Mục đích nghiên cứu Luận án là một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng trong địa hạt NNTT nhằm hai mục đích cơ bản sau: - Nghiên cứu vai trò, chức năng tác động của thơ kháng ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG
TRONG THƠ KHÁNG CHIẾN 1945 – 1975
TỪ PHƯƠNG DIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG
TRONG THƠ KHÁNG CHIẾN 1945 – 1975
TỪ PHƯƠNG DIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS ĐINH VĂN ĐỨC
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Lê Thị Phƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đinh Văn Đức, thầy giáo trực tiếp hướng dẫn tôi, đã chỉ đạo, dìu dắt tôi trong từng giai đoạn nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận án này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo và cán bộ văn phòng khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã tận tình chỉ bảo tôi qua các khóa học và đã giúp đỡ tôi những thủ tục hành chính cần thiết để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, bạn bè, đồng nghiệp đang công tác tại Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận án này
Tác giả luận án
Lê Thị Phượng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
BẢNG CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính thời sự của đề tài 1
2 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
2.2 Mục đích nghiên cứu 2
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Cái mới của đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Tư liệu của luận án 4
6 Đóng góp của luận án 5
7 Bố cục của luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở lí luận 10
1.2.1 Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông và TTXH 11
1.2.1.1 Lí thuyết về truyền thông 11
1.2.1.2 Truyền thông xã hội (TTXH) 21
1.2.2 Những cơ sở lí luận ngôn ngữ học 23
1.2.2.1 Lí luận của Jakobson về chức năng của ngôn ngữ thơ 23
1.2.2.2 Lí luận của Halliday về chức năng xã hội 27
Trang 61.2.2.3 Luận thuyết về hành động ngôn từ của các nhà ngữ học chức năng 29
1.2.2.4 Diễn ngôn (DN) và phân tích diễn ngôn (PTDN) 34
1.2.2.5 Tình thái trong ngôn ngữ thơ 42
1.2.3 Những cơ sở lí luận văn học liên quan 46
1.2.3.1 Thi pháp học 46
1.2.3.2 Tính đối thoại trong thơ ca 47
1.2.4 Tiêu chí xác định thơ kháng chiến 1945 – 1975 là sản phẩm TTXH 48
1.2.4.1 Bối cảnh ra đời của dòng thơ kháng chiến 1945 - 1975 48
1.2.4.2 Một số đặc điểm cơ bản của dòng thơ kháng chiến 1945 - 1975 49
1.2.4.3 Thơ kháng chiến 1945 – 1975 là sản phẩm TTXH 50
1.3 Tiểu kết 51
Chương 2 CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA THƠ KHÁNG CHIẾN TRÊN BÌNH DIỆN TỔ CHỨC THÔNG ĐIỆP 53
2.1 Tác động qua tiêu đề bài thơ 55
2.1.1 Tiêu đề bài thơ nhìn từ bình diện cú pháp 55
2.1.1.1 Dung lượng (độ dài) của tiêu đề 55
2.1.1.2 Dạng thức kết cấu cú pháp của tiêu đề 59
2.1.2 Tiêu đề bài thơ nhìn từ bình diện nội dung 61
2.2 Tác động qua kết cấu của bài thơ 64
2.3 Tác động qua các hình thức thơ 68
2.3.1 Thơ dân gian, dân tộc 69
2.3.1.1 Thể thơ năm chữ 69
2.3.1.2 Thể thơ lục bát 70
2.3.2 Thơ tự do 71
2.4 Tiểu kết 73
Chương 3 CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA THƠ KHÁNG CHIẾN TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ LIÊN NHÂN 75
Trang 73.1 Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện ngữ nghĩa 75
3.1.1 Tác động qua chủ đề của bài thơ 76
3.1.1.1 Chủ đề về lòng yêu nước 78
3.1.1.2 Chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước 81
3.1.1.3 Chủ đề lao động, sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc 82
3.1.2 Tác động qua hình tƣợng nghệ thuật của bài thơ 83
3.1.2.1 Hình tượng bác Hồ 84
3.1.2.2 Hình tượng người lính 85
3.1.2.3 Hình tượng đất nước 86
3.1.2.4 Hình tượng mẹ và em 88
3.1.2.5 Hình tượng làng quê 89
3.1.3 Tác động qua cách tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật 91
3.1.3.1 Tác động qua thời gian nghệ thuật 91
3.1.3.2 Tác động qua không gian nghệ thuật 95
3.2 Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện liên nhân 98
3.2.1 Tác động trên bình diện các tiểu chức năng của ngôn ngữ thơ ca 100
3.2.1.1 Biểu hiện 101
3.2.1.2 Biểu cảm 102
3.2.1.3 Chất thơ 104
3.2.1.4 Duy trì sự tiếp xúc 106
3.2.1.5 Kêu gọi 108
3.2.1.6 Siêu ngữ 109
3.2.2 Tác động trên bình diện các hành động ngôn từ 110
3.2.2.1 Hành động bày tỏ 113
3.2.2.2 Hành động miêu tả 117
3.2.2.3 Hành động cảnh báo – đe dọa 119
Trang 83.2.2.4 Hành động trấn an (giải tỏa) 121
3.2.2.5 Hành động khen ngợi 123
3.2.2.6 Hành động cam kết 125
3.2.2.7 Hành động nguyện 127
3.2.2.8 Hành động kể 130
3.2.2.9 Hành động nhắc 131
3.2.2.10 Hành động tiên đoán 133
3.2.2.11 Hành động tuyên bố (khẳng định) 134
3.2.2.12 Hành động đánh giá 136
3.2.2.13 Hành động kêu gọi – cổ động 137
3.2.2.14 Hành động thúc giục – điều khiển 139
3.2.2.15 Hành động khuyên - chỉ định 141
3.3 Tiểu kết 144
KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỉ lệ tiêu đề bài thơ phân loại theo số lƣợng tiếng 58 Bảng 2.2: Tỉ lệ tiêu đề bài thơ phân loại theo kết cấu cú pháp 60 Bảng 2.3: Tỉ lệ tiêu đề bài thơ phân loại theo nội dung 62 Bảng 3.1: Các HĐNT có tần số xuất hiện cao trong thơ kháng chiến 1945 - 1975 113
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Sơ đồ các nhân tố giao tiếp của Jakobson 14
Hình 1.2: Mô hình của Shannon – Weaver 18
Hình 1.3: Mô hình truyền thông của Lasswell 19
Hình 1.4: Mô hình tuần hoàn của Charles Egerton Osgood và Schramm 20
Hình 1.5: Sơ đồ 6 chức năng theo thứ tự tương ứng với các nhân tố trong sơ đồ giao tiếp của Jakobson 24
Hình 2.1: Mô hình vận động cơ bản về lô gích bố cục của hầu hết các bài thơ kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975 68
Trang 11BẢNG CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT
TTXH : Truyền thông xã hội
NNTT : Ngôn ngữ truyền thông
NNTTXH : Ngôn ngữ truyền thông xã hội
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự của đề tài
Ngày nay, chúng ta đều biết những vấn đề của truyền thông xã hội (TTXH) đóng một vai trò to lớn trong việc định hướng, dẫn dắt và tổ chức xã hội Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về truyền thông (TT), tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở lĩnh vực TT báo chí Trên thực tế, lí luận TT cũng có thể
áp dụng để soi sáng một số lĩnh vực khác, trong đó có thơ văn nói chung và thơ kháng chiến nói riêng
Trong hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ, để tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến và kiến quốc, nền văn học cách mạng Việt Nam (trong đó có vai trò của thơ ca cách mạng thời kì 1945 – 1975) đã có những ảnh hưởng tích cực, góp phần đáng kể vào việc bồi dưỡng tình cảm và đạo đức cách mạng cho nhân dân ta, khuyến khích họ hăng hái tham gia chiến đấu và gia tăng sản xuất
Bàn về chức năng tác động của thơ ca nói chung và thơ kháng chiến
nói riêng, ở Việt Nam đã có không ít các công trình nghiên cứu từng bàn đến, tuy nhiên hầu hết đều được tiếp cận từ góc độ văn học, có thể kể đến một vài công
trình như: "Những thế giới nghệ thuật thơ‖ của Trần Đình Sử (1995, tái bản năm 1996, 2001); lí luận về thơ "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện
đại" của Hà Minh Đức (1997); khảo luận "Tìm hiểu thơ" của Mã Giang Lân
(1997); "Ba mươi năm một nền thơ Cách mạng" của Trúc Chi (1999)
Nghiên cứu thơ kháng chiến quả có một bề dày đáng ghi nhận, nhưng
xưa nay ở Việt Nam chưa có một công trình nào áp dụng lí thuyết TTXH để nghiên cứu mảng thơ rất quan trọng này của dân tộc Do vậy, chúng tôi quyết
định chọn đề tài ―Nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945
– 1975 từ phương diện truyền thông xã hội‖ làm đề tài luận án tiến sĩ của
Trang 13mình Đây là một hướng đi mới, riêng biệt, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước và có tính thời sự trong xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ truyền thông (NNTT) hiện nay
2 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, luận án lựa chọn“thơ kháng chiến giai đoạn
1945 – 1975‖ làm đối tượng nghiên cứu của mình
Luận án tập trung nghiên cứu đối tượng ở phạm vi ―chức năng tác
động‖ của các yếu tố ngôn ngữ có tính truyền thông trong thơ kháng chiến
giai đoạn 1945 – 1975
2.2 Mục đích nghiên cứu
Luận án là một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng trong địa hạt NNTT nhằm hai mục đích cơ bản sau:
- Nghiên cứu vai trò, chức năng tác động của thơ kháng chiến đối với
xã hội dưới góc nhìn của truyền thông xã hội (TTXH) trên cơ sở các lí thuyết ngôn ngữ học Từ đó, luận án góp phần nhận diện các đặc trưng của NNTT
trên ba bình diện của kí hiệu học (kết học, nghĩa học, dụng học) trong mối
quan hệ với các bài thơ kháng chiến có tính TTXH cao
- Qua nhận diện và lí giải ―chức năng tác động” của các yếu tố ngôn
ngữ có tính truyền thông trên cứ liệu những bài thơ được khảo cứu (thơ kháng chiến giai đoạn 1945 – 1975), chúng ta hướng tới học tập kinh nghiệm, rút ra những bài học trong cách lựa chọn từ ngữ, cách thức vận dụng ngôn từ đúng lúc, đúng chỗ để có thể chuyển tải hiệu quả những cảm xúc thẩm mĩ, ý tứ riêng của mình trong hoạt động giao tiếp, hoạt động sáng tác thơ ca và đặc biệt là trong trong địa hạt TTXH tiếng Việt
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, luận án hướng đến giải quyết các nhiệm vụ sau:
Trang 14- Nghiên cứu chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện tổ chức thông điệp;
- Nghiên cứu chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện ngữ nghĩa – liên nhân;
Hai nhiệm vụ này sẽ được trình bày cụ thể trong hai chương nội dung (chương 2 và chương 3) của luận án
3 Cái mới của đề tài
Việc lựa chọn ―thơ kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975‖ làm đối tượng
nghiên cứu không phải là vấn đề mới mẻ, cái mới của luận án chính là:
- Thứ nhất, luận án vận dụng một số lí luận theo hướng liên ngành (lí
luận về TT và TTXH, lí luận ngôn ngữ học và một vài lí luận văn học liên quan) để làm mới một đối tượng nghiên cứu quen thuộc
- Thứ hai, ngôn ngữ thơ ca vốn thuộc đặc quyền nghiên cứu của phong
cách học, nhưng ở luận án này, văn bản thơ kháng chiến lại được xem xét, nhìn lại dưới góc độ của NNTT
Trên cơ sở các lí luận cơ bản về TT, diễn ngôn (DN) chức năng của ngôn ngữ và hành động ngôn từ (HĐNT), luận án sẽ đi sâu tìm hiểu, miêu tả,
lí giải bản chất và hình thức của các hiện tượng ngôn ngữ có tính truyền thông trong thơ kháng chiến giai đoạn 1945 – 1975 bằng phương pháp phân tích
diễn ngôn (PTDN) để thấy được “chức năng tác động” của chúng trong việc
tuyên truyền, giác ngộ, cổ động tập thể quần chúng trong chiến đấu, lao động
và sản xuất
4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài ―Nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945
– 1975 từ phương diện truyền thông xã hội‖, luận án tiến hành nghiên cứu đối
tượng dựa trên một số phương pháp thường gặp trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học ứng dụng nói riêng, đó là:
Trang 15- Phương pháp PTDN
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa – cú pháp
- Phương pháp phân tích dụng học
Luận án lấy việc nhận diện, phân tích và bàn luận chức năng tác động
của các hiện tượng ngôn ngữ có tính truyền thông trong mảng thơ kháng
chiến làm trọng tâm, nên tác giả đã chọn phương pháp PTDN là phương pháp
nghiên cứu chính Phương pháp này tập trung vào phân tích các yếu tố ngôn ngữ có chức năng tác động xét từ bình diện TTXH trong phạm trù liên nhân
Trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đã thu thập được các tư liệu
phục vụ cho việc khảo sát, bằng các thao tác tư duy lô gích (phân tích, phân
loại nội dung, trình bày theo lối kết hợp diễn dịch, quy nạp), chúng tôi sắp
xếp các nội dung của vấn đề nghiên cứu có cùng dấu hiệu bản chất, cùng hướng phát triển nội dung và rút ra được những kết luận mới, đầy đủ, có tính chính xác về đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra, luận án còn vận dụng một số thủ pháp như: mô hình hóa,
thống kê,…có tính chất hỗ trợ để tìm ra những đặc điểm ngữ dụng, chức năng
tác động xã hội của NNTT trong thơ kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975
5 Tư liệu của luận án
Do ảnh hưởng của tư tưởng và không khí thời cuộc, hầu hết những bài thơ ra đời trong giai đoạn lịch sử này đều thấm đẫm tinh thần kêu gọi, tập hợp
lực lượng chiến đấu, thúc giục, cổ động tập thể ―quyết tử cho tổ quốc quyết
sinh‖ Tuy nhiên, cũng có một bộ phận những bài thơ ra đời trong hoàn cảnh
này không nhằm mục đích kêu gọi chiến đấu mà chỉ là những bài thơ tả cảnh
bình thường Và đương nhiên, những bài thơ dạng này, chúng tôi không cho vào vùng khảo sát
Trang 16Bởi những hạn chế về mặt thời gian và trong khuôn khổ một luận án, chúng tôi không thể khảo cứu, phân tích hết các bài thơ có chủ đích tác động, kêu gọi tinh thần chiến đấu của quần chúng, vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung xem xét đối tƣợng nghiên cứu trong phạm vi 133 bài thơ nổi bật nhất ở cả hai giai đoạn chống Pháp và chống Mĩ (1945 – 1975) của hơn 40 nhà thơ có tên
tuổi, quen thuộc với các thế hệ công chúng nhƣ: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Tế Hanh, Quang Dũng, Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Duy, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Lâm Thị Mĩ Dạ, Bùi Minh Quốc, Giang Nam, 133 bài thơ tiêu biểu này đã đƣợc liệt kê cụ thể
trong phần PHỤ LỤC của luận án
6 Đóng góp của luận án
Nhƣ đã nói, luận án là công trình nghiên cứu thử nghiệm đầu tiên áp
dụng lí thuyết truyền thông để nghiên cứu một đối tƣợng quen thuộc (thơ kháng
chiến) Với đề tài này, luận án sẽ có những đóng góp mới, hữu ích cả về mặt lí
luận và thực tiễn cho cả hai địa hạt ngôn ngữ học và truyền thông
a) Về mặt lí luận
- Với đề tài ―Nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến
1945 – 1975 từ phương diện truyền thông xã hội”, các kết quả của luận án sẽ
góp phần làm sáng rõ hơn những vấn đề ngôn ngữ của truyền thông trên ngữ
liệu đặc thù là thơ kháng chiến, hay nói cách khác giúp cho các nhà ngữ học
nhìn rõ hơn bản chất của thể loại truyền thông dùng thơ ca làm chất liệu
- Hơn nữa, luận án cũng góp phần làm rõ hơn lí thuyết thông tin, lí
thuyết PTDN, chức năng của ngôn ngữ thơ, HĐNT và tình thái khi ứng dụng
chúng vào việc nghiên cứu chức năng tác động của thơ ca nói chung và thơ kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975 nói riêng
Trang 17b) Về mặt thực tiễn
- Thứ nhất, việc nghiên cứu thành công đề tài này sẽ giúp cho việc
nghiên cứu, giảng dạy thơ kháng chiến giai đoạn 1945 – 1975 hiệu quả hơn vì
đã đánh giá đúng được vai trò, giá trị của chúng trong việc tuyên truyền, cổ động tập thể trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
- Thứ hai, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện thêm
những nghiên cứu về chức năng tác động xã hội của NNTT tiếng Việt; cung cấp,
bổ sung thêm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của NNTT tiếng Việt
- Thứ ba, kết quả của luận án có thể là tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy môn PTDN và môn lí thuyết TTXH
- Hơn nữa, kết quả của luận án cũng sẽ rất hữu ích cho việc nghiên cứu
ngôn ngữ văn học và văn hóa Việt Nam
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án thể hiện ở 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan
Trong chương này, luận án quan tâm các nội dung sau:
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2 Cơ sở lí luận
+ Những khía cạnh lí thuyết về TT và TTXH
+ Những cơ sở lí luận ngôn ngữ học
+ Những cơ sở lí luận văn học
+ Tiêu chí xác định thơ kháng chiến là sản phẩm TTXH
Chương 2: Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện
tổ chức thông điệp
Trong chương này, luận án quan tâm các nội dung sau:
Trang 181 Tác động qua tiêu đề bài thơ
+ Tiêu đề bài thơ nhìn từ bình diện cú pháp
+ Tiêu đề bài thơ nhìn từ bình diện nội dung
2 Tác động qua kết cấu bài thơ
Trong chương này, luận án quan tâm các nội dung sau:
1 Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện ngữ nghĩa + Tác động qua chủ đề bài thơ
+ Tác động qua các hình tượng nghệ thuật
+ Tác động qua cách thức tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật
2 Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện liên nhân + Tác động trên bình diện các tiểu chức năng của ngôn ngữ thơ ca + Tác động trên bình diện các hành động ngôn từ
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Công trình: ―Language and Human Communication‖ (Ngôn ngữ và
giao tiếp nhân loại) công bố năm 1965 của nhà Ngôn ngữ học Bertin Malmberg được coi là khởi đầu cho việc vận dụng lí thuyết TT vào Ngôn ngữ học Trước đó (1960), nổi tiếng là lí luận Thi học qua mô hình của Jakobson
(―Ngôn ngữ và Thi học‖, Ngôn ngữ số 14/2001, bản dịch của Cao Xuân Hạo)
Sau đó, một số tác giả đã nghiên cứu NNTT theo hướng ứng dụng trong dịch máy theo tư tưởng học thuật của Chomsky, Saumian, Osby, Một số tác giả khác triển khai lí thuyết thông tin trong địa hạt ngôn ngữ báo chí
Ở nước ta, trong thời gian gần đây, ngôn ngữ báo chí và TT được tách
ra thành hai tuyến khác nhau, trong đó ngôn ngữ báo chí được viết nhiều theo lối phân loại của lí luận báo chí học (báo viết, báo nói, báo hình, bản tin, bình luận, ) ví dụ như các công trình của Vũ Quang Hào, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Tri Niên, Các nghiên cứu theo tuyến NNTT xuất phát từ lí luận giao tiếp và TT còn chưa nhiều Những bài khởi đầu theo hướng này có thể kể đến
là ―Ngôn ngữ học và Lí thuyết thông tin‖ của Nguyễn Hàm Dương (Ngôn ngữ,
số 4/1970), ―Lí thuyết thông tin và ngôn ngữ của bác Hồ‖ của Phạm Văn Phú
(Ngôn ngữ, số 3/1970)
Từ sau năm 1986, TT nước ta đã thực sự trở thành một phương diện rất quan trọng của đời sống xã hội và sự nghiệp cách mạng Ngôn ngữ học trong nước, theo đó, với những khuynh hướng tiếp cận ứng dụng đã bắt đầu có tiếp những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Có thể kể đến công trình của Tạ Ngọc Tấn, Đinh Thúy Hằng, Nguyễn Thế Kỉ, Mai Xuân Huy, Phạm Thị Hằng, Đinh Kiều Châu, đề cập đến những khía cạnh khác nhau của TT (TT đại chúng, TT thương mại, TTXH, ) và NNTT Tuy nhiên, NNTT và nhất là
Trang 20ngôn ngữ truyền thông xã hội (NNTTXH) tiếng Việt vẫn còn là mảnh đất mới chƣa ai khai phá, cần đƣợc bổ sung nhiều công trình hơn nữa, nhất là các công trình có tính ứng dụng cụ thể
Chức năng tác động của TT đại chúng ở ta cũng chỉ mới có luận án mở
đầu của Đinh Kiều Châu (2012): ―Ngôn ngữ truyền thông qua ba sản phẩm
truyền thông xã hội (trên tư liệu tiếng Việt)‖ khảo sát trên ngôn ngữ TTXH
nhƣ: khẩu hiệu kháng chiến, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông
điệp truyền thông phát triển cộng đồng Luận án Tiến sĩ của Đinh Kiều Châu
đƣợc coi là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu NNTT nên có tính thời sự và ứng dụng cao Luận án đã phân tích, tổng kết đƣợc những nội dung cốt lõi liên quan đến lí luận về TT, TTXH, mối quan hệ giữa ngôn ngữ với TT cũng nhƣ những đặc trƣng của NNTT
Với những kết quả đó, luận án của Đinh Kiều Châu đã trở thành tài liệu
bổ ích, phục vụ cho việc giảng dạy và học tập chuyên ngành Ngôn ngữ học, đặc biệt là Ngôn ngữ học ứng dụng Mặt khác, nó cũng đƣợc sử dụng nhƣ một tài liệu tham khảo đối với chuyên ngành TT và các thực hành TT trong cộng đồng
Tuy nhiên, luận án Tiến sĩ của Đinh Kiều Châu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích dụng học một cách định tính về mặt lí luận cũng nhƣ thực tế vai trò, tầm quan trọng, chức năng tác động của NNTT trong giao tiếp bằng tiếng
Việt ở Việt Nam trên ba sản phẩm TTXH: Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh (1945-1969); Khẩu hiệu kháng chiến trong thời kì chống Pháp - Mĩ
(1945 – 1975); Thông điệp truyền thông Phát triển cộng đồng về sức khoẻ
(1998-2008)
Trên thực tế, trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ,
ngoài “Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1945-1969)‖; ―Khẩu hiệu
kháng chiến trong thời kì chống Pháp - Mĩ (1945 – 1975)‖ có khả năng tác
động đến quần chúng, xã hội thì ―thơ kháng chiến” cũng có vai trò không nhỏ
Trang 21trong tổ chức và cổ động tập thể Hướng nghiên cứu chức năng tác động của
ngôn ngữ thơ kháng chiến từ phương diện TTXH sẽ là một hướng nghiên cứu
mới, có tính mở đầu khai phá Tuy nhiên đến nay, đề tài ―Nghiên cứu chức
năng tác động trong thơ kháng chiến 1945 -1975 từ phương diện truyền thông
xã hội‖ vẫn còn bỏ ngỏ, chưa ai tiếp cận Luận án này sẽ là một trong những
công trình bù đắp cho sự thiếu hụt đó
1.2 Cơ sở lí luận
Để làm rõ được đối tượng nghiên cứu trong đề tài ―Nghiên cứu chức
năng tác động trong thơ kháng chiến 1945 – 1975 từ phương diện truyền thông xã hội”, luận án cần dựa vào 3 cơ sở lí luận chính:
luận án cũng sẽ nhấn mạnh đến: lí luận của Jakobson về chức năng của ngôn
ngữ và lí luận của Halliday về chức năng xã hội Trong 3 chức năng cơ bản
của ngôn ngữ, luận án tập trung đi sâu nghiên cứu chức năng tác động – một
biểu hiện cụ thể của chức năng liên nhân
Thơ kháng chiến 1945 -1975, khi biểu đạt chức năng tác động của mình đối với tinh thần thời cuộc của quần chúng nhân dân đã vận dụng không ít
những HĐNT, vì vậy, trong chương 1 này, chúng tôi sẽ đề cập sơ bộ đến lí
thuyết HĐNT của các nhà Ngữ học Chức năng
Trang 22Lí luận về PTDN cũng là một khía cạnh lí luận không thể thiếu luận án
cần phải dựa vào khi muốn làm rõ bản chất, khả năng tác động, gây khiến của thơ kháng chiến (1945 – 1975) đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành động của quần chúng bạn đọc qua các hình thức nghệ thuật ngôn từ trong cách tổ chức thông điệp và biểu đạt nội dung
Ngoài ra, một số khía cạnh lí luận văn học (thi pháp học, tính đối thoại
trong thơ) cũng là một trong những viên gạch nền quan trọng, góp phần
không nhỏ trong việc tạo ra hiệu quả của công trình nghiên cứu, giúp nội dung nghiên cứu đi được đúng hướng và sâu hơn
Dưới đây là những trình bày cụ thể, chi tiết về những khía cạnh lí luận này
1.2.1 Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông và TTXH
1.2.1.1 Lí thuyết về truyền thông
Liên quan đến đề tài luận án, lí thuyết cơ bản đầu tiên mà chúng tôi
muốn nhắc đến đó chính là lí thuyết về truyền thông
a) Định nghĩa
Căn cứ vào những tư liệu khảo sát, từ ―truyền thông‖ (―communication‖ trong tiếng Anh) bắt nguồn từ tiếng La Tinh là ―communicatio‖ và ―communis‖
Ở thế kỉ 14, trong tiếng Anh từ này được viết là ―comynycacion‖ Từ sau thế kỉ
15, từ này dần biến chuyển thành hình thái hiện đại, hàm nghĩa của nó không
dưới mười mấy loại, bao gồm “thông tin”, “hội thoại”, “giao lưu”, “giao
tiếp”, “giao thông”, “tham gia” Cuối thế kỉ 19, từ này đã trở thành từ ngữ
được sử dụng hàng ngày, được các nhà khoa học xã hội đưa ra với khoảng
Trang 23- Xác định bản chất của TT
- Quá trình cơ bản của TT
- Môi trường bối cảnh của TT
Trong khi triển khai đề tài, luận án đã sử dụng định nghĩa có tính tổng
hợp (trích từ cuốn: ―Truyền thông, lí thuyết và kĩ năng cơ bản‖ của Nguyễn
Văn Dững chủ biên, 2006) làm cơ sở cho nghiên cứu:
“TT là một quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành động
và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [33]
Theo định nghĩa này, bản chất của TT là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể TT và đối tượng TT Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng TT gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động TT diễn ra Quá trình TT vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng TT
Mục đích của TT là hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành động của đối tượng TT và tạo định hướng giá trị cho công chúng
Thông tin của TT là một loại thông tin có tính chất công cụ và hoạt động TT là một loại hoạt động có tính chất tác động sâu sắc, có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trên quy mô toàn xã hội
b) Nội dung của hoạt động truyền thông
Nội dung của hoạt động TT nằm trong cụm từ cơ bản CIE gồm 3 khái niệm:
- Communication (giao tiếp/TT - phương thức);
Trang 24- Information (thông tin - nội dung);
- Education (giáo dục - mục tiêu)
Ðây là sự kết hợp (hòa kết) của ba phương diện trong một loại hoạt động thông tin đặc thù nhằm tác động vào đối tượng với mong muốn can thiệp tạo ra những thay đổi ở đối tượng
Giao tiếp:
(i) Khái niệm:
Giao tiếp là một hoạt động thường xuyên của con người Không ai có thể sống cô độc mà không có sự giao tiếp với người khác, và xã hội cũng không thể tồn tại, hoạt động và phát triển mà không có giao tiếp
Trong công trình ―Ngôn ngữ với văn chương‖ (2015), khi bàn về giao
tiếp ngôn ngữ đời thường và giao tiếp ngôn ngữ văn chương, Bùi Minh Toán
cho rằng: ―Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người với người, trong đó diễn
ra quá trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động” [114,
tr.62] Giao tiếp có thể được tiến hành bằng các phương tiện khác nhau từ đơn giản như: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, đến hiện đại như các phương tiện vô tuyến viễn thông, các phương tiện của công nghệ thông tin
Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất bởi, xét về hiệu quả, nó giúp cho con người biểu hiện và trao đổi được mọi nội dung thông tin Không một nội dung nào mà con người cần biểu hiện và trao đổi lại không thể biểu hiện được bằng ngôn ngữ
Với hướng nghiên cứu của luận án, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
(ii) Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ:
Hoạt động giao tiếp (hoạt động ngôn giao) của con người đã được ngôn
ngữ học bắt đầu quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỉ này Bloomfiel (1933) có
lẽ là người đầu tiên phát hiện ra cơ chế ngôn giao, khi ông đưa ra sơ đồ
Trang 25S…r…s….R với hai nhân vật giao tiếp là người nói – người nghe (trong đó, S:
kích thích nhằm vào người nói; r (lời): phản ứng của người nói; s (lời): kích
thích của người nói; R: lời – phản ứng của người nghe) và chỉ ra rằng r và s là hai bình diện của lời mà ngôn ngữ học cần nghiên cứu Đó là lời sản phẩm đồng thời cũng là lời – kích thích của người nói, là những đơn vị ngôn giao
Các tác giả khác như Shannon và Weaver (1949/1962), Schramm (1955), v.v khi nghiên cứu về quá trình TT cũng đã đưa ra các sơ đồ giao tiếp của họ [134] Tuy nhiên, các sơ đồ đó còn khá đơn giản và chưa diễn tả hết các nhân tố trong quá trình giao tiếp của con người
Sau các tác giả trên, Jakobson (1960) trong công trình ―Linguistics and
Poetics‖ , đã đưa ra một sơ đồ giao tiếp như sau:
Hình 1.1: Sơ đồ các nhân tố giao tiếp của Jakobson
Theo đó, có 6 nhân tố không thể thiếu trong một cuộc giao tiếp đó là:
người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã Sơ đồ của
Jakobson luôn được coi là một sơ đồ ―cổ điển‖ về ngôn giao, bởi nó đã thể
hiện khá đầy đủ các nhân tố giao tiếp Hoạt động giao tiếp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: bao gồm tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa
con người với nhau Sơ đồ trên được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này
kế thừa (là chủ yếu) và phát triển theo những cách khác nhau
Như vậy, chúng ta thấy rằng, hoạt động giao tiếp diễn ra và liên quan ít
nhất đến hai nhân vật giao tiếp: người phát và người nhận Trong quá trình giao tiếp, nội dung giao tiếp chứa trong thông điệp (thực chất là một chuỗi tín
Trang 26hiệu được mã hóa) được truyền đạt và tiếp nhận giữa hai nhân vật giao tiếp
này thông qua một loại mã nhất định, chẳng hạn, ý nghĩa dừng lại có thể được
truyền đạt bằng đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông, hiệu lệnh bằng tay của
cảnh sát giao thông hoặc bằng chính từ dừng lại v.v
Nội dung giao tiếp chứa hai thành phần cơ bản: thông tin miêu tả và tình thái Thông tin miêu tả là nội dung về sự vật, sự việc, hiện tượng, (gọi
chung là sự tình) mà văn bản đề cập đến Nội dung tình thái bao gồm nhiều phương diện phức tạp như sự nhìn nhận, đánh giá của nguồn phát đối với sự tình hay đối với người nhận, quan hệ của sự tình với hiện thực, mục đích giao tiếp của người phát khi tạo lập văn bản Hai thành phần này hòa quyện với nhau trong một văn bản và trong mỗi phát ngôn của văn bản
Để có thể truyền đạt bất kì điều gì, giữa người phát và người nhận thông điệp buộc phải có sự tiếp xúc hay quan hệ với nhau Điều này có nghĩa
là, thông điệp mà người phát muốn gửi đi phải được truyền qua một kênh dẫn thông tin nào đó: trong hội thoại, kênh đó là sóng âm, trên radio hoặc tivi, sóng
âm được chuyển thành sóng điện từ, trong giao tiếp viết, kênh đó là các con chữ Cuối cùng, bất kì hành động giao tiếp nào đều diễn ra trong một ngữ cảnh
Ngữ cảnh, đó chính là bối cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp Nó luôn
luôn chi phối hoạt động giao tiếp, chi phối nội dung, hình thức của văn bản,
chi phối cách thức giao tiếp Ngữ cảnh bao gồm ngữ cảnh tình huống (ngữ
cảnh hẹp: là thời gian, địa điểm cụ thể, những tình huống cụ thể khi hoạt động
giao tiếp diễn ra) và ngữ cảnh văn hóa (ngữ cảnh rộng: là toàn bộ những hoàn
cảnh và điều kiện về lịch sử, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, của một
cộng đồng ngôn ngữ)
Thông tin:
Một cống hiến quan trọng của ―khoa học thông tin‖ đối với ―truyền thông học‖ đó là đã đưa ra khái niệm ―thông tin‖ Khoa học thông tin chỉ ra
Trang 27cho chúng ta biết, dung môi của hành động tác động qua lại lẫn nhau của xã
hội giữa con người với con người không chỉ đơn giản là ý nghĩa, cũng không đơn giản là kí hiệu, mà là thông tin của một thể thống nhất giữa ý nghĩa và kí hiệu, nội dung tinh thần với vật dẫn vật chất Bởi vì ý nghĩa rời xa kí hiệu thì không thể đạt được sự biểu đạt, mà kí hiệu rời xa ý nghĩa thì cũng chỉ là một vài vật chất không rõ ràng, cả hai đều không thể dẫn đến hành động tác động qua lại lẫn nhau của xã hội một cách độc lập [134, tr.9]
Và thông tin trong TT là loại thông tin có nét đặc thù, xuất hiện muộn hơn khi con người biết sử dụng thông tin như một công cụ tương tác xã hội Thông tin này có chức năng tác động, cung cấp tri thức, nâng cao hiểu biết nhằm mục đích giáo dục, can thiệp, thay đổi nhận thức hành động của đối tượng đích và duy trì nó một cách bền vững
Các thông tin đó luôn tồn tại dưới dạng những kí hiệu, trong đó có kí hiệu ngôn ngữ NNTT gắn với chức năng thông tin có liên quan trực tiếp đến
ý tưởng gắn với tổ chức hình thức của thông điệp như các dạng kết cấu ngữ pháp – ngữ nghĩa, các kiểu liên kết văn bản, lựa chọn và sử dụng từ ngữ, để chuyển tải nội dung được hiệu quả
Trang 28Như chúng ta biết, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, TT luôn đi đầu trong việc giáo dục tư tưởng, lí tưởng xã hội và con người Đặc thù của chức năng giáo dục tư tưởng là tác động đến mỗi người TT làm tư tưởng qua các thông tin sự kiện Nó không chỉ thông tin sự kiện mà nó còn bình luận sự kiện đang diễn ra, nhờ đó mà kịp thời đấu tranh chống mọi thế lực thù địch, tư tưởng bảo thủ, lạc hậu Nó cũng chú trọng kích thích hành động tích cực, đấu tranh chống hành động tiêu cực
Có thể nói, trong hoạt động TT, thông qua việc truyền tải thông tin,
chức năng tác động thể hiện rõ nét ở khía cạnh giáo dục, tác động để giáo dục,
để can thiệp, để gây hiệu ứng tâm lí, làm thay đổi hành động, tạo ra nhân cách mới cho đối tượng chịu tác động
Chức năng này được biểu hiện xuyên suốt, rõ nét trong hai chương tiếp theo của luận án
c) Mô hình truyền thông
Trên thực tế, mô hình hoạt động của TT rất giống với mô hình hoạt động của ngôn ngữ Tài liệu lí thuyết về TT hiện nay có rất nhiều Giới nghiên cứu cũng đưa ra rất nhiều mô hình TT khác nhau Mỗi mô hình, với ưu điểm nhất định của mình đều là một sự bổ sung nhằm hoàn chỉnh những nguyên tắc hợp tác khác nhau trong TT
i) Mô hình TT trực tuyến
+ Mô hình của Shannon – Weaver:
Shannon - Weaver (1947) đã đưa ra mô hình về quá trình TT, gọi là mô
hình số học của quá trình TT hay mô hình Shannon - Weaver có tính chất xuất
phát điểm cho lĩnh vực này như sau:
Trang 29Hình 1.2: Mô hình của Shannon – Weaver
(Dẫn theo tài liệu tham khảo 134: Trịnh Khánh Quang (2011), Giáo
trình TT học, tập 2)
Mô hình Shannon - Weaver miêu tả quá trình TT điện tử, rất gần với
mô hình hoạt động của ngôn ngữ Mắt xích đầu tiên của nó là nguồn thông tin,
từ nguồn thông tin phát ra thông tin, rồi từ bộ phát chuyển thông tin thành tín hiệu có thể truyền đi được, qua việc truyền đi, bộ tiếp nhận chuyển tín hiệu nhận được hoàn trở lại thành thông tin, rồi chuyển nó cho người nhận và xử lí thông tin Trong quá trình này, thông tin có thể chịu ảnh hưởng nhiễu của tạp
âm, làm nó bị loãng đi một chút hoặc không thật
Mô hình Shannon - Weaver đã cung cấp gợi ý quan trọng, giúp cho việc nghiên cứu quá trình TT tiến thêm một bước nữa Mô hình này đã đưa ra
khái niệm ―tạp âm‖ (nhiễu), đã chứng tỏ TT không phải được tiến hành trong
không gian ―chân không‖, mà các loại nhân tố trở ngại bên trong và ngoài quá trình sẽ tạo nên sự nhiễu loạn đối với thông tin Điều này đối với quá trình
Thông tin Tín hiệu
Tín hiệu nhận được
Trang 30TTXH mà nói, đây cũng là một nhân tố quan trọng không thể bỏ qua
Cùng với thời gian, lí thuyết TT ngày càng được hoàn thiện hơn, luận
án xin giới thiệu mô hình TT (dựa trên mô hình TT của Lasswell) có tính tương đối phổ biến như dưới đây
+ Mô hình TT của Lasswell:
Hình 1.3: Mô hình truyền thông của Lasswell
(Dẫn theo tài liệu tham khảo 134: Trịnh Khánh Quang (2011), Giáo
trình TT học, tập 2)
ii) Mô hình tuần hoàn của Schram:
Xem xét khái niệm TT với mục tiêu làm sáng tỏ chức năng tác động trong thơ kháng chiến, mô hình TT đơn giản của Schramm (1954) tỏ ra phù hợp hơn Schramm mô tả quá trình TT là quá trình trong đó người gửi truyền các thông điệp tới người nhận hoặc trực tiếp hoặc thông qua các kênh, nhằm mục đích thay đổi nhận thức, thái độ, hành động của người nhận thông điệp
Năm 1954, trong cuốn ―TT được vận hành như thế nào‖, Charles
Egerton Osgood, Schramm đã nêu ra một mô hình mới về quá trình của TT, gọi là ―Mô hình tuần hoàn‖ (xem hình 1.4)
Trang 31Hình 1.4: Mô hình tuần hoàn của Charles Egerton Osgood và Schramm
(Dẫn theo tài liệu tham khảo 134: Trịnh Khánh Quang (2011), Giáo
trình TT học, tập 2)
Mô hình này có thể được diễn giải đơn giản như sau:
Từ hình 1.4 có thể thấy, mô hình này rõ ràng không giống với mô hình trực tuyến:
- Ở đây không có khái niệm nhà TT và người nhận thông tin, hai bên
TT đều là chủ thể của hành động TT, thông qua giao nhận thông tin (bạn truyền đi và tôi nhận về) nhằm tác động qua lại lẫn nhau
- Trọng điểm của mô hình này không nằm ở phân tích các loại mắt xích trong kênh TT mà nằm ở việc phân tích chức năng đóng vai trò của hai bên
TT Mỗi một bên tham gia quá trình TT ở các giai đoạn khác nhau đều lần lượt đóng vai trò của:
+ Người dịch mã (thực hiện chức năng tiếp nhận và phân tích kí hiệu);
Thông tin
Thông tin
Người lập mã Người giải mã Người dịch mã
Người dịch mã Người giải mã Người lập mã
Trang 32+ Người giải mã (thực hiện chức năng giải thích ý nghĩa);
+ Người lập mã (thực hiện chức năng kí hiệu hóa và truyền đạt)
Và những vai trò này thay thế lẫn nhau
Mô hình tuần hoàn của Charles Egerton Osgood và Schramm đã nhấn mạnh tính tác động lẫn nhau của TTXH, và đều xem hai bên TT là chủ thể của hành động TT
Từ những trình bày khá cụ thể ở trên, liên quan đến khái niệm ―TT‖,
hiểu một cách chung nhất thì ―TT‖ chính là hoạt động truyền (C
-communication) thông điệp (thông tin – I - Information) của nguồn (người
phát) đến đích (đối tượng tiếp nhận) thông qua kênh TT (tùy theo loại TT mà
có các kênh khác nhau) nhằm đạt mục đích giáo dục (E –Education) thay đổi thái độ, tình cảm, nhận thức và hành động của đích
Nắm được những lí thuyết cơ bản này sẽ giúp cho việc khảo cứu, thu lượm các kết quả của luận án được rõ ràng và chính xác hơn
1.2.1.2 Truyền thông xã hội (TTXH)
a) TTXH là gì?
TTXH là một khái niệm chỉ các hoạt động trao đổi thông tin xã hội nhằm hướng tới những chuẩn mực chung trong giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên sống trong xã hội gắn với một nền văn hóa nhất định
Chức năng xã hội của nó là nâng cao hiểu biết của công chúng, tác động can thiệp làm thay đổi nhận thức đến hành động của nhóm cư dân xã hội (đối tượng đích) một cách tự nguyện, tiệm tiến, bền vững hướng đến những lợi ích công cộng
Khác với truyền thông thương mại, truyền thông xã hội là những hoạt động thông tin nhân loại mà các sản phẩm của nó hướng tới những lợi ích cộng đồng, phi thương mại (không nhằm tìm kiếm lợi nhuận) và phát triển bền vững [27, tr.27]
Trang 33Nói tóm lại, mục tiêu chính của TT chính là tác động, giác ngộ nhằm thay đổi nhận thức, hành động của quần chúng nhân dân Và sức mạnh của TTXH (để đạt được mục tiêu trên) nằm ở chức năng giáo dục
b) Sản phẩm TTXH
TTXH có nguồn gốc lâu đời trong xã hội và có nhiều dạng sản phẩm, trong đó nhiều nhất vẫn là các sản phẩm bằng ngôn ngữ, bởi, ngôn từ là phương tiện biểu đạt hiệu quả nhất
Sản phẩm ngôn ngữ trong địa hạt TTXH phần lớn là các loại DN xuất
hiện trong đời sống giao tiếp và tinh thần xã hội với nhiều dạng như: diễn văn,
hiệu triệu, áp phích, khẩu hiệu, diễn từ, và các phương tiện biểu đạt: in ấn,
viết vẽ, điện ảnh, những vật thể treo và bay (băng, cờ, biểu ngữ), các hình thức thông tin đại chúng, các vật phẩm được dùng (áo phông, túi xách, các loại lịch, ) Bên cạnh đó, bản thân con người cũng tham gia vào như một đối tác của TTXH, bởi vì con người dùng ngôn ngữ tham gia vào các cuộc thảo luận, diễn giảng, tọa đàm, báo cáo,
Tóm lại, TTXH là loại hình TT phi thương mại, sản phẩm đa dạng và
có tính tiếp thị xã hội Sản phẩm TTXH có mục đích thay đổi nhận thức, hành
động vì những lợi ích cộng đồng, phát triển bền vững các giá trị: quần chúng
từ chỗ chưa hiểu biết đến hiểu biết, từ hiểu biết đến hành động theo hướng có lợi, có ích
Sản phẩm TTXH có mặt trên mọi lĩnh vực của đời sống thông tin Mỗi loại hình TT, theo đó, lại sử dụng những sản phẩm tương ứng
Trang 34TTXH, một mặt có bản chất TT (theo công thức CIE), nhưng hoạt động theo định hướng phi thương mại, với mục tiêu huy động nguồn lực xã hội, phát triển lợi ích công cộng
1.2.2 Những cơ sở lí luận ngôn ngữ học
1.2.2.1 Lí luận của Jakobson về chức năng của ngôn ngữ thơ
Trong giao tiếp nói chung, ngôn ngữ thực hiện những chức năng rất khác nhau, trong đó có chức năng tác động Chức năng tác động của ngôn ngữ trong giao tiếp được biểu hiện bởi sự ảnh hưởng của nó (ngôn ngữ) tới tư tưởng, tình cảm, ý chí, niềm tin và cách ứng xử của đối tượng giao tiếp Do
đó, ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp không những chỉ nhằm mục đích truyền đạt thông tin, gây ảnh hưởng mà còn là một hình thức động viên, khuyến khích thúc đẩy sự thay đổi suy nghĩ và hành động của đối tượng
Bởi vậy mà, tính tác động của ngôn ngữ trong giao tiếp có ý nghĩa quan trọng trong công tác giáo dục, tuyên truyền, chỉ huy, lãnh đạo Điều đó được biểu hiện cụ thể như:
+ Thông qua ngôn ngữ để chủ thể vận động, tuyên truyền và thuyết phục đối tượng, trên cơ sở đó gây ảnh hưởng và xây dựng niềm tin với họ
+ Tính tác động của ngôn ngữ còn do bởi tính đơn giản, rõ ràng, tính lô gích và phẩm chất, năng lực, uy tín của chủ thể trong từng mối quan hệ
Hiệu quả tác động của ngôn ngữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến như:
+ Tính chất của mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng;
+ Mục đích sử dụng ngôn ngữ của chủ thể;
+ Ngữ điệu của ngôn ngữ trong các tình huống của quá trình giao tiếp
Do đó, bằng ngôn ngữ con người có thể hướng dẫn (dạy bảo), khuyên
răn, ngăn ngừa những hành động sai trái của đối tượng hoặc có thể biểu lộ lời yêu cầu, ra lệnh hoặc thuyết phục giáo dục, tỏ thái độ,…Tất cả những điều
Trang 35đó được thực hiện bằng các cách thức phát ngôn theo văn phạm hoặc các phong cách ngôn ngữ khác nhau
Văn thơ là một loại hoạt động giao tiếp, trong đó có dòng thơ kháng chiến Bản thân ngôn ngữ thơ, trong giao tiếp, nó cũng biểu hiện những chức năng nhất định của mình
Bàn về chức năng của ngôn ngữ thơ nói riêng, giới nghiên cứu thường
nhắc đến Jakobson (một học giả nổi tiếng của thời kì hậu cấu trúc luận)
Với hai công trình “Luận về ngữ học đại cương” và ―Những vấn đề thi
pháp học‖, Jakobson đã cung cấp một kho tư liệu gốc về lí thuyết để phát
triển phương pháp phê bình thi pháp học cấu trúc
Ông cho rằng, mỗi chức năng ngôn ngữ lại có mối liên hệ trực tiếp với một trong những bộ phận cấu thành của sơ đồ giao tiếp của ông mà chúng tôi
đã dẫn ở mục trên Theo Jakobson (1960), trong giao tiếp, ngôn ngữ có 6 chức năng theo thứ tự tương ứng với các nhân tố giao tiếp trong sơ đồ của ông đưa
ra là:
Hình 1.5: Sơ đồ 6 chức năng theo thứ tự tương ứng với các nhân tố
trong sơ đồ giao tiếp của Jakobson
(Nguồn: Bài ―Ngôn ngữ học và Thi học‖ Cao Xuân Hạo dịch đăng trong Tạp chí Ngôn ngữ số 14/2001)
+ Quy chiếu (nhận thức, biểu nghĩa)
Trang 36+ Biểu cảm, yêu cầu (hướng tới người nhận)
+ Duy trì (giữ hoặc cho thôi giao tiếp)
+ Siêu ngữ (ngôn ngữ nói về ngôn ngữ)
+ Chức năng thơ (hướng về chính bản thân thông điệp, chức năng này
thống trị trong ngôn ngữ văn học)
Trong quá trình nghiên cứu, Jakobson đã phát hiện phong cách chức năng ngôn từ là tập hợp của một số các tiểu chức năng Ông cho rằng, sự khác nhau giữa các thông điệp chính là ở sự khác nhau giữa tôn ti và thứ bậc của các tiểu chức năng
a) Tiểu chức năng “biểu hiện”
Theo Jakobson, chức năng đầu tiên gọi là chức năng ―biểu hiện‖ hay
―nhận thức‖ Đây là chức năng chủ yếu trong nhiệm vụ của rất nhiều loại thông điệp
b) Tiểu chức năng “biểu cảm”
Tiểu chức năng này, trong ngôn ngữ tập trung vào người nói (thể hiện thái độ đối với nội dung mệnh đề) nhằm bày tỏ một cảm xúc nào đó, liên quan đến cái đang được nói đến Vì vậy, chức năng này rất quan tâm đến tình thái của phát ngôn Chức năng biểu cảm được thể hiện bằng cách thay đổi sắc thái biểu cảm trong những tình huống khác nhau
c) Tiểu chức năng “kêu gọi”
Chức năng này hướng về người nhận, mà diễn đạt ngữ pháp tiêu biểu nhất là hô cách và mệnh lệnh thức Những câu mệnh lệnh khác hẳn với câu khẳng định Các câu khẳng định có thể kiểm điểm được tính chân ngụy, có thể đúng hay không đúng còn với các câu mệnh lệnh người nghe có thể làm hoặc không làm
Trên cơ sở ba chức năng: biểu hiện, biểu cảm và kêu gọi, Jakobson đề
xuất thêm một vài chức năng phụ trợ khác và theo ông thì những chức năng
đó là: siêu ngữ, duy trì sự tiếp xúc và chất thơ
Trang 37d) Tiểu chức năng “siêu ngữ”
Về chức năng siêu ngữ, theo ông, trong lô gích người ta phân biệt hai cấp độ của ngôn ngữ là ―ngôn ngữ đối tượng‖ nói về những sự vật, và ―siêu ngữ‖ nói về bản thân ngôn ngữ Bất kì ngôn ngữ nào cũng phải lấy nó để thông báo, giải thích cho chính nó, hay, khi nào người ta dùng ngôn ngữ để giải thích, mô tả chính ngôn ngữ thì lúc đó người ta đang sử dụng chức năng thứ ba – chức năng siêu ngữ
Siêu ngôn ngữ là việc người gửi và người nhận cần phải cùng kiểm tra xem hai người có đang cũng ở trong một mã giao tiếp hay không, câu nói của
họ có được hướng vào tín mã không
Trong giao tiếp, nếu tỉ lệ của những biểu hiện siêu ngữ càng cao thì khoảng cách giữa hai người càng lớn, hoặc, đó là dấu hiệu của sự phá vỡ mối quan hệ
e) Tiểu chức năng “duy trì sự tiếp xúc”
Tiểu chức năng đáng chú ý khác là tiểu chức năng duy trì sự tiếp xúc hay nói cách khác là tiểu chức năng tác động Chức năng này có tác dụng liên
kết người nói với người nghe thành một khối nhằm đảm bảo cho sự giao tiếp luôn liên tục
Tiểu chức năng này khá rộng thể hiện qua HĐNT với các hành động
như: thỉnh cầu, van xin, sai khiến, động viên, tùy cương vị của người nói với
người nghe Nếu theo lí luận của ngữ nghĩa học cú pháp hiện đại thì tác động này có tính xuyên ngôn Nó có thể gây ra hiệu ứng tâm lí ở người nghe không chỉ về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa mà còn có nhiều liên hệ với cảm xúc và chất thơ Ví dụ:
Khi nghe tiếng điện thoại chúng ta phải luôn "dạ, vâng" để thể hiện mình đang nghe người kia nói Hoặc, trong các DN, những ngữ như: "tóm lại
là", "như vậy là", "bởi thế cho nên" cũng thể hiện sự liên tục của lời nói
Trang 38f) Tiểu chức năng “tính thơ”
Tiểu chức năng cuối cùng là ―tính thơ‖ Đây là chức năng mà Jakobson
đã nhấn mạnh và phân tích nhiều trong lí luận về ngôn ngữ thi ca của ông Theo ông, bản thân mỗi một ngôn ngữ, khi cấu tạo thông điệp, con người đều can thiệp, kiểm soát, tạo nên những hình thức đưa nó vào hành lang của cái đẹp, của chuẩn mực xã hội Bởi, một trong những tập tính tự nhiên trong giao tiếp giữa con người với con người là hướng về cái đẹp (bên cạnh việc hướng
về cái thiện, cái chân) Chức năng ―tính thơ‖ làm cho các yếu tố ngôn ngữ được sắp xếp một cách tự nhiên, hài âm, hài nghĩa cho thuận tai người nghe Theo quan niệm của trường phái Praha thì chức năng ―tính thơ‖ xuất hiện khi ngôn ngữ trở về với chính nó
Nói tóm lại, từ Jakobson, ngôn ngữ học chuyển sang một thời kì mới trong nghiên cứu về các chức năng ngôn ngữ Việc đưa ra 6 chức năng trong ngôn ngữ là kết quả của một tiến trình nhận thức của nhân loại về bản chất của ngôn ngữ Chính vì vậy, trong lịch sử ngôn ngữ học, người ta thường xếp
lí thuyết 6 chức năng ngôn ngữ của Jakobson như là một bước ngoặt từ cấu
trúc luận cổ điển sang chức năng luận hiện đại và gọi đó là “lí thuyết chức
năng của hậu cấu trúc luận”
1.2.2.2 Lí luận của Halliday về chức năng xã hội
Halliday là nhà chức năng luận coi trọng chức năng xã hội, chức năng
tư tưởng của các hoạt động ngôn ngữ và của bản thân ngôn ngữ [117]
Halliday có lí khi gọi bình diện nghĩa học là bình diện biểu hiện, nghĩa
là sự biểu hiện này nằm trong nội dung nghĩa nhằm biểu đạt sự tình trong thế giới được miêu tả Nội dung biểu hiện được xét như một thông điệp, thông báo Halliday đã chia khái niệm quá trình thành những nội dung như vật chất, tinh thần trong đó có người hành động là trung tâm, có người thể nghiệm là trung tâm, còn quan hệ thì trong đó cũng có sự vật trả lời cho câu hỏi là cái gì,
Trang 39ở chỗ nào, của ai? Quá trình biểu hiện bằng các ứng xử như cảm nghĩ, nói năng, trong đó có người nói, người nghe, đôi khi có cả người hưởng lợi, người tác động Gắn với quá trình này có tham thoại khác nhau với những nét khu biệt về nghĩa
Điều mới nhất của Halliday là nhìn chức năng giao tiếp của ngôn ngữ trong những khía cạnh xã hội như một hệ thống dưới dạng kinh nghiệm Nó gắn với chức năng tư tưởng Quan niệm này đã mở lối đưa ra một loạt những khái niệm công cụ để tiếp cận câu và nghĩa của câu, văn bản
Halliday cũng như Chomsky, từ ngôn ngữ trẻ em ông cho rằng phải nắm vững chức năng ngôn ngữ vì ngôn ngữ là công cụ vừa đa chức năng, vừa chuyên dụng Bao trùm là chức năng biểu hiện của ngôn ngữ Các tiểu chức năng chính là cách sử dụng khác nhau của ngôn ngữ
Đối với ngôn ngữ người lớn thì các chức năng hàm nghĩa phong phú và trừu tượng hơn, bao gồm:
+ Chức năng tư tưởng liên quan đến chủ đề
+ Chức năng văn bản liên quan đến cấu trúc của ngôn ngữ
+ Chức năng liên nhân
Ba chức năng này góp phần tạo ra tiềm năng ý nghĩa ngôn ngữ, cái sẽ được hiện thực hóa trong các cấu trúc
Ngôn ngữ trong khi là hành động xã hội chịu sự chi phối rất lớn của ngữ cảnh, nghĩa của từ hay nghĩa của câu đều một phần do ngữ cảnh quyết định Ngữ cảnh là cấu trúc biểu tượng với ba nội dung lớn:
+ Toàn cảnh
+ Phương thức
+ Người nói (Các vai xã hội của chủ thể người nói trong hoạt động
giao tiếp)
Trang 40Người nói có thể thay đổi vai theo các tình huống xã hội khác nhau với các HĐNT thích hợp Ba nội dung trên tương tác nhau, quyết định sự lựa chọn các biến thể của ngôn ngữ trong sử dụng
1.2.2.3 Luận thuyết về hành động ngôn từ của các nhà ngữ học chức năng
Ngôn ngữ học tiền dụng học có hạn chế rất lớn là chưa phát hiện ra được bản chất hành động của sự giao tiếp Cho đến năm 1962, khi nhà triết học người Anh là Austin đưa ra luận thuyết ―hành động ngôn từ” với luận điểm nổi tiếng ―Nói tức là làm‖ (khi ta nói cũng tức là ta đang hành động) thì
ngôn ngữ học mới đi sâu vào bản chất hành động của ngôn ngữ Lí thuyết này
về sau được Searle, Dik, Van Valin và các tác giả khác kế thừa phát triển, trở thành một lí thuyết nổi tiếng trong ngôn ngữ học Chức năng luận Theo Austin, có 3 loại hành động hiện hữu cùng lúc trong các phát ngôn:
- Hành động tạo lời (locutionary acts)
- Hành động tại lời (illocutionary acts)
- Hành động mượn lời (perlocutionary acts)
Trong Ngữ dụng học, người ta chỉ nghiên cứu loại hành động thứ hai, tức là hành động tại lời, do vậy, khi nói HĐNT là người ta nói đến hành động tại lời Trong hầu hết các trường hợp, khi ta nói ra một phát ngôn là ta đã thực
hiện một hành động tại lời bằng chính phương tiện ngôn ngữ như: kể, trình
bày, hỏi, cầu khiến, mời, khuyên, hứa, cam đoan, thề, xin lỗi, cảm ơn, biểu cảm, tuyên bố, Một HĐNT được tạo ra khi người nói (SP1) trao một phát ngôn (U) cho người nghe (SP2) ở trong một ngữ cảnh (C) nhất định Mỗi
HĐNT đều chuyển tải ít nhất một và thường là hơn một lực tại lời (F – còn gọi là lực ngôn trung) – là lực do SP1 tạo ra và tác động tới SP2 [58, tr.59-60]
Trên bình diện dụng học, có hai hướng chính để phân loại HĐNT
Hướng thứ nhất, theo Austin (1962), là hướng phân loại từ vựng hay phân loại theo động từ ngữ vi Theo đó, các HĐNT được chia thành 5 nhóm là: