1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác tôn giáo ở việt nam hiện nay lý luận và thực tiễn (qua khảo sát tại tỉnh ninh bình)

195 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích: Thông qua nghiên cứu về công tác tôn giáo trên hai phương diện lý luận và thực tiễn, luận án đối chiếu vào việc thực hiện công tác tôn giáo ở một địa bàn cụ thể - tỉnh Ninh Bì

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ MINH THẢO

CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY -

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (QUA KHẢO SÁT

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Lê Thị Minh Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án 21

1.3 Một số khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong luận án 23

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 26

2.1 Lý luận về công tác tôn giáo 26

2.2 Thực tiễn công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 45

2.3 Những nét mới trong công tác tôn giáo và nhân tố ảnh hưởng đến công tác tôn giáo ở Viê ̣t Nam hiện nay 59

Tiểu kết chương 2: 68

Chương 3: THỰC TIỄN CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY 69

3.1 Tình hình, đặc điểm tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình 69

3.2 Quá trình thực hiện công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình 82

3.3 Nhận xét chung về công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình 108

Tiểu kết chương 3: 116

Chương 4: DỰ BÁO XU HƯỚNG TÌNH HÌNH TÔN GIÁO, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ 118

4.1 Dự báo xu hướng về tình hình tôn giáo và những vấn đề đặt ra 117

4.2 Một số giải pháp, khuyến nghị 132

Tiểu kết chương 4: 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 165

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNTB : Chủ nghĩa tư bản CTQG : Chính trị Quốc gia HĐND : Hội đồng nhân dân MTTQ : Mặt trận Tổ quốc NXB : Nhà xuất bản QLNN : Quản lý Nhà nước XHCN : Xã hội chủ nghĩa UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 5

3 3.3 Bản đồ hệ thống nhà thờ Giáo phận Phát Diệm 77

4 3.4 Thống kê tình hình đất đai tôn giáo từ năm 2003 -2013 101

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Để đạt được mục tiêu đó, vấn đề đoàn kết toàn dân trong đó có đồng bào theo tôn giáo luôn là nhiệm vụ mang tính chiến lược, là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lịch sử dân tộc đã chứng minh, triều đại nào, nhà nước

nào biết khai thác thế mạnh của tôn giáo, biến tình cảm tôn giáo thành tình cảm dân

tộc sẽ góp phần tạo ra nội lực đoàn kết, trở thành động lực để dân tộc ta đánh thắng

kẻ thù xâm lược, ổn định và phát triển đất nước Nhưng cũng có những giai đoạn

lịch sử do thiếu hiểu biết của các nhà cầm quyền về đức tin tôn giáo đưa đến một

thực trạng gây chia rẽ tôn giáo, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc làm suy yếu nội lực đất nước Trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết các thành phần dân tộc và tôn giáo nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử

Trong tiến trình đổi mới ở nước ta, năm 1990, Bộ chính trị ra Nghị quyết 24

về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới Nghị quyết xác định: Tôn giáo

là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một

bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng

xã hội mới Theo đó, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được tôn trọng; sự bình đẳng và tình đoàn kết lương giáo được củng cố; thái độ định kiến, phân biệt đối xử với người có đạo của một số cán bộ, đảng viên được khắc phục về căn bản; hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được kịp thời uốn nắn, Đồng thời, các cơ quan chức năng đã ngăn chặn nhiều hành vi của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, phá hoại sự nghiệp cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác tôn giáo cũng đang đặt ra nhiều thách thức nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng như

Trang 7

hiện nay Những vấn đề mới phát sinh trong tôn giáo như việc đòi lại đất thờ tự, sự biến tướng và phát triển của một số tôn giáo vì mục đích chính trị, điển hình là Tin Lành Đề ga ở Tây Nguyên, sự nhận thức về tôn giáo và chính sách, pháp luật về tôn giáo ở các địa phương không đồng đều, dẫn đến việc thực hiện công tác tôn giáo không thống nhất

Đổi mới đường lối, chính sách tôn giáo dù luôn là vấn đề ở tầm “vĩ mô”, nhưng chính công tác tôn giáo là yếu tố quyết định trực tiếp, nhất là đảm bảo sự

ổn định chính trị, xã hội, đại đoàn kết dân tộc - tôn giáo Công tác tôn giáo là quan trọng nhưng lại rất ít được giới chuyên môn nghiên cứu một cách tổng thể, làm rõ nội hàm của vấn đề này, nhất là ở một địa bàn cụ thể Ninh Bình là tỉnh

có những đặc điểm khá tiêu biểu cho đời sống tôn giáo ở các tỉnh phía Bắc Nhưng trên thực tế gần như chưa có nhiều công trình đề cập toàn diện đến công tác tôn giáo ở nơi đây Đó là lý do thực tiễn quan trọng thúc đẩy tác giả lựa chọn

đề tài nghiên cứu

Ninh Bình là tỉnh có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời - vùng đất đế đô, nơi Phật giáo và Công giáo đã tại vị gần như sớm nhất so với các tỉnh thành khác ở nước

ta, có thể được coi là trung tâm quốc gia của hai tôn giáo này Do vậy, một di biến dù nhỏ trong đời sống tôn giáo ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam và thế giới đều nhận được ngay phản ứng từ các chức sắc và tín đồ nơi đây và ngược lại mỗi động thái của tôn giáo ở Ninh Bình cũng lập tức tác động đến sinh hoạt tôn giáo trong cả nước Vì thế, nghiên cứu tôn giáo và công tác tôn giáo từ thực tiễn đời sống tôn giáo của tỉnh Ninh Bình càng trở nên cần thiết và có tính thời sự

Việc nghiên cứu công tác tôn giáo trên địa bàn cụ thể - tỉnh Ninh Bình sẽ góp phần chỉ ra những nét chung và những nét đặc thù trong việc thực hiện công tác tôn giáo, từ đó hy vọng có thể bổ sung, làm phong phú thêm công tác tôn giáo của Đảng

và Nhà nước cả về lý luận và thực tiễn

Từ thực tế đó, tác giả chọn vấn đề: Công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay -

lý luận và thực tiễn (Qua khảo sát tại tỉnh Ninh Bình) làm đề tài luận án tiến sĩ,

chuyên ngành CNXHKH

Trang 8

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích:

Thông qua nghiên cứu về công tác tôn giáo trên hai phương diện lý luận và thực tiễn, luận án đối chiếu vào việc thực hiện công tác tôn giáo ở một địa bàn cụ thể - tỉnh Ninh Bình; chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả của sự đổi mới về tôn giáo, công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được; những vấn đề đặt ra trong công tác tôn giáo, đưa ra giải pháp khuyến nghị nhằm nâng cao công tác tôn giáo ở Ninh Bình trong thời gian tới, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm công tác tôn giáo ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác tôn giáo

cũng như làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Hai là, nghiên cứu quá trình thực hiện công tác tôn giáo ở Ninh Bình trong

thời kỳ Đổi mới, nêu lên những thành tựu và hạn chế của công tác tôn giáo ở Ninh Bình, chỉ ra những nguyên nhân thành tựu và hạn chế đó

Ba là, dự báo xu hướng tình hình tôn giáo, những vấn đề đặt ra và đề xuất

giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình, góp phần bổ sung và làm phong phú công tác tôn giáo ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

4 Phương pháp luận, khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo

4.2 Khung lý thuyết

Trong luận án, tác giả chủ yếu sử dụng các lý thuyết sau:

- Lý thuyết về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị Trong xã hội có giai

cấp, chính trị và tôn giáo luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau Nếu như Nhà nước được xem là nhân tố cốt lõi trong cấu trúc của chính trị thì nét đặc trưng

cơ bản nhất của mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo là quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội (tổ chức tôn giáo) Quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo thể hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt là Nhà nước hoạch định chính sách, pháp luật tôn giáo để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong nhân dân Ở nhiều quốc gia, không có khái niệm về công tác tôn giáo, họ giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội thông qua luật pháp tôn giáo Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị cùng làm công tác tôn giáo, đó là nét khác biệt mà đề tài làm rõ

- Lý thuyết xã hội học tôn giáo: Tôn giáo, với tư cách là những thực thể, ở

góc độ cộng đồng, là những tổ chức đặc thù chịu sự chế ước chung của xã hội Xã hội học tôn giáo nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ của tôn giáo với xã hội, ý nghĩa của tôn giáo trong xã hội và sự phân bố tôn giáo trong các giai tầng xã hội Xã hội học tôn giáo nhấn mạnh chức năng, vai trò của tôn giáo trong xã hội Sử dụng lý thuyết này, tác giả luận án quan tâm đến sự tác động qua lại giữa tôn giáo với đời sống xã hội, giữa tôn giáo và công tác tôn giáo, giữa chủ thể và khách thể trong công tác tôn giáo,… để rút ra những nhận xét, đánh giá kết quả công tác tôn giáo của hệ thống chính trị

- Lý thuyết về nghiên cứu trường hợp (case study): Thông qua việc chọn

điểm, chọn mẫu mang tính tiêu biểu, từ thực tiễn đó bao quát các sự vật, hiện tượng Tác giả luận án chọn Ninh Bình làm nghiên cứu trường hợp, qua đó để chứng minh tính đúng đắn, phong phú, đa dạng của quá trình đổi mới tôn giáo và công tác tôn

Trang 10

giáo ở Việt Nam, đồng thời có thể phát hiện những vấn đề mới bổ sung những nảy sinh trong quá trình thực hiện công tác tôn giáo Việc nghiên cứu trường hợp không

có ý nghĩa tuyệt đối, tách biệt cái chung Luận án tiếp cận công tác tôn giáo ở Việt Nam như là cái nền chung trên cơ sở đó khảo sát công tác tôn giáo trên địa bàn, cụ thể là tỉnh Ninh Bình

4.3 Phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm phân tích mối quan hệ giữa đổi mới đường lối chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo; mối quan hệ giữa đời sống tôn giáo và chính sách tôn giáo; mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội qua công tác tôn giáo; mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Ngoài ra, trong luận án, tác giả còn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp đi từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn trở

về với lý luận, phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp đối chiếu - so sánh, đặc biệt là phương pháp xã hội học tôn giáo kể cả khảo sát thực tế và phỏng vấn sâu; cách tiếp cận chính trị học, sử học, văn hóa vùng,

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình luận giải tương đối hệ thống về nội hàm của công tác tôn giáo mang tính đặc thù của Việt nam, đối chiếu vào việc thực hiện công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình - một tỉnh khá tiêu biểu cho đời sống tôn giáo ở các tỉnh phía Bắc Luận án đưa ra giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình những năm đổi mới tiếp theo, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước cả về lý luận và thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án hướng tới một cách nhìn tổng thể về công tác tôn giáo, vấn đề mà

từ trước đến giờ chỉ được hiểu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo và công tác tôn giáo tại các viện nghiên cứu tôn giáo, trường Chính trị các tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị tại các huyện, thị, các cơ quan ban ngành có liên quan đến công tác tôn giáo,

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 04 chương 11 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận chung về tôn giáo và thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Công trình Những vấn đề Tôn giáo hiện nay của Viện Nghiên cứu tôn giáo -

Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

1994 Cuốn sách gồm những chuyên khảo của các tác giả về một số vấn đề tôn giáo đang được nhiều người quan tâm như: tình hình, xu thế tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam; luận điểm tôn giáo là “thuốc phiện của nhân dân” hiểu thế nào cho đúng; tôn giáo và đạo đức, đặc điểm Phật giáo Việt Nam qua ngôi chùa trong đời sống văn hóa xã hội

Đáng chú ý hơn, cuốn Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2001), Nxb CTQG, Hà Nội của tác giả Đặng Nghiêm Vạn Cuốn sách là một phần

của bản tổng kết kết quả nghiên cứu của tác giả khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới về tôn giáo và công tác tôn giáo Trong công trình này, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về tín ngưỡng, tôn giáo như: khái niệm về tôn giáo, sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, từ đó đưa ra định nghĩa về tôn giáo Khi phân tích bức tranh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng đời sống tôn giáo vận hành tùy theo tâm thức truyền thống, đồng thời phản ánh tình hình xã hội đương thời Tuy nhiên, trong tổng thể một công trình chung, khá rộng, công trình này mới đề cập những nét chung nhất về tình hình, đặc điểm, chính sách tôn giáo và giới hạn vấn đề ở những năm cuối thế kỷ XX

Trong năm 2001, các cuốn sưu tập về chủ nghĩa Mác - Lênin với tôn giáo

liên tiếp được xuất bản như: Mác, Ănghen, Lênin bàn về tôn giáo, do Nguyễn Đức

Sự tuyển chọn và biên soạn, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2001 Cuốn Mác,

Ănghen, Lênin bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần do Trần Khang, Lê Cự Lộc

dịch, Nxb CTQG Hà Nội Những tư liệu này đã tập hợp những tác phẩm của các nhà kinh điển Mác xít về tôn giáo

Công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo (2003),

do Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên), Nxb Tôn giáo, Hà Nội Cuốn

Trang 12

sách đề cập đến nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tôn giáo như: vấn đề đoàn kết tôn giáo, khai thác các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, vấn đề xây dựng Đảng trong các vùng có đông tín đồ tôn giáo, Các tác giả đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin để giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam

mà còn có những cống hiến mới, sáng tạo mới, những phát triển mới đặc biệt quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có vấn đề tôn giáo

Còn phải kể đến công trình Một số tôn giáo ở Việt Nam (2005), Nxb Tôn

giáo của tác giả Nguyễn Thanh Xuân Cuốn sách đã khái quát một cách hệ thống sáu tôn giáo lớn ở nước ta, từ sự ra đời, phát triển, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo, cơ cấu tổ chức giáo hội của các tôn giáo

Cuốn Một số vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 2012 của Trương Hải Cường, trong công trình tác giả không

đi sâu vào tư liệu mà đóng góp chính của cuốn sách nằm ở chỗ phân biệt mặt xã hội (hiện tượng) của tôn giáo và mặt tâm linh của tôn giáo, phân biệt nghiên cứu tôn giáo từ bên ngoài và nghiên cứu tôn giáo từ bên trong, chỉ ra yêu cầu cần thiết phải

bổ sung nghiên cứu tôn giáo từ bên trong

Tác giả Trần Bạch Đằng trong bài “Tín ngưỡng và tôn giáo, quan điểm của

Nhà nước Việt Nam”, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 1 (2005), tác giả cho rằng

Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh không đố kỵ với tín ngưỡng, tôn giáo, không đơn thuần xét tín ngưỡng, tôn giáo ở góc độ chính trị theo kiểu đồng nhất tín ngưỡng và tôn giáo là xấu, không xét đoán thái độ đối với đất nước và dân tộc thông qua lăng kính có tín ngưỡng, có tôn giáo hay không

Các tác giả nước ngoài viết về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam không nhiều, có

Trang 13

trong thời kỳ đổi mới, vấn đề chính trị và tôn giáo ở Việt Nam đang có những nét

mới so với truyền thống tôn giáo và chính trị Cuốn The Emergence of a Nonprofit

Sector and Philanthropy in the Socialist Republic of Vietnam (Sự xuất hiện của các

tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức từ thiện tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) của Mark Sidel thuộc Đại học Iowa ở Hoa Kỳ nghiên cứu về vai trò của các

nhóm xã hội trong đó có tôn giáo; Trong luận án của Joseph Hannah với đề tài

Local Non-Government Organizations in Vietnam:Development, Civil Society and State-society Relations" (2007) (Tổ chức phi chính phủ địa phương ở Việt Nam: Sự phát triển, xã hội và mối quan hệ nhà nước - xã hội) đã đề cập đến quan hệ của nhà

nước với các đoàn thể, các tổ chức xã hội/tôn giáo ở Việt Nam Đây là những gợi ý khá mới, sinh động về một xã hội/tôn giáo Việt Nam năng động và đầy triển vọng

Như vậy, những công trình nghiên cứu về tôn giáo và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam cho thấy những cách nhìn khác nhau về tôn giáo và bức tranh toàn cảnh

về tôn giáo trong quá trình đổi mới có những chuyển biến tích cực, cần thiết phải thực hiện công tác tôn giáo với những nội dung và phương pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra Đó là những nguồn tư liệu quan trọng cả về lý luận và thực tiễn để tác giả kế thừa, tham khảo trong quá trình nghiên cứu và viết luận án của mình

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác tôn giáo

- Trong các lĩnh vực của công tác tôn giáo, những công trình nghiên cứu về

chính sách Việt Nam trong thời kỳ đổi mới chiếm số lượng lớn Đây là đề tài được

nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó các tác giả đặc biệt nhấn mạnh về sự đổi mới nhận thức, quan điểm đường lối về tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong thời

kỳ Đổi mới

Trong cuốn Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - lý luận và thực

tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2005, tác giả Đỗ Quang Hưng đã khái quát quá

trình phát sinh, phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo

và vấn đề tôn giáo, cùng với đó là quá trình Đảng và Nhà nước Việt Nam xây dựng, phát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách tôn giáo qua các giai đoạn lịch sử, chủ yếu từ cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Dù tác giả chưa đề cập nhiều đến công tác tôn giáo nhưng với việc làm rõ hơn lịch sử, vai trò, vị trí của mô hình nhà

Trang 14

nước thế tục và sự xuất hiện mô hình này ở Việt Nam, cũng phần nào cho thấy trong công tác tôn giáo, vai trò của nhà nước là vô cùng quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và quản lý xã hội về tôn giáo

Trong các công trình tiêu biểu của mình như cuốn Lý luận về tôn giáo và

chính sách tôn giáo ở Việt Nam (Nxb Tôn giáo, 2007; tái bản 2011) và cuốn Tôn giáo - Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay , Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009, tác giả Nguyễn Đức Lữ đã tập

trung chủ yếu vào các vấn đề tôn giáo ở thời kỳ đổi mới như: lý luận về tôn giáo; tình hình tôn giáo thế giới và Việt Nam; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo trong tiến trình cách mạng Việt Nam Tác giả đã bám sát văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng, bình luận và minh hoạ bằng dữ liệu thực tiễn, đồng thời gợi mở những vấn đề cần trao đổi thêm

Có thể nói, cuốn sách Công tác tôn giáo - Từ quan điểm Mác - Lênin đến

thực tiễn Việt Nam của tác giả Ngô Hữu Thảo, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính,

Hà Nội, 2012 là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam đề cập đến vấn đề lý luận về “Công tác tôn giáo” Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ những quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, cũng như việc vận dụng quan điểm Mác- Lênin vào thực tiễn công tác tôn giáo ở Việt Nam - một nội dung quan trọng có liên quan trực tiếp đến luận án Từ

đó, tác giả cho rằng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin, từ phát kiến vĩ đại của mình là quan điểm duy vật lịch sử, đã nhận thức vấn đề tôn giáo trong toàn bộ quá trình phát triển biện chứng của loài người Theo đó, công tác tôn giáo ở Việt nam hiện nay cần phải trở về với chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo, coi đó

là kim chỉ nam chứ không phải giáo điều Đồng thời, tác giả cũng đánh giá kết quả

thực hiện công tác tôn giáo trong thời gian qua, luận giải một số vấn đề của công tác tôn giáo trong thời gian tới Tuy nhiên, nghiên cứu về công tác tôn giáo ở địa phương không phải là đối tượng nghiên cứu trong công trình này, đó cũng chính là một trong những nội dung luận án cần làm rõ

Nguyễn Hồng Dương trong công trình nghiên cứu Quan điểm đường lối của

Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị

Trang 15

Quốc gia, Hà Nội 2012 Tác giả đã đề cập khá toàn diện quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo qua các văn kiện, nghị quyết của Đảng

ta, đặc biệt là từ đổi mới đến nay Đồng thời, tác giả cũng phân tích sự kịp thời của nhà nước trong việc thể chế hóa bằng những văn bản pháp quy đưa những quan điểm của Đảng về tôn giáo vào cuộc sống Một nét riêng là tác giả đã phân tích, những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo, so sánh với kinh nghiệm giải quyết vấn

đề tôn giáo ở một số nước - cái nhìn đối sánh với Việt Nam như ứng xử với tôn giáo của Trung Quốc, Thái Lan, Singapore Trong một công trình khác do Nguyễn Hồng

Dương (Chủ biên): Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay -

Những vấn đề lý luận cơ bản, Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện văn hóa, Hà Nội

2014 Trong công trình này, các tác giả đã phân tích, đánh giá, tiến trình nhận thức, hình thành quan điểm của Đảng Cộng sản về tôn giáo từ năm 1930 đến nay, đưa ra những vấn đề còn bất cập về công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo hiện nay Bên cạnh đó, các tác giả cũng phân tích những thành tựu và những vấn đề mới đặt ra trong thực hiện chính sách tôn giáo Tác giả nhận định rằng: trong tình hình mới đòi hỏi Đảng, Nhà nước tiếp tục đổi mới chủ trương, chính sách đối với tôn giáo Ở tầm

vĩ mô vẫn là định hình một cách rõ nét hơn mối quan hệ Nhà nước với Giáo hội, là

sự vận dụng nguyên tắc chính, giáo phân ly

Cuốn sách Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, 2014, là một công trình tổng kết thực tiễn đời sống tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Ngoài những vấn đề thuộc khung lý thuyết cơ bản, trong công trình này tác giả Đỗ Quang Hưng đã trình bày toàn cảnh đời sống tôn giáo Việt Nam hiện nay, làm rõ những vấn đề đặt ra trong mối quan hệ Nhà nước và các giáo hội; khảo sát, đánh giá những động thái chuyển biến của quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, nêu lên những vấn đề đặt ra cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tôn giáo Tác giả cũng gợi mở một vấn đề quan trọng khác là nỗ lực mô hình hóa một nhà nước pháp quyền về tôn giáo trong

điều kiện Việt Nam hiện nay Mặc dù đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của công tác tôn

giáo là chính sách tôn giáo song còn những nội dung quan trọng khác trong công tác tôn giáo như việc thực hiện chính sách tôn giáo, bộ máy và lực lượng làm công tác

Trang 16

tôn giáo tác giả mới đề cập đến một cách khái quát hoặc chỉ đi sâu vào những nội dung mà tác giả quan tâm

Hoàng Minh Đô - Đỗ Lan Hiền có điểm tương đồng trong cách nhìn như

vậy Trong cuốn Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về

tôn giáo và Công giáo Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb

Lý luận Chính trị 2015 Trong công trình, các tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu những thành tựu trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, đặc biệt là về Công giáo, trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo và Công giáo, trong đó nổi bật là vấn đề các chính sách, pháp luật không ngừng được xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, việc giải quyết và công nhận tư cách pháp nhân cho nhiều tôn giáo và các tổ chức tôn giáo, vấn đề đối ngoại và các lĩnh vực khác trong việc thực hiện chính sách tôn giáo

Công trình Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam (2015), Nxb Tôn

giáo, cuốn sách được chia làm hai phần, trong phần hai tác giả Nguyễn Thanh Xuân đã hệ thống chính sách tôn giáo Việt Nam qua các thời kỳ và việc thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là từ khi đổi mới đến nay Tác giả khẳng định, việc thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, công tác đối với tôn giáo đã đưa lại những kết quả rất quan trọng, làm thay đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam theo hướng tích cực và tiến bộ góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của đất nước

Trong một bài viết khác “Trở lại với những quan điểm đổi mới về công tác

tôn giáo của Nghị quyết số 24”, Tạp chí công tác tôn giáo, số 2/2005, (tr.7 -11) tác

giả Nguyễn Thanh Xuân nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của Nghị quyết 24 về vấn đề nhận thức mới về tôn giáo cũng như quan điểm mới về công tác tôn giáo Từ đó, tác giả khẳng định trở lại với những quan điểm đổi mới về công tác tôn giáo của Nghị quyết 24 giúp cho chúng ta hiểu một cách căn bản về chủ trương, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới

Nghiên cứu về chính sách tôn giáo ở Việt Nam, còn có một số học giả nước ngoài, như nhà nghiên cứu (người Pháp gốc Việt) Clairie Trần Thị Liên,

“Communist State and Religious Policy in VietNam: Ahistorical Perspestive” (Nhà nước Cộng sản và chính sách tôn giáo ở Việt Nam: một cách nhìn lịch sử), trong

Trang 17

Tạp chí Hague Journal on the Rule of Law, số 5, 2013 Trong đó, tác giả đã nghiên

cứu trực tiếp sự đổi mới chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Như vậy, dù cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu khác nhau về chính sách tôn giáo, nhưng các tác giả đều thống nhất với nhau ở một điểm là: khẳng định vai trò tiên quyết của chính sách tôn giáo đối với sự thay đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam, cũng như cần phải tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo đáp ứng nhu cầu thực tiễn Việt Nam và phù hợp vớiluật pháp quốc tế

- Thành tựu cũng như những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời gian qua ở Việt Nam có nhiều công trình được công bố Trong các công trình ấy, trước hết phải kể đến những công trình:

Công trình 10 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành

Trung ương khóa IX về công tác dân tộc và tôn giáo do Hoàng Minh Đô, Lê Văn

Lợi (Đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014 Cuốn sách tập hợp các bài viết nhằm đánh giá, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta không chỉ tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn chủ trương phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những giá trị tốt đẹp đó không chỉ nằm trong tư tưởng, giáo lý mà đã hiện diện thông qua hành động của đông đảo đồng bào có đạo Trong đó có những chuyên khảo có giá trị của các nhà nghiên cứu, như “Sự phát triển nhận thức của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo trong thời kỳ đổi mới - từ

lý luận đến thực tiễn” của Đỗ Lan Hiền, “Về công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả

hệ thống chính trị” của Nguyễn Phú Lợi

Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay của Bùi Hữu

Dược, Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội 2014 Tác giả phân tích cơ sở cho công việc quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam: cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo; cơ sở thực tiễn là khảo sát ứng xử với tôn giáo của một số nước trên thế giới Từ đó, tác giả khẳng định quản lý nhà nước về tôn giáo là một trong những yêu cầu cấp thiết, quan trọng của sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong hiện tại và lâu dài

Trang 18

Bài viết “Đằng sau việc vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo”, trong cuốn Nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch, của Ban tư tưởng - Văn hóa Trung ương (Tài liệu lưu hành nội bộ) 2005 Bằng các dẫn chứng cụ thể trên thực tiễn trong các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Giáo hội Công giáo, tình hình dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên theo đạo Tin Lành, tác giả Lê Quang Vịnh khẳng định Nhà nước Việt Nam không chống hoạt động thuần túy tôn giáo, chống đạo Tin Lành, đạo Tin Lành vẫn được tự do truyền đạo trên lãnh thổ nước Việt Nam theo đúng quy định nhà nước Việt Nam, mà chỉ xử lý nghiêm minh những kẻ lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Nguyễn Thế Doanh, trong bài viết “Công tác vận động quần chúng là người

có đạo trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 4+5 (2005), tr.40 -43 Theo tác giả, số lượng tín đồ theo các tôn giáo ở nước ta đông, do vậy công tác vận động quần chúng là người có đạo là vấn đề cần được quan tâm Theo tác giả, hoạt động tôn giáo thường được quy nạp vào 3 nội dung: hành đạo, truyền đạo, quản đạo, do vậy công tác vận động quần chúng có đạo thông qua ba nội dung đó, đảm

bảo cho đồng bào“ấm no phần xác, thong dong phần hồn”

Nguyễn Công Huyên (2013), “Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo qua 8 năm

thực hiện và những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi”, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 8),

tr.6 - 10 Trong bài viết, tác giả đã phân tích những thành tựu nổi bật từ khi thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, các lĩnh vực của công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, từ công nhận các tổ chức tôn giáo, xây dựng, tu sửa cơ sở thờ tự, đến sinh hoạt lễ hội của các tôn giáo đều có sự chuyển biến tích cực Cũng còn đó nhiều vấn

đề bổ sung, sửa đổi khi thực tiễn tôn giáo trên thế giới và Việt Nam có những thay đổi lớn

Đồng quan điểm nêu trên, Phạm Huy Thông (2013) trong bài viết, “Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo: gần 10 năm nhìn lại”, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 11,

tr.3 - 5, tr.26 đã phân tích kỹ những mặt được sau khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn

giáo Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên những bất cập cần phải khắc phục Từ đó, tác giả cho rằng cần phải có những sự điều chỉnh thông thoáng hơn trong các văn bản pháp luật phù hợp với sự vận động của cuộc sống

Trang 19

Phạm Dũng trong bài viết “Thành tựu và bài học kinh nghiệm trong đổi mới công tác tôn giáo gần 30 năm qua”, Tạp chí Cộng sản số 97 – 2015, tr.60 – 67 đã tổng kết những thành tựu cơ bản của công tác tôn giáo trong thời gian qua, đặc biệt

là trong thời kỳ Đổi mới Tác giả cho rằng trong tổng thể công tác tôn giáo, đổi mới công tác vận động quần chúng tín đồ và quản lý nhà nước về tôn giáo là trọng tâm

Bên cạnh đó, là loạt bài viết về kinh nghiệm trong công tác tôn giáo ở nhiều

tỉnh thành trong cả nước đăng trên Tạp chí Công tác tôn giáo Đây là những nguồn

tư liệu quý mà luận án có thể tham khảo

Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã bước đầu đưa ra một cái nhìn tổng quan về quá trình thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam - thành tựu đạt được và những vấn đề đặt ra Các tác giả đều nhận thấy, sự chuyển biến của đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay là một tất yếu do những lý do khách quan và chủ quan khác nhau, đặc biệt là sự đổi mới trong chính sách tôn giáo Những nghiên cứu này, cung cấp cho tác giả những tri thức lý luận và thực tiễn giúp tác giả đi sâu

nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

- Về xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo Là một khâu

quan trọng trong công tác tôn giáo, tuy nhiên đến nay vẫn còn ít các công trình nghiên cứu, chủ yếu là một số luận án, luận văn, bài báo hoặc chiếm một vị trí khiêm tốn trong một số công trình

Thiều Quang Thắng có bài viết “Công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy khóa IX”, trong

cuốn 10 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung

ương khóa IX về công tác dân tộc và tôn giáo (Hoàng Minh Đô - Đỗ Lan Hiền chủ

biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014 Trong đó tác giả đã khái quát những

thay đổi cơ bản về bộ máy quản lý hành chính nhà nước từ 1993 đến 2008 và từ

2008 đến nay và cho rằng, cần có những điều chỉnh cho thích hợp với tình hình tôn giáo hiện nay

Cũng trong công trình này tác giả Nguyễn Thị Hải Yến có bài viết “Về công tác cán bộ làm công tác tôn giáo sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung

ương lần thứ bảy khóa IX” Trong đó tác giả cho rằng công việc thành công hay

thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Tuy cán bộ không phải là nguyên nhân duy

Trang 20

nhất song chắc chắn là lý do quan trọng hàng đầu đối với sự thành bại trong hoạt

động của tổ chức Bằng những minh chứng cụ thể, tác giả đã đánh giá những

thành tựu về công tác cán bộ trong 10 năm qua có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong việc đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo Theo tác giả, để tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo cần phải đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng đòi hỏi hoạt động thực tiễn

Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức chuyên nghiệp làm công tác tôn giáo là một nội dung cơ bản trong công tác tôn giáo, những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên giúp tác giả có cái nhìn tổng thể về vai trò và hệ thống đội ngũ cán

bộ làm công tác tôn giáo

Ngoài ra, còn phải kể đến những tư liệu, tài liệu gốc để nghiên cứu phục vụ

cho việc triển khai luận án như các văn kiện, văn bản pháp quy, báo cáo tổng kết

công tác tôn giáo của các cấp chính quyền Các tư liệu này được tập hợp trong các

cuốn như: Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo của Ban Tôn

giáo Chính phủ, (Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2000 và 2001); Các Tư liệu của Giáo hội Công giáo; Giáo hội Phật giáo,

Cũng cần phải nói thêm, những năm gần đây, Ban tôn giáo Chính phủ cho xuất bản đều đặn những văn bản của Đảng và Nhà nước và các tổ chức tôn giáo như

cuốn Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo tại Việt

Nam (Nhà xuất bản tôn giáo 2003); cuốn Văn bản pháp luật về đất đai, xây dựng có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo 2011; và cuốn Văn bản của Đảng và Nhà nước

về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2012; Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam (Ban Tôn giáo Chính phủ, Tài liệu lưu hành nội bộ, 2012); Tập văn

bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo ở Việt Nam Các tập Văn

kiện Đảng các kỳ Đại hội (phần về tôn giáo) từ tập 1 đến tập 54, Nxb Chính trị

Quốc gia;

Các báo cáo tổng kết công tác tôn giáo hằng năm, báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; các báo cáo chuyên đề, kỷ yếu 60 năm thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ cũng là những nguồn tư liệu quý phục vụ cho luận án

Trang 21

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về tôn giáo và công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình

Về tình hình, đặc điểm đời sống tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình, tác giả luận án

chú ý tới một số công trình sau đây:

Nghiên cứu Phật giáo trên đất Ninh Bình trong công trình của Nguyễn Tài

Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988; Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập 2, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Lã Đăng Bật, Chùa Ninh Bình, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2007; Đức Nhuận, Đạo Phật và dòng sử Việt, Nxb Phương Đông, thành phố Hồ Chí Minh, 2008; Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Bản dịch của Ngô

Đức Thọ (Hà Văn Tấn hiệu đính), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009; Các công trình nghiên cứu nêu trên đã phác họa phần nào về quá trình du nhập và hưng thịnh của đạo Phật trên đất Cố đô xưa, về lịch sử, đặc điểm, sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với chính trị trong lịch sử,

Cuốn sách Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ

nước do Nguyễn Hồng Dương - Thượng tọa Thích Thọ Lạc đồng chủ biên, Nhà

xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010 Theo từng vấn đề có liên quan, các tác giả

đã nhấn mạnh vai trò của Phật Giáo Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ

nước của dân tộc Những đóng góp ấy thể hiện ở hai lĩnh vực: thứ nhất, Phật giáo cung cấp tư tưởng trị nước cho hai triều đại Đinh và Tiền Lê; thứ hai, xuất hiện

những Danh tăng lỗi lạc tham gia chính sự ưu tú như Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, Vạn Hạnh Từ đó các tác giả cũng nhận định cần phát huy những di sản vật chất và tinh thần của Phật giáo thời Đinh - Tiền Lê trong giai đoạn mới, cụ thể trong nhận thức cần coi Phật giáo là một thực thể không thể tách rời của dân tộc trong quá khứ cũng như trong hiện tại Đối với vấn đề văn hóa, cần nhìn nhận các sinh hoạt lễ hội của Phật giáo như một thành tố không thể tách rời của văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong lĩnh vực giáo dục cần phải nghiên cứu, bổ sung những chuyên khoa để cho Phật tử và những người muốn nghiên cứu có điều kiện mở mang kiến thức

Công trình Vai trò Phật giáo thời Đinh Tiền Lê của Ngô Thị Bích (Thích

Đàm Quy), Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt

Trang 22

Nam, 2015 Tác giả đã hệ thống những đóng góp to lớn của Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước như: xây dựng ý thức độc lập, tự chủ cho dân tộc, đóng góp những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong đời sống văn hóa xã hội, những tư tưởng về ngoại giao thời kỳ này cũng góp phần to lớn trong việc giữ yên bờ cõi của một dân tộc trong buổi đầu dựng nước Tác giả cho rằng cần phải có những giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê

Đối với Công giáo, có một số công trình tiêu biểu như Làng Công giáo Lưu Phương (Ninh Bình) từ năm 1828 đến năm 1945 của Nguyễn Hồng Dương, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997 Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã có những nhận xét và đánh giá khách quan về lịch sử hình thành làng Công giáo, những hình thức sinh hoạt tôn giáo, lối sống đạo của giáo dân, mối quan hệ truyền thống giữa Công giáo với làng xã truyền thống Việt Nam ở giáo phận Từ đó tác giả cho thấy

rõ tính đặc trưng của làng Công giáo vùng đồng bằng Sông Hồng qua hai vấn đề:

Thiết chế chính trị và hoạt động tôn giáo Cùng một số bài viết khác đăng trên các

tạp chí, như: “Về một số làng Công giáo ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đầu thế

kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3/1994, tr.44 - 51; “Tìm hiểu Tổ chức xứ,

họ đạo của Công giáo ở miền Bắc từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX”, Tạp chí

Nghiên cứu Tôn giáo số 4/2000 Nguyễn Hồng Dương phần nào phác họa bức tranh

quá trình hình thành và phát triển làng Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ, thiết chế của làng, thiết chế của xứ, họ đạo, những sinh hoạt tôn giáo - Công giáo và mối quan hệ qua lại giữa thiết chế làng với thiết chế xứ, họ đạo, mối quan hệ giữa Công giáo với tôn giáo truyền thống

Trong công trình Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm của giáo phận

Phát Diệm, Luận án tiến sĩ Triết học 2012, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội

Tác giả Lê Văn Thơ đã khái quát quá trình truyền giáo và phát triển đạo Công giáo

ở giáo phận Phát Diệm từ thế kỷ XVII đến nay, nhất là sau khi triều đình nhà Nguyễn bỏ lệnh cấm đạo, Công giáo ở giáo phận Phát Diệm phát triển mạnh mẽ Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, đạo Công giáo ở giáo phận Phát Diệm hiện nay phục hồi và phát triển trở lại, những vấn đề chia tách giáo xứ, phát triển hội đoàn,

Trang 23

đặc biệt là vấn đề khiếu kiện liên quan đến đất đai đã và đang đặt ra cho các cấp

chính quyền sở tại trong công tác tôn giáo

Các công trình của Nguyễn Phú Lợi (1995), “Văn bia chia giáp lương – giáo

cuối thế kỷ XIX ở ấp Văn Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”, Tạp chí Nghiên

cứu Lịch sử số (5), “Cơ cấu tổ chức xã hội - tôn giáo trong một số làng Công giáo ở

Kim Sơn - Ninh Bình nửa sau thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX, Tạp chí Nghiên cứu

Lịch sử (2) 1999,… Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu khá phong phú,

tập trung đề cập tới vai trò của giáo dân trong việc khai hoang lập làng, hình thành

các tổ chức xứ, họ, đạo, làng Công giáo, sự phân chia cộng đồng lương giáo dẫn đến sự hình thành các giáp đạo; vấn đề ruộng đất trong xứ, họ đạo, làng Công giáo

và mối quan hệ giữa tổ chức xứ, họ đạo với làng Việt truyền thống ở giáo phận; sinh hoạt tôn giáo trong xứ, họ đạo

Ngoài ra còn một số công trình của các học giả Công giáo, có thể kể đến

cuốn Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm của Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, Sài Gòn, 1973; Lịch sử giáo phận Phát Diệm (1901-2001) của Trần Ngọc Thụ, Roma

2001; ở đây, diện mạo Công giáo ở giáo phận Phát Diệm phần nào đã được thể hiện rõ nét

Về công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình, tác giả luận án đặc biệt chú trọng các

tư liệu gốc ở địa phương (tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, ban Dân vận, mặt trận

Tổ quốc, ) đặc biệt của Ban Tôn giáo tỉnh, huyện, như các bản báo cáo tổng kết

hàng năm của Ban Tôn giáo từ năm 1992 đến nay, nhất là báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo, 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về công tác tôn giáo, các tư liệu gốc của Phật giáo và Công

giáo trên đất Ninh Bình, cũng như một số công trình, bài viết cụ thể về “Công tác

tôn giáo ở Ninh Bình”, coi đó là những chất liệu tham khảo chính

Cuốn Hà Nam Ninh - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954

(Sơ thảo), 1986; Một số tư liệu của Công an tỉnh Ninh Bình, Bộ chỉ huy quân sự

tỉnh Ninh Bình thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ như: Tổng kết lịch sử công tác đấu

tranh chống phản động lợi dụng Công giáo ở Ninh Bình từ 1945 -1995, Ninh Bình,

1998; Lịch sử công an nhân dân Ninh Bình 1945-1954, Ninh Bình, 1999; Lịch sử

Đảng bộ tỉnh Ninh Bình; Lịch sử Đảng bộ huyện Kim sơn; Ninh Bình lịch sử kháng

Trang 24

chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 -1975), Ninh Bình,

2006; Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, Nxb Thế giới, 2004 của Trương Đình Tưởng; Địa chí Ninh Bình của Tỉnh ủy Ninh Bình (2010); Các tài liệu trên ít

nhiều đã đề cập đến tôn giáo, tình hình hoạt động và sự ảnh hưởng của tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình qua các thời kỳ lịch sử

Đề tài: Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng cơ sở thờ tự về hệ thống tổ

chức đạo Công giáo phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình của Ban Tôn giáo - Dân tộc tỉnh Ninh Bình (2007) Trong công

trình này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu, khảo sát về cơ cấu tổ chức từ giáo phận Phát Diệm đến các giáo xứ, giáo họ, các dâu cũng như khảo sát thực địa từng nhà thờ giáo xứ, giáo họ và các cơ sở thờ tự khác của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở đó các tác giả đánh giá hiện trạng hệ thống tổ chức, cơ sở thờ tự, từ

đó đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh

Đặc biệt nói đến vai trò của chức sắc và giáo dân Công giáo trong đấu tranh

chống thực dân Pháp được khắc họa rõ nét trong cuốn: Linh mục Phạm Bá Trực và

đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ chống thực dân Pháp (1946-1954), (Nguyễn Hồng Dương chủ biên), Nxb Từ điển Bách Khoa,

2010 Trong công trình nghiên cứu các tác giả đã khẳng định vai trò của Linh mục Phạm Bá Trực một mẫu mực điển hình của sự kết hợp giữa đạo và đời “Trong mọi việc, cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt Nam” Có nhiều chuyên

khảo của các nhà nghiên cứu như tác giả Nguyễn Phú Lợi với chuyên đề Quê hương

và dòng họ Linh mục Phạm Bá Trực; tác giả Đỗ Quang Hưng với chuyên đề Công giáo và cách mạng (1945-1954): bài học lịch sử và ý nghĩa của nó; tác giả Nguyễn

Hồng Dương với chuyên đề Người Công giáo Ninh Bình với cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp, Các chuyên khảo đã khẳng định vai trò của các chức sắc

Công giáo và giáo dân nói chung cũng như người Công giáo Ninh Bình nói riêng trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc

Một số bài báo viết về công tác tôn giáo ở Ninh Bình, đáng chú ý là bài viết của Nguyễn Thanh Sơn (2011), “Ninh Bình quan tâm đến công tác quản lý và phổ

Trang 25

biến pháp luật về đất đai tôn giáo”, Tạp chí Công tác tôn giáo, (8), tr.25 - 27 Tác

giả đã khái quát những hoạt động của các cơ quan, ban ngành tỉnh trong việc phổ biến chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ Đổi mới ở Ninh Bình, đồng thời chỉ ra những thành tựu cơ bản trong việc giải quyết vấn đề đất đai tôn giáo

Tác giả Đỗ Tấn trong bài viết “Sáu kinh nghiệm quý ở vùng đồng bào các

tôn giáo Ninh Bình”, Báo Nhân dân (báo điện tử), đăng tải 06/08/2014 nêu sáu bài học trọng tâm trong công tác tôn giáo thời gian qua: Một là, mở rộng công tác tuyên truyền, vận động đồng bào có đạo; hai là, thường xuyên xây dựng, củng cố hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ; ba là, cấp ủy và chính quyền địa phương tạo điều

kiện để các cơ sở tôn giáo và đồng bào có đạo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng;

bốn là, gắn phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc vùng đồng bào các tôn giáo với các

chương trình phát triển kinh tế - xã hội; năm là, coi trọng vận động các chức sắc, chức việc trong tôn giáo tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc tại cơ sở; sáu

là, nhân rộng các mô hình trong phong trào, vấn đề then chốt khiến phong trào có

sức lan tỏa mạnh mẽ

Ngoài một số công trình nêu trên còn có các luận văn nghiên cứu về tôn giáo

và công tác tôn giáo ở Ninh Bình, như Đinh Trần Chung (2008), Công tác vận động

đồng bào Công giáo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm 1992 đến năm 1995, Luận

văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn là

sự tổng kết đánh giá những thành tựu đạt được trong công tác vận động quần chúng của Đảng bộ Ninh Bình trong thời kỳ Đổi mới Tác giả rút ra một số hạn chế trong công tác vận động quần chúng tín đồ của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động đồng bào Công giáo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình hiện nay

Phạm Văn Hùng (2015), Công tác vận động chức sắc đạo Công giáo ở

huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình hiện nay, luận văn Thạc sĩ Tôn giáo học, Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã nêu được những đặc điểm của chức sắc Công giáo ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, trong đó nổi bật là lực lượng chức sắc Công giáo đang gia tăng về số lượng, trẻ hóa, có trình độ thần học, học vấn, được tuyển chọn kỹ lưỡng, có khả năng sử dụng khoa học công nghệ trong việc thực hành cũng như giao tiếp xã hội Một đặc điểm cơ bản khác mà tác giả nhấn mạnh là đa số

Trang 26

chức sắc Công giáo ở Kim Sơn có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, song vẫn còn

sự nhận thức khác nhau, thậm chí là khác biệt về đường hướng đồng hành cùng dân tộc,… Từ đó tác giả luận chứng những thành tựu cơ bản trong công tác vận động chức sắc của hệ thống chính trị cơ sở góp phần vào việc ổn định chính trị xã hội, củng cố khối đoàn kết trong nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo

Có thể thấy, ở Ninh Bình, các công trình nghiên cứu thường chỉ tập trung

vào vấn đề tôn giáo trên đất Ninh Bình, rất ít các công trình khái quát, tổng kết

thành giá trị phổ biến đề cập đến công tác tôn giáo nói chung ở nước ta

Những công trình nghiên cứu trên là những tư liệu tham khảo có giá trị, giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về công tác tôn giáo Việc nắm vững các nội dung cơ bản này giúp tác giả có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc hơn khi thực

hiện luận án

1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án

* Đánh giá kết quả nghiên cứu đã đạt được

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một bức tranh chung

về sự đổi mới công tác tôn giáo, đặc biệt là sự đổi mới đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước từ 1990 đến nay, với những kiến giải phong phú và có những đánh giá cơ bản là thống nhất Các tác giả đều cho rằng, sự đổi mới tư duy của Đảng từ 1986 đến nay mà cụ thể là Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16-10-1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong thời kỳ mới tạo “bước ngoặt” quan trọng trong công tác tôn giáo, điều đó đem lại hiệu quả to lớn trong việc góp phần quyết định tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội nhìn từ phương diện tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo ngày càng có nhiều khởi sắc

Thứ hai, ở một mức độ nhất định, đã có những công trình nghiên cứu một số

mặt của “Công tác tôn giáo”, công tác vận động quần chúng tín đồ, QLNN về tôn giáo, đặc biệt là đổi mới chính sách pháp luật về tôn giáo,… Nội dung nghiên cứu của các tác giả đã khẳng định đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về đổi mới tôn giáo đã đi vào cuộc sống và được minh chứng bằng những thành tựu trong công tác tôn giáo trong thời gian qua

Trang 27

Thứ ba, riêng nghiên cứu về tôn giáo và công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình

cũng đã có được một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, đặc biệt là công tác tôn giáo trong thời kỳ Đổi mới, phần nào cho thấy đặc điểm của tôn giáo cũng như việc

thực hiện chính sách tôn giáo và những quyết sách trong công tác tôn giáo ở địa

phương, góp phần vào sự chuyển biến nhận thức cũng như đời sống tôn giáo ở Ninh Bình - một địa phương khá điển hình về đời sống tôn giáo ở các tỉnh phía Bắc

* Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Thứ nhất, luận án đưa ra một cái nhìn đầy đủ hơn mặt lý thuyết về “Công tác

tôn giáo”, nhất là khi đụng đến vấn đề cơ bản khác “hệ thống chính trị đều làm công tác tôn giáo” Cần nói thêm rằng, các công trình nghiên cứu ở nước ta mà chúng tôi

đã đề cập đều tập trung vào khái niệm “chính sách tôn giáo” như một giải pháp

chính trị - xã hội đối với vấn đề tôn giáo, chưa có cái nhìn đồng đều về công tác tôn

giáo như một hoạt động thực thi quyền lực của hệ thống chính trị với lĩnh vực này

Ngoài ra, tác giả luận án cũng bước đầu đưa ra những nhận xét, nhận định của mình

về nội dung cơ bản của công tác tôn giáo, trong đó lưu ý tới “bộ máy và đội ngũ làm công tác tôn giáo”

Việc nghiên cứu một cách tổng hợp về thực thi công tác tôn giáo ở nước ta cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình, trừ một số công trình của Ban Tôn giáo Chính phủ, Viện Nghiên cứu tôn giáo, hoặc một số luận văn, luận án nghiên cứu về một số nội dung của công tác tôn giáo Tuy vậy, các công trình này phần lớn tập trung đánh giá những nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về tôn giáo

Thứ hai, để giải quyết vấn đề quan trọng này, tác giả luận án sẽ cố gắng

nghiên cứu sự đổi mới công tác tôn giáo từ Trung ương đến địa phương, để làm rõ hơn vai trò, vị trí của vấn đề này trong sự nghiệp Đổi mới đất nước Lấy Ninh Bình làm nghiên cứu trường hợp, luận án sẽ làm rõ hơn tính phong phú, phức tạp của công tác tôn giáo và những sáng tạo của các địa phương có vị trí như thế nào với công tác này trên quy mô cả nước Bằng khảo sát thực tế, đặc biệt là đi sâu nghiên cứu đặc điểm đời sống tôn giáo và việc thực thi công tác tôn giáo qua điều tra xã hội, phỏng vấn các ban ngành, từ lãnh đạo tỉnh, Ban Tôn giáo, Ban dân vận, đến các chức sắc, nhà tu hành, đồng bào các tôn giáo - những đối tượng tiếp nhận “trực tiếp” sự Đổi mới đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

Trang 28

Thứ ba, việc rút ra những kinh nghiệm thành công và chưa thành công của

tỉnh Ninh Bình trong công tác tôn giáo luôn là cần thiết, xét trên mọi phương diện, hơn nữa đòi hỏi phải có sự so sánh với các địa phương khác và toàn quốc, từ đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở Ninh Bình, cũng như góp phần bổ sung hoàn chỉnh về chủ trương, chính sách đối với tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt Nam

1.3 Một số khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong luận án

(1) Tôn giáo - nhìn từ đối tượng của công tác tôn giáo

Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về tôn giáo Ở đây tác giả luận án không đi sâu vào việc bàn luận khái niệm đó, mà chủ yếu nhằm lựa chọn một định nghĩa thích hợp trên bình diện công tác tôn giáo ở Việt Nam Trong giáo trình CNXHKH, khái

niệm tôn giáo được định nghĩa như sau: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội bao gồm

có ý thức tôn giáo lấy niềm tin tôn giáo làm cơ sở, hành vi và các tổ chức tôn giáo - nghĩa là, nói đến tôn giáo là nói đến cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí; có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và các tổ chức xã hội Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệt giữa chúng chỉ là tương đối Trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành vẫn đặt cả hai vấn đề trong một văn bản quy phạm pháp luật nên trong quá trình nghiên cứu, trong nhiều trường hợp tác giả luận án sử dụng cụm từ tín ngưỡng, tôn giáo khi bình luận hoặc trích dẫn

(2) Tín ngưỡng: Mặc dù luận án không bàn nhiều đến vấn đề tín ngưỡng

song cũng cần nói đến khái niệm này bởi giữa tín ngưỡng, tôn giáo có mối liên hệ

và sự chuyển hóa trong những bối cảnh nhất định Trong trường hợp khi hai khái

niệm này đi liền nhau thành tín ngưỡng tôn giáo thì được hiểu theo nghĩa là sự tin

theo một tôn giáo nào đó

Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào

cái "siêu nhiên" để giải thích thế giới, với ước muốn mang lại sự bình an cho cá

nhân và cộng đồng

(3) Mê tín dị đoan: là niềm tin cuồng vọng của con người vào các lực lượng

siêu nhiên đến mức độ mê muội với những hành vi cực đoan, thái quá, phi nhân

Trang 29

tính, phản văn hóa Trong khuôn khổ luận án, tác giả cũng không bàn nhiều đến vấn

đề này nhưng vì trên thực tế hiện tượng mê tín dị đoan thường xen vào các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo nên cần phải quan tâm

Việc xác định hiện tượng mê tín dị đoan chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó Do đó, trong công tác tôn giáo, cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân thì chúng ta phải phê phán và loại bỏ dần mê tín dị đoan nhằm làm lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội

(4) Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo: Nếu xét theo ngữ nghĩa và hiểu theo

nghĩa đơn giản, Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là sự bảo đảm tính độc lập của tôn

giáo đối với các thể chế quyền lực, bảo đảm tôn giáo thoát ly mọi sự cấm đoán, hạn chế, ràng buộc Quyền con người trên lĩnh vực tôn giáo cần được hiểu theo hai

chiều cạnh là tự do tôn giáo và tự do hoạt động tôn giáo Nếu quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo là quyền bất khả xâm phạm là quyền tuyệt đối thì quyền tự do hoạt động tôn giáo chưa bao giờ và chưa ở đâu là tuyệt đối mà đều phải có giới hạn, giới hạn từ phía tôn giáo nơi người đó tin theo và giới hạn từ phía chính quyền

Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là một trong những quyền chính trị dân sự, được ghi nhận trong tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, được tái khẳng định trong công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hiệp quốc 1966 Việt Nam đã tham gia vào các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, và được chuyển tải rõ nét trong luật pháp

(5) Hệ thống chính trị: Ở Việt Nam, phải đến Hội nghị Trung ương lần thứ

sáu khóa VI (1989), khái niệm hệ thống chính trị lần đầu tiên được đề cập trong

Nghị quyết, đánh dấu sự thay đổi về nhận thức lý luận của Đảng: Hệ thống chính trị

là hệ thống các tổ chức, các đoàn thể chính trị - xã hội do Đảng lãnh đạo được lập ra

từ Trung ương tới địa phương, cơ sở, được luật pháp thừa nhận và bảo vệ, hoạt động công khai, nhằm thực hiện và phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân

Quan niệm trên là khá rõ ràng về cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị nước

ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân và Hội cựu chiến binh

Trang 30

(6) Chính sách tôn giáo: Chính sách tôn giáo là thuật ngữ để chỉ thái độ và

sự ứng xử của nhà nước đối với tôn giáo Ở Việt Nam hiện nay, chính sách tôn giáo được thể hiện ở chủ trương, đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo

(7) Vận động quần chúng tín đồ, chức sắc: là hoạt động tuyên truyền, giải

thích nhằm thuyết phục tín đồ, chức sắc tôn giáo thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương, tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước; hợp tác và tham gia cùng chính quyền giải quyết các vụ việc phức tạp nảy sinh trong thực tiễn công tác tôn giáo

(8) Quản lý nhà nước về tôn giáo:

Nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý

Nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban Nhân dân các cấp)

để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức,

cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật

Công tác tôn giáo: Đây là khái niệm trung tâm của luận án, là khái niệm gốc

để phát triển nội dung, vì vậy tác giả luận án sẽ phân tích trong phần sau, cụ thể là trong chương 2

Trang 31

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC

TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giải quyết vấn đề dân tộc - tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam, một nước đa dân tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo Giải quyết vấn đề này luôn đòi hỏi công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong

đó có chính sách tôn giáo đúng đắn, sáng tạo và đồng thời có được sự vận hành của

chính sách này trong thực tiễn sinh động, hiệu quả Chương này được dành cho việc tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản của công tác tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới, khung cảnh của công tác tôn giáo ở tỉnh Ninh Bình

2.1 Lý luận về công tác tôn giáo

2.1.1 C.Mác, Ph.Ăngghen, VI.Lênin về việc giải quyết vấn đề tôn giáo

Trong bối cảnh lịch sử Châu Âu tư bản chủ nghĩa ở thế kỷ XIX những biến động kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán chủ nghĩa duy tâm và chế độ chính trị của xã hội đương thời bắt đầu từ việc phê phán tôn giáo,

cụ thể là Kitô giáo Ở thời điểm đó, C.Mác và Ph.Ănghen chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu và cũng chưa có một tác phẩm riêng biệt nào về ứng xử với tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội Các ông chủ yếu dừng lại ở việc phê phán tôn giáo gắn liền với thực tại sinh ra tôn giáo, cùng với những cảnh báo không được đối xử thô bạo với tôn giáo Sau này, Lênin đề cập đến vấn đề tôn giáo trong điều kiện chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh bước sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền lũng đoạn mang hình thái chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa Mác đứng trước cuộc đấu tranh phức tạp về tư tưởng, lý luận, nhất là sự tấn công của chủ nghĩa xét lại, kể cả trong lĩnh vực tôn giáo Mặt khác, đối tượng trực tiếp mà Lênin phải đấu tranh là Chính thống giáo ở Nga trong sự câu kết chặt chẽ, trực tiếp với chính phủ phản động Nga hoàng

Ở những thời điểm bão táp cách mạng đó, C.Mác, Ph.Ăngnghen, Lênin chủ yếu đề

cập đến vấn đề tôn giáo từ góc độ thế giới quan triết học và chính trị, nhất là vấn đề

đấu tranh giai cấp Những luận điểm quan trọng của các nhà kinh điển trong ứng xử

Trang 32

với tôn giáo trở thành những tư tưởng cốt lõi được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong cách mạng Việt Nam

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, muốn có phương pháp, ứng xử

và giải quyết đúng vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có nhận thức khoa học về tôn giáo Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử trong việc nhận thức vấn đề tôn giáo, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguồn gốc tự nhiên và bản chất của tôn giáo Mác không chỉ gắn tôn giáo với một xã hội hiện thực cụ thể, mà còn khẳng định rằng, “cơ sở trần tục” ấy là những xã hội cụ thể của con người với những kết cấu phức tạp bởi nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ có liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần “Con người không phải là sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là

xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy, sản sinh ra tôn giáo” [66, tr.569] Trong các quan

hệ ấy, sản xuất vật chất là quan tr ọng nhất, là cơ sở khách quan quyết định mọi

quan hệ xã hội và hiện tượng xã hội, trong đó có hiện tượng tôn giáo Vì vậy, xem

xét vấn đề tôn giáo cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể

Từ chỗ khẳng định quan điểm duy vật lịch sử trong việc nhận thức vấn đề tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin còn chỉ ra phương thức ứng xử với tôn giáo trong đời sống hiện thực C.Mác cho rằng: “Phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị” [66, tr.571] Như vậy, để giải quyết vấn đề tôn giáo, theo tinh thần của Mác, phải dựa trên cơ sở quan điểm duy vật lịch sử Muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi tồn tại xã hội, phải xây dựng “thiên đường” trên hiện thực: “Không thể đả kích vào tôn giáo dưới mọi hình thức thù địch cũng như dưới mọi hình thức khinh bạo chung cũng như riêng, nghĩa là nói chung không được đả kích vào tôn giáo” [66, tr.23]

Ph.Ăngghen xác định thái độ khách quan, khoa học trong việc tác động vào tôn giáo, đó là phải tôn trọng quá trình tự nhiên, tránh chủ quan, thô bạo Ăngghen phê phán nghiêm khắc chủ trương cấm đoán tôn giáo của Đuyrinh mà cần phải “chờ đợi cho đến khi tôn giáo chết cái chết tự nhiên” [70, tr.439] của nó Đuyrinh có thái

độ loại bỏ và truy kích đối với Kitô giáo, đó là thái độ và hành động rất sai lầm, dẫn

Trang 33

đến hậu quả là làm bùng lên tinh thần phản kháng kịch liệt của tôn giáo, tinh thần tử

vì đạo

Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác và Ăngghen, Lênin và nhà nước

Xô viết đã có nhiều đóng góp trong việc thể chế hóa quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của công dân, nhất là trong môi trường chủ nghĩa xã hội

Về chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng

Với Lênin, quyền tự do tôn giáo phải đặt trên các cơ sở sau:

Tự do tôn giáo phải dựa trên nền tảng của Nhà nước thế tục hóa Lênin tiếp

tục khai thác ý tưởng của Mác và Ăngghen về mối quan hệ giữa nhà nước với tôn

giáo Trong tác phẩm Những yêu sách của Đảng cộng sản Đức viết 1848, C.Mác và

Ph.Ăngghen khẳng định: “Nhà thờ hoàn toàn tách khỏi nhà nước Giới thầy tu của tất cả mọi đạo giáo đều chỉ do các cộng đồng tự nguyện của họ trả lương” [67, tr.12] Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp” Mác viết: “Một khi đã bãi bỏ quân đội thường trực và cảnh sát, tức là những công cụ quyền lực của chính phủ cũ, công xã lập tức bắt tay vào đập tan công cụ áp bức tinh thần, tức là thế lực tăng lữ bằng cách tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước Các tăng lữ phải trở lại với cuộc sống riêng yên tĩnh ” [68, tr.450] Trong tác phẩm “Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo”, Lênin cũng khẳng định điều đó: “Giáo hội và nhà nước hoàn toàn tách khỏi nhau; - đó là điều

mà giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa đòi nhà nước và giáo hội hiện đại phải thực hiện” [84, tr.171] và “Giai cấp vô sản cách mạng nhất định sẽ đạt mục đích là làm cho tôn giáo thật sự trở thành việc tư nhân đối với nhà nước [84, tr.175]

Tự do tôn giáo phải thực sự là việc riêng tư: quyền lựa chọn tôn giáo; quyền

chuyển đổi đạo; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, thực hành tôn giáo và bày tỏ đức tin tôn giáo Tự do tôn giáo phải đi liền quyền được làm người vô thần, đảm bảo quyền công dân và an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc: “Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích, hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào, nghĩa

là được làm người vô thần như bất cứ người xã hội chủ nghĩa nào Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những người công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được” [84, tr.171-172]

Trang 34

Lênin chỉ ra rằng: “Đấu tranh chống lại các thành kiến tôn giáo thì phải cực

kỳ thận trọng Trong cuộc chiến đấu ấy, ai làm tổn thương đến tình cảm tôn giáo, người đó sẽ gây thiệt hại lớn Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo dục Nếu hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm quần chúng tức giận, hành động như vậy sẽ càng gây chia rẽ quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức mạnh của chúng ta là ở sự đoàn kết” [86, tr.221] Có thể nói, đây là một quan điểm căn bản, có tính nguyên tắc trong công tác tôn giáo của Đảng Mác-xít Đặc biệt, Lênin không chỉ quan tâm đến công tác vận động quần chúng nhân dân là tín đồ các tôn giáo, mà còn dành một sự

chú ý đến đội ngũ chức sắc tôn giáo, từ góc độ hoạt động chính trị của họ Người

cho rằng việc giới tu hành chuyển sang công khai tham gia chính trị thì chỉ có lợi cho nhân dân Về quan điểm này, rõ ràng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những

vận dụng sáng tạo độc đáo, nhất quán khi Đảng ta từ lâu đã cho rằng, thực chất

công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, trước hết là quần chúng theo

tôn giáo,

Đối với vấn đề kết nạp người có đạo vào Đảng, Lênin cho rằng đó là việc

làm cần thiết, có lợi cho cách mạng Người nhấn mạnh: “Chúng ta không những phải sẵn sàng kết nạp, mà còn cố gắng để thu hút vào trong Đảng dân chủ - xã hội tất cả những công nhân nào còn tin tưởng ở Thượng đế, chúng ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúc phạm nhỏ nào đến tín ngưỡng tôn giáo của họ” [85, tr.250]

Rõ ràng, Mác, Ănghen, Lênin không hề đưa ra khẩu hiệu bài trừ tôn giáo, càng không đưa ra khẩu hiệu xóa bỏ tôn giáo bằng bạo lực Tiếc là điều đó đã không được những người kế tục Lênin hiểu đúng để thực hiện Ở Liên Xô vào những năm ba mươi của thế kỷ XX (dĩ nhiên cả trong Quốc tế Cộng sản) dưới thời Xtalin, người ta tìm đủ mọi cách, biện pháp tư tưởng, giáo dục và cả trong hiến pháp để khẳng định vai trò thống trị của chủ nghĩa vô thần Đó là nguồn gốc cơ bản nảy sinh và tồn tại dai dẳng của khuynh hướng cực đoan về tôn giáo trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, khiến cả trong thực tiễn và trong lý luận chủ nghĩa xã hội mất đi tính nhân bản và khoa học của nó

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã có quan điểm đúng đắn, khoa học về tôn giáo, nhìn nhận tôn giáo trên lập trường chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ đó khẳng định

Trang 35

việc giải quyết vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ lâu dài gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Đây là cơ sở lý luận cho các

Đảng Cộng sản vận dụng để xác định quan điểm, chính sách, đường lối đối với tôn giáo đúng đắn, phù hợp với thời đại và đặc điểm đất nước, giải quyết một cách chủ động, tích cực hơn mối quan hệ giữa dân tộc, chủ nghĩa xã hội và tôn giáo

2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về công tác tôn giáo

2.1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo vô cùng phong phú, sâu sắc và tinh tế, không chỉ là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào

thực tiễn Việt Nam mà còn có những cống hiến mới, sáng tạo mới, trong việc nhận

thức và ứng xử với tôn giáo trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Người khẳng định: “Dù

sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” và theo Người thì “chủ nghĩa Mác cần được củng cố bằng dân tộc học phương Đông” [71, tr.465] Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo có thể đúc kết thành những luận điểm chủ yếu dưới đây:

Thứ nhất, một trong những nguyên tắc cơ bản của công tác tôn giáo theo

Hồ Chí Minh là đoàn kết tôn giáo gắn chặt với đại đoàn kết dân tộc Từ thực tế

lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng: sử ta đã dạy cho ta bài học này, lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn Người luôn nhấn mạnh: đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Với tầm nhìn xa trông rộng của nhà cách mạng, Hồ Chí Minh đã tìm ra cái bất biến

cho chiến lược đại đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết lương giáo Muốn đoàn

kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trước hết (độc lập dân tộc và ấm no hạnh phúc) Hồ Chí Minh đã thấy được mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ giữa tôn giáo với dân tộc, giữa “Thiên Chúa và

Tổ Quốc” Hồ Chí Minh nói về mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo với dân tộc

Trang 36

một cách giản dị, dễ hiểu nhưng rất độc đáo và sâu sắc: Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ Quốc

Thứ hai, trong công tác tôn giáo, để có được sự đoàn kết, trước tiên phải luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Tự do tín ngưỡng, tôn giáo

là một trong những quyền cơ bản của con người Hạn chế, vi phạm thô bạo đến quyền ấy là đi ngược lại với xu thế và tiến bộ xã hội Hồ Chí Minh là người Việt Nam được tiếp cận với nhiều nền văn minh, văn hóa của nhân loại, tiếp cận những

tư tưởng tiến bộ về tôn giáo, những nguyên tắc ứng xử với tôn giáo trong các cuộc cách mạng tư sản Hồ Chí Minh là người tiếp thu và vận dụng những tinh hoa của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào Việt Nam Chính những điều đó đã sớm hình thành quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tín ngưỡng hay không tín ngưỡng là sự lựa chọn tự do của con người Đấu tranh cho

sự phồn vinh của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân là lý tưởng thiêng liêng chung ở cả hai phía đạo và đời

Tư tưởng nhất quán đó của Hồ Chí Minh, không chỉ được thể hiện bằng tình cảm, bằng sự trân trọng những giá trị của tôn giáo mà còn được thể hiện bằng pháp luật Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngay sau lễ tuyên bố Độc lập, 3/9/1945, Người đã nêu vấn đề “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” Lập trường này được thể chế hóa bằng Sắc lệnh 234 ngày 14-6-1955, Sắc lệnh vừa giúp các tôn giáo có cơ sở pháp lý để hoạt động vừa đảm bảo cho đồng bào các tôn giáo

có thể sinh hoạt tôn giáo bình thường mà không bị ai ngăn cản

Thứ ba, phải tìm ra được điểm tương đồng giữa các hệ ý thức và tôn giáo thay vì khoét sâu vào sự khác biệt, đặt tiến trình đi lên của lịch sử đất nước trên cơ

sở quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó Người đánh giá cao sức mạnh yêu

nước của đồng bào các tôn giáo Hồ Chí Minh đã tìm ra điểm tương đồng giữa lý

tưởng cộng sản và các học thuyết tôn giáo chân chính biểu hiện ở chỗ đều muốn xóa

bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, bất công; đều muốn mọi người được sống trong hòa bình, hữu nghị của một thế giới đại đồng Cơ sở của điểm tương đồng đó đều xuất

Trang 37

phát từ nguồn gốc khách quan vốn có trong mỗi con người, mỗi cộng đồng lương và giáo, xuất phát từ giá trị nhân văn trong mỗi tôn giáo cũng như học thuyết cách mạng chân chính Người nói: “Phật sinh ra cũng để nhằm lợi lạc quần sinh, vô ngã

vị tha” Đức Giêsu sinh ra cũng là mưu “hạnh phúc cho con người, phúc lợi cho xã hội” Hồ Chí Minh khẳng đi ̣nh cả học thuyết tôn giáo chân chính và học thuyết cách mạng thực sự trong thời đại ngày nay đều có vai trò to lớn trong việc hoàn thiện con người: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [72, tr.453] Trong công tác tôn giáo, nếu biết bỏ qua những dị biệt nhỏ, giữ lấy cái tương đồng lớn thì khối đại đoàn kết dân tộc luôn được giữ vững, tôn giáo trường tồn như dân tộc và còn tồn tại lâu dài Tôn giáo chỉ có thể khẳng định được mình khi sống giữa lòng dân tộc và dân tộc trên con đường phát triển phải biết khai thác, chắt lọc những giá trị tích cực của các tôn giáo

Thứ tư, chú ý vận động đồng bào có đạo tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc, phát triển sản xuất Chính phủ phải có trách nhiệm thường xuyên chăm

lo đời sống mọi mặt của đồng bào có đạo, bởi suy cho cùng, mục đích của cách mạng là làm cho dân khỏi đói, khỏi rét, khỏi áp bức, bóc lột, Tư tưởng của Người:

“Phần xác no ấm thì phần hồn mới được thong dong”, phải tổ chức cho đồng bào theo các tôn giáo tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất và công cuộc đấu tranh cải tạo xã hội Hồ Chí Minh hiểu đó vừa là nguyện vọng chính đáng của đồng bào, vừa là một yêu cầu quan trọng đối với cấp ủy đảng và chính quyền ở địa phương phải quan tâm, chăm lo đến đời sống của đồng bào các tôn giáo, vừa thực hiện nghĩa vụ của người công dân yêu nước, vừa thực hành phận sự trong tôn giáo, tốt đời đẹp đạo Nhờ thực hiê ̣n tốt chính sách tôn giá o mà đa số giáo dân đồng tình ủng

hô ̣ Đảng và Chính Phủ, Người rút ra bài học quan trọng: Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta Ta đươ ̣c lòng dân thì không sợ gì cả Nếu không đươ ̣c lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác Đây chính là sự vận dụng quan điểm duy vật lịch sử của người đối với hoạt động tôn giáo Nhận thức và ứng xử với tôn giáo cần có sự mở rộng hoạt động liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội Vì đồng bào theo tôn giáo cơ bản cũng là người lao động, yêu nước, họ cũng cần sung sướng và hạnh phúc, cũng cần có cơm ăn, áo mặc và được học hành Đối

Trang 38

với Hồ Chí Minh, giải quyết vấn đề tôn giáo phục vụ có hiệu quả sự nghiệp của Đảng, của dân, suy cho cùng là giải quyết vấn đề con người

Thứ năm, coi trọng công tác vận động quần chúng tín đồ, đặc biệt là chức sắc các tôn giáo Công tác tôn giáo vận là một công tác rất khó khăn phức tạp nên

nếu chỉ có riêng những cán bộ chuyên trách thì không làm nổi Hồ Chí Minh chủ trương phối hợp với các chức sắc tôn giáo để làm việc này Vì Người hiểu rõ vai trò của chức sắc như là “lãnh tụ tinh thần” trong cộng đồng tôn giáo của mình Trong mối quan hệ với chức sắc, có thể nói Hồ Chí Minh là người thành công nhất trong các nhà lãnh đạo các nước Xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản trước đây, ở chỗ Người coi chức sắc cũng là lực lượng trí thức, tôn trọng họ, đánh giá cao vai trò, ảnh hưởng của chức sắc, lôi cuốn họ tham gia cách mạng, kể cả tham gia bộ máy Nhà nước, Quốc hội Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng sáng tạo những hình thức tổ chức thích hợp để họ tham gia, góp sức mình giải phóng đất nước như Hội Phật giáo cứu quốc, Ủy ban những người yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, Hồ Chí Minh là mẫu mực trong quan hệ và ứng xử với chức sắc và trí thức các tôn giáo Phương pháp vận động của Người mềm dẻo, thuyết phục, đi đôi với cương quyết chống chính trị hóa tôn giáo Có thể thấy tư tưởng nhân văn xuyên suốt của Hồ Chí Minh

là luôn có niềm tin đối với con người, mà ở đây là tin vào những đồng bào có đức tin tôn giáo nhưng cùng có chung quốc gia, dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước được hun đúc qua hàng ngàn năm Dù đâu đó có nổi lên vài hiện tượng chống chính quyền cách mạng, nhưng đó không phải là bản chất, mà do đồng bào có đạo bị mua chuộc lôi kéo, “thiếu giáo dục đạo đức và nhiệm vụ công dân”, hoặc do “ta chưa có phương pháp thích hợp để vận động đồng bào tôn giáo” mà thôi

Thứ sáu, đối với cán bộ làm công tác tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh

vai trò của đội ngũ cán bộ đảng viên làm công tác tôn giáo Người khẳng định: “Ở Việt Nam có vấn đề tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo; nơi nào có cán bộ tốt, tổ chức hợp tác xã đưa lại quyền lợi cho giáo dân thì giáo dân rất đồng tình” [79, tr.118] Ngược lại, “nơi nào dân cũng tốt, lương cũng như giáo, nhưng vì có những cán bộ không biết tổ chức, không biết giải thích tuyên truyền, lại tự tư, tự lợi, không cảnh giác để cho bọn phản động chui vào đoàn thể rồi phá hoại” [75, tr.55] Cán bộ

Trang 39

làm công tác tôn giáo phải nhận thức về tôn giáo một cách đúng đắn, sự khác biệt giữa tôn giáo phương Đông với tôn giáo phương Tây: “Người dân An Nam không

có linh mục, không có tôn giáo, theo cách nghĩ của người Châu Âu Việc cúng bái

tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội” [71, tr.497] Như vâ ̣y, Hồ Chí Minh đã bóc tách c ái cốt lõi tôn giáo , tín ngưỡng ở Việt Nam Người còn nh ận thấy rằng, ở Việt Nam, do đặc điểm về lịch sử, văn hóa, nên sự khác biệt giữa Đạo và Đời thường ít rõ rệt Do đó, cán bộ làm công tác tôn giáo không được thành kiến với tôn giáo, phải có phương pháp đúng và phù hợp như: “kiên nhẫn thuyết phục giác ngộ”,

“hiểu rõ phong tục”, không thô bạo theo kiểu “nói đến cha cố cứ gọi là thằng”

Theo Người: “dĩ bất biến ứng vạn biến” Bất biến là nguyên tắc đoàn kết, là nguyên tắc vì lợi ích chung của Tổ quốc, của nhân dân, vạn biến là phương pháp vận động thuyết phục mềm dẻo, có đối sách trong từng trường hợp cụ thể thật linh động Có như vậy thì khối đại đoàn kết toàn dân mới được củng cố, công cuộc kháng chiến kiến quốc mới nhanh giành thắng lợi

Một điều nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo là ứng xử văn hóa đối với tôn giáo và đồng bào có đạo Người luôn cảm ơn chức sắc, tín đồ tôn giáo góp ý chân thành, cởi mở để cán bộ làm tốt công tác tôn giáo, điều đó thể hiện quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân bao hàm cả tinh thần dân chủ trong đời sống xã hội: “Tôi tỏ lòng khen ngợi các hàng giáo sĩ và đồng bào đã thân ái giúp cán bộ sửa chữa sai lầm, thực hiện đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Chính phủ, như thế là đã làm theo lời phán của Chúa Kirixitô: Hỡi anh em, khi có ai mắc sai lầm, anh em hãy dịu dàng giúp anh em ấy sửa chữa” [76, tr.285-286]

Quan hệ tốt đẹp, giàu sức thuyết phục giữa Hồ Chí Minh với đồng bào có đạo và các nhà tu hành chuyên nghiệp thể hiện sự chân thành, giản dị của một vị lãnh tụ dân tộc Những chỉ dẫn của Người về công tác tôn giáo , đă ̣c biê ̣t là tôn tro ̣ng quyền tự do tín ngưỡng, phát huy lòng yêu nước, đức vi ̣ tha, khoan dung có ý nghĩa

to lớn đối với nước ta trong công cuô ̣c xâ y dựng và bảo vê ̣ đất nước hiê ̣n nay

“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội”, những tiếng nói đồng vọng từ phía các tôn giáo đã minh chứng rằng tư tưởng Hồ Chí Minh

về tôn giáo và công tác tôn giáo đã thực sự khai hoa kết quả

Trang 40

Có thể nói, Hồ Chí Minh có những tư tưởng vượt trội hiếm có về tôn giáo và công tác tôn giáo khi mà Quốc tế Cộng sản, các nước XHCN khác sa vào khuynh hướng giáo điều, tả khuynh về vấn đề này Là người đứng đầu nước Việt Nam mới

từ sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh không chỉ là người “thiết kế” chính sách tôn giáo mà còn là người chỉ đạo thực hiện công tác tôn giáo Không những thế, Người còn trực tiếp giải quyết những tình huống cụ thể liên quan đến vấn đề tôn giáo trong điều kiện vô cùng khó khăn của cuộc cách mạng Đó là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước kế thừa và phát huy trong tiến trình đổi mới và hô ̣i nhâ ̣p hiê ̣n nay

2.1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản về công tác tôn giáo trong thời kỳ Đổi mới

* Sự đổi mới trong nhận thức về tôn giáo

Nhận thức được sự thay đổi của tình hình trong nước và quốc tế cùng với yêu cầu gay gắt phải tạo một bước ngoặt trong tiến trình phát triển đất nước, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI tuyên bố tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để trong mọi lĩnh vực Sự nghiệp đổi mới đặt ra như một nhu cầu tất

yếu và là vấn đề sinh tử của chế độ ta

Bước ngoặt của sự đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo của Đảng được đánh dấu bằng sự xuất hiện Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị năm 1990 (từ đây gọi tắt là

Nghị quyết 24) ngày 16 tháng10 năm 1990 Về tăng cường công tác tôn giáo trong

tình hình mới với ba luận điểm mang tính “đột phá”: Tôn giáo là một vấn đề còn tồn

tại lâu dài, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới Phải đặt

ba luận điểm trong hoàn cảnh lúc bấy giờ mới thấy hết ý nghĩa của nó Đó là thời điểm lịch sử đặc biệt, khi mà hệ thống các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ, nhưng những quan điểm tả khuynh về tôn giáo vẫn còn

Nghị quyết đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo trong tình hình mới Sở dĩ coi đây là bước ngoặt trong đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo của Đảng ta, bởi những luận điểm trong Nghị quyết là cơ sở

lý luận quan trọng để hạn chế các biểu hiện sai lầm trong nhận thức và ứng xử với

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w