng tính hiệu quả của các cơ quan nhà nước; hình thành cơ chế kiềm chế, đối trọng, kiểm tra và chế ước lẫn nhau trong hoạt động giữa các nhánh quyền lực, nhờ đó loại trừ nguy cơ tập trung quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó - nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hóa trong thực thi quyền lực… Đồng thời, kinh nghiệm lịch sử tổ chức bộ máy nhà nướccho thấy, thiếu một
cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước khoa học là nguyên nhân cơ bản nảy sinh tình trạng lạm quyền và quan liêu, tham nhũng, từ đó làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Đối với nước ta, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số lý luận, học thuyết với
tư cách giá trị nhận thức của văn minh nhân loại bị lãng quên hoặc được lý giải một cách thiên lệch mang nặng định kiến và lý thuyết phân quyền là một trong những trường hợp như vậy Bộ máy nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, không tổ chức
theo mô hình của lý thuyết phân quyền Tuy nhiên, quá trình xây dựng và hoàn thiện
bộ máy nhà nước trong những năm qua và đặc biệt thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay với
sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, dân chủ hoá đời sống xã hội đã cho thấy những giá trị chung của văn minh nhân loại, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và nếu coi nhẹ hoặc chối bỏ chúng thì không thể tiến lên được Văn kiện XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”
[35, tr.85] và Điều 2, Hiến pháp 2013 quy định:“Quyền lư ̣c nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong viê ̣c thực hiê ̣n các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [56] Như vậy, về lý luận và thực tiễn, việc thực
hiện nguyên tắc “phân công, phối hợp và kiểm soát” đã thể hiện sự tham khảo ở một
Trang 9mức độ nhất định những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền và đã đem lại được những kết quả nhất định Mặc dù đã có sự tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền nhưng dường như chúng ta vẫn chưa vượt qua được những hạn chế trước đây, nguyên tắc này mới chỉ được tham khảo trên khía cạnh kỹ thuật tổ chức và phân công lao động mà chưa thể hiện được bản chất chính trị của việc phân công quyền lực nhà nước Bởi vì, việc phân công quyền lực nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp Sự phân công chưa rõ ràng về thẩm quyền đã dẫn đến sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp ở cấp trung ương
và giữa các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương Bên cạnh đó, phương thức
“kiểm soát” quyền lực nhà nước chưa được thiết lập một cách hiệu quả, còn hình thức
Điều này đã làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân Do đó, cần:
Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền Tiếp tục phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương [37, tr.176]
Chính vì vây, việc nghiên cứu để có hiểu biết chính xác về những giá trị của
lý thuyết phân quyền nhằm tham khảo, vận dụng vào điều kiện Việt Nam là rất cần thiết Với mong muốn góp phần vào việc làm rõ hơn những giá trị của lý thuyết phân quyền, cũng như việc tham khảo, vận dụng những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bô ̣ máy Nhà nước pháp quyền
Việt Nam hiện nay, nghiên cứu sinh mạnh dạn chọn đề tài: “Lý thuyết phân quyền:
Giá trị tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ chính trị học của mình
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của lý thuyết phân quyền, từ đó tham khảo, vận dụng những giá trị hợp lý cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay; Đề xuất các giải pháp hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu nội dung và các giá trị của lý thuyết phân quyền về tổ chức bộ
máy nhà nước
+ Khái quát kinh nghiệm vận dụng lý thuyết phân quyền trong việc tổ chức
bộ máy nhà nước của một số quốc gia trên thế giới
+ Đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy nhà nước và xác định những vấn đề đặt
ra trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở nước ta trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá
trị hợp lý của lý thuyết phân quyền
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Lý thuyết phân quyền và việc tham khảo những giá trị của lý thuyết phân
quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Quá trình hình thành, phát triển và nội dung của lý thuyết phân quyền
+ Khảo sát thực tiễn vận dụng lý thuyết phân quyền trong tổ chức bộ máy
nhà nước ở một số quốc gia điển hình trên thế giới
+ Những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền trong xây dựng và hoàn
thiện bô ̣ máy Nhà nước pháp quyền Viê ̣t Nam được thể hiện qua các Văn kiện của
Trang 11Đảng và trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 (tập trung vào giai
đoạn từ năm 1992 đến nay)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cư ́ u
- Cơ sở lý luận:
+ Quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về tổ chức bộ máy nhà nước
+ Những di sản tư tưởng nhân loại về Nhà nước pháp quyền, về phân chia và
kiểm soát quyền lực nhà nước (tư tưởng phân quyền); những kết quả nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu
+ Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nướ c ta hiện nay Đặc biệt là quan điểm về thực hiện nguyên
tắc “thống nhất , phân công , phối hợp và kiểm soát” trong tổ chức và hoạt động
quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay
- Phương pha ́ p luận về phương pháp nghiên cứu:
+ Để thực hiện luận án này, tác giả chủ yếu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp phân tích tài liệu: để thu thập thông tin thông qua phân tích các nguồn tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn và hỏi chuyên gia: trao đổi, lấy ý kiến góp ý, phản biện của những chuyên gia, các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã và đang nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước
Phương pháp tổng hợp: để tổng hợp các tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu, phỏng vấn và hỏi chuyên gia Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuất của tác giả luận án
Trang 12Phương pháp so sánh: nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, qua đó rút ra bài học và lựa chọn những hạt nhân hợp lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để tham khảo, vận dụng vào Việt Nam
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp liên ngành: chính trị học; luật học…
5 Đo ́ ng góp của luâ ̣n án
- Hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển và các nội dung cơ bản của lý thuyết phân quyền
- Nghiên cứu xác định những giá tri ̣ lý luâ ̣n , thực tiễn của lý thuyết phân
quyền trong thực tiễn chính trị nhân loại
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân , do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận:
Việc nghiên cứu này góp phần bổ sung, làm phong phú và hoàn chỉnh thêm
sự hiểu biết về quá trình hình thành, phát triển của lý thuyết phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử; các nội dung cơ bản và sự vận dụng những giá trị của lý thuyết phân quyền trong thực tế tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Góp phần làm rõ thêm những giá trị của lý thuyết phân quyền và bổ sung những nhận thức mới vào quá trình xây dựng ngành khoa học chính trị nói chung,
về lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý ở nước ta nói riêng
- Về thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu luận án sẽ phục vụ cho việc tham khảo, học tập kinh nghiệm tổ chức bộ máy nhà nước cũng như sự vận dụng những giá trị của lý thuyết phân quyền trong việc tổ chức bộ máy nhà nước của các nước khác Đồng thời, rút ra kinh nghiệm việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước ta trong các giai đoạn trước nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp để đổi mới bộ máy nhà nước và thúc đẩy hoạt động xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Trang 13Kết quả nghiên cứu luận án có giá trị làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu về đổi mới bộ máy nhà nước ta, cho việc giảng dạy, học tập các môn
khoa học chính trị học, khoa học pháp lý và khoa học quản lý
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án được kết cấu gồm: 4 chương, 11 tiết
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Lý thuyết phân quyền và giá trị tham khảo của nó trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền
Chương 3: Tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Chương 4: Phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền
Cần phải khẳng định rằng, những nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền trong nền khoa học chính trị phương Tây thường gắn với dân chủ và đổi mới thể chế chính trị Do đó, cần phải khảo sát những công trình nghiên cứu về nền dân chủ và Nhà nước pháp quyền Có thể kể đến những công trình như:
Pierre Pactet (1994), Institutions politiques - Droit constitutionnel [168] đã đi
sâu nghiên cứu những thay đổi, biến đổi, thích ứng của thể chế nói chung và nhà nước nói riêng về những điều kiện về kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống dân chủ và trình
độ dân trí và hướng đến xây dựng một Nhà nước pháp quyền
Joseph Thesing (2002), Nhà nước pháp quyền - Chế độ pháp trị của Cộng
hòa Liên bang Đức [122] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà
nước pháp quyền tại nước Đức và một số nước có liên quan; chỉ ra những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của những nước phương Tây có nhiều điểm khác so với các nước phương Đông
Costa P, Zolo D (2007), The rules of law: history, theory and criticism [156]
đã chia sẻ suy nghĩ về nhà nước pháp quyền hiện nay đòi hỏi phải mở rộng nền pháp
lý toàn cầu Nhà nước pháp quyền không còn là giá trị của Mỹ và Châu Âu mà là của nhân loại Đây là một công trình tham khảo đầy giá trị cho luận án khi tìm hiểu về
lịch sử và lý thuyết của Nhà nước pháp quyền
Amichai Magen, Thomas Risse, Michael A McFaul (2009), Promoting
democracy and the rules of law [3] đã tập hợp các bài nghiên cứu về nền dân chủ và
Nhà nước pháp quyền ở Mỹ và Châu Âu, định giá trị toàn cầu của Nhà nước pháp quyền và các con đường thúc đẩy dân chủ trong xây dựng nền pháp quyền ở các nước đang phát triển
Trang 15Jacques Chevalier (2004), L’Etat de droit [167] Đây là số chuyên đề tập hợp
các quan điểm chính thống của các nhà nghiên cứu khoa học chính trị Pháp xoay quanh vấn đề Nhà nước pháp quyền - vấn đề cốt lõi của chính trị hiện đại
Ngoài ra, trong các tác phẩm của các nhà kinh điển C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin cũng đề cập đến vấn đề tổ chức nhà nước, quyền lực nhà nước, Nhà nước pháp quyền Các nhà kinh điển đã chỉ ra nguồn gốc của quyền lực nhà nước chính là
“quyền lực công cộng” (có nguồn gốc từ nhân dân), mang tính chất giai cấp, mang
tính chất xã hội, được phục tùng bởi tất cả các chủ thể trong xã hội Có thể kể đến
công trình: “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” [21] đã phân tích một
cách khoa học về những giai đoạn phát triển sớm nhất của lịch sử nhân loại, về quá trình tan rã của chế độ Công xã nguyên thuỷ, về quá trình hình thành, những đặc trưng của các xã hội có giai cấp dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
và giải thích những đặc điểm của sự phát triển của các quan hệ gia đình trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Đặc biệt là đã luận chứng nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn xung quanh vấn đề nhà nước như nguồn gốc và bản chất, đặc trưng và chức năng của nhà nước; đồng thời, chứng minh sự tất yếu diệt vong của nhà nước khi xã hội cộng sản văn minh hoàn toàn thắng lợi
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước
Qua các giai đoạn phát triển lịch sử, nhất là vào giai đoạn phát triển TBCN, trước những yêu cầu của xây dựng một xã hội mới, có nhiều biến đổi và phát triển nhanh chóng, đã xuất hiện nhiều quan điểm, học thuyết và trường phái khoa học trong các ngành Triết học, Kinh tế học, Luật học, Chính trị học, Xã hội học, bàn về khoa học tổ chức và tổ chức nhà nước Chẳng hạn, trường phái cơ giới xem tổ chức như một cỗ máy bao gồm các bộ phận có vai trò, vị trí khác nhau hợp lại; trường phái
tự nhiên lại xem tổ chức như một cơ thể sống, là một hệ thống mở, tự điều chỉnh; trường phái xã hội xem tổ chức như là một nền văn hóa, một công cụ cai trị Các lý
Trang 16thuyết về nhà nước như: lý thuyết phân quyền, lý thuyết Nhà nước pháp quyền đã
tạo cơ sở thiết lập mô hình nhà nước tư sản hiện đại
Trong lĩnh vực Chính trị học, ở phương Tây, vấn đề quyền lực, quyền lực
nhà nước, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước như:“tập trung quyền lực” hay“phân chia quyền lực” được đề cập từ rất sớm và được bổ sung, phát triển đến
tận ngày nay Nhiều khái niệm, phạm trù và các vấn đề có liên quan đã được các học giả phân tích một cách rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, vẫn chưa hết tranh luận về vấn đề quyền lực, quyền lực nhà nước cũng như cách thức tổ chức quyền lực Từ các cách tiếp cận khác nhau về quyền lực, quyền lực nhà nước, cũng như cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, nhiều công trình nghiên đã phân tích khá rõ nhiều khía cạnh về lý thuyết phân quyền Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều cho rằng phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị - pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của lý luận và thực tiễn chính trị thế giới Lý thuyết phân quyền đã đi ngược lại hoàn toàn các lý thuyết chính trị trong chế độ độc tài chuyên chế Nó được coi là tư tưởng vạch ra thời đại mới, đánh dấu sự loại bỏ chế độ Quân chủ chuyên chế, độc tài - mảnh đất tốt cho sự lộng quyền, bức rào cản của dân chủ
và phát triển xã hội chuyển sang một chế độ xã hội dân chủ, văn minh Nói tới lý thuyết phân quyền là nói tới quá trình đấu tranh cho tự do, bình đẳng, tiến bộ xã hội
Vì vậy, phân quyền được coi là yêu cầu khách quan trong nhà nước dân chủ và là điều kiện đảm bảo cho những giá trị tự do của con người được phát huy, đồng thời
là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của Nhà nước pháp quyền Lý thuyết
phân chia quyền lực ở mức độ hoàn thiện nhất là ho ̣c thuyết “Tam quyền phân lập”
của S Montesquieu đã được nghiên cứu từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới như : Anh, Pháp, Mỹ và sau này là Trung Quốc và được trình bày, phân tích khá kỹ trong các công trình của các nhà tư tưởng thời kỳ cận đại như:
Thomas Hobbes (1651), Leviathan or The Matter, Forme and Power of a Common Wealth Ecclesiasticall and Civil [163] đã cho rằng để bảo tồn sự sống tới
con người tới việc thiết lập các quy tắc ứng xử, các quy tắc này được ông gọi bằng thuật ngữ khoa học pháp lý là quyền tự nhiên Quyền tự nhiên hay tự do của con
Trang 17người theo ông là những quyền mà con người được hưởng một cách đương nhiên, không phụ thuộc vào bất kỳ một chế độ chính trị nào
J Locke (2007), Khảo luận thứ hai về chính quyền [73] tác phẩm được xem
là vĩ đại nhất của nền triết học chính trị và chính trị học nhân loại Khảo luận thứ
hai về chính quyền là một chuyên luận về nguồn gốc, phạm vi và mục đích chân
chính của chính quyền dân sự Với tác phẩm này, J Locke đã trực tiếp đưa ra học thuyết của mình về nhà nước
J.J Rousseau (2004), Bàn về khế ước xã hội [113] tập trung bàn đến vấn đề
phải tổ chức lại xã hội, xây dựng nguyên tắc của chế độ mới như thế nào Tác giả đã đưa ra những nguyên tắc thiết lập một xã hội lý tưởng bằng các khế ước - đó là những luật cơ bản như: Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự mà mọi thành viên trong đó phải tự nguyện tuân theo Những khế ước đó bảo đảm các quyền lợi của xã hội, của mỗi thành viên như sự tự do, bình đẳng, quyền tư hữu Sau khi đưa ra những nguyên tắc ấy, J.J Rousseau bàn đến các hình thức chính thể J.J Rousseau
đề cao chính thể dân chủ - chính thể mà người dân có thể tham gia nhiều nhất vào các hoạt động điều hành của nhà nước, đặc biệt là trên lĩnh vực lập pháp Ông cho rằng, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân Nhân dân trao toàn bộ quyền lực của mình cho nhà nước để sau đó nhà nước hiện thực hóa quyền đó của nhân dân Nhân dân sau khi đã ủy quyền cho nhà nước thì lại được nhà nước trao lại một phần quyền lực thông qua các quy định của Hiến pháp và pháp luật
S Montesqueu (1948), Bàn về Tinh thần pháp luật [93] đã đề cập và lý giải
hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn trong luật học cũng như các khoa học xã hội đương thời; phân tích, so sánh các nội dung và bản chất của các thể chế chính trị khác nhau, chỉ ra nhiều điểm hạn chế và tích cực của từng thể chế; bàn về các yếu tố liên quan đến luật, cách soạn thảo luật và ứng dụng luật trong các lĩnh vực xã hội Đặc biệt, toàn bộ cuốn sách toát lên tinh thần muốn xây dựng một xã hội bình đẳng, bác ái, tất cả vì hạnh phúc của con người
Trang 18Trong suốt thế kỷ XX và cho đến ngày nay, lý thuyết phân chia quyền lực của S Montesqueu vẫn đóng vai trò nền tảng cho các nghiên cứu về quyền lực nhà nước Các công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này như:
John Dewey (1927), The Public and Its Problems [158] và (1939), Theory of
Valuation [159] đã chỉ ra nhà nước không là gì khác ngoài một tổ chức được lập ra
để phục vụ cho nhân dân Ông đã chỉ ra, vì không có một cơ chế giám sát hữu hiệu nên quyền lực nhà nước bị lạm dụng, nhà nước trở thành công cụ phục vụ lợi ích
cho một nhóm người nhất định trong xã hội
Mann M (1986), The Sources of Social Power [165]; Robert A Dahl (1991),
Democracy and Critics [157]; Các tác phẩm đã đi sâu phân tích về vấn đề quyền lực
và dân chủ trong bộ máy nhà nước Các tác giả đều cho rằng quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân Do đó, sẽ không có một xã hội dân chủ nếu quyền lực công chỉ phục vụ lợi ích cho một giai cấp nhất định mà quên lợi ích của xã hội Đồng thời, các tác giả cho rằng dân chủ chỉ có được nếu có sự cân bằng, sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước và phải được ghi nhận bởi pháp luật
Richard C.Schroeder (1999), Khái quát về chính quyền Mỹ [115] đã đi sâu
phân tích những Hiến pháp và chế độ Hiến pháp của nước Mỹ với những vấn đề có tính chất đặc trưng như: phân quyền, chế độ Tổng thống, quyền của công dân, kiểm soát, tính chất hợp hiến của các đạo luật, vấn đề đảng phái
Toni M Fine (1999), “How US Courts Work” [161] đã trình bày và lý giải
về phương thức hoạt động của hệ thống quyền lực nói chung và quyền tư pháp nói riêng của bộ máy Nhà nước Hoa Kỳ
Tom Campbell (2004), “Seperation of power in practice” [160] đã khái quát
về mô hình tổ chức phân quyền của chính quyền Mỹ và phân tích một số trường hợp cụ thể để thấy được thực trạng của việc phân quyền tại Mỹ
Alsop R., Bertelsen M., Holland J (2006), Empowerment in practice - Trao
quyền trong thực tế: từ phân tích đến thực hiện [1] Các tác giả đã phân tích, đưa ra
các khái niệm về trao quyền, nội dung, ý nghĩa của trao quyền và giải thích cách sử
Trang 19dụng khuôn khổ trao quyền nhằm mục đích hiểu, đo lường, theo dõi và điều hành chính sách và thông lệ về trao quyền
Hall D (2012), Constitutional Law: Governmental Powers and Individual
Freedoms [162] Tác giả đã đề cập đến quyền hạn của Chính phủ và quyền tự do
dân sự Trong tác phẩm đã đưa ra một số dẫn chứng cụ thể về luật Hiến pháp được
áp dụng ở tất cả các cấp, các ngành và lĩnh vực của Chính phủ
Moellers C (2013), The Three Branches: A Comparative Model of Separation
of Powers [166] Trong tác phẩm này, tác giả phát triển một cách toàn diện và có hệ
thống tư tưởng phân chia quyền lực Từ đó các nguyên tắc này được áp dụng cho các vấn đề pháp lý của một số quốc gia và thể chế quốc tế Đồng thời, trong cuốn sách tác giả còn đề cập đến sự mâu thuẫn giữa tự do cá nhân và quyền dân chủ tự quyết là đặc trưng của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại thông qua việc thành lập các nhánh chính quyền khác nhau
David Held (2013), Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại [53] Với
phương pháp phân tích khoa học, ông đã tổng hợp các tư tưởng và thực tiễn để xây dựng nên các mô hình dân chủ điển hình, theo các tiêu chí phân loại cụ thể Held trình bày bốn mô hình dân chủ kinh điển: mô hình dân chủ cổ điển Athens,
mô hình dân chủ cộng hòa, mô hình dân chủ tự do, và mô hình dân chủ trực tiếp Bốn mô hình này đã xuất hiện như là các thử nghiệm trong lịch sử trước thế kỷ
XX, và có thể xem là bốn hình mẫu tiêu biểu cho cách thức quản trị quốc gia mà dân chúng có quyền tham gia
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh các tác phẩm nói trên còn có nhiều nghiên cứu đi sâu phân tích đến vấn đề quyền lực nhà nước, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, cơ chế phân chia, kiểm soát quyền lực nhà nước được đăng trên hệ thống mạng Internet như: “Sự phân chia quyền lực” đăng trên trang mạng
http://www.usconstiution.net Tác giả đã khái quát sự ra đời của lý thuyết phân
quyền và phân tích về tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà nước đương đại của một
số quốc gia như: Anh, Pháp, Canada và Mexico
Trang 20Như vậy, có thể thấy kể từ khi nhà nước xuất hiện, vấn đề quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức bộ máy nhà nước luôn được quan tâm nghiên cứu Đồng thời, đến nay lý thuyết phân quyền vẫn đang ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn thế giới
vì những giá trị hợp lý của nó Tuy nhiên, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của mỗi quốc gia để có thể vận dụng những giá trị của lý thuyết phân quyền Các công trình nghiên cứu ở trên được thực hiện bởi các tác giả nước ngoài, không trực tiếp bàn đến bộ máy nhà nước Việt Nam, do đó, các tác phẩm này chỉ có giá trị tham khảo để các học giả Việt Nam nghiên cứu và có sự vận dụng sáng tạo góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền
Trước hết, cần phải kể đến một số đề tài cấp nhà nước tập trung nghiên cứu những vấn đề về Nhà nước pháp quyền như:
Chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX.04/01-05
“Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” [110] gồm 9 đề tài do
Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm đã phân tích các vấn đề cơ bản của quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền và đề xuất thiết kế mô hình lý thuyết tổng thể Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Tuy nhiên, do vấn đề phân công quyền lực nhà nước không phải là nội dung trọng tâm, vì vậy các tác giả chỉ đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 04-28/06-10 “Phân công, phối hợp và kiểm
soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” [46] do Trần
Ngọc Đường chủ nhiệm đã phân tích mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân - chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, giữa Nhà nước với Đảng - chủ thể lãnh đạo nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước với nhau Tác giả phân tích rõ những hạn chế của
mô hình Xô viết ảnh hưởng đến xây dựng các bản Hiến pháp của Việt Nam Tuy nhiên, chưa đi sâu luận giải lý thuyết phân quyền
Trang 21Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 02-13 “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước pháp quyền” [74] do Nguyễn Đình Lộc làm chủ nhiệm đã phân tích các luận
điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta
Các đề tài trên tiếp cận vấn đề Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền từ nhiều giác độ khác nhau nhưng chủ yếu được tiếp cận dưới giác độ Triết học, Luật học, tiếp cận dưới giác độ Chính trị học còn ít Kết quả nghiên cứu của các đề tài này đã khái quát quá trình hình thành và phát triển lý thuyết Nhà nước pháp quyền, nêu lên những khái niệm, những đặc trưng cơ bản và chức năng, lý giải các yếu tố quy định và chi phối quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; phương hướng và các giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; Các đề tài này trực tiếp hoặc gián tiếp luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, vận hành cơ chế kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của hệ thống chính trị, trước hết là tổ chức và hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, cho đến nay, vì một số lý do nhất định, những vấn đề lý luận
về tổ chức và tổ chức nhà nước - tiếp cận từ những giá trị của lý thuyết phân quyền vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, cụ thể và chưa đủ tầm để tạo nên cơ sở lý luận cho việc hoạch định các định hướng, giải pháp cải cách bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta hiện nay
Các công trình chuyên khảo nghiên cứu về vấn đề Nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam được công bố như:
Nguyễn Văn Niên (1996), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn [100]; Nguyễn Trọng Thức (2005), Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân [125] đã giới thiệu chung về Nhà nước
pháp quyền và dân chủ XHCN, đồng thời nêu lên thực trạng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy dân chủ ở Việt Nam
Bùi Ngọc Sơn (2005), Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp
quyền [116] đã tìm hiểu khoa học luật hiến pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước
Trang 22pháp quyền Việt Nam và phân tích sâu sắc một số vấn đề lý luận về hiến pháp và bộ máy Nhà nước Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [118] đã làm sáng tỏ quá
trình hình thành và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong tiến trình lịch sử nhân loại; những giá trị phổ biến của tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong sự phát triển của xã hội; quan hệ giữa nhà nước và pháp luật; giữa pháp luật và đạo đức, giữa nhà nước, xã hội và công dân; giữa nhà nước với dân chủ và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền: phân quyền hay phối hợp quyền lực; các nguyên lý nền tảng, các yếu tố cấu thành và một số vấn đề có thể coi
là những yêu cầu chung của mọi nền pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, cụ thể như: pháp luật, Hiến pháp, dân chủ, quyền con người, quyền công dân, phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước, tư pháp độc lập
Đào Trí Úc (2005), Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [134]
đã khái quát về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Tây, phương Đông; phân tích những đặc trưng của các tư tưởng về Nhà nước pháp quyền; chỉ rõ các tiền đề tư tưởng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam; những yêu cầu cơ bản đặt
ra về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền
Nguyễn Văn Thảo (2006), Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo
của Đảng [119] đã giới thiệu lịch sử Nhà nước pháp quyền và tiến trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền, đồng thời phân tích rõ những vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nguyễn Tĩnh Gia, Mai Đình Chiến (2006), Vận dụng học thuyết Mác để xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam [49] đã tiếp cận vấn đề theo phương pháp đối
chiếu so sánh và chỉ ra được chủ nghĩa Mác - Lênin hướng tới chủ nghĩa nhân đạo, nghĩa là đấu tranh là để giải phóng con người, đưa con người tới tự do Do đó, việc xây dựng Nhà nước XHCN Việt Nam theo các tác giả cũng phải hướng tới mục đích nhân đạo đó
Trang 23Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa (2006), Xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [154] đã phân tích các tiền đề về kinh tế,
chính trị, xã hội và cơ sở lý luận xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Đề xuất các quan điểm về tổ chức và phân công quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; phát huy dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội; hoạt động hành pháp của Chính phủ và hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp; về mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Các tác giả đã chỉ ra điểm mấu chốt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đó là cải cách chính bộ máy nhà nước hiện hành, mọi hoạt động của nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật và pháp luật thực sự là ý trí, nguyện vọng của nhân dân
Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (2010), Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam của dân, do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn [112], đã bước đầu nghiên
cứu về cơ sở lý luận Nhà nước pháp quyền XHCN, đưa ra những luận điểm khoa học có tính hệ thống về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Các tác giả đã làm rõ các nội dung chính: học thuyết Nhà nước pháp quyền trong lịch sử
tư tưởng nhân loại; chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật XHCN, về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền XHCN; Các điều kiện, các yếu tố chi phối quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
ở Việt Nam; phương hướng và các giải pháp chủ yếu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam
Trần Ngọc Đường, Nông Đức Mạnh (2008), Mô hình tổ chức và phương
thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [44] đã chỉ ra những điểm bất cập trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, đồng
thời đề xuất những giải pháp cải cách và đổi mới bộ máy Nhà nước mà trọng tâm
là Quốc hội
Trang 24Dương Xuân Ngọc (2012), Mỗi quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở Việt Nam [99] đã nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn giải
quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, chỉ ra những thành công và những mâu thuẫn của nó Từ đó, đề xuất các giải pháp giải quyết mối quan hệ này, trong đó có các giải pháp cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng Nhà nước pháp quyền
Mai Thị Thanh (2012), Hình thức nhà nước và vấn đề xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay [117] đã phân tích các nhân tố quy định điều
kiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam như: Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở chuyển biến dần từ nhà nước dân chủ nhân dân, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng nhưng
số lượng, chất lượng còn bất cập; Nhà nước pháp quyền XHCN chưa tồn tại trên cơ
sở kinh tế của chính nó; trình độ dân trí còn bất cập và xây dựng Nhà nước pháp quyền trong chế độ một Đảng
Nguyễn Đăng Dung (2012), Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà
nước pháp quyền [29] đã đưa ra khái niệm Nhà nước pháp quyền, các đặc trưng cơ
bản của Nhà nước pháp quyền Đặc biệt, tác giả đã tập trung phân tích làm rõ ngành
tư pháp trong Nhà nước pháp quyền và các yêu cầu của tư pháp trong Nhà nước pháp quyền Đồng thời, tác giả đưa ra các giải pháp cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Nguyễn Minh Đoan (2015), Bộ máy nhà nước và tổ chức bộ máy nhà nước
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [42] đã trình bày khái quát sự ra đời và phát triển
của bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; phân tích các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam Đồng thời, tác giả đề xuất những giải pháp xây dựng, hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn hiện nay
Nhà nước pháp quyền Việt Nam cũng là chủ đề thu hút các nghiên cứu sinh lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ như:
Đào Ngọc Tuấn (2002), Tính phổ biến và tính đặc thù trong xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam [129] đã nêu lên tính phổ biến trong xây dựng
Trang 25Nhà nước pháp quyền là tính tối cao của pháp luật, cơ chế phân công quyền lực trong sự chế ước lẫn nhau, sự hiện diện của nền dân chủ, tôn trọng nhân quyền và thực hiện tận tâm các cam kết quốc tế
Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2005), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ
thống Tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền [131] đã
đánh giá tổ chức bộ máy và thẩm quyền của hệ thống Tòa án, đồng thời đề xuất các giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án ở nước ta đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Trịnh Thị Xuyến (2007), Kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- vấn đề và giải pháp [153] đã nghiên cứu thực trạng kiểm soát quyền lực Nhà nước
Việt Nam trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của kiểm soát quyền lực nhà nước trong bối cảnh
xã hội Việt Nam hiện nay và những giải pháp khắc phục
Hồ Xuân Quang (2008), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN từ 1996 đến năm 2006 [103] chỉ rõ những
thành tưu, hạn chế và xác định một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 10 năm lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Đồng thời, để đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền trong thời gian tới, tác giả khẳng định Đảng cần nâng cao trình độ pháp luật, năng lực lãnh đạo và đi đầu trong việc thực thi pháp luật
Trần Ngọc Liêu (2009), Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước
với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [71] đã phân tích sâu về
vấn đề đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền Tác giả đã chỉ rõ sự thay đổi tư duy lý luận của Đảng: từ chỗ nhận thức chưa
rõ ràng về khái niệm Nhà nước pháp quyền, Đảng ta đi đến thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức và hoạt động của nhà nước, chứa đựng những giá trị có tính phổ biến, có thể vận dụng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam Đồng thời, tác giả chỉ ra việc Đảng ngày càng nhận thức rõ hơn những
Trang 26vấn đề có tính đặc thù trong xây dựng Nhà nước pháp quyền do những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hiện nay quy định
Trương Quốc Chính (2009), Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về nhà
nước XHCN và việc vận dụng để xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay [22] đã nghiên cứu quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về
nhà nước, nhà nước XHCN và thực tiễn áp dụng quan điểm đó trong tiến trình xây dựng và phát triển Nhà nước XHCN Việt Nam; luận giải một số quan điểm có tính nguyên tắc và đề ra một số giải pháp hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Hoàng Thị Hạnh (2013), Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH [51] đã phân tích rõ nội hàm các khái niệm
Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và một số lý luận
cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Phân tích những đặc thù trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Vũ Trọng Lâm (2014), Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam (Liên hệ qua thực tiễn ở Thành phố Hà Nội) [70] chỉ rõ cơ sở lý luận về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Phân tích thực trạng cùng quan điểm và giải pháp chủ yếu về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, liên hệ qua thực tiễn ở Thành phố Hà Nội
Nguyễn Thị Châu Loan (2014), Triết học chính trị J.J Rousseau và ý nghĩa
của nó đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay [72] chỉ ra
phương thức tổ chức và phân chia các quyền lực nhà nước; sự phân định và kiểm soát quyền lực nhà nước Phân tích những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng của triết học chính trị J.J Rousseau, bối cảnh lịch sử đặc thù đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Trang 27Đồng thời, có rất nhiều bài báo đăng trên các tạp chí và kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế về lý luận Nhà nước pháp quyền như:
Về các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học, có những bài đáng chú ý như: Đào Trí Úc (2001), “Những luận cứ khoa học của việc hoàn thiện bộ máy Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật (số 11) [132]; Trần Hữu Tiến (2002), “Tính tất yếu của việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN”, Tạp chí Triết học (số 5) [127]; Nguyễn
Duy Quý (2002), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng trong phương diện nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học
(số 10) [109]; Hoàng Chí Bảo (2002), “Từ những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên
CNXH đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Triết học (số 11) [5]; Lê Thanh Vân (2002), “Về tổ chức và hoạt động của Quốc hội
với yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản
(số 11) [139]; Trương Thị Hồng Hà (2004), “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 3) [50]; Phạm Văn Đức (2005), “Về một số nét đặc thù của Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam”, Tạp
chí Triết học (số 9) [44]; Phạm Tuấn Khải, (2009) “Đổi mới tổ chức và hoạt động
Chính phủ theo yêu cầu nhà nước pháp quyền XHCN”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, (số 2+3) [68]; Nguyễn Văn Quân (2015), “Nhà nước pháp quyền - nhận thức
của cộng đồng quốc tế”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 2) [105]; Nguyễn Văn
Quang (2015), “Đổi mới mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật (số 3/323) [104] và các bài viết khác của các nhà khoa học, nhà quản lý
Các tác giả đã phân tích những điểm thống nhất và những điểm khác biệt giữa Nhà nước pháp quyền với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; đã chỉ
rõ, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải có sự vận dụng mối quan hệ giữa cái đặc thù và cái phổ biến; phân tích việc đổi mới
Trang 28phương thức lãnh đạo của Đảng Đồng thời, đã đề xuất những giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước
Bên cạnh việc trình bày, phân tích cách thức vận dụng lý thuyết phân quyền
và cơ chế kiểm soát quyền lực ở một số nhà nước tư sản, nhiều tác giả cũng đã đề cập đến việc tiếp thu những hạt nhân hợp lý của sự phân quyền cho việc xây dựng
cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam và coi đó là một trong những yếu
tố không thể thiếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Các công trình
tiêu biểu bàn về vấn đề này là:
Về các công trình chuyên khảo:
Nguyễn Đăng Dung (2000), Sự hạn chế quyền lực nhà nước [25] đã tập
trung lý giải về sự cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước và nội dung của việc hạn chế quyền lực nhà nước (đảm bảo nhân quyền không bị phạm; các chức danh quan trọng của nhà nước phải được bầu cử và với một nhiệm kỳ nhất định; quyền lực nhà nước được giới hạn bằng việc phân chia/phân công, phân nhiệm và tự kiểm tra bên trong bằng cơ chế kìm chế và đối trọng; Chính phủ phải chịu trách nhiệm và chỉ ra những phương thức hạn chế quyền lực nhà nước từ bên ngoài)
Phạm Ngọc Kỳ (2000), Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội [69] đã
phân tích nội dung của khái niệm quyền giám sát tối cao của Quốc hội và rút ra những phương thức để thực hiện quyền đó, phân biệt quyền giám sát tối cao của Quốc hội với thẩm quyền kiểm tra việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của các
cơ quan Nhà nước khác; chỉ ra xác định những nguyên nhân chủ yếu hạn chế hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; đưa ra kiến nghị đổi mới tổ chức và phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội
và những điều kiện cần thiết để đại biểu Quốc hội thực hiện được đúng và đầy đủ quyền giám sát của mình
Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực
hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay [133] là công trình chuyên khảo công
Trang 29phu về cơ chế chung của việc giám sát thực hiện quyền lực nhà nước nhằm mục đích bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng trong nội bộ nhà nước Đặc biệt, cơ chế giám sát của Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất
Trịnh Thị Xuyến (2006), Kiểm soát quyền lực nhà nước - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay [152] đã đi sâu lý giải về khái niệm, nội
dung, mục đích, các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước và thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta, đồng thời đề xuất một số phương hướng và giải pháp kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta
Phạm Bính (2006), Cơ cấu, phương thức thực hiện quyền lực trong hệ
thống hành chính Việt Nam [7] đã chỉ rõ thực tiễn quản lý hành chính, cải cách
hành chính nhà nước ở nước ta và yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
Trần Ngọc Đường (2012), Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với
việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 [48] đã phân tích cơ sở lý luận về phân công, phối
hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước phù hợp với hệ thống chính trị của nước ta Đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với các chủ thể cấu thành hệ thống chính trị nước ta nhằm góp phần sửa đổi Hiến pháp 1992
Các công trình này đề cập từ nhiều góc độ (Triết học, Chính trị học, Lịch sử, Luật học ) về tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất, phân công
và phối hợp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đặc biệt, cần phải kể đến các công trình nghiên cứu thực tiễn vận dụng lý thuyết phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Các công trình tiêu biểu như:
Vũ Hồng Anh (1997), Tổ chức và hoạt động của một số Chính phủ ở một
số nước trên thế giới [2] đã phân tích vị trí, vai trò, chức năng, tổ chức và hoạt
động của Chính phủ trong bộ máy nhà nước các nước: Anh, Ấn Độ, Áo, Ba Lan
Hồ Văn Thông (1998), Hệ thống chính trị các nước tư bản phát triển hiện
nay [123] đã khái quát lịch sử tư tưởng chính trị và ba giai đoạn phát triển của nhà
nước tư bản; tổ chức hệ thống chính trị của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Trang 30Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước
trên thế giới [3] đã phân tích một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của
Nghị viện ở một số nước trên thế giới như: Anh, Pháp, Ba Lan, Tây Ban Nha
Thang Văn Phúc, Nguyễn Đăng Thành (2005), Một số lý thuyết và kinh
nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới [101] đã chỉ rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và
kinh nghiệm tổ chức nhà nước và bộ máy nhà nước của một số quốc gia trong các giai đoạn lịch sử khác nhau
Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam [59] với mục đích làm rõ những vấn đề triết học
chính trị của Montesquieu và bước ngoặt của học thuyết này tạo ra trong lịch sử triết học chính trị, cùng những ý nghĩa thời đại mà nó đem lại , làm rõ các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền , phân tích những đặc thù của Nhà nước pháp quyền XHCN trong mối quan hệ với tính đặc trưng phổ biến của Nhà nước pháp
quyền theo học thuyết Montesquieu và đề xuất cơ cấu phân quyền và “phân quyền
xã hội chủ nghĩa” trong công cuộc cải cách hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
Nguyễn Văn Huyên (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ
chức và hoạt động) [62] đã phân tích quá trình hình, thành phát triển và chỉ rõ bản
chất, đặc điểm của hệ thống chính trị ba nước phương Tây phát triển có tính điển hình về tổ chức hệ thống chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước Từ đó, rút ra những giá trị tham khảo của Việt Nam
Tô Huy Rứa (2008), Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở
một số nước trên thế giới [114] đã đi sâu phân tích hệ thống chính trị của một số
nước trên thế giới hiện nay; đề cập đến quyền lực và tổ chức quyền lực ở một số nước trên thế giới
Nguyễn Thái Yên Hương, Tạ Minh Tuấn (2011), Các vấn đề nghiên cứu về
Hoa Kỳ (Sách tham khảo dùng cho các trường Đại học) [64] đã nghiên cứu trên các
lĩnh vực lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là hệ thống chính trị, pháp luật và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong đó có đề cập tới tổ chức bộ máy Nhà nước Hoa Kỳ
Trang 31Hồ Việt Hạnh (2008), Thể chế tam quyền phân lập Nhật Bản [52] đã trình
bày rất rõ các khái niệm liên quan đến thể chế tam quyền phân lập và phân tích mối quan hệ biện chứng của nó trong việc tiếp nhận chế độ chính trị này tại Nhật Bản; đánh giá về mức độ triệt để của thể chế tam quyền
Thái Vĩnh Thắng (2011), Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước [121]
đã phân tích và lý giải cách thức tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước trong các kiểu và mô hình nhà nước khác nhau như: Nhà nước phong kiến Việt Nam, Nhà nước tư sản; tổ chức và kiểm soát quyền lực Nhà nước của Nga, Trung Âu, Đông Âu trước 1991, Nhà nước Liên bang Nga và Việt Nam hiện nay
Đại học Quốc gia, Khoa Luật, (2011), Hiến pháp: những vấn đề lý luận và
thực tiễn [38] đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về Hiến pháp, việc sửa
đổi Hiến pháp của Việt Nam, kinh nghiệm xây dựng và sửa đổi Hiến pháp ở một
số nước trên thế giới
Đại học Quốc gia, Khoa Luật (2012), Sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992
những vấn đề lý luận và thực tiễn T I+II [39] đã đề cập đến những vấn đề cơ bản
của Hiến pháp, trong đó bao gồm: Chủ quyền nhân dân; Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước; Bộ máy nhà nước (Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa
án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương, vấn đề bảo hiến
Tống Đức Thảo (2014), Bộ máy nhà nước Cộng hòa Pháp mô hình tổ chức
và hoạt động [120] đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước Cộng hòa Pháp; cơ sở lý luận và nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa Pháp
Về luận án tiến sĩ:
Lê Quốc Hùng (2004), Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam [61] đã nghiên cứu cơ sở lý luận và
pháp lý của tính thống nhất, sự phân công và phối hợp quyền lực nhà nước Thực tiễn tổ chức nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp ở Việt Nam Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thực
Trang 32hiện quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ
chức bộ máy nhà nước ở một số nước [58] đã chỉ ra được sự vận dụng lý thuyết
phân quyền nhà nước trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đối với từng loại chính thể khác nhau Chỉ ra sự thể hiện tư tưởng phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam qua các bản Hiến pháp Đồng thời, nêu lên một số biện pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta hiện nay
Cao Anh Đô (2012), Phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [43] đã chỉ rõ bản chất, nội dung, mối
liên hệ và vai trò của việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Khái quát mô hình phân công, phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của một số nhà nước trên thế giới Chỉ ra thực trạng của việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở nước ta theo Hiến pháp 1992 Đồng thời, nêu ra yêu cầu cũng như các giải pháp hoàn thiện việc phân công, phối hợp giữa các
cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Phạm Thế Lực (2012), Vấn đề tập trung và phân quyền trong tổ chức và thực
thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay [84] đã nêu lên các cách tiếp cận về
quyền lực nhà nước và tính thống nhất của quyền lực nhà nước; phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước; mối quan hệ giữa tập trung và phân quyền trong tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước; cơ sở cho vấn đề tập trung và phân quyền trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam Đồng thời, đề xuất các giải pháp hoàn thiện vấn đề tập trung và phân quyền trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Ngoài các cuốn sách chuyên khảo, luận án nói trên, các tạp chí khoa học gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết, chuyên đề nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước Những bài viết đã cung cấp những thông tin có giá trị cho luận án để thực hiện khảo cứu như:
Trang 33Phạm Thế Lực (2008), “Ý nghĩa của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu pháp luật (số 7) [83]; Chu Thị Ngọc (2010), “Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Khoa học
Đại học Quốc gia Hà Nội (số 26) [98] Các tác giả đã trình bầy một cách khái quát
nội dung của lý thuyết phân quyền và khái quát những giá trị mang tính phổ biến của
nó Trên cơ sở đó, rút ra ý nghĩa của lý thuyết phân quyền đối với việc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta
Nhiều tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề phân công và phối hợp cũng như cơ chế thực thi giám sát, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền có các bài tiêu biểu như: Lê Quốc Hùng (2003), “Quyền lực nhà nước
thống nhất và phân công”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (số 2) [60]; Nguyễn Minh
Đoan, (2007) “Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp”, Tạp chí Nhà nước pháp luật (5) [40]; Vũ Anh Tuấn (2009), “Giám sát xã hội trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (số 31/150) [130]; Nguyễn Mạnh Bình (2009), “Cơ chế thực thi giám sát quyền lực nhà nước”,
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (số 12/149) [6]; Lương Minh Tuân (2009), “Phân
công, phối hợp và kiểm soát trong thực hiện quyền lập pháp ở Việt Nam”, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp (số 9/146) [128]; Đinh Văn Mậu (2009), Kiểm soát quyền lực
Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà
nước (165) [86]; Lê Văn Cảm, Dương Bá Thành (2010), “Cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp (số 1/162) [18]; Đào Trí Úc (2014), “Học thuyết và thực tiễn lịch sử về
tính thống nhất của quyền lực nhà nước và cơ chế phân quyền”, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật (số 5/313) [137]; Nguyễn Minh Đoan - Vũ Thu Hạnh (2014), “Quan niệm
về kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước”, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật (số 9/317) [41]; Nguyễn Đăng Dung (2015), “Nguyên tắc quyền lực nhà nước
Trang 34thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa ba quyền theo tinh thần
Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 3/323) [30]
Đề cập đến vấn đề phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương trong việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước có các bài tiêu biểu như: Nguyễn
Cửu Việt (2010), “Khái niệm tập quyền, tản quyền và phân quyền”, Tạp chí Khoa
học Đại học Quốc gia Hà Nội (số 26) [143]; Chu Văn Hưởng (2011), “Xác định căn
cứ đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương, giữa chính
quyền địa phương các cấp ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị (số 10) [65]; Chu
Văn Hưởng (2011), “Phân cấp, phân quyền và vấn đề thực thi quyền lực nhà nước ở
địa phương: thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Lý luận chính trị (số 2) [66]; Chu Văn
Hưởng (2012), “Đổi mới nhận thức về phân cấp, phân quyền trong thực thi quyền
lực nhà nước ở địa phương”, Tạp chí Quản lý nhà nước (số 192) [67]; Nguyễn Văn
Cương - Trương Hồng Quang (2014), “Phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương: những vấn đề đặt ra và hướng hoàn thiện”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 11/319) [23] Các nghiên cứu trên chủ yếu đề
cập đến đặc điểm của các hình thức phân chia quyền lực giữa trung ương với địa phương; việc phân cấp, phân quyền trong một số lĩnh vực cụ thể như quản lý cán
bộ, công chức, quản lý kinh tế, ), hoặc tập trung luận giải sự cần thiết phải tăng cường phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu những công trình trong và ngoài
nước, luận án “Lý thuyết phân quyền: Giá trị tham khảo trong xây dựng và hoàn
thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay” sẽ đưa ra những luận giải
mới và bổ sung những kiến thức chưa được nghiên cứu mà các công trình trước đó chưa đề cập đến Do vậy, đây là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn lý thuyết phân quyền và tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền góp phần xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Trang 351.3 Đánh giá chung về tình hình, kết quả nghiên cứu việc tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam
1.3.1 Những kết quả đạt được
Các công trình nêu trên ở những mức độ khác nhau đã trình bày khái quát về nguồn gốc và nô ̣i dung cơ bản của lý thuyết phân quyền, các quan điểm khác nhau về lý thuyết này , thực tế vận dụng lý thuyết phân quyền trên thế giới và yêu c ầu phân công, phân nhiệm ra ̣ch ròi giữa các cơ quan Nhà nước Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền đã tập trung phân tích sự hình thành, phát triển của nhận thức về Nhà nước pháp quyền với tư cách là những giá trị mang tính phổ biến của nhân loại, sự cần thiết của việc hạn chế quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền, cũng như chỉ ra một số đặc thù của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, mô hình tổ chức các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp ở cấp trung ương và giữa cơ quan trung ương với địa phương trong Nhà nước pháp quyền XHCN
Các công trình nghiên cứu cũng đã phân tích các tiền đề lý luận, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phương hướng, giải pháp xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Bên cạnh đó, các công trình đã xác định những khó khăn, trở ngại, hạn chế trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay, những vấn đề phức tạp cần giải quyết trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền như đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Nhà nước pháp quyền; vấn đề phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cấp trung ương và giữa các cơ quan cấp trung ương với địa phương… có giá trị tham khảo, gợi mở đối với tác giả luận án
1.3.2 Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu
Mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền, lý thuyết Nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam nhưng đa phần tiếp cận dưới góc độ Triết học, Luật học, tiếp cận dưới góc độ
Trang 36Chính trị học còn ít, chưa có tác giả nào trình bày mô ̣t cách cu ̣ thể và có hê ̣ thống về li ̣ch sử của lý thuyết phân quyền cũng như sự tham khảo những giá trị của lý thuyết này trong th ực tiễn xây dựng và hoàn thiện bô ̣ máy Nhà nước pháp quyền ở nước ta Đồng thời, chưa đánh giá một cách thỏa đáng những ưu điểm về những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền
Một số công trình chủ yếu nhấn mạnh đến tính tập trung, thống nhất quyền lực nhưng chưa làm rõ việc phân công, phối hơ ̣p thực thi quyền lực nhà nước, nhất
là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp ở cấp trung ương; giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương
Nhiều giải pháp đưa ra nhằm cải cách, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước còn thiếu nhất quán, khó thực hiện hoặc đưa vào thực hiện nhưng
chưa đem lại hiệu quả cao…
Vì thế, cho đến nay việc tìm ra mô ̣t cơ chế để thực hiê ̣n có hiê ̣u quả sự phân
công, phối hơ ̣p và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp ở cấp trung ương và giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất ở nước ta vẫn còn nhiều lúng túng và
hướng giải quyết chưa có hiê ̣u quả Chính vì vậy, những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án là:
+ Xác định yêu cầu, điều kiện cần tham khảo những giá trị của lý thuyết phân quyền vào việc tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN
Trang 37- Về mặt thực tiễn:
+ Nghiên cứu kinh nghiệm vận dụng lý thuyết phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ở một số quốc gia điển hình trên thế giới: Anh, Hoa Kỳ, Pháp và Trung Quốc
+ Khái quát mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay qua Văn kiện của Đảng và qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 (tập trung vào giai đoạn từ năm 1992 đến nay)
+ Xác định rõ những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền
Trang 38Tiểu kết Chương 1
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, Luận án đã hệ thống các công trình trong và ngoài nước về lý thuyết phân quyền trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước và về Nhà nước pháp quyền Đồng thời, Chương 1 cũng chỉ ra những nội dung
cơ bản của các công trình nghiên cứu trong nước kể từ khi Hiến pháp 1946 được ban hành cho đến nay Đây là những công trình có nội dung quan trọng được làm cơ sở để tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển theo hướng nghiên cứu của Luận án
Phần cuối Chương 1, Luận án đã chỉ ra những nội dung đã được nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu Mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyên; lý thuyết Nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam từ nhiều góc tiếp cận khác nhau như Triết học, Luật học, tuy nhiên tiếp cận dưới góc độ Chính trị học còn ít, cho đến nay chưa có tác giả nào trình bày mộ t cách cu ̣ thể và có hê ̣ thống về li ̣ch sử của lý thuyết phân quyền cũng như việc tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết này trong thực tiễn xây dựng và hoàn thiện bô ̣ máy Nhà nước pháp quyền ở nước ta Những vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu được chỉ ra trong Chương 1 cũng chính là những nội dung được làm rõ trong các chương tiếp theo của Luận án
Trang 39Chương 2
LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
2.1 Lý thuyết phân quyền: khái niệm, lịch sử hình thành, phát triển và nội dung
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Nhà nước pháp quyền
Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được sử dụng bởi hai nhà
luật học người Đức là K.T Vancơ và R.F Môn vào năm 1813 Các ông cho rằng, Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo các nguyên tắc tính tối cao của pháp luật; chủ quyền nhân dân thông qua cơ quan đại diện; mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật; mục tiêu quan trọng hơn hết cả của Nhà nước pháp quyền là: “làm
thế nào để tổ chức được đời sống nhân dân sao cho mỗi thành viên trong đó nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển tự do tối đa và hoàn thiện năng lực tổng hợp của mình” [134, tr.18]
Nhà triết học cổ điển Đức Imanuel Kant (1724-1804) cho rằng: “ở nơi mà nhà
nước hoạt động trên cơ sở quyền lập hiến và phù hợp với ý chí chung của nhân dân,
ở đó nhà nước mang tính pháp quyền, ở đó không thể có sự hạn chế quyền của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân” [118, tr.56] Từ đó, có thể thấy mô hình Nhà nước
pháp quyền theo Kant có những đặc điểm: tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật; chủ quyền nhân dân và sự tôn trọng, bảo vệ các quyền công dân và quyền con người Ông cho rằng, mối quan hệ giữa các cơ quan trong Nhà nước pháp quyền với công dân được trực tiếp thể hiện thông qua sự phân quyền (quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ và quyền tư pháp thuộc về Toà án) và ông
đã cho rằng ở đâu áp dụng nguyên tắc phân quyền thí ở đó có Nhà nước pháp quyền Như vậy, Nhà nước pháp quyền là một tổ chức pháp lý có sự phân quyền
Theo quan điểm của V.F Heghen (1770-1831), Nhà nước pháp quyền đã được hiện thực hoá trong lý trí và thực tiễn cuộc sống hàng ngày của con người Theo ông:
“Nhà nước cũng là pháp luật, là pháp luật phong phú, sâu sắc và phát triển nhất, là toàn bộ hệ thống pháp luật” [118, tr.57] Nhà nước là một tổ chức hoàn thiện nhất
Trang 40của đời sống xã hội - một xã hội mà tất cả mọi thứ trong nó đều được xây dựng trên nền tảng là pháp luật, qua pháp luật mà thể hiện sự thống trị của tự do Quan điểm của ông về nhà nước có một giá trị hết sức quan trọng là ở chỗ nó hạn chế chức năng bạo lực, cưỡng chế mà đề cao tính định hướng, tính lý trí và lợi ích của nó đối với xã hội cũng như với mỗi công dân Như vậy, ông đã sử dụng tư tưởng về nhà nước của mình để chống lại chủ nghĩa cực quyền lẫn chủ nghĩa vô chính phủ
Sau Cách mạng Tháng Mười, nước Nga Xô viết ra đời, những tư tưởng về xây dựng Nhà nước kiểu mới, Nhà nước XHCN, trong đó có một tư tưởng nổi bật,
là tư tưởng về pháp chế XHCN và các nhà khoa học Xô viết đề cập đến Nhà nước pháp quyền trên hai khía cạnh cơ bản là:
Thứ nhất, về mặt hình thức, Nhà nước pháp quyền là sự thống trị tối cao của
pháp luật; nhà nước, các cơ quan nhà nước, nhân viên của bộ máy nhà nước, mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều bị rằng buộc bởi pháp luật
Thứ hai, về mặt bản chất, pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành không
phải một sản phẩm của sự tự do duy ý chí, không phải từ ý muốn của người làm luật, mà nó phải phản ánh thực tại khách quan của xã hội, nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự tiến bộ xã hội
Ở nước ta, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” được nêu ra lần đầu tiên tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1989: Hiện nay trên thế giới đang trở lại khái niệm Nhà
nước pháp quyền mà nội dung quan trọng của nó là thừa nhận sự thống trị của pháp luật đối với xã hội Và khái niệm “Nhà nước pháp quyền” được Đảng ta chính thức
sử dụng tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) Vậy, Nhà nước pháp quyền là gì? Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản nào?
Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện viết: “Nhà nước pháp quyền xây
dựng trên cơ sở dân chủ, đối lập với nhà nước độc tài, chuyên chế toàn trị Nhà nước pháp quyền không đồng nghĩa với nhà nước cai trị bằng pháp luật Nhà nước pháp quyền xây dựng trên cơ sở xã hội công dân pháp luật là thước đo của
tự do” [140, tr.135] Như vậy, theo quan niệm này, Nhà nước pháp quyền này sẽ đối
lập với nhà nước độc tài, chuyên chế toàn trị Tuy nhiên, quan niệm trên mới nhấn