1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2010

175 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viê ̣c nghiên cứu quá trình vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở tỉnh Phú Thọ được đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa khoa học, t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI NGỌC HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO

CHỦ CHỐT TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2015

Formatted: Top: (Thick-thin small gap, Auto,

3 pt Line width, Margin: 1 pt Border spacing: ), Bottom: (Thin-thick small gap, Auto, 3 pt Line width, Margin: 1 pt Border spacing: ), Left: (Thick-thin small gap, Auto, 3 pt Line width, Margin: 4 pt Border spacing: ), Right: (Thin-thick small gap, Auto, 3 pt Line width, Margin: 4 pt Border spacing: )

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI NGỌC HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO

CHỦ CHỐT TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 62 22 56 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Đinh Xuân Lý

2 TS Lương Viết Sang

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu trong luận án trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Tác giả

Bùi Ngọc Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Đinh Xuân Lý, TS Lương Viết Sang, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em học tập, nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi tham gia học tập

và hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, các bạn cùng khóa NCS 2011 và các anh, chị em NCS khóa trước đã chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, hỗ trợ, giúp đỡ tôi để tôi có điều kiện thuận lợi tập trung vào học tập, nghiên cứu hoàn thành luận án

Cuối cùng xin được gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, những người đã động viên, khích lệ, chia sẻ những khó khăn để tôi toàn tâm tập trung học tập, nghiên cứu

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của luận án 8

6 Nguồn tài liệu 8

7 Kết cấu của luận án 9

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN LUẬN ÁN 10

1.1 Các công trình nước ngoài và trong nước nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 10

1.2 Những công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các địa phương trong nước 19

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đề tài và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án 23

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP TỈNH (1997-2000) 26

2.1 Yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở Phú Thọ khi tái lập tỉnh 26

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt 26

Trang 7

2.1.2 Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ chủ chốt ở Phú Thọ khi

tái lập tỉnh và những yêu cầu đặt ra về đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ chủ chốt 31 2.1.3 Quan điểm, chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 39

2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ chủ chốt của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

trong những năm 1997-2000 43

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ chủ chốt 432.2.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ chủ chốt và kết quả thực hiện 52

Tiểu kết chương 2 64 Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI

DƯỠNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ

VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN (2000 - 2010) 66 3.1 Yêu cầu mới đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ chủ chốt ở tỉnh Phú Thọ 66

3.1.1 Những nhân tố tác động mới đối với công tác đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ chủ chốt 663.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 71

3.2 Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm

2000 đến năm 2010 78

3.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh về công tác đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ chủ chốt 783.2.2 Chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và kết quả

công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt 87

Trang 8

Tiểu kết chương 3 102

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 104104105

4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm 1997 đên năm 2010 104104105

4.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân 104

4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 115

4.2 Một số bài học kinh nghiệm 118

Tiểu kết chương 4 134

KẾT LUẬN 135

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 138

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

PHỤ LỤC 151

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn cho thấy , trong sự vận động phát triển của các quốc gia , dân tộc trên thế giới, cán bộ luôn giữ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng về tổ chức, quản lý công việc nhà nước , thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Để có được một đô ̣i ngũ cán bô ̣ với trình đô ̣ , năng lực, phẩm chất cao , đòi hỏi công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bộ phải được quan tâm, phải được thực hiện mô ̣t cách căn bản, thiết thực và hiê ̣u quả

Mác - Lênin chỉ rõ, đối với mô ̣t bô ̣ máy nhà nước , muốn nâng cao năng lực quản lý thì đô ̣i ngũ cán bô ̣ phải có uy tín về chuyên mô n, phải tinh thông khoa ho ̣c quản lý , phải biết học tập và phải học nữa , học mãi Từ tổng kết kinh nghiê ̣m li ̣ch sử thế giới , Lênin khẳng đi ̣nh : “Trong li ̣ch sử chưa có mô ̣t giai cấp nào giành được quyền thống tri ̣ nếu nó không đào ta ̣o được ra trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị , những đa ̣i biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đa ̣o phong trào” [56, tr 473]

Sinh thời , Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác đào tạo , bồi dưỡng cán bô ̣ Người cho rằng, thông qua đào ta ̣o, bồi dưỡng mà trình đô ̣ của cán bộ được nâng cao , từ đó tránh được những sai lầm , khuyết điểm do tri thức khoa ho ̣c ha ̣n chế , hay nói chính xác hơn là tu ̣t hâ ̣u Đối với những cá n

bô ̣ giữ vai trò lãnh đa ̣o cần phải được đào ta ̣o , bồi dưỡng thường xuyên để có tri thức sâu, rô ̣ng trên nhiều lĩnh vực nhất là lĩnh vực mình đang quản lý, đảm nhâ ̣n, có như vậy mới hoàn thành tốt chức trách, nhiê ̣m vu ̣ được giao Hồ Chí Minh khẳng đi ̣nh : “Ho ̣c hỏi là mô ̣t viê ̣c phải tiếp tu ̣c suốt đời Suốt đời phải gắn liền lý luâ ̣n với công tác thực tế Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày càng đổi mớ i, nhân dân ngày càng tiến bô ̣ nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [62, tr 337]

Trang 10

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Viê ̣t Nam, Đảng luôn nhận thức sâu sắc vi ̣ trí, vai trò của cán bô ̣ không chỉ là người va ̣c h đường lối , chính sách, chủ trương cho nhân dân thực hiện mà còn là những người tuyên truyền , giáo dục quần chúng nắm vững các quan điểm , nô ̣i dung đường lối , chính sách pháp luật của Đảng , Nhà nước tạo ra sự nhất trí về tư tưởng Vì vậy, Đảng khẳng định đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ là khâu quan tro ̣ng trong công tác cán

bô ̣ gắn liền với công tác xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ được triể n khai từ Trung ương đến các đi ̣a phương trong cả nước góp phần quan tro ̣ng nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ; đô ̣i ngũ cán bô ̣ ngày càng trưởng thành và có những đóng góp to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và trong thời kỳ đổi mới

Đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH , HĐH, hô ̣i nhâ ̣p nền kinh tế

quốc tế, có nhiều yếu tố trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến tư tưởng , nhâ ̣n thức, đạo đức, phẩm chất của đội ngũ cán bô ̣, trong đó có cán bô ̣ của tỉnh Phú

Thọ Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường , quá trình mở cửa, toàn cầu hóa nền kinh tế đã tác đô ̣ng không nhỏ đến tâm lý , đạo đức, lối sống và thái

đô ̣ chính tri ̣ của cán bô ̣ nói chung và cán bô ̣ ch ủ chốt ở Phú Tho ̣ nói riêng Trong hoàn cảnh đó , Đảng bộ tỉnh Phú Tho ̣ đã quán triệt và triển khai thực hiện những chủ trương , chính sách của Đảng về đào tạo , bồi dưỡng cán bô ̣ vào điều kiện thực tiễn của địa phương , góp phần quan trọn g nâng cao chất lượng đội ngũ cán bô ̣ chủ chốt đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ

Từ sau tái lập cho đến nay, Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên các mặt của đời sống xã hội Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành quả đó là do Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt và coi đó là nhân tố quan tro ̣ng quyết đi ̣nh

Trang 11

thành công sự nghiệp CNH , HĐH của tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn

những hạn chế về chủ trương, chính sách, về chỉ đa ̣o thực hiê ̣n

Thực tiễn trên đòi hỏi Đảng bô ̣ tỉnh Phú Tho ̣ phải tăng cường lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt phù hợp với yêu cầu thực tế của địa phương để đô ̣i ngũ cán bô ̣ này thực sự phát huy vai trò, năng lực, tiên phong trong viê ̣c vâ ̣n du ̣ng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn đi ̣a phương, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

Viê ̣c nghiên cứu quá trình vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở tỉnh Phú Thọ được đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn sâu sắc, nhưng đến nay chưa có công trình nào được công bố, nghiên cứu mô ̣t cách hê ̣ thống, chuyên sâu, dưới góc độ

lịch sử Đảng về vấn đề này Vì vậy tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh

đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2010”

làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bô ̣ tỉnh Phú Tho ̣ vận dụng chủ trương của Đảng, lãnh đạo công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2010

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua các tư liệu lịch sử khôi phục tiến trình Đảng bô ̣ tỉnh Phú Tho ̣ lãnh đạo công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt trên địa bàn tỉnh Phú Thọ kể

từ khi tái lập tỉnh đến năm 2010 Trong đó, tập trung vào các vấn đề như:

Trình bày vị trí, vai trò công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt và thực tra ̣ng chất lượng cán bô ̣ chủ chốt ở tỉnh Phú Thọ khi mới tái lâ ̣p tỉnh và những vấn đề đặt ra

Trang 12

Làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bộ trong thời kỳ đổi mới, trực tiếp là từ năm 1997 đến năm 2010

Trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Phân tích, luận giải chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về

công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt và quá trình Đảng bộ tỉnh chỉ đạo thực hiện công tác này từ năm 1997 đến năm 2010

Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và rút ra một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đa ̣o công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ kể từ khi tái lập tỉnh đến năm 2010

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những chủ trương và sự chỉ đạo thực

hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2010

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

đối với công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt cấp tỉnh , cấp huyện, cấp

cơ sở, trên các mặt như: xây dựng quy hoạch , kế hoạch cử cán bộ đi đào tạo , bồi dưỡng; xây dựng cơ chế chính sách, kinh phí cho cán bộ đi học; nội dung, phương thức, phương pháp đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt

Về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú

Thọ Tuy nhiên, để làm rõ hơn kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, luận án có liên hệ với chủ trương về công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt của tỉnh Vĩnh Phúc - là tỉnh cùng được tái lập vào năm 1997, trên cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú cũ

Về thời gian nghiên cứu: Luận án lấy mốc thời gian từ năm 1997, là năm

Trang 13

tỉnh Phú Thọ được tái lập, vừa là năm tỉnh Phú Thọ tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV Đến năm 2010, là thời điểm kết thúc mười năm đầu của thế kỷ XXI, là năm diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp luận sử học

- Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó Ngoài ra còn sử dụng một số

phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học (bằng phiếu xin ý kiến và phỏng vấn trực tiếp) Các phương pháp này được sử dụng phù hợp với yêu cầu của từng nội dung luận án

5 Đóng góp của luận án

- Luận án hệ thống hoá tư liệu về quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt; làm rõ vai trò, kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt tại địa phương từ năm 1997 đến năm 2010

- Thông qua các phân tích, đánh giá và các bài học kinh nghiệm được đúc kết, Luận án gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ chủ chốt

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu , giảng dạy

liên quan đến lịch sử lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bô ̣ trong thời kỳ đổi mới

6 Nguồn tài liệu

Để thực hiện luận án, tác giả dựa vào các nguồn tài liệu như sau:

Trang 14

- Mác-Ănghen-Lênin toàn tâ ̣p; Hồ Chí Minh toàn tập

- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Văn kiện của Đảng bô ̣ tỉnh Phú Tho ̣

- Các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh

- Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đề tài luận án đã được công bố; các luận văn, luận án, các đề tài khoa học đã được nghiệm thu

7 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần mở đ ầu, kết luận, danh mu ̣c công trình khoa ho ̣c của tác giả liên quan đến luâ ̣n án, danh mu ̣c tài liệu tham khảo và phu ̣ lu ̣c, luận án gồm 4 chương, 9 tiết

Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan luận án

Chương 2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt và sự chỉ đạo thực hiện trong những năm đầu tái lập tỉnh 1997-2000

Chương 3 Chủ trương về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và sự chỉ đạo thực hiện (2000 - 2010)

Chương 4 Nhận xét và bài học kinh nghiệm

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN LUẬN ÁN

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong thời gian qua đã có nhiều công trình, đề tài khoa học của các tác giả, tập thể tác giả trong nước và ngoài nước được công bố liên quan vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, được chia thành các nhóm công trình như:

1.1 Các công trình nước ngoài và trong nước nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Sách “Chính trị và kinh tế Nhật Bản” của tác giả Ôkuhura Yasuhiro,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Công trình đề cập những kinh nghiệm của Nhật Bản trong đào ta ̣o và bồi dưỡng cán bộ trên cơ sở đặc điểm xã hội của Nhật Bản , như: đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ được thực hiê ̣n tuần tự theo từng giai đoa ̣n ; mỗi công chức cán bô ̣ của Nhâ ̣t Bản thông qua kinh nghiê ̣m làm việc tại nhiều cơ sở khác nhau luôn nhạy cảm và thích ứng với mọi vị trí cũng như điều kiện công tác ; cán bộ mới ở các vị trí công tác cụ thể , được tham gia các lớp bồi dưỡng ở nhiều cấp khác nhau Cuốn sách cũng cho thấy trong đào tạo, bồi dưỡng cần cố gắng bảo tồn và phát huy yếu tố truyền thống dân tộc; thực hiện chế độ quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền; chú trọng xây dựng các phẩm chất, đặc biệt là phẩm chất trung thành của cán bộ; bảo đảm chế độ chính sách và tiền lương cho cán bộ

Cuốn sách “Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu” do Lê Tư

Vinh và Nguyễn Huy Quý dịch, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Cuốn sách trình bày các bài phát biểu của thủ tướng Lý Quang Diê ̣u về vấn đề xây dựng và quản lý kinh tế , ổn định chính trị, đào tạo và sử dụng nhân tài , Bài phát biểu về đào tạo và sử dụng nhân tài của thủ tướng Lý Quang Diệu cho thấy, Singapore là nước rất coi trọng vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài nhằm

Trang 16

phát huy cao độ tiềm lực con người cho sự nghiê ̣p phát triển đất nước Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiê ̣n theo hướng mỗi cán bô ̣ , công chức được phát triển tài năng riêng; tạo thói quen học tập suốt đời Singapore xây dựng chiến lược cán bộ thể hiện bằng kế hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo

kế nhiệm, bài bản, từ xa…

Bài viết “ Công tác đào tạo, bồi dưỡng phục vụ công tác quy hoạch cán

bộ”, của PGS, TS Tô Huy Rứa, bài in trong kỷ yếu hội thảo khoa học một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ, thuộc chương trình khoa học xã hội cấp

Nhà nước KHXH.05, Hà Nội 10-1998) Tác giả cho rằng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo , quản lý có tầm quan trọng đặc biệt Trong công tác cán bộ , công tác quy hoạch cán bộ là nền tảng , đào tạo bồi dưỡng cán bộ vừa là yêu cầu trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch là khâu cơ bản có tính chiến lược trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ cho tương lai Vì vậy, phải chọn cử đúng cán bộ thuộc diện quy hoạch đi đào tạo; đổi mới nội dung chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng

Cuốn sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, của PGS,

TS Nguyễn Trọng Bảo, NXB Giáo dục, Hà Nội,1998 Trong đó các tác giả phân tích những xu thế lớn của thời đại đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội, tới việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh Đặc biệt các tác giả đã khảo cứu kinh nghiệm truyền thống của Việt Nam trong công tác cán bộ và kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của một số nước trên thế giới Từ đó, đề xuất với Đảng,

Nhà nước sớm cho nghiên cứu, ban hành “Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức” và “Chiến lược nhân tài”, trong đó có “đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ quản lý kinh doanh tài năng” theo tinh thần NQTW 3 khóa VIII

(6/1997) để đưa Việt Nam sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 17

Công trình: “Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta” của tác giả Bùi Tiến Quý, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Tác giả phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và những yếu tố cần thiết để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, hành chính trong sạch, vững mạnh như: công chức phải có trình

độ học vấn và phải có kiến thức quản lý Nhà nước; phải có trình độ cử nhân; sau khi trở thành công chức hành chính phải được đào tạo hoặc bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước Qua cuốn sách tác giả cho thấy công chức hành chính muốn trở thành người cán bộ tốt, người lãnh đạo, quản lý giỏi thì phải được đào tạo, bồi dưỡng theo trình độ chuyên môn phù hợp

Cuốn sách “Đào tạo người lãnh đạo hiệu quả” của tiến sỹ tâm lý học

người Mỹ Thomas Gordon (Người dịch: thạc sỹ Cao Đình Quát ), NXB Trẻ,

2001 Tác giả cuốn sách cho rằng công việc lãnh đạo rất quan trọng , có tính quyết đi ̣nh đến sự thành ba ̣i của cả hê ̣ thống nên phải đă ̣t công viê ̣c lã nh đa ̣o dưới ánh sáng của khoa ho ̣c Thông qua cuốn sách tác giả muốn nhấn mạnh rằng, lãnh đạo là một công việc đòi hỏi phải được học trước khi làm, nghĩa là muốn lãnh đạo tốt người cán bộ phải được đào tạo và bồi dưỡng một cách bài bản

Cuốn sách: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS,

TS Nguyễn Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm (chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Trên cơ sở quan điểm lý luận và tổng kết thực tiễn, các tác giả phân tích, lý giải, hệ thống các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; chỉ ra những nội dung cơ bản về tiêu chuẩn cán bộ Cuốn sách luận chứng các khâu, các bước, quy trình của công tác cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xác định yêu cầu chung về chất lượng của đội ngũ cán bộ

Việc nghiên cứu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng

Trang 18

đội ngũ cán bộ cũng được Đảng Nhân dân cách mạng Lào đặc biệt quan tâm Trong những năm gần đây, đã có những luận văn, luận án của các học viên Lào học tập nghiên cứu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong đó phải

kể đến Luận án tiến sĩ của tác giả Xinh Khăm - Phôm Ma Xây với đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Luận án phân tích

những vấn đề lý luâ ̣n và thực tiễn công tác đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ lãnh

đa ̣o, quản lý kinh tế của Lào Trình bày những vấn đề cơ bản về công tác cán

bộ cũng như chính sách đào tạo , bồi dưỡng cán bộ lãnh đa ̣o , quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào trong tình hình mới, cụ thể như: Xây dựng chiến lược và hoàn thiê ̣n quy hoa ̣ch ; có cơ chế, chính sách đối với cán bộ lãnh đạo , quản lý kinh tế ; đổi mới phương thức đào ta ̣o , bồi dưỡng theo hướng gắn với nhu cầu thực tiễn; tâ ̣p trung xây dựng đô ̣i ngũ cán bô ̣ lãnh

đa ̣o có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu mới của nền kinh tế

Bài viết của tác giả Tôn Hiểu Quán “Ra sức tăng cường ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt”

đăng trong kỷ yếu hội thảo Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2004 Tác giả đã phân tích, luận giải kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng Đảng cầm quyền và sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp thời kỳ Trung Quốc cải cách ,

mở cửa, hội nhập Quốc tế

Công trình nghiên cứu “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước

ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp” do TS Lê Phương Thảo - PGS,TS Nguyễn Cúc - TS Doãn Hùng (đồng

chủ biên), NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005 Công trình bao gồm bốn

Trang 19

phần: Phần thứ nhất: Luận cứ khoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; phần thứ hai:

Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam - thực trạng và giải

pháp; phần thứ ba: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trên một số lĩnh vực chuyên môn - thực trạng và giải pháp; Đặc biệt, phần thứ tư - Luận bàn

về các phương pháp nhằm đổi mới và nâng cao hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đáng chú ý là, trong công trình nghiên cứu này có bài viết của TS Nguyễn

Hữu Ngà “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa” Tác giả phân

tích thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số ; đưa ra các kiến nghị , giải pháp đổi mới công tác đào tạo , bồi dưỡng cán bô ̣ như: đổi mới công tác quy hoa ̣ch, kế hoa ̣ch đào tạo, bồi dưỡng cán bô ̣ người dân tô ̣c thiểu số ; đổi mới nô ̣i dung , chương trình và phương hướng đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ người dân tô ̣c thiểu số; xây dựng chế độ chính sách phù hợp

để cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia giải quyết công việc của Đảng, chính quyền, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước, nhất

là vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” của

Bùi Đình Phong, NXB Lao động, Hà Nội, 2006 Trong sách này, tác giả đi sâu nghiên cứu cán bộ và công tác cán bộ, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, nhấn mạnh quan điểm “Cán

bộ là cái gốc của mọi công việc Công việc thành công hay thất bại đều do cán

bộ tốt hay kém” Với vai trò, vị trí to lớn như thế, người cán bộ phải luôn tự rèn luyện mình với tư cách là chủ thể Tác giả tập trung phân tích yêu cầu của

Hồ Chí Minh đối với người cán bộ cách mạng trên các lĩnh vực, từ đạo đức, rèn luyện năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của

Trang 20

Đảng đến việc nâng cao trình độ lý luận chính trị, văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ; phải coi huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Cuốn sách của tác giả Hồ Vĩnh Hoa và Ngô Quốc Diệu “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước”, NXB Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Thông qua cuốn sách tác giả nhấn mạnh công tác cán bộ, công tác nhân tài là kế sách trăm năm để Trung Quốc chấn hưng đất nước Cuốn sách cũng cho thấy các vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ theo phương châm “bốn hóa” (cách mạng hóa, trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa) nguyên tắc, tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới; công tác tuyển chọn, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng cán bộ; vấn đề về tôn trọng trí thức, trọng dụng nhân tài

Cuốn sách “Người đảng viên tốt, đào tạo tinh hoa và xây dựng Nhà nước Trung Quốc hiện nay” của tác giả Frank Pieke, NXB Cambridge University

Press, 2009 Thông qua phỏng vấn lấy ý kiến đúc rút kinh nghiệm của bản thân trong quá trình được đào tạo, bồi đưỡng để trở thành người cán bộ ưu tú, tác giả phân tích thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở Trung Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XXI Qua đó cho thấy đào tạo, giáo dục cán bộ là yếu tố thiết yếu của hệ thống quản lý cán bộ Trung Quốc

và sự tác động của các khoá đào tạo được thiết kế chuyên biệt cho từng đối tượng theo nhu cầu chính trị và chuyên môn của cán bộ

Cuốn sách “Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài” của

Đức Vượng, NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2010 Tác giả trình bày quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ , khẳng đi ̣nh cán bộ là cái gốc của mọi công việc Bất cứ chính sách, công tác gì nếu cán bộ tốt thì thành công, vì vậy phải coi trọng vấn đề đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ làm sao cho đúng, cho tốt Theo tác giả, muốn đào ta ̣o tốt thì phải phát hiê ̣n người có thể làm được cán bộ , từ đó có kế hoa ̣ch đưa ho ̣ đi đào ta ̣ o ta ̣i các trường , lớp

Trang 21

chính quy, hoă ̣c có thể bổ túc kiến thức thường xuyên cho cán bô ̣; sau khi đào tạo xong phải căn cứ vào kết quả đào tạo , năng lực, sở trường của mỗi người

để bố trí, sử du ̣ng cho đúng, cho tốt

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung biên soạn cuốn sách “Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước

ta hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Cuốn sách làm rõ việc

nghiên cứu, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách, đặc biệt phong cách tư duy Hồ Chí Minh là yêu cầu rất quan trọng đối với tất cả cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Tác giả đã khái quát, hệ thống những nội dung cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh; khẳng định muốn học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh, Đảng cần phải đưa phong cách tư duy Hồ Chí Minh trở thành nội dung chính trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt các cấp nói riêng

Đề tài khoa học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của Chương trình quốc gia

về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị”, mã

số: ĐTĐL- 2010/G48, do Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Mục đích của đề tài là xây dựng các luận cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị Nội dung chính của đề tài gồm: 1) Làm rõ những căn cứ lý luận về cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; 2) Đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3

khóa VIII (6/1997) về Chiến lược cán bộ Nhóm tác giả đề tài nhận định công

tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam tuy đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; chương trình đào tạo nặng về lý thuyết, chưa thực sự gắn với

Trang 22

thực tiễn, chưa giúp cho người học là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp vận dụng hợp lý vào môi trường công tác; đối tượng đào tạo còn dàn trải, chưa tập trung Việc mở lớp và chương trình đào tạo, bồi dưỡng chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Chất lượng đội ngũ giảng viên có phần giảm tâm huyết… Trên

cơ sở làm rõ kết quả và những hạn chế, tập thể tác giả đề xuất những định hướng cơ bản về chủ trương và giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị như: Đổi mới chương trình đào tạo, đào tạo gắn liền với từng nhóm đối tượng cụ thể; đổi mới chương trình đào tạo lý luận chính trị theo hướng phân định rõ ràng nội dung giữa các chương trình cao cấp, trung cấp và sơ cấp; chuẩn hóa các chức danh để đào tạo; tổ chức điều tra xã hội học về kết quả đào tạo từ đó rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm tiếp tục thực hiện chiến lược cán bộ trong những năm tiếp theo

Trong cuốn sách “ Những giải pháp và điều kiê ̣n thực hiê ̣n phòng chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên” do PGS.TS Vũ

Văn Phúc và PGS TS Ngô Văn Tha ̣o (đồng chủ biên ), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Các tác giả làm sáng tỏ cơ sở lý luâ ̣n của viê ̣c phòng chống suy thoái tư tưởng chín h tri ̣, đa ̣o đức, lối sống cán bô ̣, đảng viên nhấn ma ̣nh công tác đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ phải chủ đô ̣ng hơn về quy hoạch , kế hoạch, đổi mới nô ̣i dung , hình thức đào tạo , tăng cường các lớp đào ta ̣o tâ ̣p trung, các lớp đào tạo cán bộ nguồn , cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số , cán

bô ̣ trẻ, cán bộ xuất thân từ công nhân

Cuốn sách “Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam” của TS Phạm Minh Anh,

NXB Chính trị Quốc gia Sự thật , Hà Nội, 2011 Công trình giúp nhận dạng thực trạng, vai trò và các yếu tố tác động đến công tác đào tạo cán bộ quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Viê ̣t Nam hiện nay

Trang 23

Trên cơ sở đó đề cập một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả mục tiêu thực hiện bình đẳng giới của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài

Cuốn sách: “Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ , công chức, viên chức nhà nước” của TS Trần Đình Thắng , NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội,

2013 Công trình phân tích , luâ ̣n giải các vấn đề lý luâ ̣n và thực tiễn , đồng thời tổng kết quá trình li ̣ch sử Đảng lãnh đa ̣o xây dựng đô ̣i ngũ cán bô ̣ công chức, viên chức nhà nước từ khi thành lâ ̣p nước Viê ̣t Nam dân chủ cô ̣ng hòa cho đến nay Theo tác giả, muốn xây dựng nền công vu ̣ chuyên nghiê ̣p tiên tiến, hiê ̣n đa ̣i với đô ̣i ngũ cán bô ̣ công chức , viên chức Nhà nước “vừa hồng , vừa chuyên” thì phải đổi mới công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ theo hướng thiết thực có hê ̣ thống, đồng thời phải xây dựng phẩm chất đa ̣o đức , lối sống trong sạch, lành mạnh cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

Bài “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ góc nhìn chuỗi kết quả và chỉ số đánh giá”, của tác giả Đoàn Văn Dũng, tạp chí lý luận chính trị, số 4-

2014 Bài viết đề cập những nguyên nhân hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong thời gian qua, như: Chưa gắn với mục tiêu phát triển năng lực, nên phương thức đào tạo hiện nay chủ yếu theo chức nghiệp, nhằm vào việc tiêu chuẩn hóa ngạch bậc; tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa gắn với phát triển năng lực, trình độ Từ đó, tác giả cho rằng cần có những chỉ số đánh giá trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Nhìn chung, các công trình khoa học trong nước và nước ngoài nêu trên đã tiếp câ ̣n các khía ca ̣nh khác nhau của công tác cán bô ̣ và sự cần thiết phải đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bộ Qua đó cho thấy bất kỳ quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển đất nước nhất thiết phải quan tâm đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣, phải coi đó là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, bởi vì trong mỗi giai đoa ̣n, thời kỳ khác nhau thì yêu cầu về đô ̣i ngũ cán bô ̣ , về trình đô ̣, năng lực của đô ̣i ngũ

Trang 24

cán bộ có sự khác nhau Tăng cường thường xuyên công tác đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ là giải pháp quyết định nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

1.2 Những công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

ở các địa phương trong nước

Công trình “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt của hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố” (qua kinh nghiệm Hà Nội) của tác giả Cao

Khoa Bảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Cuốn sách phân tích vị trí, vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị, chủ yếu là cấp tỉnh, thành phố; xác định phương hướng và các giải pháp chủ yếu để xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Cuốn sách “Phong cách làm viê ̣c của người bí thư huyê ̣n ủy hiê ̣n nay qua khảo sát vùng đồng bằng Sông Hồng ” do TS Ngô Kim Ngân và TS Lâm

Quốc Tuấn (đồng chủ biên ), NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2010 Công trình đề câ ̣p đến mô ̣t nô ̣i dung quan tro ̣ng trong xây dựng đô ̣i ngũ cán bô ̣ lãnh

đa ̣o cấp huyê ̣n, đó là xây dựng phong cách làm viê ̣c cho người bí thư huyê ̣n

ủy và cán bộ chủ chốt Tác giả nhấn ma ̣nh: xây dựng và đổi mới phong cách làm việc của người bí thư huyện ủy phải đổi mới nội dung công tác đào tạo , nâng cao trình đô ̣ văn hóa lãnh đạo cho đội ngũ bí thư huyện ủy trong hệ thống chính trị, như: Nâng cao chất lượng đào ta ̣o, bồi dưỡng đô ̣i ngũ bí thư huyê ̣n ủy

và cán bộ dự nguồn, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ này thực hiện tốt việc tự đào ta ̣o, bồi dưỡng; xây dựng kế hoa ̣ch đào ta ̣o, bồi dưỡng theo hướng bổ sung trình độ lý luận chính trị , quản lý hành chính nhà nước ; câ ̣p nhâ ̣t kiến thức chuyên môn, nghiệp vu ̣ cho đô ̣i ngũ bí thư huyê ̣n ủy theo hình thức cử đi ho ̣c tâ ̣p trung hoă ̣c vừa ho ̣c, vừa làm

Bên cạnh đó, còn có các bài viết đề cập vấn đề vâ ̣n du ̣ng chủ trương của

Trang 25

Đảng về công tác cán bô ̣ và đào tạo , bồi dưỡng cán bộ vào từng đi ̣a phương

Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 6-2013

Đa ̉ng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ , công chức, viên chức trong tình hình hiê ̣n nay, của tác giả Hà Vũ Tuyến, Tạp chí Lịch sử

Đảng, số tháng 7- 2013

Xây dựng đội ngũ cán bộ tỉnh Điê ̣n Biên trong tình hình hiê ̣n nay, của tác

giả Lê Hương Giang, Tạp chí Li ̣ch sử Đảng, số tháng 7-2013…

Các bài tạp chí nêu trên đề câ ̣p công tác cán bô ̣ nói chung , đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng; nhấn ma ̣nh yêu cầu về trình đô ̣, năng lực cũng như kỹ năng lãnh đa ̣o, quản lý của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các địa phương cụ thể

Từ các bài viết cho thấy , trong những năm trước mắt cần nhanh chóng khắc phục những hẫng hu ̣t về kỹ năng quản lý, điều hành cho cán bô ̣, công chức để

họ có khả năng thực thi hiệu quả các nhiệm vụ công vụ , trong đó phải chú ý đào ta ̣o, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đa ̣o , quản lý; kỹ năng nghiên cứu, phân tích

và áp dụng chính sách công; kỹ năng giao tiếp và tổ chức sự kiện nhà nước và các kỹ năng khác trong quản lý xã hội hiện đại

Luận án Tiến sĩ khoa học chính trị “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

Trang 26

chủ chốt cấp Huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay”, của tác

giả Nguyễn Thành Dũng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012 Từ phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp Huyện ở các tỉnh Tây Nguyên, tác giả luận án xác định một trong những giải pháp cần thực hiện để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phải xây dựng chương trình đào tạo theo một hệ thống lôgic khoa học gắn với thực tiễn; nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội phù hợp với đối tượng đào tạo; chú trọng bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của cán bộ chủ chốt để giúp họ có đủ bản lĩnh, tri thức, kinh nghiệm từ đó giải quyết tốt các công việc được giao

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử “Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp Quận, Huyện từ năm

1997 đến năm 2005” của tác giả Lê Văn Chánh, Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội, 2007 Tác giả đã phân tích chủ trương

của Đảng về công tác cán bộ và sự vận dụng của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng

vào thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp quận, huyện của thành phố Đà Nẵng trước yêu cầu mới Trên cơ sở đó đánh giá kết quả và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng trong quá trình vận dụng chủ trương của Đảng vào chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở địa phương

Về cơ bản các công trình của các tác giả trên đều có đề cập chủ trương của Đảng về công tác đào tạo , bồi dưỡng cán bô ̣ và sự vâ ̣n du ̣ng chủ trương của Đảng vào điều kiê ̣n, hoàn cảnh cụ thể của từng đi ̣a phương; các công trình đều đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo , bồi dưỡng cán bô ̣ Đó là

Trang 27

đào tạo , bồi dưỡng cán bô ̣ theo nhu cầu xã hô ̣i ; xây dựng chương trình, phương pháp, nội dung đào tạo gắn với đòi hỏi thực tiễn, giúp cho việc đào tạo gắn liền với yêu cầu thực tế tại địa phương

Liên quan trực tiếp vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở tỉnh Phú Thọ, cũng có những công trình, bài viết như:

“Phú Thọ phát huy quy chế dân chủ, xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng vững mạnh”, của tác giả Nguyễn Doãn Khánh, đăng trên Báo điện tử Phú Thọ

ngày 25/02/2011 Tác giả bài viết cho rằng, để đảm bảo cán bộ đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, tỉnh Phú Thọ phải coi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài; quan điểm nhất quán, chỉ đạo xuyên suốt của Đảng bô ̣ Tỉnh là tăng cường đào tạo chuyên sâu để tạo nguồn cán bộ đạt chuẩn và trên chuẩn, có cơ chế khuyến khích cán bộ tự giác học tập, quan tâm, lựa chọn người có tài, có tâm huyết để cử đi đào tạo Bên cạnh đó, Đảng bộ Phú Thọ từng bước chỉ đạo thí điểm và mở rộng hình thức thi tuyển, kiểm tuyển cán bộ trưởng phòng cấp sở , huyện và thị xã tạo cơ hội cho cán bộ trẻ, tài năng, tham gia bộ máy quản lý, tạo thêm dự nguồn để bổ sung cho quy hoạch cán bộ các cấp

Ngoài ra còn có một số bài viết và báo cáo khác như: “Phú Thọ gắn công tác luân chuyển với quy hoạch, đào tạo cán bộ”, của trường Chính trị tỉnh

Phú Thọ, đăng trên kỷ yếu hội thảo phục vụ đề tài nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu đề xuất một số những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ hệ thống chính trị cơ sở (xã, phường, thị trấn) của tỉnh Phú Thọ giai đoạn mới (2005-2010)”

Báo cáo toàn diện kết quả thực hiện đề tài khoa học “Nghiên cứu , đề

xuất mô ̣t số giải pháp nâng cao chất lượng, hiê ̣u quả đào ta ̣o, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ hệ thống chính trị cơ sở (xã, phườ ng, thị trấn) của tỉnh Phú Thọ trong giai đoa ̣n mới (2005-2010)” do Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ chủ trì (2004)

Trang 28

Tóm lại, các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học thuộc hai nhóm

nghiên cứu nêu trên, đã đề cập khá cơ bản về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; bước đầu đề ra những giải pháp cơ bản cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đề tài và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án

Qua khảo cứu các công trình trong nước và nước ngoài đã công bố cho thấy, phương pháp tiếp cận nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ yếu dưới góc độ chuyên ngành chính trị học và xây dựng Đảng, mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu, dưới góc độ lịch sử Đảng về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Cụ thể, các công trình phần lớn tập trung khảo sát thực trạng , và đề

câ ̣p đến mô ̣t số giải pháp trước mắt, mà chưa tập trung phân tích, luận giải sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng nói chung, các đảng bộ địa phương nói riêng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; cũng chưa đưa ra được những đánh giá thuyết phục về kết quả triển khai thực hiện chủ trương của Đảng đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, để từ đó đúc kết những kinh nghiệm lịch sử về lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đây là những vấn đề mà tác giả luận án sẽ phải quan tâm khi thực hiện đề tài

Trên cơ sở nhâ ̣n thức rõ tầm quan tro ̣ng về trình đô ̣ và năng lực của đô ̣ i ngũ cán bộ, cũng như vai trò , vị trí, ý nghĩa của công tác đào tạo , bồi dưỡng đối với viê ̣c xây dựng và phát triển đô ̣i ngũ cán bô ̣ , một số công trình có đề

cập ở mức độ nhất định quan điểm , chủ trương của Đảng về đào tạo , bồi

dưỡng cán bô ̣ Những nội dung này sẽ được tác giả luận án tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu thực hiện đề tài luận án

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu của người nước ngoài về sự cần

Trang 29

thiết phải đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ ở một số nước, đặc biệt là ở Trung Quốc

và Lào, đã giúp cho tác giả tiếp cận nghiên cứu đề tài dưới nhiều chiều cạnh

và có cơ sở để đối chứng khi đánh giá thành tựu, hạn chế

Tóm lại, các công trình khoa học nêu trên dù nghiên cứu ở những góc độ khác nhau và giới hạn , phạm vi khác nhau , nhưng đều nhấn ma ̣nh vai trò , vị trí quan tro ̣ng của viê ̣c nâng cao chất lượng đô ̣i ngũ cán bô ̣ thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng từ đó đề xuất các giải pháp quan tro ̣ng để nâng cao hiệu quả công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán bô ̣ nói chung và cán bộ chủ chốt các cấp nói riêng Đây

là những tài liệu tham khảo quý cho quá trình thực hiện luận án của tác giả Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, mặc dù đã có một vài bài viết liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ, nhưng cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào được công bố đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu, dưới góc độ lịch sử Đảng, về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2010 Đây là một khoảng trống, mà tác giả luận án sẽ phải tập trung nghiên cứu giải quyết trong luận án của mình

Cụ thể, về phương pháp tiếp cận đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là dưới góc độ mã ngành lịch sử Đảng; về nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu đề tài, ngoài nguồn tài liệu đã được công bố, tác giả luận án đặc biệt chú ý nguồn tư liệu của địa phương (nhất là những tư liệu đang còn lưu trữ ở các đơn vị trong tỉnh như Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh…); bên cạnh đó, tác giả thực hiện điều tra xã hội học thông qua hai hình thức: Phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp

Về nội dung, luận án sẽ tập trung làm rõ những vấn đề như:

1) Quan điểm, chủ trương củ a Đảng đối với công tác đào ta ̣o, bồi dưỡng cán

bô ̣ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đổi mới (đặc biệt là từ năm 1997 đến năm 2010);

2) Phân tích, luận giải chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

Trang 30

về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt và quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo thực hiện công tác này từ năm 1997 đến năm 2010;

3) Làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế;

4) Đúc kết những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đa ̣o công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt, kể từ sau khi tái lập tỉnh, đến năm 2010

Trang 31

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP TỈNH

(1997-2000) 2.1 Yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở Phú Thọ khi tái lập tỉnh

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và những vấn

đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được thành lập từ năm 1891 dưới thời Pháp thuộc Đầu năm 1968, Phú Thọ chính thức hợp nhất với Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú Sau 29 năm hợp nhất, ngày 6/11/1996, Quốc hội

khóa IX, kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết về việc chia cắt và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và

Phú Thọ Ngày 12/12/1996, BCH Trung ương Đảng ra Quyết đi ̣nh số 117 - QĐNS/TW về viê ̣c thành lâ ̣p Đảng bô ̣ Phú Tho ̣ 1

Ngày 1/1/1997, tỉnh Phú Thọ chính thức đi vào hoa ̣t đô ̣ng Ngày

09/8/1997, Phú Thọ được công nhận là tình m iền núi theo Quyết đi ̣nh số

68/UBQĐ của Bộ trưởng - Chủ nhiệm ủy Ban dân tộc Miền núi về viê ̣c công

nhận các xã, huyê ̣n, tỉnh là miền núi, vùng cao

Đặc điểm vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Phú Thọ cách thủ đô Hà Nội 80 km, phía Bắc Phú Thọ giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Yên Bái, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Sơn La, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình Phú Thọ nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Với vị trí như vậy Phú Thọ là địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc, là cầu nối giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh

1 Khi tha ̀nh lâ ̣p Đảng bô ̣ Phú Thọ có 17 đảng bô ̣ trực thuộc , có 58.268 đảng viên sinh hoa ̣t ta ̣i 779 tổ chức cơ sở Đảng

Trang 32

miền núi Tây Bắc, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La…

Với diện tích tự nhiên là 3.533,4 km2, Phú Thọ chiếm 1,2% diện tích cả nước, xếp thứ 10/11 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ và xếp thứ 38/63 tỉnh, thành phố cả nước Là nơi hợp lưu của ba con sông lớn sông Đà, sông Hồng, sông Lô, Phú Thọ có điều kiện phát triển giao thông đường thủy và hệ thống cảng sông như cảng An Đạo, Cảng Việt Trì…

Đặc điểm kinh tế, xã hội

Phú Thọ có thế mạnh về tài nguyên đất đai và đồi rừng Hiện nay, Phú Thọ mới sử dụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông-lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha

Phú Thọ là một trong những tỉnh hình thành khu công nghiệp sớm nhất

cả nước với sự ra đời của khu công nghiệp Việt Trì năm 1962 Tiếp đó hàng loạt nhà máy được xây dựng, phát triển và tồn tại đến ngày nay như Công ty giấy Bãi Bằng, Nhà máy Z121, Công ty Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao, Nhà máy sản xuất đường, mì chính; phía Bắc của Tỉnh có khu chế biến chè, sản xuất giấy, sản xuất xi măng

Theo quyết định số 676/QĐ - BNV, ngày 18/6/2008 về phân loại hành chính, Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 277 xã Thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), thị xã Phú Thọ, huyện Hạ Hoà, huyện Thanh Ba, huyện Đoan Hùng, huyện Phù Ninh, huyện Lâm Thao, huyện Tam Nông, huyện Thanh Thuỷ, huyện Yên Lập, huyện Thanh Sơn, huyện Tân Sơn, huyện Cẩm Khê Trong tỉnh Phú Thọ có 10/13 huyện miền núi, 214/277 xã, thị trấn miền núi Diện tích miền núi là 3.227 km2 chiếm 92,3% diện tích toàn Tỉnh

Sau khi tái lâ ̣p , dân số tỉnh Phú Tho ̣ là 1.261.900 người, mật độ dân số trung bình 373 người/km2 Toàn tỉnh có 21 dân tộc đang sinh sống, trong đó

có 4 dân tộc Mường, Dao, Cao Lan, Mông sống tập trung thành làng, bản riêng, bản sắc văn hoá, phong tục tập quán khá đậm nét Ngoài ra, các dân tộc

Trang 33

sinh sống xen kẽ ở các xã, phường, thị trấn nhất là ở các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Thuỷ, Đoan Hùng

Dân số miền núi gần 950.000 người, chiếm 74% dân số toàn Tỉnh; dân tộc thiểu số có gần 227.000 người chiếm 21,5% dân số miền núi và chiếm 15% dân số toàn Tỉnh Trong số các dân tộc thiểu số, dân tộc Mường chiếm 13,62%, dân tộc Dao chiếm 0,92%, dân tộc Sán Chay chiếm 0,22%, dân tộc Tày chiếm 0,15%, dân tộc Mông chiếm 0,05%, dân tộc Thái chiếm 0,04%, dân tộc Nùng chiếm 0,03%, dân tộc Hoa chiếm 0,02%, dân tộc Thổ chiếm 0,01%, dân tộc Ngái chiếm 0,008%

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có hai tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Công giáo với tổng số tín đồ chiếm khoảng 12,5% dân số toàn tỉnh Những năm gần đây, đặc biệt là từ khi tỉnh triển khai thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh đã đi vào nền nếp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh

Tuy nhiên, Phú Thọ vẫn tồn tại một số tệ nạn xã hội như , nghiện hút, buôn bán ma túy , mại dâm những tệ nạn đó có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây Bên cạnh đó nhiều tập tục, hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, nếp sống sinh hoạt thiếu vệ sinh ở một số dân tộc vùng sâu, vùng xa vẫn còn phổ biến

Phú Thọ gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước với trên 200 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đều có khả năng khai thác phục vụ cho tham quan, du lịch Là nơi lưu giữ những di sản văn hoá truyền thống như Khu di tích lịch sử Đền Hùng và Đền Mẫu Âu Cơ mang tầm quốc gia và nhiều địa danh du lịch nổi tiếng khác2

ha rừng nguyên sinh), vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ, đình Lâu Thượng, Hùng Lô, Đào Xá,

Trang 34

Trong những năm gần đây nhiều nét văn hóa đặc sắc của Phú Thọ đã được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là văn hóa phi vật thể của nhân loại như: Hát Xoan Phú Thọ, Cồng chiêng dân tộc Mường và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Các lĩnh vực văn hóa của tỉnh cho đến nay vẫn đang tiếp tục phát triển, từng bước kết hợp hài hòa với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở tỉnh Phú Thọ

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở Phú Thọ đã tác động trực tiếp đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh nói chung và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt nói riêng, thể hiện trên các mặt như:

Về thuận lợi

Với vị trí cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, Phú Thọ có nhiều điều kiện thuận lợi hợp tác với các cơ quan, viện nghiên cứu Trung ương và Hà Nội trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Bên cạnh đó cũng thuận lợi cho việc thu hút nguồn nhân lực được đào tạo chất lượng ở các địa phương khác vào làm việc tại các cơ quan nhà nước của tỉnh Phú Thọ là trung tâm của tiểu vùng kinh tế Tây Bắc và Đông Bắc Bộ, là địa bàn tốt để đội ngũ cán bộ sớm trưởng thành thông qua hoạt động thực tiễn ở một địa bàn miền núi Từ đó các cơ quan, tổ chức, cán bộ có điều kiện thuận lợi trong việc đánh giá, phát hiện những cán bộ có năng lực, bản lĩnh để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng họ trở thành những cán bộ có trình độ chuyên môn vững và năng lực quản lý điều hành công việc

Do có nhiều lợi thế, và tích lũy được kinh nghiê ̣m trong phát triển kinh tế

- xã hội trên địa bàn của một tỉnh trung du miền núi , nên sau khi tái lập tỉnh,

kháng chiến: chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà) Vạn Thắng (Cẩm Khê), tượng đài kháng chiến sông Lô (Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông), Chu Hoá (Lâm Thao)…

Trang 35

kinh tế Phú Thọ được đánh giá là tăng trưởng khá , tạo ra thế và lực mới cho địa phương Thu ngân sách có chiều hướng tăng năm “ 2010 tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 2.000 tỷ đồng, tăng 2,63 lần so với năm 2005, bình quân tăng 21,3%/năm” [28, tr.12], đây là điều kiện tốt để Phú Thọ thực hiện chính sách cán bộ Có nguồn tài chính chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đẩy mạnh thực hiện chính sách thu hút, ưu đãi người tài, người có trình độ chuyên môn cao về công tác tại các cơ quan trong tỉnh Mặt khác, Phú Thọ là địa phương có truyền thống hiếu học Hàng năm có nhiều học sinh của Phú Thọ thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế Đây là điều kiện thuận lợi để Phú Thọ xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ của tỉnh; là môi trường tốt để phát triển giáo dục nói chung và triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng

Về khó khăn

Bên cạnh mặt tích cực, từ vị trí địa lý ở gần thủ đô, cũng phát sinh xu hướng người Phú Thọ, sau khi được đào tạo muốn ở lại Hà Nội lập nghiệp, nơi có môi trường làm việc đa dạng, cơ hội tìm kiếm việc làm nhiều hơn, với thu nhập tốt hơn Điều này gây khó khăn cho việc thu hút người giỏi về công tác ở tỉnh Phú Thọ Một nguyên nhân khác là ở Phú Thọ chưa có các nhà khoa học tên tuổi, các chuyên gia khoa học đầu ngành để bồi dưỡng và dẫn dắt thế

hệ trẻ, và quy tụ đội ngũ tri thức

Hạ tầng kinh tế - kỹ thuật còn thấp kém; hạn chế về giao thương kinh tế, tính biệt lập khép kín của cư dân một số dân tộc thiểu số và những vấn đề xã hội khác chưa được giải quyết là những khó khăn, cản trở Phú Thọ thúc đẩy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và thu hút nguồn cán bô ̣ về Tỉnh công tác;

Ở một số huyện miền núi đặc biệt là huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập dân

cư tập trung thưa thớt, địa bàn đi lại khó khăn ảnh hưởng đến phát triển giáo

Trang 36

dục, đào tạo nâng cao dân trí, hạn chế tạo nguồn cán bộ

Những tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu, những vấn đề về dân tộc, tôn giáo đang có những diễn biến phức tạp trong những năm gần đây đã tác động không nhỏ đến tâm lý, tình cảm của người dân và đội ngũ cán bộ Đây cũng là những trở ngại cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh

Từ những thuận lợi và khó khăn của đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội đã tác động đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặt ra yêu cầu đối với Đảng

bộ tỉnh Phú thọ phải có chủ trương, giải pháp thích hợp, hiệu quả trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh

2.1.2 Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ chủ chốt ở Phú Thọ khi tái lập tỉnh và những yêu cầu đặt ra về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt

Quan niệm về cán bộ, cán bộ chủ chốt

Khái niệm cán bộ được sử dụng phổ biến ở các nước XHCN Ở Việt Nam, năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lê ̣nh ban hành quy chế công chức Khái niệm cán bộ và khái niệm công chức được hiểu với ý nghĩa: cán

bộ là những người làm việc trong hệ thống tổ chức Đảng, đoàn thể; công chức

là những người làm việc trong hệ thống bộ máy Nhà nước

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” khi nói về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [63, tr.269]

Trong luật cán bộ công chức, do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2008, tại điều 4, ghi:

1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực

Trang 37

thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

2 Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam được bầu cử, giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực HĐND, UBND, bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính tri - xã hội [74, tr.8-9]

Như vậy, theo Luật cán bộ, công chức: Cán bộ là công dân Việt Nam,

được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Cán bộ chủ chốt: Khi nói về cá nhân phụ trách, Chủ tịch Hồ Chí Minh

cho rằng “việc gì đã được đông đảo người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch đã định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành, như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy Nếu không có cá nhân phụ trách sẽ sinh ra cái tệ người này ủy quyền cho người kia, kết quả là không ai thi hành” [62, tr.504-505] Người phụ trách đó sẽ là những người đứng đầu chịu trách nhiệm, họ có vai trò làm nòng cốt

Như vậy, có thể hiểu cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu quan trọng nhất, họ có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức, để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định

Từ khái niệm cán bộ chủ chốt như trên, có thể hiểu cán bộ chủ chốt của tỉnh Phú Thọ bao gồm: Bí thư, phó bí thư Đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND - UBND cấp tỉnh, huyện; giám đốc, phó giám đốc các sở, ban ngành;

Trang 38

trưởng, phó phòng cấp tỉnh, huyện; trưởng các ban đảng đoàn thể (Thanh

niên, Phụ nữ, Nông dân, Liên đoàn lao động, Mặt trận Tổ quốc) cấp Tỉnh, Huyện; cán bộ chủ chốt cấp xã (bí thư, phó bí thư Đảng uỷ; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND; chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; chủ tịch Hội Nông dân; chủ tịch Hội Phụ nữ; chủ tịch Hội Cựu chiến binh; bí thư Đoàn thanh niên)

Quan niệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt

Đào tạo, là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người cán bộ thông qua quá trình đó trở thành người có trình độ cao hơn, có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Đào tạo cán bộ chủ chốt là công đoạn được thực hiện sau quy hoạch, có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả quy hoạch Mục đích của đào tạo cán bộ chủ chốt là trang bị cho họ có được những tiêu chuẩn chức danh theo quy định, như: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị; năng lực tổ chức thực hiện, lãnh đạo, quản lý, điều hành, vận động quần chúng…

Bồi dưỡng là bổ sung, cập nhật, tăng thêm kiến thức, kỹ năng chuyên môn mới cho cán bộ khi những kỹ năng kiến thức được đào tạo từ trước không còn đáp ứng đủ yêu cầu công việc đặt ra Bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt chủ yếu là bổ sung kiến thức mới hoặc chuyên sâu, cập nhật những vấn

đề liên quan đến công việc đang đảm nhiệm

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là quá trình tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng để đạt được mục tiêu của nó Công tác đào tạo, bồi dưỡng bao gồm: xác định nhu cầu đào tạo; xác định yêu cầu học tập; xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo; các phương tiện, thiết bị, cơ sở thực hiện chức năng đào tạo; đội ngũ giảng viên tham gia thực hiện kế hoạch đào tạo và đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ chủ chốt ở Phú Thọ khi tái lập tỉnh

Khi mới tái lập, nền kinh tế, xã hội của Tỉnh Phú Thọ gặp rất nhiều khó

Trang 39

khăn, “trong số những cán bô ̣ đương chức mô ̣t bô ̣ ph ận không nhỏ còn thiếu các tiêu chuẩn chức danh theo quy đi ̣nh , trong đó chủ yếu thiếu về trình đô ̣ ngoại ngữ, tin ho ̣c, kiến thức quản lý ki nh tế, quản lý nhà nước” [29,tr.308] Nguyên nhân là do: chưa xây dựng được quy hoạch tổng thể về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; chưa gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng; lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đầy đủ đến công tác quy hoach, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh Nhà nước quy định; chính sách, chế độ khuyến khích cán bộ học tập nâng cao trình độ còn hạn chế; tư tưởng ngại học vẫn còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ; cơ sở vật chất của các trường, các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng ngày một tăng cả về số lượng và chất lượng; nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chưa được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tình hình mới

Theo quyết định số 1271/QĐ-UB ngày 28/8/1997 của Ủy ban nhân dân

tỉnh Phú Thọ về việc Ban hành qui hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức tỉnh Phú Thọ 4 năm (1997-2000), thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ chủ

chốt tỉnh Phú Thọ năm 1997 như sau:

Cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện: Bí thư, phó bí thư Đảng ủy; Chủ tịch,

Phó chủ tịch HĐND, UBND; giám đốc, phó giám đốc các sở, ban ngành: Tổng 96 người, trong đó:

Trình độ lý luận chính trị cao cấp có 84 người, chiếm 88,5%

Trình độ lý luận chính trị trung cấp 12 người, chiếm 11,5%

Trình độ chuyên môn bậc đại học có 89 người, chiếm 92%

Đã đươc bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình cao cấp, trung cấp 79 người, chiếm 82%

Còn 39 người, chiếm 40% thiếu trình độ ngoại ngữ theo qui định

100% chưa được bồi dưỡng kiến thức về tin học quản lý

Trang 40

73 người chiếm 76,3% thiếu các tiêu chuẩn chức danh theo qui định của Chính phủ, trong đó 7 người thiếu về chuyên môn nghiệp vụ, 17 người thiếu

về trình độ quản lý Nhà nước, 58 người thiếu trình độ ngoại ngữ

Trưởng, phó phòng cấp Tỉnh, Huyện, tổng số 1.581 người, trong đó:

Trình độ lý luận chính trị cử nhân, cao cấp có 91 người, chiếm 5,75% Trình độ lý luận chính trị trung cấp có 391 người, chiếm 24,7%;

Trình độ chuyên môn trung cấp, đại học có 1155 người, chiếm 73,7% Trình độ chuyên môn phó tiến sỹ, thạc sỹ có 10 người, chiếm 0,63%

Đã đươc bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước có 839 người, chiếm 53,1%; Còn 967 người, chiếm 63,1% thiếu các tiêu chuẩn chức danh theo qui định của Chính phủ, trong đó (74 người thiếu về trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, 407 người thiếu về trình độ ngoại ngữ, 486 người thiếu về kiến thức quản

lý Nhà nước

100% chưa được bồi dưỡng kiến thức về tin học quản lý

Cán bộ xã phường, thị trấn, (Bí thư, phó bí thư Đảng ủy, chủ tịch, phó

chủ tịch UBND, HĐND) Tổng số 1.076 cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn Trong đó:

Trình độ lý luận chính trị cao cấp, trung cấp có 422 người, chiếm 39,2% Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước có 892 người, chiếm 77,0% Trình độ chuyên môn trung cấp, đại học có 270 người, chiếm 25%

Có 806 người, chiếm 75% chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ

Cán bộ Đảng cấp tỉnh: Tổng số 23 người Trong đó:

Trình độ lý luận chính trị trung, cao cấp có 23 người, chiếm 100% Trình độ chuyên môn đại học có 22 người, chiếm 95,6%

Đã đươc bồi dưỡng kiến thức kinh tế 10 người, chiếm 43,4%

Đã đươc bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước 17 người, chiếm 73,9% Trình độ ngoại ngữ từ A trở lên có 12 người, chiếm 53,2%

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w