1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ phủ thủ tướng (1945 1954)

195 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT 1945-1954 có ý nghĩa cấp thiết cung cấp những luận cứ phục vụ hoạch định các chế độ, chính sách, tổ chức khoa

Trang 1

MỤC LỤC Trang Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Bảng các chữ viết tắt 1

Danh mục ảnh minh họa 2

Danh mục các biểu bảng 2

Dẫn luận 3

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 8

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

9 4 Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

11 5 Đóng góp của luận án 16

6 Bố cục và nội dung chủ yếu của luận án

17 Chương 1 Tổng quan tài liệu lưu trữ về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

20 1.1 Hoàn cảnh ra đời phong trào Thi đua ái quốc

21 1.2 Tài liệu về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

24 1.3 Đặc thù của tài liệu lưu trữ về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

30 Chương 2 Phê phán tài liệu về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954) 43

2.1 Các thể loại sử liệu 44

2.2 Phê phán một số tài liệu cụ thể 73

Chương 3 Giá trị của sử liệu về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945-1954)

136 3.1 Tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT-nguồn sử liệu nghiên cứu lịch sử phong trào TĐAQ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) 136

3.2 Tài liệu lưu trữ về phong trào Thi đua ái quốc-cơ sở nghiên cứu công tác lãnh đạo, tổ chức phong trào TĐAQ 153 3.3 Nguồn sử liệu là các tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông

Trang 2

lưu trữ PTT (1945-1954)-cơ sở để hoạch định chính sách thi đua

khen thưởng hiện tại và trong tương lai

159 Kết luận 165

Danh mục công trình của tác giả 170

Danh mục tài liệu tham khảo 171

Phụ lục 185

Trang 3

HĐQPTC Hội đồng quốc phòng tối cao

UBKCHC Ủy ban kháng chiến hành chính

VĐTĐAQTW Vận động Thi đua ái quốc Trung ƣơng

Trang 4

DẪN LUẬN

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Trong một xã hội mà nhân dân làm chủ, đặc trưng nổi bật và động lực to lớn của sự vận động và phát triển của xã hội chính là thi đua Thi đua làm khơi dậy trong mỗi con người, mỗi tập thể tính chủ động sáng tạo, đua sức, đua tài cả trong thời chiến lẫn thời bình Ngay từ năm 1918, V.I Lê nin đã nhấn mạnh là: "Chủ nghĩa xã hội đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách

thật sự rộng rãi, với một qui mô thật sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thật sự

đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận"[223, tr.234-235] Ở nước ta, cũng như V.I.Lê nin, Chủ tịch

Hồ Chí Minh xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng

đã biết phát huy nội lực của toàn dân bằng việc phát động và tổ chức thi đua Ngày 27/3/1948, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc (TĐAQ); Ngày 01/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 195/SL thành lập Ban vận động Thi đua ái quốc Trung ương do cụ Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban [73, tr.39] Nhân dịp kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến toàn quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức phát động cuộc vận động Thi đua

ái quốc từ ngày 19/6/1948 (Tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh đôi khi dùng cụm từ

"Thi đua yêu nước", nhưng trong các văn bản chính thức lại dùng cụm từ "Thi đua ái quốc" Từ đây, chúng tôi xin được sử dụng một trong hai cụm từ trên hợp với ngữ cảnh) Hệ thống lãnh đạo phong trào thi đua từ Trung ương đến địa phương được hình thành Phong trào TĐAQ đã thực sự trở thành phong trào cách mạng của quần chúng trong cả nước, trở thành một nhân tố quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi vẻ vang

Trang 5

Tại Đại hội toàn quốc các chiến sỹ thi đua (CSTĐ) và cán bộ gương mẫu (CBGM) lần thứ nhất năm 1952, cụ Tôn Đức Thắng đại diện Ban Thường trực Quốc hội và Uỷ ban Liên Việt toàn quốc trong diễn văn chào mừng Đại hội đã khẳng định: "Từ khi phát động phong trào thi đua yêu nước đến nay, cuộc kháng chiến, kiến quốc của ta tiến những bước vĩ đại về mọi mặt, đặc biệt về mặt quân sự và kinh tế, đã giáng cho địch những đòn chí tử " [121, tr.133] Nhiều tài liệu lưu trữ phản ánh phong trào TĐAQ nằm trong phông lưu trữ PTT Phông lưu trữ Phủ Thủ tướng là một loại hình phông lưu trữ cơ quan Phông lưu trữ cơ quan, nếu hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của một cơ quan được đưa vào bảo quản ở lưu trữ [14, tr.62] Phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (PTT) là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của PTT được thu thập từ các đơn vị thuộc PTT

Nếu như cả Phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) là một trong những phông quý nhất của các kho lưu trữ của Nhà nước ở Trung ương thì những tài liệu lưu trữ về thi đua yêu nước trong phông này là những hạt ngọc vô cùng quí giá Phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) là nguồn sử liệu phong phú lẽ ra có thể tách thành 3 phông độc lập gồm tài liệu lưu trữ của Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch Chính phủ (1), Văn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao (HĐQPTC), nhưng từ trước đến nay vẫn lập một phông lưu trữ thống nhất là Phông lưu trữ PTT

Phông lưu trữ PTT bao gồm những văn bản gốc phản ánh trung thực việc

tổ chức bộ máy, quá trình hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và PTT nước Cộng hoà non trẻ

Về nội dung, phông lưu trữ PTT bao gồm những tài liệu về vấn đề chung, tài liệu nội chính, quân sự, ngoại giao, kinh tế-tài chính, phong trào TĐAQ

(1)

Chủ tịch Chính phủ là cách gọi chức vụ Thủ tướng Chính phủ thời kỳ này

Trang 6

Để tìm ra những nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu tài liệu lưu trữ

về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đặc biệt quan tâm tìm hiểu về phong trào TĐAQ Đó là phong trào được phát động để động viên mọi lực lượng "làm cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công" [105, tr.4] Chúng tôi tin chắc rằng nghiên cứu tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945- 1954) một cách hệ thống có ý nghĩa về nhiều mặt:

1.1 Trước hết, việc nghiên cứu tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) sẽ giúp cho các nhà sử học hiểu biết sâu sắc và chính xác hơn nguồn sử liệu gốc quan trọng và có giá trị đặc biệt đang được lưu trữ trong phông lưu trữ quốc gia Việt Nam, để nghiên cứu về phong trào TĐAQ nói riêng và lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) nói chung

Trên thực tế, vì nhiều lý do, từ trước tới nay chưa có ai nghiên cứu toàn diện khối tài liệu này, ngoài một vài luận văn tốt nghiệp của sinh viên đề cập tới một số thể loại văn bản về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT Khi nghiên cứu những thông tin có trong nội dung các văn bản này, các nhà

sử học đã và sẽ gặp không ít khó khăn khi xác minh tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin đó Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu về TĐAQ trong phông lưu trữ PTT nhằm giới thiệu, phân tích và nhất là thẩm định những thông tin cần thiết được phản ánh trong khối tài liệu về TĐAQ

1.2 Nghiên cứu tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) góp phần nghiên cứu lịch sử tổ chức quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng ở Việt Nam nói chung và thời kỳ kháng chiến chống Pháp nói riêng

Trang 7

Thông qua việc nghiên cứu tài liệu lưu trữ, có thể rút ra những kinh nghiệm tổ chức, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến, kiến quốc Những chỉ thị, sắc lệnh, lời kêu gọi, biên bản các cuộc họp, biên bản đại hội, các bản báo cáo thành tích thi đua còn lưu trữ được với những bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn sử liệu quí Những tài liệu TĐAQ quý, hiếm trong phông lưu trữ PTT sẽ giúp ích cho việc nghiên cứu lịch sử phong trào TĐAQ nói riêng và lịch sử thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) nói chung

1.3 Nghiên cứu các tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945-1954) có ý nghĩa cấp thiết cung cấp những luận cứ phục

vụ hoạch định các chế độ, chính sách, tổ chức khoa học việc quản lý Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng trong thời kỳ đổi mới

Sở dĩ nói như vậy vì trong công cuộc đổi mới, lĩnh vực mà phong trào thi đua thường gặp khó khăn là lĩnh vực kinh tế như tăng năng suất lao động, thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội, phân vùng chuyên canh, cải tiến công nghệ, sử dụng giống mới V.I.Lênin đã dạy rằng "Trong lĩnh vực chính trị, thi đua dễ thực hiện hơn nhiều so với lĩnh vực kinh tế, song muốn cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi, thì chính thi đua trong lĩnh vực kinh tế là quan trọng"[224, tr.232] Chính vì lẽ đó mà những năm đầu của sự nghiệp đổi mới khi chúng ta chú trọng phát triển kinh tế, không ít người đã lầm tưởng rằng bây giờ xã hội cầu

"lợi" chứ không cầu "danh" và công tác thi đua, khen thưởng đã không được chú ý đúng mức

Để phong trào thi đua khen thưởng sát hợp hơn đối với công cuộc đổi mới đất nước, ngày 03/6/1998 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 35/CT-TƯ về đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới Sau đó Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cấp bộ đảng, chính quyền từ Trung ương đến

Trang 8

tỉnh huyện đã ra nhiều văn bản để triển khai Chỉ thị 35/CT-TƯ ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị

Sau gần 5 năm thực hiện Chỉ thị nói trên phong trào thi đua trong cả nước đã có chuyển biến Tuy nhiên, so với tầm vóc lớn lao của sự nghiệp đổi mới, trước những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì phong trào thi đua nói chung và quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng nói riêng còn nhiều hạn chế, còn mang dấu ấn trì trệ của thời bao cấp, chưa thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng Vì vậy công tác thi đua khen thưởng vẫn chưa theo kịp yêu cầu cách mạng trong giai đoạn hiện nay và chưa phát triển một cách sôi nổi, mạnh mẽ như nó đã từng có trong phong trào TĐAQ trước đây

Vì những lý do trên, nghiên cứu những tài liệu lưu trữ chân thực phản ánh sự chỉ đạo, tổ chức của Đảng và Chính phủ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh những trăn trở để phát động phong trào qua những chữ dập, xoá, những phương án chọn lựa trên những trang bản thảo sẽ giúp chúng ta quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo về TĐAQ nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, nhằm đưa ra những quyết sách đúng đắn quản lý nhà nước về công tác thi đua khen thưởng trong thời gian tới

Đã gần nửa thế kỷ đi qua, mặc dù đã có nhiều công trình khảo cứu và nhiều cuốn sách lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng các công trình nghiên cứu thường đi sâu vào các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế mà ít

đề cập tới vấn đề phát huy nội lực như tổ chức phong trào TĐAQ Vì vậy, nghiên cứu những tài liệu về TĐAQ trong phông lưu trữ PTT chắc chắn sẽ góp phần nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1954 một cách sâu sắc hơn và toàn diện hơn

Là một người đã có nhiều năm làm công tác trong ngành lưu trữ, chúng tôi đã có dịp đi sâu tìm hiểu vấn đề này thông qua việc thực hiện các

Trang 9

đề tài nghiên cứu khoa học hoặc viết các công trình nghiên cứu cho các tạp chí chuyên ngành, xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước của ngành về thi đua, khen thưởng đã giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn tác dụng của việc nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) đối với việc làm phong phú thêm kinh nghiệm thực tế trong việc vận dụng lý luận về sử liệu học để giải quyết một vấn đề cụ thể và giúp cho hoạt động quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng nói chung Kết quả nghiên cứu toàn diện phong trào TĐAQ giúp ích cho quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng là góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước

Với ý nghĩa đặc biệt của phong trào TĐAQ, với hàng nghìn trang tài liệu gốc với hàng chục bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh phản ánh việc tổ chức

bộ máy, nhân sự và phong trào thi đua rộng khắp các ngành, các địa phương

là những tư liệu vô cùng quí giá cần được nghiên cứu về phương diện sử liệu học Chúng tôi đã thực sự cảm động mỗi lần cầm trong tay những bản có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khối tài liệu về TĐAQ Trên các trang bản thảo, với những chỗ dập, xoá, có thể nhận ra rõ ràng hơn những mối suy

tư, những niềm trăn trở, những phương án lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn là trên các trang in sạch sẽ Mặt khác, sau Chỉ thị 35-CT ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với những thời cơ và thách thức vô cùng to lớn cần phải phát huy nội lực toàn thể nhân dân thì đổi mới tổ chức và quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng là công việc cấp thiết và quan trọng

Xuất phát từ yêu cầu của công tác, đồng thời nhận thức được ý nghĩa nêu

trên, tôi đã chọn vấn đề "Nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)" làm đề tài cho

luận án tiến sĩ khoa học lịch sử của mình

Trang 10

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Luận án của chúng tôi hướng vào việc giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

2.1 Giới thiệu hệ thống tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954)

2.2 Phê phán nguồn sử liệu là tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong Phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) Nội hàm phê phán sử liệu ở đây bao gồm việc phê phán vật mang tin, thời gian, địa điểm, tác giả, bản văn và những thông tin trong tài liệu nhằm xác định tính xác thực và độ tin cậy của thông tin góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử phong trào TĐAQ và lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Thông qua việc phê phán các tài liệu lưu trữ, luận án của chúng tôi đề xuất một số cách xác định bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.3 Từ kết quả nghiên cứu, luận án rút ra một số kết luận về cách vận dụng một số thủ pháp trong việc phê phán sử liệu những tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954), đồng thời đưa ra một số kiến nghị về việc tổ chức lưu trữ, bảo quản, khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ về TĐAQ phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) với tư cách là nguồn

sử liệu quí

Tuy nhiên, để có thể đi sâu vào các vấn đề, luận án của chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là những tài liệu trong phông PTT từ năm 1945 đến năm 1954 và chỉ những sử liệu về phong trào TĐAQ Chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu vì những lý do sau:

- Trước hết đây là giai đoạn mà phông lưu trữ PTT còn giữ được những tài liệu lưu trữ quí, hiếm: bao gồm nhiều tài liệu viết tay hoặc tự đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tài liệu lưu trữ phong phú về nội dung, độc đáo về hình thức của Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch

Trang 11

Chính phủ và Văn phòng HĐQPTC mà từ trước đến nay các cơ quan lưu trữ vẫn lập một phông thống nhất là phông lưu trữ PTT

- Lý do thứ hai là tài liệu phông lưu trữ PTT giai đoạn này phản ánh đầy

đủ lịch sử phong trào TĐAQ trong kháng chiến chống Pháp từ khi phát động (1948) đến khi phong trào này tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thành công

Mặc dù giới hạn phạm vi nghiên cứu như vậy nhưng khi tiến hành phê phán sử liệu chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, sử dụng những tài liệu về TĐAQ trong những phông lưu trữ khác để so sánh, đối chiếu

Cục Lưu trữ Nhà nước năm 1990 đã nghiệm thu đề tài cấp Nhà nước

"Cơ sở khoa học để xác định những tài liệu bảo quản vĩnh viễn ở Trung tâm lưu trữ quốc gia" do PTS Dương Văn Khảm làm chủ nhiệm Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài này, PTS Dương Văn Khảm đã viết bài: "Xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu Phông lưu trữ PTT" đăng trên Tạp chí Lưu trữ Việt Nam [43, tr.9-14] Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước nêu trên mới chỉ giải quyết vấn đề phương pháp xác định giá trị tài liệu lưu trữ mà chưa có nhiệm vụ phê phán chúng với tư cách là nguồn sử liệu

Năm 1989, Cục Lưu trữ Nhà nước đã xuất bản cuốn sách "Trung tâm lưu trữ Quốc gia I" giới thiệu các phông do PTS Dương Văn Khảm làm chủ biên:

"Cuốn sách nhằm giới thiệu khái quát thành phần và nội dung những thông tin

Trang 12

tài liệu lưu trữ hiện nay đang bảo quản ở hệ thống các kho lưu trữ của Trung tâm lưu trữ Quốc gia I tại Hà Nội"[44, tr.70] Với mục đích giới thiệu khái quát các phông, nên mặc dù cuốn sách dành 4 trang giới thiệu phông lưu trữ PTT, nhưng chưa đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện đối với cả phông lưu trữ PTT trong đó có tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ

Liên quan đến đề tài của luận án, cho đến nay chúng tôi mới chỉ gặp những bài viết có tính chất lý luận chung về sử liệu học như: "Một số vấn đề

sử liệu học" của GS Hà Văn Tấn; "Về việc vận dụng sử liệu học vào đánh giá tài liệu văn kiện chữ viết"[25, tr.18-22], "Một số vấn đề xử lý sử liệu học đối với tài liệu chữ viết" của PTS Phạm Xuân Hằng [26, tr.57-63] và "Các nguyên tắc phương pháp luận và phương pháp xác định giá trị tài liệu lưu trữ" của TS Nguyễn Văn Thâm [60] và "Mấy vấn đề sử liệu học Việt Nam", "Vấn

đề phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam" của GS Phan Đại Doãn

và TS Nguyễn Văn Thâm [16, tr.60-69]; "Các nguồn sử liệu và nhận thức lịch sử" của TS Nguyễn Văn Thâm [61]

Trong những luận văn tốt nghiệp của sinh viên khoa Lịch sử, khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây cũng như của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội ngày nay thì luận văn "Về những lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Hồ Chủ tịch trong cuộc kháng chiến chống Pháp (phân tích sử liệu học) của sinh viên Đỗ Thị Quỳnh tuy còn sơ sài và còn mắc phải một vài sai lầm nhưng đã bước đầu tiến hành phê phán sử liệu một số tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT [52]

Ngoài ra, còn phải kể tới một công trình nghiên cứu khác cũng có liên quan đến nội dung của đề tài là bài viết: Thi đua ái quốc-một nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) của PTS Nguyễn Tố Uyên [65, tr.3-9] Trong bài viết này, tác giả Nguyễn Tố Uyên tuy không trực tiếp

Trang 13

viện dẫn tài liệu lưu trữ về TĐAQ trong phông lưu trữ PTT nhưng đã cố gắng chứng minh rằng TĐAQ là một nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)

Như vậy, có thể nói liên quan đến phong trào TĐAQ nói chung đã có một số công trình đề cập đến Nhiều đánh giá, nhận định của các tác giả nói trên là những vấn đề mà luận án chúng tôi đã tham khảo và kế thừa

Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu khác nhau, nên các công trình nghiên cứu nói trên chưa đề cập tới vấn đề mà chúng tôi phải giải quyết là nghiên cứu toàn diện nguồn sử liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) và đó chính là nhiệm vụ mà luận án này với

tư cách là công trình chuyên khảo-cần phải thực hiện

4 Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tham khảo, nghiên cứu và sử dụng những nguồn tài liệu cơ bản sau đây:

4.1 Nguồn tài liệu chủ yếu, được sử dụng chủ yếu trong luận án là tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) Trong cuốn "Trung tâm lưu trữ quốc gia I"(1)

PTS Dương Văn Khảm đã viết

"Thông tin tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt hơn các loại thông tin khác ở chỗ, tài liệu lưu trữ gắn chặt chẽ với những hoạt động xã hội, là bằng chứng xác thực của lịch sử"[44, tr.1] Trong hàng trăm phông lưu trữ đang được bảo quản ở các kho lưu trữ Trung ương thì phông lưu trữ PTT (1945-1954) là một trong những phông quan trọng nhất Hiện nay Trung tâm lưu trữ Quốc gia III

(1)

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước được thành lập ngày 23/3/1963 theo Quyết định số 22-BT của Bộ Trưởng PTT, có nhiệm vụ tiếp quản kho tài liệu của chính quyền cũ, quản lý và thu thập tài liệu của các cơ quan Trung ương từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 14

Các loại hình tài liệu về TĐAQ trong phông PTT bao gồm: Sắc lệnh, quyết định, thông tư, biên bản, công văn trao đổi, công điện, thư

Nhóm tài liệu đặc biệt quí là nhóm Sắc lệnh, Quyết định của Phủ Chủ tịch Tài liệu ở đây đều là bản chính có chữ ký, đóng dấu Tài liệu về phong trào thi đua trong phông rất đa dạng và phần lớn là bản chính bao gồm 1199 trang của 87 hồ sơ Trong những tài liệu về TĐAQ có hàng chục tài liệu viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tài liệu tự tay Người đánh máy như "Lời kêu gọi TĐAQ"[111], ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh góp cho bản

"Chương trình TĐAQ của Bộ Giao thông công chính" , trên các trang bản thảo có bút tích viết bằng mực tím của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chỗ dập xoá đã là nguồn tư liệu chính nói về những mối suy tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TĐAQ

Mặc dù, một số tài liệu không đóng dấu, không có chữ ký hoặc còn bị thiếu về số lượng, nhưng với những tài liệu hiện có về TĐAQ vẫn là nguồn tài liệu chính, được sử dụng nhiều nhất trong luận án

Trang 15

4.2 Nguồn tài liệu quan trọng thứ hai được chúng tôi sử dụng là tài liệu lưu trữ của các phông lưu trữ khác có thông tin liên quan đến đề tài đang

được bảo quản tại ngay Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III hoặc các kho lưu trữ khác Trong đó đang chú ý là phông lưu trữ Bộ Lao động, số lượng tài liệu có thông tin về TĐAQ trong phông này khá lớn: 1431 trang với 189 hồ sơ Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, do ông Nguyễn Văn Tạo-Bộ trưởng Bộ Lao động kiêm Trưởng Ban vận động thi đua Trung ương nên có nhiều báo cáo các Bộ, ngành và địa phương gửi về đây Tuy trong phông lưu trữ Bộ Lao động không có những tài liệu có giá trị đặc biệt ghi lại quá trình hình thành phong trào TĐAQ như trong phông lưu trữ PTT, nhưng cũng là nguồn tư liệu quan trọng để chúng tôi khai thác, bổ sung hoặc làm sáng tỏ thêm tài liệu về TĐAQ trong phông lưu trữ PTT Ngoài phông lưu trữ Bộ Lao động, trong quá trình hành làm luận án chúng tôi đã khai thác, sử dụng phông lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, số lượng tài liệu về TĐAQ ở đây tuy không nhiều, nhưng có những tài liệu quý như bài nói chuyện của Anh Thận (đồng chí Trường Chinh) về vấn đề thi đua trong cơ quan trong buổi lễ phát động thi đua ở Hội nghị Chi bộ Văn phòng Tổng bí thư ngày 19/5/1952

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi còn tham khảo các phông lưu trữ trong kho lưu trữ Bộ Quốc phòng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ năm

1949 đã viết "vệ quốc quân và dân quân du kích là người xung phong đầu tiên trong phong trào Thi đua ái quốc Họ đặt tên riêng cho cuộc thi của họ là:

Luyện quân lập công Bộ Quốc phòng thì kêu gọi thi đua là gây cơ sở, phá kỷ lục"[38, tr.46]

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo phông lưu trữ Quốc hội, Bộ Nội vụ,

Bộ Canh nông, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Viện Thi đua Khen thưởng Nhà nước và Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UBKCHC) 2 tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên

Trang 16

4.3 Nguồn tư liệu quan trọng thứ ba được chúng tôi tiếp cận, khai thác

là phỏng vấn, ghi chép các nhân chứng đã từng trực tiếp tham gia vào phong trào TĐAQ như ông Cù Huy Cận-nguyên Tổng Thư ký HĐCP, ông Hoàng

Tùng-nguyên Phó Trưởng Ban Thi đua của TW Đảng và sau này là Bí thư

TW Đảng, ông Vũ Kỳ-nguyên là Thư ký giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng La Văn Cầu, anh hùng Nguyễn Thị Chiên, ông Vũ Anh Tài-nguyên Trưởng ban Thi đua quân đội Họ đã cho nhiều ý kiến quý báu để chúng tôi hoàn thành luận án

4.4 Nguồn tư liệu quan trọng thứ tư chúng tôi đã tiếp cận và khai thác,

đối chiếu, kiểm chứng là những ấn phẩm đã công bố trên các sách, báo Đó

là Văn kiện Đảng (toàn tập) [17], Hồ Chí Minh (toàn tập) [36], Hồ Chí Minh với phong trào TĐAQ (tuyển chọn và chuyên luận) [38]

Ngoài ra, trong quá trình tiến hành thực hiện luận án, chúng tôi còn tham khảo các tư liệu và hiện vật đang được bảo quản hoặc trưng bày ở các bảo tàng: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Tân Trào-ATK,

Bảo tàng Quân đội, khu di tích ở xã Vinh Quang-huyện Chiêm Hoá-tỉnh Tuyên Quang (nơi đã diễn ra Đại hội toàn quốc các CSTĐ và CBGM năm 1952) , tại những nơi này chúng tôi đã tiếp cận nhiều tài liệu, hiện vật liên quan đến nội dung của đề tài Những tư liệu, hiện vật đó đã giúp chúng tôi đối chiếu, làm sáng tỏ hơn nội dung những tài liệu lưu trữ về TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945-1954)

Sẽ là thiết sót nếu chúng tôi không kể tới một số bài phát biểu và chuyên luận về phong trào Thi đua ái quốc nhân các kỳ kỷ niệm hoặc đại hội thi đua toàn quốc Những bài nói, bài viết đó giúp chúng tôi củng cố thêm nhận thức

về ý nghĩa của phong trào TĐAQ

Trang 17

Cuối cùng, sẽ là khiếm khuyết nếu chúng tôi không kể tới một vài khoá luận của sinh viên do các giáo sư và cán bộ giảng dạy trong khoa Lịch sử, khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội hướng dẫn có nội dung ít nhiều liên quan đến đề tài Tuy mới là những nghiên cứu bước đầu nhưng những khoá luận của sinh viên cũng giúp chúng tôi trong việc sưu tầm các tài liệu có liên quan đến đề tài [52]

Để thực hiện luận án, chúng tôi đã dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng)

để cố gắng đạt gần được sự thật khách quan khi nghiên cứu tài liệu lưu trữ về TĐAQ trong phông PTT dưới góc độ nhận thức các nguồn sử liệu Những quan điểm chính trị, quan điểm lịch sử và quan điểm toàn diện đã được chúng tôi vận dụng để đánh giá các nguồn tư liệu sử dụng cho luận án

Đây là công trình nghiên cứu sử liệu học cho nên để thực hiện được nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã áp dụng phương pháp nghiên cứu sử liệu học, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu Để khai thác tất cả các nguồn tư liệu phục vụ nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp của một số ngành khoa học khác như lưu trữ học, bảo tàng học, văn bản học

5 Đóng góp của luận án

5.1 Đóng góp quan trọng nhất của luận án là cung cấp những thông tin với sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn sử liệu quan trọng và có giá trị cao trong phông lưu trữ có ý nghĩa đặt biệt to lớn của phông lưu trữ quốc gia Việt Nam là nguồn sử liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 -

Trang 18

1954) để tiếp tục nghiên cứu lịch sử phong trào Sở dĩ nói như thế bởi vì kết quả nghiên cứu của luận án đã nghiên cứu nguồn sử liệu với hàng ngàn trang tài liệu gốc, với hàng chục bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước về tổ chức bộ máy, nhân sự và phong trào TĐAQ rộng khắp các ngành, địa phương Kết quả đạt được qua nghiên cứu nguồn sử

liệu nói trên là đã khai thác những thông tin từ sử liệu, giới thiệu các tri thức

từ sử liệu phục vụ cho nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử phong trào TĐAQ nói riêng Trong nội dung của luận án trên cơ sở khoa học

chúng tôi đề xuất một số phương pháp cụ thể nhận biết bút tích của Chủ tịch

Hồ Chí Minh Bằng tri thức có được chúng tôi đã bước đầu xác minh được 5

tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài liệu lưu trữ trong phông PTT chưa được công bố trong "Hồ Chí Minh - Toàn tập"

5.2 Đóng góp quan trọng thứ hai của luận án là đã tiến hành phê phán sử liệu (phê phán vật mang tin, thời gian, địa điểm hình thành tài liệu, tác giả văn

bản và bản văn tài liệu) để xác định tính xác thực và độ tin cậy của các thông tin trong nguồn Qua phê phán sử liệu chúng tôi đã đính chính được chính xác hơn ngày tháng một số sự kiện lịch sử về phong trào TĐAQ như: Lời kêu gọi TĐAQ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải "khoảng 1-5-1948" mà là khoảng

từ 27-3 đến 1-5-1948 và Lời kêu gọi nhân 1000 ngày kháng chiến không phải viết ngày 11-6 mà là ngày 10-6-1948 Đại hội toàn quốc các CSTĐ và CBGM bắt đầu không phải từ 1/5/1952 mà từ 19 h

Trang 19

lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay

5.4 Đóng góp quan trọng thứ tư của luận án là thông qua việc tiến hành nghiên cứu nguồn sử liệu trong phông lưu trữ PTT (1945-1954) về TĐAQ

chúng tôi đã rút ra được một số kết luận về việc vận dụng một số thủ pháp phê phán sử liệu để phê phán tài liệu lưu trữ có xuất xứ là tài liệu văn thư Nhà nước

6 Bố cục và nội dung chủ yếu của luận án

Ngoài phần dẫn luận giới thiệu khái quát về luận án, phần nội dung chính gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông

lưu trữ PTT (1945 - 1954)

Trong chương này, chúng tôi trình bày sơ lược lịch sử PTT (1945 - 1954), quá trình hình thành phông lưu trữ PTT (1945 - 1954), bối cảnh lịch sử của phong trào TĐAQ, các loại hình tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ và phân loại chúng Cũng trong chương này, chúng tôi giới thiệu tóm tắt tình hình bảo quản, khai thác sử dụng tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông này Nội dung của chương này nhằm giúp người đọc thấy được xuất xứ và nội dung chính cũng như những đặc thù của những tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) Những vấn đề được trình bày trong chương này, kể cả những vấn đề được trình bày khái quát, đều có liên quan và có tác dụng bổ trợ cho những vấn đề mà chúng tôi sẽ trình bày ở những chương sau

Chương 2: Phê phán nguồn tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông

lưu trữ PTT (1945 - 1954)

Trang 20

Đây là chương chứa đựng nội dung cơ bản của luận án Trong chương này chúng tôi tiến hành phê phán sử liệu (vật mang tin, yếu tố thời gian, địa điểm, tác giả và bản văn) Bước cuối cùng qui trình phê phán sử liệu là tổng hợp sử liệu Những vấn đề được trình bày trong chương này nhằm giúp người đọc, những người nghiên cứu có được những thông tin xác thực và xác định được độ tin cậy của các thông tin trong tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ của phông lưu trữ PTT (1945-1954)

Chương 3: Giá trị của sử liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ

PTT (1945 - 1954)

Trong chương này, dưới góc độ sử liệu học, chúng tôi hệ thống, phân tích những giá trị của tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945-1954) đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử phong trào TĐAQ nói riêng

Phần cuối cùng của luận án là kết luận Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài, chúng tôi rút ra một số nhận xét tổng quát về giá trị của nguồn sử liệu về phong trào TĐAQ và một số kết luận về việc sử dụng một số thủ pháp phân tích phê phán sử liệu Phần cuối của kết luận, dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức lưu trữ, bảo quản và khai thác, sử dụng nguồn sử liệu này có hiệu quả hơn

Với mong muốn làm sáng tỏ thêm những vấn đề đã được trình bày trong các chương nói trên của luận án, chúng tôi đưa thêm phần phụ lục gồm ảnh chụp một số sự kiện lịch sử, bản photocoppy một số tài liệu lưu trữ quý đang được bảo quản tại các trung tâm lưu trữ quốc gia

Những vấn đề mà luận án đặt ra chúng tôi đã cố gắng thực hiện Tuy nhiên, do một số tài liệu lẽ ra thuộc phông lưu trữ PTT (1945 - 1954) nhưng không thu thập và lưu trữ được, nhiều nhân chứng lịch sử đã qua đời và do

Trang 21

hạn chế về trình độ của chính tác giả nên chắc chắn luận án không tránh khỏi những hạn chế và thiết sót ở chỗ này hay chỗ khác Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học và của độc giả

Chúng tôi tin tưởng rằng những góp ý của người đọc sẽ giúp chúng tôi nhận ra những hạn chế cần khắc phục và giúp chúng tôi có thêm nguồn lực và nhiệt tình mới trên con đường nghiên cứu sau này

Trang 22

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU LƯU TRỮ VỀ PHONG TRÀO THI ĐUA

ÁI QUỐC TRONG PHÔNG LƯU TRỮ PHỦ THỦ TƯỚNG (1945 - 1954)

Chương này được viết xuất phát từ những căn cứ sau đây:

Muốn nghiên cứu nguồn sử liệu chúng ta phải xem xét, nhận thức chúng trong mối liên hệ chặt chẽ với những điều kiện lịch sử mà chúng đã ra đời Tài liệu lưu trữ trong phông lưu trữ PTT(1945-1954) hình thành là kết quả quá trình hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch Chính phủ và Văn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao (HĐQPTC)(1) Muốn hiểu rõ hoàn cảnh hình thành những tài liệu đó, chúng ta phải biết được: Nguyên nhân nào tạo ra sự xuất hiện của tài liệu ? Tài liệu đó chiếm vị trí thế nào trong diễn trình lịch sử của sự kiện ? Nắm chắc quy luật khách quan hình thành tài liệu sẽ tạo tiền đề cho chúng ta giải thích nội dung của các tài liệu nói trên Như vậy, tài liệu xuất hiện một cách có chủ định trong quá trình hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng PTT, Văn phòng HĐQPTC

và phong trào TĐAQ, đồng thời cũng tham gia vào các hoạt động này, sau này chúng trở thành đối tượng nghiên cứu lịch sử Bởi vậy, nguồn sử liệu nói trên biểu hiện sự thống nhất giữa vai trò tham gia tạo ra hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nước, PTT và Văn phòng HĐQPTC, hoạt động của phong trào TĐAQ, đồng thời còn là phương tiện nhận thức lịch sử

Giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện các nhiệm vụ Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch HĐQPTC có các Văn phòng Các

(1)

Hội đồng Quốc phòng Tối cao được thành lập theo Sắc lệnh 206/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 19/8/1948 có nhiệm vụ quyết định những vấn đề quan trọng nhất về quốc phòng Cụ Hồ Chí Minh-Chủ tịch Chính phủ kiêm Chủ tịch HĐQPTC Ngày 27/7/1949 Phạm Văn Đồng được cử làm Phó Thủ tướng và được

bổ sung giữ chức Phó Chủ tịch HĐQPTC

Trang 23

Văn phòng này hoạt động độc lập theo chức năng, nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, vì các Văn phòng đều giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng đóng một nơi, có lúc lại nhập với nhau nên tài liệu trong quá trình hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, rất khó tách bạch Điều này lý giải vì sao tài liệu của khối này lẽ ra phải thành lập 3 phông độc lập nhưng từ trước đến nay đều chỉ thành lập một phông lấy tên là Phông lưu trữ PTT

Vì những căn cứ trên, trong chương này chúng tôi giới thiệu hoàn cảnh

ra đời phong trào TĐAQ, tài liệu TĐAQ và những nét đặc thù của chúng

1.1 Hoàn cảnh ra đời phong trào TĐAQ

Cách mạng tháng Tám thành công Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược trong lúc vừa giành được độc lập Nước ta trước

đó có nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị thực dân Pháp và phát xít Nhật bóc lột làm cho kiệt quệ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời nhưng chưa được một nước nào trên thế giới công nhận

Quân Đồng minh đã dồn dập kéo vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Ở miền Bắc 4 quân đoàn quân Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán chỉ huy kéo vào đóng ở Hà Nội và từ biên giới vĩ tuyến 16 trở ra Khi tiến quân vào Việt Nam, quân đội Tưởng đã kéo theo bọn phản động người Việt lưu vong ở Trung Quốc là lực lượng Việt Quốc 1, Việt Cách 2

về nước chống phá cách mạng Ở miền Nam, quân đội Anh lấy danh nghĩa giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào để đồng loã, giúp cho thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa

Trang 24

Ngày 23/9/1945 quân đội Pháp nổ súng đánh Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai Nước cộng hoà non trẻ còn chưa có thời gian củng

cố và phát triển

Trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" và nguy cơ mất còn của độc lập dân tộc, ngày 25/11/1945 Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị quan trọng: KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC xác định rõ nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính sách quan trọng Khẩu hiệu "kháng chiến

và kiến quốc" chính là nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc đó

Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12 năm 1946 quân Pháp liên tiếp khiêu khích công an và tự vệ của ta Ngày 18/12/1946 chúng ngang nhiên gửi tối hậu thư buộc Chính phủ ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19/12/1946 quân dân Hà Nội đã nổ phát súng kháng chiến đầu tiên Các thành phố Đà Nẵng, Huế, Vinh lần lượt nổ súng tấn công địch

Cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội ở cả nội và ngoại thành rất quyết liệt Đêm 17/2/1947 trung đoàn Thủ đô đã bí mật tổ chức hành quân vượt sông Hồng qua Phúc Yên an toàn sau những tháng chiến đấu dũng cảm

Tháng 10/1947 thực dân Pháp đã huy động lực lượng tới hơn 2 vạn quân

mở cuộc hành quân lên Việt Bắc Chiến lược của địch là "đánh nhanh, thắng nhanh" nhằm mau chóng tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta Bộ chỉ huy quân đội ta đã dự đoán trước là địch có thể mạo hiểm đánh lên Việt Bắc Nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta nên các mũi tiến công của địch lên Việt Bắc đều bị bẻ gãy, địch buộc phải rút chạy khỏi Việt Bắc Từ năm 1948 trở đi "vận động chiến" trở thành cách đánh tương đối phổ biến của quân ta Nhiều trận phục kích thắng lợi như: La Ngà (3/1948), chiến dịch Nghĩa Lộ (3/1948), Tầm Vu (4/1948)

Trang 25

Tổng kết tình hình giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định:

"Thực dân chưa bị đánh quỵ Chúng sẽ tấn công Việt Bắc lần nữa Chúng sẽ tấn công nơi này rồi đến nơi khác Rồi đây, chúng sẽ lập chính phủ bù nhìn Chúng sẽ dùng mưu độc ác đem người Việt đánh người Việt Cuộc kháng chiến sẽ gay go hơn nữa"[35, tr.368] Ngày 12/9/1947 trong thư gửi đồng bào khu III, Người lại viết: "Cũng như đi đường xa, đi đến nơi thì thường mệt nhọc, sự nghiệp kháng chiến gần đến lúc thành công thì càng nhiều nỗi gian nan"[36, tr.212] Để vượt qua "nỗi gian nan" nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã sớm nghĩ đến việc phát huy nội lực làm cho "ai cũng hăng hái"[36, tr.101] Trước ngày 20/3/1947, trong tác phẩm "Đời sống mới" bằng bút danh Tân Sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về xây dựng làng kiểu mẫu trong chiến lược trường kỳ kháng chiến "Nói tóm lại, về tổ chức, về sản xuất, về vệ sinh,

về văn hoá, về kháng chiến, việc gì làng mình cũng có thể làm kiểu mẫu cho các làng xung quanh

Muốn như thế, một cách tốt nhất là tổ chức thi đua Người này thi đua với người khác, làng này thi đua với làng khác Ai hơn thì được người dân kính trọng, chính phủ khen thưởng Như vậy "ai cũng hăng hái"[36, tr.101].Hội nghị Trung ương mở rộng họp các ngày 15, 16, 17/1/1948, đã thông qua Nghị quyết nêu rõ các nhiệm vụ: "Cổ động mạnh cho phong trào "luyện quân lập công" của Bộ Tổng chỉ huy; phong trào "gây cơ sở phá kỷ lục" của

Bộ Quốc phòng; phong trào "luyện quân lập công" của Nha công an và nói chung là phong trào ganh đua ở tất cả các bộ, các cơ quan chính phủ và đoàn thể"[17, tr.36]

Thời gian này cuộc kháng chiến chống Pháp càng đi vào gay go, ác liệt.Trước tình hình mới của cách mạng, để tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa cuộc kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công, Hồ Chủ tịch đã đưa ra sáng kiến phát động một phong trào TĐAQ

Trang 26

Ngày 27/3/1948 Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, phiên họp ngày 13/4/1948 HĐCP đã cử ra

"Ban điều khiển Thi đua Trung ương" (sau này gọi là Ban Vận động TĐAQ Trung ương) do cụ Tôn Đức Thắng làm Trưởng Ban Trong Ban còn có cụ Chủ tịch [Hồ Chí Minh], cụ Bùi [Bằng Đoàn] (Quốc hội và Liên Việt), các Bộ Tài chính, Nội vụ, Tư pháp, Kinh tế Trong khoảng từ 27/3 đến 1/5/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bức thư cổ động cho phong trào TĐAQ gửi kèm bản phát động Thi đua ái quốc Ngày 1/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 195-SL thành lập Ban Vận động Thi đua ái quốc Trung ương Ngày 10/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Thi đua ái quốc nhân dịp 1000 ngày kháng chiến toàn quốc Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 19/6/1948 phong trào TĐAQ được chính thức phát động trong phạm vi cả nước Phong trào TĐAQ đã thu được những thắng lợi to lớn cả về kháng chiến và kiến quốc, trở thành nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) [65]

1.2 Tài liệu về phong trào TĐAQ trong Phông lưu trữ PTT (1945-1954)

Phần trên chúng tôi đã giới thiệu hoàn cảnh ra đời của TĐAQ Phần này chúng tôi khái quát giới thiệu thành phần và tình trạng tài liệu nói chung hiện

có trong phông PTT

Trong hoàn cảnh kháng chiến, do chưa có nhiều văn bản qui định về công tác văn thư, lưu trữ, ý thức lưu trữ tài liệu chưa cao, giấy ta tự làm chất lượng kém nên khối lượng tài liệu Phông lưu trữ PTT còn lại không nhiều, tình trạng tài liệu rất kém

Thực hiện Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ Quốc gia do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ban hành bằng Lệnh số 08/CT/HĐNN7 ngày 11/12/1982, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (nay là Văn phòng Chính phủ) đã nộp lưu vào bảo

Trang 27

quản Nhà nước tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước trong 2 đợt:

Đợt 1: Ngày 25/11/1988 gồm 1937 hồ sơ thuộc giai đoạn 1945 - 1954

Trong số đó tài liệu những năm 1945, 1946 bị thiếu nghiêm trọng Khối tài liệu nói trên đã được chỉnh lý tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Ý thức được đây là những tài liệu quí và không còn lưu trữ được đầy đủ nên trong quá trình chỉnh lý gần như giữ lại hầu hết để bảo quản Chỉ riêng số tài liệu bảo quản vĩnh viễn đã có 2614 hồ sơ Số tài liệu này được hệ thống hóa theo các mặt hoạt động sau:

- Tài liệu tổng hợp: Từ hồ sơ số 01 đến hồ sơ số 559 gồm những tài liệu

có nội dung phản ánh tình hình chung của Chủ tịch Phủ, Thủ tướng Phủ (TTP)(1), HĐQPTC và tài liệu báo cáo tổng hợp của các địa phương Trong nhóm này đặc biệt quí là nhóm Sắc lệnh, quyết định của Phủ Chủ tịch với 715 văn bản có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cũng trong nhóm này còn lưu trữ được toàn bộ biên bản của 49 cuộc họp của HĐCP Ngoài ra trong nhóm này còn các quyết định khen thưởng do Thủ tướng Chính phủ ký

- Tài liệu về nội chính: Từ hồ sơ số 560 đến hồ sơ số 1356 Tài liệu về nội chính được chia thành 8 nhóm vấn đề:

1- Tài liệu chung về nội dung từ hồ sơ số 560 đến hồ sơ số 635;

2- Tài liệu về tổ chức cán bộ từ hồ sơ số 636 đến hồ sơ số 680;

3- Tài liệu về tổ chức chính quyền từ hồ sơ số 681 đến hồ sơ số 903; 4- Tài liệu về trật tự trị an từ đơn vị bảo số 904 đến hồ sơ số 1121; 5- Tài liệu về tư pháp từ hồ sơ số 1122 đến hồ sơ số 1225;

6- Tài liệu về thanh tra từ hồ sơ số 1226 đến hồ sơ số 1254;

7- Tài liệu về Pháp kiều và các tù binh Âu Phi từ hồ sơ số 1255 đến hồ

Trang 28

8- Tài liệu về cải cách ruộng đất từ hồ sơ số 1297 đến hồ sơ số 1386.

- Tài liệu về quân sự: Từ hồ sơ số 1387 đến hồ sơ số 1507 Nhóm tài liệu này được xếp theo 5 vấn đề chính:

+ Vấn đề chung về quân sự;

+ Vấn đề nghĩa vụ quân sự và các vấn đề liên quan;

+ Vấn đề cung cấp và trang bị cho quân đội;

+ Vấn đề chiến tranh du kích;

+ Tài liệu về các cuộc tấn công, càn quét của địch, tài liệu về các chiến dịch

- Tài liệu về ngoại giao: Từ hồ sơ số 1507 đến hồ sơ số 1678 Tài liệu của nhóm này được chia thành 6 nhóm vấn đề:

+ Vấn đề chung về ngoại giao;

+ Vấn đề gia nhập Liên hợp quốc;

+ Vấn đề tuyên truyền quốc tế;

+ Vấn đề Việt kiều, ngoại kiều, nhập quốc tịch, các tổ chức quốc tế, tài liệu về Pháp, Mỹ, Nhật xâm lược Đông Dương;

+ Vấn đề quan hệ với các nước Châu Âu;

+ Vấn đề quan hệ với các nước Châu Á

- Tài liệu về kinh tế, tài chính: Từ hồ sơ số 1679 đến hồ sơ số 1407 Khối tài liệu này được chia theo các vấn đề:

+ Vấn đề chung về kinh tế tài chính;

+ Vấn đề nông lâm nghiệp;

+ Vấn đề kinh tế công thương nghiệp;

+ Vấn đề tài chính;

+ Vấn đề giao thông công chính;

+ Vấn đề lao động, dân công;

+ Vấn đề thi đua

Trang 29

- Tài liệu về văn xã: Từ hồ sơ số 2408 đến hồ sơ số 2614 Khối tài liệu này được chia theo các vấn đề:

+ Vấn đề thông tin tuyên truyền

Đợt 2: Ngày 02/12/1988, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I lại tiếp nhận đợt

2 tài liệu Phông lưu trữ PTT vào bảo quản nhà nước từ Văn phòng Hội đồng

Bộ trưởng (nay là Văn phòng Chính phủ) Tài liệu tiếp nhận đợt này gồm toàn bộ bản gốc các lệnh, sắc lệnh từ số 01 ngày 30/8/1945 đến số 110 của năm 1972 gồm 9 hộp, 1860 hồ sơ, 48 quyển hồ sơ Riêng từ năm 1945 đến năm 1954 chỉ có 3 hộp (1, 2, 3) với tình hình tài liệu như sau:

Trang 30

Toàn bộ tài liệu lưu trữ nộp đợt 2 bảo quản nhà nước tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, theo mục lục có 1860 hồ sơ, trong đó:

1- Tập biên bản họp Thường vụ HĐCP và họp HĐCP có 1104 hs ký hiệu A1 đựng trong 70 hộp;

2- Các văn bản pháp qui do HĐCP ban hành, ký hiệu A2 gồm 56 hs, đặt trong 10 hộp;

3- Văn bản pháp qui do Thủ tướng Chính phủ ban hành ký hiệu A3 gồm

117 hs, đựng trong 21 hộp Riêng số văn bản pháp qui ký hiệu TTg từ 1950 đến 1954 có 11 hs, gồm 1220 trang từ ký hiệu A3 Q01-H01 đến A3 Q11-H02; 4- Tập văn bản pháp qui do Thủ tướng Chính phủ ban hành về vấn đề khen thưởng, ký hiệu A4 gồm 137 hs đựng trong 29 hộp;

5- Các tập công văn lưu về kinh tế của Văn phòng PTT ký hiệu C1 gồm

- Nhóm thứ hai là những biên bản họp HĐCP và Thường vụ HĐCP có nội dung liên quan đến phong trào TĐAQ;

- Nhóm thứ ba là những văn bản pháp qui do Thủ tướng Chính phủ ban hành có nội dung liên quan đến phong trào TĐAQ;

Trang 31

- Nhóm thứ tư là các công văn lưu của Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch CP, Văn phòng HĐQPTC có nội dung liên quan tới phong trào TĐAQ;

- Nhóm thứ năm là những hồ sơ về phong trào TĐAQ Trong nhóm hồ

sơ này bao gồm các văn bản của các cơ quan Trung ương và địa phương chỉ đạo phong trào TĐAQ, báo cáo thành tích TĐAQ của các Bộ, ngành, các địa phương, công văn trao đổi về phong trào TĐAQ

Phông lưu trữ PTT nói chung và tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông PTT (1945-1954) nói riêng là những tài liệu vô cùng quý giá Theo thống kê của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III - nơi bảo quản phông PTT thì số người nghiên cứu tài liệu phông này khá nhiều và năm sau tăng hơn năm trước Ví dụ: năm 2001 có 795 lượt người đọc tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III thì trong đó có tới 124 lượt người đọc tài liệu phông PTT (1945-1954) Mục đích nghiên cứu thật đa dạng: các nhà lịch sử đọc để lấy sử liệu biên soạn các công trình lịch sử như lịch sử Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các nhà báo đọc để viết báo nhân các ngày kỷ niệm lớn, nhiều công dân đến nghiên cứu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ như các vụ tranh chấp nhạc và lời quốc ca, mẫu quốc huy

Để góp phần bổ sung vào hệ thống thông tin quốc gia, năm 1989 Cục Lưu trữ Nhà nước đã xuất bản cuốn "Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I" là cuốn sách thông tin xuyên phông lưu trữ do PTS Dương Văn Khảm làm chủ biên Cuốn sách biên soạn công phu này đã được các nhà lịch sử nhiệt liệt chào đón bởi vì cuốn sách đã giới thiệu được khái quát thành phần và nội dung những thông tin tài liệu của các phông bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I lúc

đó, trong đó có phông lưu trữ PTT

Trang 32

Do ý nghĩa quan trọng đặc biệt về mọi mặt, phông lưu trữ PTT ngay từ năm 1990 đã được ưu tiên là phông đầu tiên và duy nhất lúc đó xây dựng cơ

sở dữ liệu tự động hoá trên kết quả nghiên cứu thành công đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số 48H 02 04 do PTS Dương Văn Khảm làm chủ nhiệm Khoảng 5000 phiếu tin đã được nhập vào máy Cơ sở dữ liệu phông lưu trữ PTT là kết quả nghiên cứu đầu tiên và nghiêm túc về việc ứng dụng tin học vào công tác lưu trữ "Kết quả nghiên cứu và khai thác cơ sở dữ liệu này đã khẳng định được là, ứng dụng tự động hoá thông qua việc thiết lập các cơ sở

dữ liệu lưu trữ là xu hướng phát triển tất yếu của ngành lưu trữ, vừa là một trong các biện pháp cần thiết để giải quyết các tồn tại trong công tác lưu trữ hiện nay"[43, tr.9] Tiếc rằng, sau đó công trình khoa học thí điểm này đã không được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện để đưa vào sử dụng Cho đến hôm nay, dòng người đến khai thác tài liệu phông này vẫn chỉ sử dụng chủ yếu một công cụ tra cứu truyền thống là quyển mục lục hồ sơ

Do có dự án nâng cấp các phông đang được triển khai, phông PTT đang được chỉnh lý lại và làm phiếu tin để tra tìm theo phần mềm ứng dụng mới Ngày 10/6/1995, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 118/QĐ-BTCCP của Bộ trưởng-Trưởng Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) Từ đây, phông lưu trữ PTT được chuyển cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III bảo quản

1.3 Đặc thù của tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945-1954)

Để giúp các nhà sử học dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu những tư liệu lịch sử là tài liệu lưu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT, chúng tôi giới thiệu một số đặc thù của chúng

Trang 33

1.3.1 Đặc thù thứ nhất: về tác giả văn bản

Vấn đề tác giả văn bản liên quan chặt chẽ đến quy định về chức năng và thẩm quyền ban hành văn bản Trong những năm kháng chiến chống Pháp, do hoàn cảnh chiến tranh, Nhà nước ta chưa có điều kiện tập trung vào ban hành những văn bản về công tác công văn giấy tờ và công tác lưu trữ

Do chưa có những quy định cụ thể của Nhà nước cho nên việc sử dụng nhiều loại văn bản của chính quyền thực dân Pháp ở thuộc địa vào thực tế công tác hoàn toàn theo thói quen của công chức Do đó, ngày 18-4-1946 Chủ tịch Chính phủ ra Thông tư số 8 quy định về việc ra sắc lệnh, nghị định:

- Sắc lệnh được dùng để quy định tổ chức của một Bộ (theo đề nghị của

Bộ trưởng chuyên trách), đặt một chức danh mới, một ngành công chức mới, thành lập một cơ quan trực thuộc Bộ và quy định những vấn đề cơ bản có liên quan tới quyền cơ bản của công dân Sắc lệnh sẽ là cơ sở pháp lý để ban hành nghị định

- Nghị định là văn bản do Bộ trưởng ban hành dùng để quy định tổ chức trong phạm vi một Bộ và những vấn đề thuộc phạm vi chuyên môn của Bộ (nếu được sắc lệnh uỷ quyền), quy định những vấn đề áp dụng quy chế công chức cho các cá nhân như thăng thưởng, tuyển bổ, thuyên chuyển, trừng phạt Nếu Bộ dự định ban hành nghị định về một vấn đề liên quan đến nhiều

Bộ thì phải hỏi ý kiến các Bộ đó trước khi quyết định Khi ban hành nghị định, phải viện dẫn sắc lệnh đã được ban hành về vấn đề đó Nếu trong trường hợp chưa có sắc lệnh thì phải dự thảo sắc lệnh trước khi ra nghị định

Tuy đã có quy định trên, nhưng trong các văn bản về TĐAQ vẫn có sự lẫn lộn trong việc ra nghị định

Tên cơ quan ban hành văn bản trong tài liệu lưu trữ về TĐAQ cũng có nhiều sai sót Sắc lệnh của Chủ tịch nước ban hành thường có tên cơ quan ở góc trái, phía trên cùng là CHỦ TỊCH NƯỚC Tuy nhiên, không ít văn bản

Trang 34

không có tên cơ quan hoặc ghi tên sai Ví dụ Sắc lệnh số 232/SL-m ngày 16/11/1946 không có tên cơ quan, Sắc lệnh số 267-SL ngày 20-8-1948 cử ông Hoàng Đạo Thuý vào Ban TĐAQ Trung ương đề tên cơ quan là CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ, Sắc lệnh số 196-SL ngày 01-6-1948 cử vào Ban Vận động TĐAQ lại đề tên cơ quan là Văn phòng Chủ tịch Chính phủ

Để xác định chính xác tên cơ quan là tác giả của văn bản, các nhà lịch sử cần kết hợp xem tên cơ quan ghi trên góc trái văn bản với tên cơ quan ghi trong con dấu

Giấy dó là loại giấy làm theo phương pháp thủ công, được xeo từ cây dó Kích thước thông dụng của loại giấy này là 26cm x 20cm (nhỏ hơn khổ A4

ngày nay) Để tiết kiệm giấy, công văn ngắn thường được đánh máy trên một nửa tờ giấy dó (cỡ 13cm x 20cm) hoặc trên 1/3 tờ giấy dó (cỡ 7,3cm x 8,7cm)

Những tài liệu khác, nhất là tài liệu viết tay, được viết trên nhiều loại giấy khác nhau Có loại tài liệu được viết trên giấy trắng, có lẽ từ vùng địch chiếm chuyển lên chiến khu, có loại tài liệu khác được viết trên giấy rơm (giấy chế tạo thủ công) Trải qua nửa thế kỷ các loại giấy - vật mang tin đều có độ kiềm (PH)

Trang 35

cao Thông thường, mức độ axít của giấy, cũng gọi là nồng độ Ionghyđrô, độ

PH được biểu thị bằng một thang lôgarít từ 0 đến 14, điểm trung bình là 7, cao hơn là kiềm thấp hơn là axít Giấy ta tự sản xuất bằng phương pháp thủ công, không có thiết bị khử độ kiềm nên độ kiềm cao, hệ quả là giấy mau vàng Giấy dùng để làm ra tài liệu về phong trào TĐAQ nói riêng và tài liệu phông PTT nói chung có kích cỡ rất khác nhau, đặc biệt là công văn lưu Giấy trắng đóng khổ A4 không nhiều, còn lại là giấy dó khổ A4 chia đôi, chia 3

Mực: Tài liệu đánh máy thường dùng ruy băng, giấy than Trong điều kiện kháng chiến ở chiến khu, ruy băng khan hiếm, người đánh máy thường tiết kiệm nên trừ những bản đánh máy qua giấy than còn giữ được màu mực, còn lại bản qua ruy băng chữ đã bị mờ, rất khó đọc

Mực viết cũng được dùng nhiều loại Có loại mực tốt còn giữ được nét chữ, nhưng có loại mực xấu thì mực đã bay màu rất khó đọc

Sự khan hiếm văn phòng phẩm thể hiện ở công điện số 3347 - TT/82 năm 1951 của đồng chí Phan Mỹ (tên thường gọi là Bảy) gửi cho đồng chí Khang - Chánh văn phòng Trung ương Đảng lúc đó Trong công điện có đoạn viết: "Đầu năm nay, Văn phòng Trung ương có nhượng cho chúng tôi một số giấy Stencil và một lọ "Vernis Corrector pour Stencil", nhưng đã dùng hết

1 Nếu bên văn phòng có sẵn, nhượng cho 2 lọ

2 Nếu không có, đặt mua giúp cho mấy lọ"

Ở hai cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ văn phòng phẩm còn khan hiếm như vậy, ở các cơ quan khác còn khan hiếm hơn

- Đặc thù về thể thức văn bản

Như trên chúng tôi đã trình bày, trong điều kiện kháng chiến ở chiến khu giấy, mực khan hiếm, Nhà nước ta chưa thể ra quy định bắt buộc về chất lượng giấy và khổ giấy làm văn bản Tuy nhiên về thể thức văn bản thì có sự

kế thừa thể thức văn bản của chế độ cũ

Trang 36

Thể thức văn bản là những quy định của cơ quan Nhà nước về các yếu tố thông tin cần được thể hiện theo một trật tự quy định ở mỗi loại văn bản Trong thể thức văn bản thì tiêu ngữ (quốc hiệu) là yếu tố thông tin được quy định sớm nhất

Ở nước ta, chẳng những việc ghi quốc hiệu trong thời kỳ phong kiến mà thời thuộc Pháp quốc hiệu trong văn bản quản lý được trình bày theo quy định của "chính quốc": "Cộng hoà Pháp - Tự do - Bình đẳng - Bác ái" (trong chiến tranh thế giới thứ hai, dưới thời Pêtanh, nó được ghi là "Quốc gia Pháp - Cần lao - Gia đình - Tổ quốc")

Trong phiên họp HĐCP ngày 04-10-1945, khi bàn về định niên hiệu mới, ông Trần Huy Liệu đề nghị CP ra một sắc lệnh về niên hiệu mới, HĐCP đồng ý: "năm 1945 sẽ là năm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, năm thứ nhất, còn ngày và tháng sẽ theo dương lịch"

Ngày 12-10-1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã ký sắc lệnh số 49-SL quy định cách viết quốc hiệu trong các văn bản: "các công văn, công điện, phiếu, trát, đơn từ, các báo chí, chúc từ, điếu văn, khấn vái, cúng lễ, bắt đầu

từ ngày ký sắc lệnh này đều phải tiêu đề: VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ - NĂM THỨ NHẤT"

Bên cạnh việc ghi quốc hiệu, Nhà nước còn quy định về cách ký sắc lệnh Điều 52 - Hiến pháp năm 1946 quy định "Mỗi Sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn của Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký Các Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện" Trong thư gửi cho Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam(1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu sắc lệnh chỉ ký một bản

(1)

Hoàng Hữu Nam-tức Phan Bôi (1911 - 1947) quê huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng

và thực dân Pháp đày Ông đi Côn Đảo, Bắc Mê và Mađagátxca Năm 1943 về Việt Bắc, sau cách mạng tháng Tám thành công Ông là Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hiện Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III còn bảo quản được 102 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Ông

Trang 37

Các Sắc lệnh ra trước ngày 12-10-1945 chưa có tiêu ngữ, nhưng sau ngày này các Sắc lệnh đã có tiêu ngữ Tuy nhiên những Sắc lệnh đầu tiên chưa có sự thống nhất cao về thể thức như 2 dòng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Độc lập - Tự do - Hạnh phúc viết ngang nhau (Sắc lệnh số 219/SL ngày 2-9-1954), hoặc có Sắc lệnh ghi là "tiếp ký", có Sắc lệnh ghi là "phó thự" (Sắc lệnh số 216/SL ngày 20-8-1948) Phó thự cũng là tiếp ký, tuy nhiên, khác với việc "ký nháy" hay "ký ruồi" ngày nay, phó thự hoặc tiếp ký của một hay nhiều bộ trưởng trên các Sắc lệnh, trước khi Chủ tịch nước ký, đều có chữ

ký đầy đủ, ghi rõ chức vụ, họ tên người ký và đôi khi có đóng dấu của Bộ

Số và ký hiệu được ghi trên tài liệu và các văn bản về TĐAQ cũng có đặc điểm riêng Không chỉ có công văn lưu của Chủ tịch phủ, Thủ tướng phủ

và Hội đồng Quốc phòng tối cao được đánh số mà trong sổ ghi biên bản họp của Ban Chỉ đạo Thi đua ái quốc Trung ương (1)

cũng được đánh số thứ tự từng buổi họp Những văn bản có ghi chữ M sau ký hiệu văn bản là văn bản mật Ví dụ Điện của Văn phòng Chủ tịch Chính phủ gửi các địa phương mang

số 1073M Biên bản mỗi buổi họp ghi trong sổ biên bản cũng được đăng ký một số với ký hiệu mật Ví dụ: 1236M mời dự hội nghị Ban chỉ đạo TĐAQ Trung ương 1239M họp ban chỉ đạo TĐAQ Trung ương

(1)

Ban Chỉ đạo Thi đua ái quốc Trung ương là tiền thân của Ban VĐTĐAQ TW họp buổi họp đầu tiên sáng 28/5/1948 Sau ngày 1/6/1948 Ban Chỉ đạo TĐAQ TW đổi thành Ban VĐTĐAQ TW

Trang 38

Việc đánh số các loại văn bản đề phòng việc kẻ địch lấy trộm tài liệu hoặc công chức làm mất tài liệu

Về họ, tên, chức vụ và chữ ký trên các văn bản về TĐAQ: Chức vụ người ký ở nhiều văn bản cũng có sai sót Sai sót về thẩm quyền ban hành văn bản Sắc lệnh phải do Chủ tịch nước ký ban hành, nhưng trong Sắc lệnh số 195/SL ngày 01-6-1948 thành lập Ban Vận động TĐAQ thay vì đề "Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà" lại đề sai là "Chủ tịch Chính phủ" Trong Sắc lệnh số 219-SL ngày 2-9-1954 thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không ghi chức vụ người ký Ở nhiều Sắc lệnh người ký trực tiếp hoặc phó thự không ghi rõ họ, tên, không đóng dấu Ngược lại, có Sắc lệnh có tới 3 người tiếp ký Nhiều văn bản không có chữ ký, đặc biệt là công văn lưu Việc thiếu nhiều chữ ký ở công văn lưu có thể lý giải là trong điều kiện chiến tranh, thiếu giấy, thiếu mực, số bản đánh máy chỉ vừa đủ Do những yêu cầu phát sinh, hết bản đánh máy có dấu, chữ

ký, cán bộ văn thư đành phải lưu văn bản thiếu chữ ký

- Về đóng dấu trên văn bản

Hình con dấu của cơ quan đóng trên văn bản là yếu tố bắt buộc phải có

để đảm bảo hiệu lực pháp lý của văn bản Tuy vậy, trong những năm đầu, mới giành chính quyền, Nhà nước ta chưa ban hành quy định nào về hình thức, kích thước con dấu Vì vậy, con dấu của các cơ quan chưa theo quy định nào

về hình thức cũng như kích thước

Mặc dù tài liệu lưu trữ về TĐAQ trong phông lưu trữ PTT nói chung thuộc nhóm tài liệu văn thư Nhà nước nhưng cũng có nhiều văn bản chính thức không đóng dấu Những văn bản có dấu, phần lớn là các văn bản chính thức như sắc lệnh, nghị định Tuy vậy, ngay trên nhiều sắc lệnh cũng có nhiều văn bản không có dấu Ví dụ Sắc lệnh số 195-SL ngày 01-6-1948 thành lập Ban

Trang 39

VĐTĐAQ TW và Sắc lệnh số 196-SL ngày 01-6-1948 cử vào Ban VĐTĐAQ

TW cũng chỉ có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không có dấu

Đặc điểm của các con dấu của Chủ tịch nước, Chủ tịch Chính phủ, Hội đồng Quốc phòng Tối cao đều không có quốc huy Điều đó dễ hiểu bởi vì mãi đến giữa năm 1955 theo đề nghị của Bộ Ngoại giao cần có quốc huy để giao dịch đối ngoại, mẫu quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thông qua Hồi đó có 2 dấu Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khác nhau đồng thời cùng lưu hành: một con dấu lớn (đường kính mà chúng tôi đo được là 3,5cm) và một con dấu nhỏ (đường kính đo được là 3,2cm) Có thể trong điều kiện kháng chiến, Chủ tịch nước đã phải giữ riêng một con dấu Dấu của Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có đường kính đo được

Dấu của cơ quan cấp cao, không to hơn dấu của cơ quan cấp dưới

Như vậy, trong thời kỳ này chưa có qui định về kích cỡ các con dấu Các con dấu đều khắc đơn giản có 2 vòng tròn viền bên ngoài, chữ đều là chữ in chân phương, không có chân Duy có dấu của Chủ tịch Chính phủ là có 2 dấu gạch gang dưới 2 chữ CHỦ TỊCH, nét trên đậm, nét dưới thanh Hai từ CHỦ TỊCH khắc theo kiểu chữ in hoa, có chân

Mực dấu màu đỏ, trên nhiều văn bản, do chất lượng mực dấu kém nên đã bay màu, đặc biệt những con dấu đóng trên giấy pơ-luya

Trang 40

Mặc dù từ 1945 cho đến tận ngày nay, không có quy định nào của Nhà nước về cách đóng dấu treo (dấu đóng trên góc trái, phía trên của văn bản) nhưng trên những văn bản, đặc biệt là trên thư công thời kỳ này dấu treo được

sử dụng khá phổ biến

Trên một số thư, thiếp chúc mừng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đóng dấu tên Dấu tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh hình vuông cạnh 1,5cm x 1,5cm, xung quanh có một đường viền nhỏ, bên trong là chữ "Hồ Chí Minh"

Mãi đến 9-6-1955, sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, PTT mới ra Thông tư số 1519/P4A quy định hình thức con dấu dùng trong các cơ quan Nhà nước

1.3.3 Đặc thù về ngôn ngữ văn bản và văn phong trình bày

Ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản về TĐAQ trong phông PTT về cơ bản là bằng tiếng Việt Trước đó, ở Việt Nam đã từng tồn tại nhiều loại chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp và chữ Việt (chữ quốc ngữ)

Chữ quốc ngữ tuy có lịch sử hình thành trước đó đã lâu nhưng không được sử dụng chính thức trong các văn bản quản lý nhà nước Cùng với việc giành lại nền độc lập dân tộc, chữ Việt (quốc ngữ) được sử dụng làm chữ viết chính thức trong các văn bản quản lý nhà nước Tuy nhiên, do một số từ kỹ thuật, chuyên môn của tiếng Việt chưa có hoặc do thói quen, trong ngôn ngữ văn bản đôi khi còn dùng một số từ tiếng Pháp như trong bản sơ kết thành tích thi đua của xí nghiệp Bắc Sơn ngành doanh nghiệp quốc gia sản xuất:

Ban khai khoáng (công trường Đèo An và Phìa Khao) (section

d'extraction)

- Hiệu suất chung cho toàn ban: 36000 cân quặng (10 ngày)

- Hiệu suất cá nhân trung bình: 5 cân quặng (1 ngày)

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w