Sở dĩ NCS lựa chọn cách phân kỳ nương theo diễn tiến cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước là bởi tương ứng với hai chiến lược chiến tranh của Mỹ chiếntranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tra
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ THANH TRÂM
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG PHÁT HUY
SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC
(1965 – 1972)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ THANH TRÂM
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG PHÁT HUY
SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luân án được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Khang Các số liệu và kết quả sử dụng trong luận án là chính xác, trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Đặng Thị Thanh Trâm
Trang 4Gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
III, Thư viện Quốc Gia, Thư viện Quân đội và những bạn bè, đồng nghiệp, người
thân.
Nghiên cứu sinh
Đặng Thị Thanh Trâm
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam TƯĐLĐVN
Trang 6TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU
PHƯƠNG MIỀN BẮC CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1965 - 1968
24
1.1 Chủ trương xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc 24
1.1.2 Chủ trương xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc trongđiều kiện chiến tranh lan rộng
27
1.2 Chỉ đạo xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc 33
1.2.2 Chỉ đạo phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc 58
CHƯƠNG 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 1969 - 1972
67
2.2.1 Đảm bảo GTVT thông suốt, kịp thời chi viện cho tiền tuyến miền Nam 93
Trang 73.2.3 Chăm lo, bồi dưỡng sức dân phải được coi là “nền”, “gốc” 1333.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh, trong đó, đặc biệt coi
trọng vai trò người đứng đầu
136
3.2.5 Phát huy nội lực của dân tộc kết hợp sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế 140
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hậu phương luôn giữ vai trò quyết định trong mọi cuộc chiến tranh Trong 21 nămtiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), thì từ tháng 3 năm 1965(thời điểm lính viễn chinh Mỹ đổ bộ trực tiếp vào miền Nam Việt Nam, đồng thời lực lượngkhông quân, hải quân Mỹ được sử dụng đánh phá Bắc Việt Nam với qui mô và cường độngày càng ác liệt) cho đến những ngày cuối cùng của năm 1972 (sau thất bại của đế quốc
Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 trên bầu trời Hà Nội) là khoảng thời gian,không gian mà cuộc đấu trí, đấu lực giữa lực lượng cách mạng Việt Nam với đế quốc Mỹ vàtay sai diễn ra quyết liệt nhất
Trong vòng 8 năm (1965 – 1972), hậu phương miền Bắc hai lần phải chuyển sangthời chiến, đối đầu với hai cuộc CTPH bằng không quân, hải quân thiện chiến của Mỹ.Không kể lúc chiến tranh, hoà bình hay lúc vừa có chiến tranh vừa có hoà bình đan xen,miền Bắc luôn phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ vừa xây dựng CNXH, vừa chiến đấu bảo
vệ, vừa chi viện không chỉ cho tiền tuyến miền Nam mà còn cho cả cách mạng Lào vàCampuchia Quãng thời gian (1965 – 1972) chưa hẳn là miền Bắc chi viện nhiều nhất sứcngười, sức của cho tiền tuyến miền Nam và các chiến trường Đông Dương khác nhưng chắcchắn đây là những năm tháng mà vai trò, khả năng, sức mạnh to lớn, toàn diện của miền Bắcđược thể hiện sinh động nhất, phong phú nhất Đặt trong bối cảnh ngặt nghèo nhất, thử tháchnhất song lại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương chiến lược còn cho ta thấy sự sángtạo, kỳ công của ĐLĐVN trong công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh hậuphương miền Bắc XHCN; thấy được mối quan hệ hữu cơ, máu thịt hậu phương lớn – tiềntuyến lớn; thấy được sự tương tác giữa các tầng nấc hậu phương một cách hữu hiệu nhất
Việc xây dựng và tổ chức thực hiện thành công một chiến lược hậu phương đã giúpmiền Bắc tích hợp, phát huy được sức mạnh CTND đánh bại hai cuộc CTPH, đứng vữngtrong bom đạn, chi viện ngày càng nhiều sức người, sức của cho tiền phương miền Nam Vàđây là yếu tố quyết định làm xoay chuyển thế cục cuộc chiến tưởng chừng như không cânsức, đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Hiện nay, những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình khu vực, thế giới, đặcbiệt là vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông đã và đang đặt ra nhiều yêu cầu
Trang 9mới, không kém phần thử thách, khó khăn đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN.Những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnh hậu phươngmiền Bắc trong 8 năm đặc biệt nhất của cuộc chiến với đế quốc Mỹ xâm lược (1965 - 1972)vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn Với những lý do trên, NCS quyết định chọn đề
tài: “Đảng lãnh đạo xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc (1965 - 1972)” làm
đề tài luận án ngành lịch sử, chuyên ngành lịch sử ĐCSVN
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương, đường lối, sự chỉ đạo xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnhhậu phương miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1972 dưới sự lãnh đạo của ĐLĐVN, luận ánrút ra những kinh nghiệm lịch sử góp phần vào việc thực hiện chiến lược xây dựng và bảo vệđất nước giai đoạn hiện nay
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ hoàn cảnh, yêu cầu của cách mạng đối với hậu phương miền Bắc trong từnggiai đoạn (1965 – 1968); (1969 – 1972)
- Đi sâu phân tích đường lối, chủ trương xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh hậuphương miền Bắc của Đảng từ năm 1965 đến năm 1972;
- Mô tả quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miềnBắc những năm 1965 – 1972
- Làm sáng tỏ những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng,phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc những năm 1965 - 1972; trên cơ sở đó rút ranhững kinh nghiệm lịch sử
3 Đối tượng, phạm vi, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các chủ trương, đường lối của ĐLĐVN về xây dựng, bảo vệ, phát huy sứcmạnh hậu phương miền Bắc và quá trình tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện đường lối, chủtrương trong những năm 1965 – 1972
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Về nội dung khoa học
Trang 10Tập trung nghiên cứu đường lối, chủ trương; sự chỉ đạo của ĐLĐVN trong quá trình
xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc những năm 1965 -1972 Xây dựng hậu phương bao hàm những vấn đề xây dựng kinh tế, văn hoá, giải quyết các vấn đề xã hội; xây
dựng, củng cố lực lượng vũ trang, bảo vệ trị an, đánh bại hai cuộc CTPH và phong tỏa của đế
quốc Mỹ Còn phát huy sức mạnh hậu phương bao gồm việc đảm bảo GTVT, chi viện sức
người, sức của cho tuyền tuyến lớn miền Nam, cách mạng Lào và Campuchia
Về thời gian
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, để tạo cớ đánh phá miền Bắc, hậu phương chiến lược củamiền Nam, Mỹ đã dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để từ đó sử dụng lực lượng hải quân,không quân đánh phá miền Bắc Tuy nhiên, luận án lấy mốc mở đầu nghiên cứu là năm 1965,đồng thời chia quá trình xây dựng, phát huy, bảo vệ sức mạnh hậu phương miền Bắc theo haigiai đoạn (1965 – 1968) và (1969 – 1972) là nương theo cách phân kỳ của cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước Sở dĩ NCS lựa chọn cách phân kỳ nương theo diễn tiến cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước là bởi tương ứng với hai chiến lược chiến tranh của Mỹ (chiếntranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh), chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với xâydựng và phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc được hoạch định cũng như thực hiện, nhằmlàm thất bại các kế hoạch chiến tranh của Mỹ; đồng thời, không ngừng nâng cao sức mạnhmọi mặt trong điều kiện đánh bại các kế hoạch chiến lược ấy của Mỹ
Về không gian
Trong luận án, sử dụng thuật ngữ hậu phương lớn và hậu phương chiến lược đều chỉ
chung hậu phương miền Bắc XHCN trong tương quan với tiền tuyến lớn miền Nam trongkhông gian từ vĩ tuyến 17 trở ra
3.3 Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐCSVN về CTND, về vai trò của hậu
phương, về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ yếu được kết hợp
sử dụng trong toàn bộ các chương của luận án Trong đó, ở chương 1 và chương 2, nhằm khôiphục quá trình ĐLĐVN lãnh đạo quân dân miền Bắc thực hiện công cuộc xây dựng, phát huy
Trang 11sức mạnh hậu phương trong những năm (1965 – 1972) thì phương pháp lịch sử được sử dụngchủ yếu Trong khi đó, phương pháp logic là phương pháp chủ đạo được sử dụng ở chương 3
để làm rõ những thành tựu, hạn chế; lý giải nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế cũngnhư rút ra những kinh nghiệm lịch sử trong quá trình ĐLĐVN lãnh đạo xây dựng, phát huysức mạnh hậu phương Ngoài ra, các phương pháp khác như: phân tích - tổng hợp; so sánh,đối chiếu, thống kê cũng được vận dụng để giải quyết nội dung nghiên cứu cụ thể của luận án
- Nguồn tài liệu tham khảo, phụ lục của luận án có thể đóng góp cho việc nghiên cứumột số vấn đề thuộc về hoặc có liên quan đến xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phươngmiền Bắc trong những năm từ 1965 đến năm 1972
4.2 V ề nội dung khoa học
- Mô tả, phục dựng tương đối đầy đủ, khách quan bức tranh lịch sử về sự lãnh đạo củaĐảng trong xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc từ năm 1965 đếnnăm 1972
- Góp phần làm sáng tỏ hoàn cảnh hoạch định, thành công, hạn chế các chủ trương,đường lối, giải pháp, biện pháp của ĐLĐVN trong quá trình xây dựng, bảo vệ, phát huy sứcmạnh của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam và chiến trường Đông Dương
- Bước đầu đưa ra những đánh giá, nhận xét có cơ sở khoa học về những thành tựu,hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miềnBắc; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN hiện nay
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và phục vụ công tác giảng dạy mônLịch sử ĐCSVN, Đường lối cách mạng của ĐCSVN cũng như những môn học có liên quan
Trang 125 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, Kếtluận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 3 chương và 6 tiết:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền
Bắc của Đảng giai đoạn 1965 - 1968
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương
miền Bắc giai đoạn 1969 - 1972
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 13TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (1954 – 1975)
từ nhiều năm qua là đề tài thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu trongnước và nước ngoài Cho đến nay, số lượng công trình nghiên cứu cũng như vấn đềthuộc về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) rất phong phú, đadạng Mỗi công trình có mục đích, góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng đều có điểmchung là tác phẩm nào cũng ít nhiều đề cập đến vấn đề hậu phương, trong đó có vấn
đề hậu phương chiến lược miền Bắc Điều này không khó lý giải bởi sự gắn kết máuthịt giữa hậu phương với tiền tuyến; giữa miền Bắc với miền Nam; bởi thắng lợi củacuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không thể tách rời vai trò, vị trí, sức mạnh củahậu phương miền Bắc XHCN suốt hai mươi mốt năm, nhất là những năm miền Bắctrực tiếp chiến đấu chống hai cuộc CTPH của đế quốc Mỹ trong những năm từ 1965đến năm 1972
Hệ thống hóa và phân tích các công trình khoa học viết về, hoặc liên quan trực tiếpđến vấn đề xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc trong những năm khángchiến chống Mỹ, cứu nước (1965 - 1972) là việc làm quan trọng và cần thiết khi bắt taynghiên cứu vấn đề này Mỗi công trình có đối tượng, mục đích, phạm vi, nhiệm vụ nghiêncứu riêng Để tiện việc hệ thống hóa và phân tích, NCS chọn cách tiếp cận theo nội dungchia thành những công trình đề cập trực tiếp và những công trình có nội dung liên quan đếnvấn đề hậu phương theo mảng tài liệu trong nước và nước ngoài
1 Các công trình trong nước
1.1 Các công trình đề cập trực tiếp đến các vấn đề hậu phương miền Bắc
Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị có hai cuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học” do NXB CTQG xuất bản năm 1996 và cuốn “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 Thắng lợi và bài học” xuất bản năm 2000 đều đề cập đến hậu phương nói chung, hậu phương miền Bắc
XHCN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng dưới góc độ bài học kinhnghiệm Trong đó, xây dựng căn cứ địa - hậu phương là một trong những nội dung quan
Trang 14trọng nhất trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng của ĐCSVN Tuy nhiên, vấn đề xâydựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương trong đó có hậu phương miền Bắc XHCN ở haitác phẩm này trình bày mang tính khái lược, tổng quát.
Ở khía cạnh khác, các cuốn “Tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương” vớinhiều chuyên đề trong đó có những chuyên đề đề cập đến nội dung cụ thể thuộc vềquá trình xây dựng, bảo vệ hậu phương trên nhiều địa bàn, khu vực khác nhau qua haicuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như công tác phòng không địaphương, xây dựng lực lượng DQTV, chống bao vây phong tỏa…Điều này cũng giúpích cho NCS hiểu biết kỹ hơn từng nội dung thuộc về chiến lược hậu phương trên cácđịa bàn miền Bắc
Khi bàn về hậu phương nói chung hay hậu phương lớn miền Bắc trong khángchiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng thì cho đến nay, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
là trung tâm nghiên cứu có nhiều công trình công phu đề cập trực tiếp hoặc liên quanđến vấn đề này hơn cả Có thể kể một số công trình như: Lịch sử kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước tập V do NXB CTQG xuất bản năm 2001, tập VI xuất bản năm 2003,tập VII xuất bản năm 2007; Lịch sử quân sự Việt Nam tập 11 xuất bản năm 2005;Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại tập 1, 2 do NXB QĐND xuấtbản năm 1982; trong đó đặc biệt có cuốn chuyên khảo “Hậu phương chiến tranh nhândân Việt Nam (1945 – 1975)” do NXB QĐND xuất bản năm 1997
Các quyển “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” tập V, VI, VII và
“Lịch sử quân sự Việt Nam” tập 11 đều đề cập tương đối toàn diện những thành tựucủa công cuộc xây dựng trên các mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội, y tếcủa miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1972 Mục đích chủ yếu của những tác phẩm này
là nhằm làm nổi bật các hoạt động quân sự, tư tưởng quân sự với các chiến lược,chiến thuật, chiến dịch, các trận đánh…trên chiến trường trực tiếp miền Nam nênphần trình bày về hậu phương miền Bắc, đặc biệt là chủ trương, đường lối và quátrình chỉ đạo của Đảng để xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương trên nhiều lĩnhvực vì thế còn mang tính khái lược
“Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975)” là tác phẩmchuyên biệt về hậu phương trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng được các nhà
Trang 15khoa học của Viện dày công nghiên cứu ở nhiều tầng nấc: căn cứ địa, hậu phươngchiến lược, hậu phương tại chỗ, hậu phương quốc tế trong hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ Độc giả khi đọc cuốn sách này cóđược cái nhìn tổng quát về sự ra đời, phát triển cũng như vai trò, vị trí, ý nghĩa củacăn cứ địa và các tầng nấc hậu phương trong chiến tranh cách mạng Việt Nam.Không những thế, những kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề hậu phương,những luận giải về tác động của yếu tố vật chất, tinh thần bước đầu cũng được tập thểcác tác giả đề cập khá xác đáng Đây là những kết quả mà NCS tiếp tục kế thừa, triểnkhai theo hướng sâu hơn Tuy nhiên, dưới góc độ Lịch sử Đảng, tác phẩm này không
đi sâu nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát huy sức mạnhcủa hậu phương miền Bắc
Lịch sử Việt Nam (1965 – 1975) của Viện Sử học do NXB Khoa học xã hộixuất bản năm 2002 Đúng như lời nói đầu của cuốn sách, các tác giả đã cố gắng «dựng lại một bức tranh toàn cảnh chân thực, có hệ thống về quá trình phát triển củalịch sử Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975, trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị,quân sự, văn hóa với những thành tựu to lớn, và với cả những tổn thất, sai lầm » [223,
tr 6] Vì đối tượng của cuốn sách là phục dựng lại lịch sử Việt Nam nên phần nghiêncứu về miền Bắc trên tất cả phương diện dưới góc độ Lịch sử Đảng cũng chưa đượcđầu tư nhiều
Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước (1975 - 2005), Khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Viện Lịch sửQuân sự Việt Nam đã cho ra mắt ấn phẩm “Hậu phương lớn - Tiền tuyến lớn trongkháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) ” do Phan Ngọc Liên chủ biên xuấtbản năm 2005 Cuốn sách là công trình biên soạn dầy dặn, khá công phu, bao gồmnhững đoạn trích văn kiện Đảng, những bài nói, thư gửi, lời kêu gọi, lời căn dặn củaChủ tịch Hồ Chí Minh; những bài viết tiêu biểu của các nhà nghiên cứu đã được đăngtải trên các tạp chí chuyên ngành như Lịch sử quân sự, Lịch sử Đảng; những phầntrích từ những công trình của Viện Lịch sử quân sự (như trên đã đề cập) như “Hậuphương chiến tranh nhân dân”, “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975.Thắng lợi và bài học”; “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi
và bài học”; những bài phát biểu, hồi ức của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; bài viết của
Trang 16tập thể các nhà nghiên cứu, nhà giáo, học viên đang công tác và học tập tại khoa Lịch
sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội về cuộc kháng chiến chống Mỹ anh dũng, kiêncường của quân dân Nam Bộ; về sự nghiệp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ XHCNmiền Bắc, về vai trò hậu phương chiến lược của miền Bắc trong 21 năm (1954 –1975) Quả thực, đối với NCS, cuốn sách có tác dụng hỗ trợ không nhỏ trong việckhảo cứu vấn đề hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Nhằm mục đích làm nổi bật chủ đề nhân dân cả nước cùng chung sức đánh
Mỹ, hoàn thành một nhiệm vụ chiến lược trọng yếu của dân tộc, cuốn sách được kếtcấu bốn phần: (1) Cả nước cùng thực hiện nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; (2) MiềnNam gọi, miền Bắc trả lời; (3) Nam Bắc đều đánh giỏi; (4) Thế giới phối hợp và ủng
hộ Việt Nam chống Mỹ và phần Phụ lục Ở mỗi phần đều có lời dẫn nhập và tóm tắtđại ý - điều này thuận tiện cho bạn đọc lĩnh hội được chủ ý của các soạn giả xuyênsuốt toàn bộ cuốn sách dày ngót nghìn trang cũng như ở từng phần mục Tuy nhiên,
vì là công trình biên soạn, nên về mảng hậu phương miền Bắc, ngoài những phầntrích từ các công trình khoa học đề cập trực tiếp đến hậu phương, hậu phương miềnBắc như đã kể trên, thì còn nhiều bài viết đề cập đến sự góp sức chi viện cho tiềntuyến miền Nam, sự kiên trung chống trả hai cuộc CTPH của đế quốc Mỹ của các địaphương như Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Phòng, Hà Tây…
Năm 2005 còn có cuốn “Đại thắng mùa xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam” của Phạm Huy Dương và Phạm Bá Toànchủ biên Với ý tưởng trình bày các yếu tố quan trọng đưa đến Đại thắng mùa xuânnăm 1975, cuốn sách được chia làm bốn phần Phần 1: Nghệ thuật quân sự - yếu tốquan trọng tạo thế và lực cho Đại thắng mùa Xuân 1975; Phần hai: Hậu phương miềnBắc dốc lòng vì sự nghiệp giải phóng miền Nam; Phần ba: Chặng đường tiến tới Đạithắng mùa xuân 1975 qua các trận đánh đã đi vào lịch sử; Phần bốn: Đại thắng mùaxuân kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam Phầntrọng tâm của cuốn sách thiên về các yếu tố quân sự, các trận đánh lịch sử, vì lẽ đó,phần nói về hậu phương miền Bắc hết sức khái quát Các tác giả không đi vào trìnhbày công tác xây dựng, bảo vệ của hậu phương miền Bắc mà tiếp cận vai trò củamiền Bắc trong việc xây dựng căn cứ địa hậu phương trên các chiến trường nhằm tạo
Trang 17nguồn bảo đảm hậu cần tại chỗ ngày một vững chắc Cùng với đó, tác giả rút ra bàihọc về việc xây dựng hậu phương quốc gia và hậu phương tại chỗ trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quyển “Lịch sử Chính phủ Việt Nam” tập 2, (1955 - 1976) do NXB CTQGxuất bản năm 2008 Cuốn sách phản ánh toàn diện, có hệ thống về tổ chức và hoạtđộng của Chính phủ Việt Nam giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1976, qua đó rút ramột số kinh nghiệm cho việc xây dựng Chính phủ ngày càng vững mạnh Cuốn sáchcũng mô tả khối lượng công việc đồ sộ từ việc chỉ đạo và tổ chức xây dựng kinh tế,phát triển văn hóa, giáo dục, chăm lo đời sống nhân dân; xây dựng lực lượng vũtrang, củng cố quốc phòng; chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam,đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế Trong
đó, chương III: “Chính phủ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấu bảo vệmiền Bắc, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam (1964 – 1971) ngoài phần trình bày về
cơ cấu tổ chức và bộ máy chính phủ từ năm 1961 đến năm 1971, cuốn sách còn trìnhbày quá trình chính phủ chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóamiền Bắc trong điều kiện cả nước có chiến tranh trên các mặt công nghiệp, nôngnghiệp, GTVT, thương nghiệp tài chính, phát triển văn hóa giáo dục
Gần đây nhất, năm 2009 NXB CTQG cho ra mắt cuốn “Hậu phương miền Bắctrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) của Nguyễn Xuân Tú.Cuốn sách kết cấu ba chương Chương 1, trình bày lý luận chung của chủ nghĩa Mác– Lênin về vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh; sự cần thiết phải xâydựng hậu phương miền Bắc và chủ trương của Đảng về việc xây dựng hậu phươngmiền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Chương 2, trình bày kháiquát sự lãnh đạo của Đảng xây dựng hậu phương miền Bắc quá độ lên CNXH vàbước đầu chi viện cho miền Nam (1954 – 1964) Chương 3, khái quát công cuộc xâydựng hậu phương miền Bắc trong giai đoạn vừa xây dựng CNXH vừa chống CTPH
và đẩy mạnh chi viện cho miền Nam qua ba giai đoạn (1965 – 1968); (1969 – 1972);(1973 – 1975) Đặc biệt, trong hai giai đoạn gắn với hai cuộc chống CTPH, tác giảphác họa được những chủ trương lớn của Đảng trong việc tiếp tục xây dựng hậuphương miền Bắc khi chiến tranh lan rộng; kết quả miền Bắc đạt được trên một số
Trang 18lĩnh vực như kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, quân sự; thắng lợi của cuộc chốngCTPH và phong toả của đế quốc Mỹ Tuy nhiên, trong những năm 1965 – 1972, miềnBắc phải hai lần tiến hành chuyển hướng từ thời bình sang thời chiến nhưng dưới góc
độ Lịch sử Đảng, công trình không đi sâu làm sáng tỏ chủ trương của Đảng cũng nhưquá trình chỉ đạo chuyển hướng các hoạt xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh hậuphương miền Bắc một cách toàn diện Nhiều phương diện như chủ trương của Đảngtrong việc đảm bảo đời sống tinh thần, vật chất, an ninh, giải quyết các chính sách xãhội cho quân dân miền Bắc, những nhân tố rất quan trọng tạo nên sự ổn định, vữngbền, ưu việt của hậu phương miền Bắc chưa được công trình đề cập
Cũng đề cập đến hậu phương của chiến tranh cách mạng Việt Nam, cuốn
“Chuyên đề môn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam”, tập I của Bộ Giáo dục và Đàotạo xuất bản năm 2007 có chuyên đề “Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậuphương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975” của Ngô Đăng Tri Chuyên đề có banội dung chính: Vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại;Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 -
1975 và nêu lên những nhận xét chung cũng như những kinh nghiệm chủ yếu về quátrình Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương Trong đó, giai đoạn 1965 -
1975, tác giả trình bày khái quát đường lối xây dựng hậu phương miền Bắc của Đảng
và tập trung trình bày sự chi viện về vật chất của hậu phương miền Bắc cho chiếntrường miền Nam Tất nhiên, trong khuôn khổ một chuyên đề phục vụ công tác giảngdạy, học tập của các trường đại học nên không có điều kiện đề cập, hoặc đi sâu nhiềukhía cạnh của việc Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ hậu phương nói chung, hậuphương miền Bắc trong những năm kháng Mỹ nói riêng Tuy nhiên, chuyên đề bướcđầu chỉ ra những thiếu sót, hạn chế trong công tác xây dựng hậu phương cùng nhữngnhận xét chung, một số kinh nghiệm về việc giải quyết vấn đề hậu phương trong suốt
30 năm chiến tranh giải phóng rất xác đáng
Cuốn Kỷ yếu Hội thảo “Đại thắng mùa xuân 1975 sức mạnh đại đoàn kết toàndân tộc thời đại Hồ Chí Minh” do Bộ Quốc phòng – Thành ủy Thành phố Hồ ChíMinh chủ trì, xuất bản năm 2011 có một số bài viết đề cập trực tiếp đến hậu phươngmiền Bắc: “Xây dựng và phát huy vai trò hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng
Trang 19chiến chống Mỹ, cứu nước” của Trần Văn Quang, “Lực lượng thanh niên xung phongmiền Bắc phát huy tinh thần đoàn kết, hiệp đồng, sáng tạo, góp phần quan trọng vàothắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975” của Trương Mai Hương;
“Huy động nhân tài, vật lực to lớn của quân dân các dân tộc Việt Bắc chi viện chocuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975” của Nguyễn Văn Đạo; “Động viênsức người, sức của cho trận quyết chiến chiến lược Xuân 1975 – bài học thực tiễn vềphát huy sức mạnh Đại đoàn kết dân tộc ở vùng đồng bằng sông Hồng” của NguyễnVăn Lân; “Nguồn lực tổng hợp của hậu phương chiến lược Quân khu 4 chi viện chocuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975” của Nguyễn Hữu Cường; một số bàigián tiếp đề cập đến việc xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnh, vai trò của hậuphương miền Bắc như: “Liên minh chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào,Campuchia trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Nguyễn Viết Bình; “Đoànkết ba nước Đông Dương - một nhân tố làm nên thắng lợi của sự nghiệp kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước” của Lê Văn Yên; “Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc – nhân tốcòn nguyên giá trị cho việc hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay” của TrầnThái Bình; “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại – nhân tố quyết địnhthắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Phạm Xanh…
Cũng trực tiếp đề cập đến hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ,cứu nước, có nhiều bài viết đăng tải trên các tờ báo: Nhân dân, Quân đội nhân dânnhân dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; trên các tạp chíLịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Đảng, Nghệ thuật quân sự Việt Nam, Quốc phòngtoàn dân, Hậu cần Quân đội, Lý luận chính trị, Nghiên cứu lịch sử… Trong đó, nhiềubài đã được hai công trình biên soạn “Hậu phương lớn – Tiền tuyến lớn trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) và cuốn “Cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước - những mốc son lịch sử” tập hợp Ngoài ra, có những bài tiêu biểunhư: “Vai trò của hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ trong chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc” (Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam, số 3, năm 2004); “ Hậu phương– hậu cần trong tiến công chiến lược năm 1972” (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5 năm1992); “Bàn về xây dựng căn cứ hậu phương và hậu phương chiến lược trong chiếntranh bảo vệ Tổ quốc” (Tạp chí Hậu cần Quân đội, số 3, năm 2008); “Giải quyết vấn
Trang 20đề hậu phương quân đội trong chiến tranh” (Tạp chí Lý luận chính trị, số 12, năm2004); “Tìm hiểu viện trợ của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Rumani cho Việt Namtrong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” (Tạp chí Lịch sử Quân sự, tháng 11 năm2005) ; “Vài nét về hậu phương miền Bắc với chiến dịch Buôn Ma Thuột và chiếndịch Tây Nguyên trong đại thắng mùa xuân năm 1975” của Nguyễn Hữu Đạo(Nghiên cứu Lịch sử số 4 (347)/2005); “Vài nét về đường Trường Sơn trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Hồ Khang (Nghiên cứu Lịch sử số 5(397)/2009)…
Về luận án, có «Hậu phương quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứunước (1954 -1975) » của Nguyễn Văn Quang, năm 2011 Đối tượng của Luận án làviệc xây dựng hậu phương trên địa bàn Quân khu 4 Luận án giúp cho NCS có thêmphông nền về việc xây dựng, phát huy vai trò hậu phương ở một địa bàn quan trọngcủa miền Bắc trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1.2 Các công trình đề cập gián tiếp đến vấn đề hậu phương miền Bắc
Có thể thấy rằng, nhiều công trình nghiên cứu về thời chống Mỹ, cứu nướcliên quan ít nhiều đến vấn đề hậu phương miền Bắc, trong đó có cuốn “Lịch sử kinh
tế Việt Nam 1954 – 1975” của Đặng Phong xuất bản năm 2002 Cuốn sách trình bàydưới góc độ lịch sử nền kinh tế của VNDCCH ở miền Bắc cũng như kinh tế của miềnNam với các vùng do chính quyền VNCH quản lý, vùng căn cứ cách mạng quản lý từnăm 1954 đến năm 1975 Tác giả cung cấp cho người đọc cái nhìn đối chiếu giữa hainền kinh tế dưới hai chính quyền, hai chế độ khác nhau trong cùng một khoảng thờigian Nhờ đó, NCS có những cứ liệu gợi mở cho việc khai thác sâu hơn những ưuviệt/ hạn chế trong quá trình xây dựng hậu phương miền Bắc dưới sự lãnh đạo củaĐLĐVN
Năm 2009, Nguyễn Đình Lê cho ra mắt cuốn “Lịch sử Việt Nam 1954 1975” Cuốn sách phác hoạ khái quát lịch sử Việt Nam trong bối cảnh đặc biệt bị chiatách hai miền Nam, Bắc suốt hai mươi mốt năm Độc giả có thể nắm bắt được nhữngnét cơ bản, quan trọng của lịch sử miền Bắc Việt Nam (VNDCCH), lịch sử miềnNam (VNCH), lịch sử của các vùng tự do, vùng tạm chiếm trên nhiều phương diệnkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
Trang 21-Năm 2013, Nguyễn Thị Mai Hoa cho ra mắt cuốn « Các nước xã hội chủ nghĩaủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) » Cuốn sách phụcdựng toàn diện bức tranh về sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước XHCN anh em đối vớiViệt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) Cuốn sáchcũng cho thấy rõ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng trong việc vận dụng, tranhthủ sự giúp đỡ của quốc tế.
Cũng phải kể đến cuốn “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - những mốcson lịch sử” NXB CTQG cho ra mắt năm 2010 Cuốn sách được hình thành trên cơ sởtuyển chọn một số công trình, bài viết của các tướng lĩnh, sĩ quan, các nhà khoa học
về những sự kiện tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Bằng các cứliệu có độ xác thực cao, cuốn sách phác hoạ một cách chân thực, khái quát quá trìnhphát triển của cuộc kháng chiến của dân tộc, từ bối cảnh lịch sử, tương quan lựclượng hai bên, đường lối kháng chiến, công tác tổ chức điều hành, động viên tối đasức mạnh dân tộc, tinh thần chiến đấu ngoan cường, thông minh, sáng tạo của quândân Việt Nam, ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến Trong đó có những bàiviết liên quan đến hậu phương miền Bắc như: “Hậu phương miền Bắc trong sựnghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Hồ Khang; “Miền Bắc đánh thắngchiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ những năm 1965 – 1972” của Nguyễn MinhLong; “Tác động quốc tế đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dânViệt Nam” của Trình Mưu; “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại – Một mốc son nổi bậtcủa ý chí Việt Nam; “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước” của Đồng Sĩ Nguyên; “Hạquyết tâm đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Nguyễn Văn Quyền Trong
đó, bài viết của Hồ Khang và của Nguyễn Minh Long phác hoạ một cách khái quátnhất hậu phương miền Bắc trong hai cuộc chống CTPH cũng như trong toàn bộ cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài báo, công trìnhkhông thể chuyển tải đầy đủ và cụ thể chủ trương, đường lối cũng như quá trình chỉđạo quân dân miền Bắc xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh, vai trò hậu phươngmiền Bắc trong hai những năm chống hai cuộc CTPH trong những năm này
Hậu phương chiến lược miền Bắc cũng được đề cập trên những mặt trận riêng,địa bàn riêng trong lịch sử đảng bộ các tỉnh, thành như Thái Bình, Hà Tây, Thanh
Trang 22Hoá, Nghệ An, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định… ; trong các công trình lịch sử đảng
bộ Quân khu II, Quân khu III, Quân khu IV, Quân khu Thủ đô hoặc trong các côngtrình tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của các Quân chủng, các lực lượng vũtrang hoặc tổng kết về CTND ở các địa phương, tổng kết chống CTPH của các quânchủng PK- KQ, Hải quân; công trình viết về thanh niên, phụ nữ thời kháng chiếnchống đế quốc Mỹ…Có thể kể một vài tác phẩm đáng lưu ý: Lịch sử đảng bộ quânkhu III, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị quân chủng Phòng Không – KhôngQuân (1953 – 2005), Lịch sử công tác tư tưởng - văn hóa trong quân đội Việt Nam(1944 – 2004), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang quân khu
II, Công tác phòng không nhân dân trong đánh thắng chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1964 – 1972); Chiến tranh nhân dân đánhthắng chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên địa bàn Hà Nội(1965 – 1972)…
Hậu phương miền Bắc còn được đề cập trong các cuộc Hội thảo khoa học vềcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Ví dụ trong Kỷ yếu Hội thảo “Bộ Tổng Thammưu 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành” (lưu hành nội bộ) có bài: “BộTổng tham mưu chỉ đạo xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc và hậu phươngtại chỗ ở chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954– 1975) của Nguyễn Tang Bồng Trong cuốn “Đại thắng mùa Xuân năm 1975,nguyên nhân và bài học” (Hội thảo kỷ niệm 20 năm ngày toàn thắng cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước do Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch sử quân sự tổ chức) có cácbài: “Vai trò của miền Bắc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước” của Hoàng Dũng;
“Góp thêm về vai trò, vị trí của miền Bắc trong kháng chiến” của Nguyễn Quý Haibài viết nhấn mạnh vai trò của miền Bắc không chỉ là chỗ dựa tinh thần vững chắcđối với nhân dân miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh nhất là ở những mốc thờigian quan trọng mà còn thực hiện nhiệm vụ chi viện vật chất, lực lượng to lớn chotiền tuyến miền Nam
Kỷ yếu “Đường Hồ Chí Minh một sáng tạo chiến lược của Đảng” (Kỷ niệm 50năm ngày thành lập đường Trường Sơn) tập hợp những bài viết của các tướng lĩnh,các nhà nghiên cứu về chủ trương, quyết tâm của Đảng xây dựng con đường chiến
Trang 23lược nối hậu phương lớn với tiền tuyến lớn; về cuộc chiến đấu ác liệt nhưng đầy sángtạo, anh dũng của quân và dân trên con đường huyền thoại này; qua đó phát huy sứcmạnh to lớn, vĩ đại của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam.
Cuốn “Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn Quân khu IV trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước” là tập kỷ yếu Hội thảo khoa học xuất bản năm 2001, gồm nhiềubài viết của các tướng lĩnh, cán bộ chỉ huy đã trực tiếp chiến đấu, các nhà nghiên cứutrong nước đề cập đến mặt trận GTVT - phương thức để vận chuyển sự tiếp viện củahậu phương cho tiền tuyến trên một địa bàn đặc biệt nhất miền Bắc đó là Quân khu
IV Sự can trường, anh dũng hy sinh cũng như những sáng tạo của quân dân nơi đâytrong việc đảm bảo thông suốt con đường chi viện sức người, sức của từ miền Bắccho tiền tuyến miền Nam và cho chiến trường quốc tế Lào, Campuchia là hình ảnhsống động, tiêu biểu cho sức sống, sức mạnh bất diệt của hậu phương miền Bắcnhững năm chống Mỹ
Cùng đề tài về GTVT trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đặng Phong cócuốn “5 đường mòn Hồ Chí Minh” xuất bản năm 2008 Bằng nguồn tư liệu phongphú, có độ xác thực cao và cách viết hiện đại, Đặng Phong phục dựng sinh động nămcon đường giao thông mà miền Bắc XHCN sử dụng vận chuyển của cải, vật chất,nhiên liệu, tiền bạc, lực lượng…cho tiền tuyến miền Nam Qua đây, thấy được sựsáng tạo, kỳ công cũng như sức mạnh to lớn của hậu phương miền Bắc đối với tiềntuyến miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng
Một nguồn tư liệu cũng đáng chú ý đó là các hồi ký, ký sự lịch sử của cáctướng lĩnh, những người trực tiếp chỉ huy, chiến đấu trong năm chiến tranh cũng ítnhiều đề cập đến hậu phương, hậu phương miền Bắc Ví dụ “Trận đánh ba mươinăm” do NXB QĐND ấn hành năm 2005, công trình của một tập thể các nhà nghiêncứu biên soạn Cuốn ký sự “lựa chọn một số sự kiện cùng những câu chuyện, conngười gắn với những sự kiện ấy rồi đưa ra một kết cấu và kể lại trong đó nhữngđường nét chính về đấu trí chiến lược qua quá trình hình thành, phát triển và kết thúctrận đánh lịch sử 1945 – 1975, nhìn từ phía chúng ta” [167, tr 5] Nguồn tư liệu của
ký sự này được NXB Quân đội nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Ban Nghiên cứulịch sử Đảng Trung ương, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Ban biên soạn lịch sử các
Trang 24quân chủng, binh chủng, quân đoàn, quân khu, các tỉnh, thành phố cung cấp Vì thế,
độ tin cậy, xác thực của tư liệu cũng rất có giá trị Được kết cấu 63 chương, trong đóliên quan đến hậu phương miền Bắc thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, cứu nước có cácchương 38 “Vun gốc xây nền”, chương 42 “Đường vào”, chương 49 “Cả nước vàotrận mới”, chương 51 “Hậu phương kỳ diệu”, chương 52 “Như một dòng chảy khôngngừng”, chương 56 “Thế và lực”, chương 57 “Liên minh chiến đấu”, chương 58
“Đường Trường Sơn vươn xa”, chương 59 “Năm 1972”
2 Các công trình nước ngoài
Chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) là vấn đề mà nhiều nhà khoa học nướcngoài quan tâm nghiên cứu nhưng tập trung là các nhà khoa học đến từ Mỹ, TrungQuốc, Nga, Nhật Bản
Như một tướng Mỹ viết: “Kẻ chiến thắng thường ít quan tâm đi tìm bài học.Chỉ chúng ta, những kẻ thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam nay phải chịu khóđào bới lại quá khứ để tìm ra những bài học tương lai…”, theo lẽ đó, câu hỏi “vì sao
Mỹ, một siêu cường của thế kỷ 20 đã chịu thất bại trước một nước Việt Nam như vừamới thoát khỏi ách thực dân trong cuộc chiến tranh Việt – Mỹ” đã, đang và sẽ cònđược các chính khách, tướng lĩnh từng tham chiến, các học giả Mỹ tìm tòi, phân tích
để tìm ra câu trả lời thỏa đáng Các công trình viết về cuộc chiến tranh Việt Nam khánhiều; trong đó, miền Bắc Việt Nam được đề cập tới ở nhiều góc cạnh khác nhau
2.1 Các công trình đề cập trực tiếp đến hậu phương miền Bắc
Miền Bắc VNDCCH trong cuộc chiến tranh Việt - Mỹ là một vấn đề được các họcgiả nước ngoài để tâm nghiên cứu Những tác phẩm này phần nhiều được các học giả, cácnhà xuất bản, các trung tâm nghiên cứu Việt Nam dịch thuật Có thể kể một số tác phẩmtiêu biểu: “Chiến tranh cách mạng ở Việt Nam” của Gabriel Bonnet; “Cuộc chiến tranh dàingày nhất của nước Mỹ” của George C.Heering, “Tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Namcủa Bộ Quốc Phòng Mỹ”, “Tài liệu mật của Bộ Quốc Phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâmlược Việt Nam”, “Vietnam at War, The History 1946 - 1975” của Lt.Gen Philip.B, “Theten thousand day war” của Michael Maclear…,trong đó, đáng lưu ý cuốn “Chiến tranhcách mạng ở Việt Nam” của Gabriel Bonnet Cuốn sách gồm hai tập Tập 1, tác giả đi sâunghiên cứu cuộc chiến tranh ở phía Việt cộng Sau khi giới thiệu khái quát những số liệu
Trang 25cơ bản về địa lý tự nhiên, địa thế, địa hình đất nước, con người, lịch sử của Việt Nam, tácgiả phân tích chiến lược chung của Đảng Cộng sản, hoạt động của Chính phủ, Mặt trậndân tộc giải phóng, nước VNDCCH; phân tích chiến lược chính trị, tinh thần, xã hội,những nhân tố ảnh hưởng tích cực của chiến lược cách mạng Có thể nói đây là một trongnhững cuốn sách rất ít ỏi của các tác giả nước ngoài viết về miền Bắc những năm khángchiến chống Mỹ, cứu nước một cách kỹ càng, dưới nhiều khía cạnh Đặc biệt, tác giả trìnhbày những yếu tố tích cực tạo nên sức mạnh, sức sống bền bỉ của miền Bắc như văn hoá,văn nghệ, giáo dục, y tế, bảo vệ sức khoẻ trong quân đội và hậu phương, vai trò của phụ
nữ đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ miền Bắc Ngoài ra, tác giả còn bàn về chiến lượckinh tế của miền Bắc, về sự viện trợ của các nước XHCN thông qua miền Bắc; về công tácPKND; về chiến lược, chiến thuật quân sự của miền Bắc và của lực lượng vũ trang cáchmạng miền Nam Tập hai, tác giả bàn về cuộc chiến tranh ở phía Mỹ và của VNCH Cáchtrình bày này cũng dễ dàng cho người đọc có được sự so sánh trên nhiều lĩnh vực giữa haibên VNDCCH ở miền Bắc và Mỹ, VNCH ở miền Nam Những miêu tả sinh động, chânthực của tác giả về miền Bắc trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, y tế…là những
tư liệu đáng giá cho NCS thực hiện đối sánh với các tư liệu trong nước
Cũng với sự ngưỡng mộ, khâm phục ĐLĐVN, nhân dân miền Bắc Việt Nam, cuốn
“North Vietnam’s strategy for survival” (tạm dịch là “Chiến lược của Bắc Việt Nam vì sựsống sót”), Jon M.Van Dyke, xuất bản năm 1972 phác hoạ một bức tranh rõ ràng, chi tiếtlàm thế nào nhân dân miền Bắc sống sót, chịu đựng được cuộc chiến tranh và những tổnthất suốt những năm CTPH từ năm 1965 đến năm 1968 Theo tác giả, chiến tranh ảnhhưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống miền Bắc nhưng ĐLĐVN có những chiến lượcphát triển kinh tế, chính trị, xã hội, quân đội hợp lý, nhờ đó, cùng với nỗ lực lớn lao, nhândân miền Bắc vượt qua những khó khăn của cuộc CTPH lần thứ nhất Tác giả tập trungphân tích những nỗ lực của nhân dân miền Bắc trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệpkhi mà sự thiếu hụt nhân lực để cung cấp cho sự phát triển của quân đội, cho sửa chữa cáctuyến đường giao thông và sự thay đổi cần thiết giữa khu vực sản xuất nông nghiệp - côngnghiệp; phân tích về chiến lược chiến tranh trường kỳ, về sự thành công của Bắc Việt Namtrong việc duy trì nguồn cung cấp nhân lực, của cải cho miền Nam; về sự khéo léo tranh
Trang 26thủ viện trợ kinh tế, quân sự của Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu khác Côngtrình cũng miêu tả hệ thống GTVT rất phát triển của miền Bắc trong chiến tranh.
“The ten thousand day war Vietnam: 1945 - 1975” (“Cuộc chiến tranh Việt Nammười nghìn ngày:1945 - 1975”) của Michael Maclear không đi vào trình bày các diễnbiến, các sự kiện chính trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà sưu tầm các bằng chứng vềnhững phương tiện mà đế quốc Mỹ đã từng vận dụng trong dự tính và điều hành cuộcchiến tranh bị chỉ trích nhiều nhất của thế kỷ Những tài liệu này được rút ra từ nhiều cuộcphỏng vấn người Pháp, người Mỹ, người ở miền Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam đã từngtham dự cuộc chiến Cuốn sách chú trọng đến chính sách của Mỹ đối với vấn đề Việt Namcũng như hậu quả của chính sách ấy di hại đến ngày nay Giành một phần “The GuerrillaSociety” (“Xã hội của quân du kích”, tức xã hội Bắc Việt Nam), tác giả thể hiện sựngưỡng mộ của mình đối với sự kiên cường của nhân dân miền Bắc Việt Nam trong cuộcchống CTPH của đế quốc Mỹ
“Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội, Việc sử dụng gián điệp, biệt kích và thámbáo của Kenedy và L.Giônxơn ở Bắc Việt Nam” của Richard H.Shultz nói về cuộc chiếnchống phá miền Bắc bằng việc tung lực lượng gián điệp, biệt kích thâm nhập vào sâu nộiđịa của VNDCCH
Cuốn “Tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc Phòng Mỹ” cũng cónhững phần nói đến miền Bắc Đó là, trong những “tổng kết” về cuộc chiến tranh ViệtNam, Bộ Quốc Phòng Mỹ có đưa ra những đánh giá, so sánh giữa VNCH và miền BắcVNDCCH; đưa ra những lý giải vì sao miền Bắc lại là bên chiến thắng
Trên tạp chí “The Guardian” ngày 19 - 9 – 1972 đăng bài “Cuộc phong toả Bắc ViệtNam” của George Mc.Arthur và bài “ Chuyến đi về phía Nam” của Peter Arnett được Họcviện Quân sự cao cấp dịch năm 1972 Hai bài viết thể hiện sự ngưỡng mộ của tác giả vềsức mạnh phi thường, về ý chí kiên cường, về xã hội miền Bắc trật tự, nhân văn; về sự chiviện to lớn của miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam khi các tác giả trực tiếp chứng kiếncuộc sống, cuộc chiến đấu của nhân dân miền Bắc những năm chống CTPH GeorgeMc.Arthur viết: “Và người ta biết từ lâu sức mạnh của nhân dân là tài nguyên quan trọngnhất ở Bắc Việt Nam” [169, tr 3]
2.2 Các công trình đề cập gián tiếp đến vấn đề hậu phương miền Bắc
Trang 27Cho đến nay, hầu hết các nhân vật chóp bu của Mỹ dính líu đến chiến tranh ViệtNam từ Tổng thống L.Giônxơn, R.Níchxơn, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mc.Namara, B.Panmơ, Đô đốc G.Sáp, các cố vấn, trợ lý cho Tổng thống…và kể cả một số chức sắc củachế độ VNCH, ở nhiều giác độ khác nhau đều đã chấp bút viết về cuộc chiến tranh này.Nhìn chung, họ tập trung tìm hiểu sự sai lầm về chiến lược, sách lược quân sự trên chiếntrường miền Nam và về hai cuộc CTPH miền Bắc Việt Nam, từ đó nhiều nguyên nhânchiến bại, nhiều bài học được chiêm nghiệm, đúc rút, ví như: “Hồi ký Giônxơn: Về cuộcchiến tranh xâm lược miền Nam và CTPH miền Bắc Việt Nam”; “Tài liệu mật Bộ QuốcPhòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”; “The Second Indochina War”; “TheHidden History of Vietnam war”; “The bad War, an oral History of the Vietnam War”;
“The secret history of the war, base on investigate reporting”; “Nixon's Vietnam War”,
“Vietnam at War, The History 1946 – 1975”… Có thể thấy, miền Bắc Việt Nam trong cáctác phẩm này đều được nhìn nhận là “hiểm họa số 1”, là cội nguồn cho sự phát triển củacách mạng miền Nam Từ nơi đây, qua nhiều con đường, bằng nhiều phương thức sứcngười, của cải, vũ khí… và cả niềm tin mãnh liệt được tiếp sức cho miền Nam ngày mộttăng, giúp cách mạng miền Nam phát triển không ngừng Vì thế, việc huỷ diệt, phá hoạitoàn diện và phong tỏa, bao vây miền Bắc, đặc biệt bằng uy lực của bom đạn từ trênkhông, (một cuộc chiến mà giới lãnh đạo nước Mỹ cho rằng nó không tốn kém sinh mạngcủa người Mỹ mà lại hiệu quả), ngày càng được coi là “con át chủ bài” trong tổng thểchiến lược chiến tranh ở Việt Nam Việc tiến hành CTPH miền Bắc ngày càng được giớicầm quyền Mỹ quyết định mở rộng về quy mô và nâng dần tính chất, mức độ quyết liệtcũng như ngày càng thâm hiểm về thủ đoạn
“Những bài học của cuộc chiến tranh Việt Nam Những suy nghĩ triết học về cuộccách mạng Việt Nam” của Shingo Shibata Đại học Tổng hợp Hosei, Tokyo, gồm những bàithuyết trình của tác giả tại những hội nghị của hội nghiên cứu chủ nghĩa duy vật Tokyo, Hộinghị Xã hội học thế giới lần thứ 7 tại Varna (Bulgari, 9 - 1970), hoặc những bài đã đăng trêntạp chí Nhật Bản, những bài nghiên cứu chuyên đề, hoặc trích trong những cuốn sách kháccủa tác giả, được tập hợp lại với chủ đề “Ý nghĩa lý luận và triết học của cuộc chiến tranhViệt Nam” Trong cuốn sách này, tác giả nghiên cứu trên nhiều mặt của cuộc chiến tranhViệt – Mỹ, nêu lên ý nghĩa cách mạng, sự tác động của nó với thế giới, lên án những tội ác
Trang 28chiến tranh của Mỹ và những kẻ đồng loã với chúng; đồng thời so sánh cuộc chiến tranhViệt Nam với một số cuộc chiến tranh cách mạng khác; so sánh sự viện trợ của các lựclượng đế quốc cho tay sai với sự trợ giúp của các nước XHCN và nhân dân tiến bộ trên thếgiới cho cách mạng Việt Nam.
Năm 1992, Phòng Khoa học công nghệ Bộ Tư Lệnh Phòng Không dịch cuốn hồi
ký của Vô – rô – nốp, một chuyên gia quân sự Liên Xô đã tham gia giúp đỡ quân dân miềnBắc đảm bảo công tác phòng không miền Bắc có tên là “Chúng tôi ở Việt Nam (chiếntranh Việt Nam và sự tham gia của các chuyên gia quân sự Liên xô” Cuốn hồi ký chongười đọc thấy được sự hy sinh, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của nhân dân Liên Xô cũngnhư của các nước anh em đối với Việt Nam Sự giúp đỡ này tạo thêm cho quân dân miềnBắc sức mạnh to lớn cả về vật chất và tinh thần để đánh bại những trận không kích ác liệtcủa đế quốc Mỹ
“The road to victoty” (tạm dịch là “Con đường tới chiến thắng) của S.Divilkovsky
và I Ognetov do NXB Tiến bộ Mátxcơva ấn hành năm 1980 Tác giả ca ngợi cuộc chiếnđấu anh hùng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN từ năm 1945 đến năm1975; cung cấp những câu chuyện về tình đoàn kết, sự ủng hộ nhân dân Việt Nam củanhân dân Liên Xô, nhân dân các nước XHCN Đông Âu khác; phân tích những nhân tố cơbản làm nên chiến thắng của Việt Nam
Chương 27 “Why we lost the war” trong “Vietnam at War, The History 1946 –1975”của Phillip B Davidson (Tại sao chúng thua trong cuộc chiến tranh) chỉ ra nguyênnhân miền Bắc thắng lợi và tỏ sự khâm phục đối với đường lối chiến lược sáng suốt, thôngminh của ĐCSVN
Qua những ấn phẩm này, có thể nhận thấy vai trò to lớn, quyết định của miền Bắccùng những âm mưu, thủ đoạn của đối phương chống phá hậu phương chiến lược miềnBắc một cách ráo riết, quyết liệt được nhìn nhận từ phía bên kia chiến tuyến của Bắc Việt.Đồng thời, thấy được sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần của quốc tế đặc biệt các nướcXHCN cho cách mạng Việt Nam thông qua miền Bắc; thấy được sự ngưỡng mộ, nể phụccủa bè bạn thế giới và thậm chí là của những người vốn không thích cộng sản, đối với cuộcđấu tranh của quân dân miền Bắc, đối với ĐCSVN nhất là thời điểm chống hai cuộcCTPH của đế quốc Mỹ
Trang 293 Khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Qua khảo cứu các công trình viết về hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước ở nhiều mức độ khác nhau, chúng tôi nhận thấy:
- Phần nhiều các công trình nghiên cứu tập trung vào việc mô tả, phục dựng thànhtựu của quân dân miền Bắc trong việc xây dựng đất nước trên một số mặt quan trọng như:kinh tế, chính trị, văn hoá, y tế, giáo dục, GTVT và thắng lợi của quân dân miền Bắc đánhbại hai cuộc CTPH của đế quốc Mỹ (1965 – 1972); những kết quả chi viện của cải, vậtchất, lực lượng của hậu phương miền Bắc cho cách mạng miền Nam Vì thế, không nhiềucông trình đi sâu vào nghiên cứu chủ trương, đường lối của ĐLĐVN về xây dựng, bảo vệhậu phương miền Bắc những năm chống Mỹ, cứu nước Trong các công trình đã đề cập ởphần trên, do nhiều nguyên nhân mà nhiều nội dung của công cuộc xây dựng hậu phươngchưa được các tác giả đề cập
- Khẳng định vai trò, vị trí quyết định của hậu phương miền Bắc đối với cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Một số tác giả nước ngoài bước đầu đề cập đến những yếu tố tạo nên sức mạnh,sức sống của miền Bắc, những yếu tố mà nhờ đó ĐLĐVN nhận được sự ủng hộ to lớn củanhân dân
- Sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về mặt tinh thần, vật chất của các nước XHCN đặc biệt
là Trung Quốc, Liên Xô đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thông qua hậuphương miền Bắc XHCN
Tuy nhiên, cũng còn những khía cạnh mà các công trình chưa có điều kiện đề cậpđến, hoặc nếu có thì cũng cần làm rõ hơn:
- Từ năm 1965 đến 1972 là khoảng thời gian miền Bắc phải đương đầu trực tiếpvới cuộc CTPH của đế quốc Mỹ Đó là khoảng thời gian hết sức khắc nghiệt, đầy thửthách đối với cách mạng Việt Nam nói chung, với vai trò, sức mạnh của hậu phương miềnBắc nói riêng Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, vai trò, sức mạnh, sức sống của hậuphương miền Bắc lại được phát huy một cách đầy đủ, mạnh mẽ, sinh động hơn bao giờhết Đây là kết quả của sự trung thành với chiến lược xây dựng hậu phương miền Bắc từtrước đó và sự phát triển lên một bậc cao hơn trong hoàn cảnh trực tiếp chống hai cuộc
Trang 30CTPH của đế quốc Mỹ Tuy nhiên, dưới góc độ Lịch sử Đảng, cần làm nổi bật hơn nữachủ trương hai lần miền Bắc chuyển hướng mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến(một nội dung quan trọng trong chiến lược hậu phương) trên các lĩnh vực kinh tế, tư tưởng,
tổ chức; chủ trương của ĐLĐVN trên những phương diện xã hội, một nhân tố nổi trội, có
ý nghĩa quyết định tạo nên sự bền vững, ổn định, sức sống của hậu phương miền BắcXHCN như chăm lo yếu tố con người, bồi dưỡng sức dân ở cả yếu tố vật chất, tinh thần, trithức, sức khoẻ, phẩm giá con người, đảm bảo môi trường sống an ninh, trật tự trị an…
- Cần làm rõ hơn mối quan hệ hữu cơ, gắn bó đặc biệt giữa hậu phương miền Bắcvới tiền tuyến miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến; cũng như làm rõ hơn những nỗ lựccủa ĐLĐVN trong việc xây dựng mối quan hệ đặc biệt này
- Cần làm sáng rõ hơn sự tác động qua lại, hỗ trợ giữa các tầng nấc hậu phương:hậu phương tại chỗ, hậu phương quốc tế, hậu phương chiến lược miền Bắc trong toàn bộcuộc kháng chiến đối với tiền tuyến miền Nam và các chiến trường Đông Dương khác
- Kinh nghiệm từ quá trình ĐLĐVN lãnh đạo xây dựng, bảo vệ và phát huy sứcmạnh hậu phương miền Bắc trong những năm chống hai cuộc CTPH (1965 – 1972) cầntiếp tục đầu tư nghiên cứu
Tóm lại, cho đến nay, cả trong và ngoài nước có không ít công trình nghiên cứu ởgóc độ này hay góc độ khác, đề cập trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều vấn đề hậu phươngmiền Bắc giai đoạn 1965 - 1972 Đó là thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, giúp NCShoàn thành khỏa lấp một số khoảng trống nghiên cứu phù hợp với đề tài luận án được tiếpcận dưới góc độ Lịch sử ĐCSVN
Trang 31CHƯƠNG 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1965 - 1968
1.1 Chủ trương xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc 1.1.1 Miền Bắc trước thách thức mới
Ngay sau khi Hội nghị Giơnevơ kết thúc, trước những biến động của tình hình,Chủ tịch Hồ Chí Minh và TƯĐLĐVN nhận diện kẻ thù chủ yếu và trực tiếp của cáchmạng Việt Nam ở chặng đường mới chính là đế quốc Mỹ và lường định cuộc tranh đấuvới đối phương giàu mạnh bậc nhất thế giới sẽ hết sức lâu dài, gian khổ Trong cuộc đấutranh đó, TƯĐLĐVN xác định vai trò, vị trí của miền Bắc có ý nghĩa quan trọng, mangtính quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng Hội nghị TƯĐLĐVN lần thứ tám(8 – 1955) xác định: “Miền Bắc là chỗ đứng của ta Bất kể trong tình hình nào, miền Bắccũng phải được củng cố về mọi mặt” [106, tr 577] Tiếp đó, tại Đại hội toàn quốc lần thứIII (9 – 1960), ĐLĐVN chủ trương tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc; cuộc cáchmạng này phải gắn bó chặt chẽ với cách mạng DTDCND ở miền Nam và giữ vai tròquyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng miền Nam và của toàn bộ cuộc đấutranh thống nhất nước nhà Thực hiện chủ trương xây “gốc”, dựng “nền”, tạo chỗ đứngcho cách mạng cả nước, quân dân miền Bắc sớm triển khai các kế hoạch khôi phục, pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội, ổn định chính trị, tăng cường lực lượng quốc phòng, chuẩn
bị đất nước toàn diện… Sau 10 năm (1954 – 1964), miền Bắc “đã tiến những bước dàichưa từng có trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới” [153, tr275] Thành quả của miền Bắc không chỉ cỗ vũ, vẫy gọi mạnh mẽ mà còn là nguồn sứcmạnh hiện hữu to lớn tiếp viện cho miền Nam bước qua giai đoạn khó khăn Năm 1960,miền Nam đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, đánh dấu sự kết thúc thời kỳ giữ gìnlực lượng chuyển sang thời kỳ tiến công mạnh mẽ, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặcbiệt” của đế quốc Mỹ và tay sai
Trong học thuyết quân sự Mỹ, đánh phá hậu phương của đối phương là một mụctiêu chiến lược có ý nghĩa quyết định, vì nó phá hoại tận gốc tiềm lực quân sự, kinh tế,loại bỏ khả năng duy trì chiến tranh Năm 1954, khi mới thế chân thực dân Pháp, trongkhi ráo riết đàn áp các phong trào yêu nước ở miền Nam, đế quốc Mỹ đồng thời tiến
Trang 32hành nhiều hoạt động chống phá miền Bắc như sử dụng gián điệp, thám báo thu thập tintức, lôi kéo, kích động đồng bào Công giáo, các phần tử bất mãn chống chính quyềnVNDCCH Không chỉ sử dụng các hình thức phi bạo lực khi chuyển sang chiến lượcchiến tranh cục bộ, nấc thang cao hơn so với chiến lược chiến tranh đặc biệt, việc sửdụng vũ khí hiện đại để phá hoại miền Bắc được đẩy mạnh Tướng Uylơ, Chủ tịch Hộiđồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ nói về chiến lược này như sau: “năm 1965, chúng
ta (Mỹ) tiến hành hai hành động quan trọng nhằm đảo ngược chiều hướng không thuậnlợi hồi đó ở Đông Nam Á Đó là việc khởi xướng chiến dịch không quân chống Bắc ViệtNam và việc triển khai lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ ở miền Nam Hành độnggồm hai yếu tố liên quan với nhau này nằm trong một chiến lược rộng rãi nhằm đẩy lùibước tiến ngày càng thuận lợi của cộng sản ở Nam Việt Nam giành lại quyền chủ động
từ tay đối phương” [222] Rõ ràng, mục tiêu chống phá, hủy hoại miền Bắc ngày càngquan trọng khi chiến tranh ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng quyết liệt, sự tiêu hao
và yêu cầu bổ sung của tiền tuyến miền Nam ngày càng lớn; và nó ngày càng gắn kếtchặt chẽ, song hành cùng với mục tiêu đàn áp, thống trị miền Nam Ngày 1 - 4 - 1965,Tổng thống L.Giônxơn chủ trì cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia quyết định tăngcường lực lượng yểm trợ của Mỹ từ 18.000 lên 20.000 quân sang Việt Nam, triển khai 4tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ từ phòng giữ các căn cứ sang yểm trợ tấn công; thăm dòcấp bách khả năng tham chiến của một số nước đồng minh Quyết định đổ bộ quân viễnchinh và các phương tiện chiến tranh hiện đại vào Việt Nam, chính quyền L.Giôn – xơnhòng thực hiện ba mục tiêu mấu chốt: tiêu diệt Quân giải phóng miền Nam, tiến hànhCTPH và phong tỏa miền Bắc, hủy diệt các con đường nối hậu phương miền Bắc vớitiền tuyến miền Nam Dễ dàng nhận thấy, hai trên ba mục tiêu đánh phá của Mỹ đềunhằm vào phá hủy vai trò, sức mạnh của hậu phương miền Bắc
Ở miền Nam, để có một chính quyền tay sai đắc lực hơn, ngày 18 – 6 – 1965, Mỹđạo diễn cuộc đảo chính, lập chính phủ quân sự do Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao
Kỳ đứng đầu Không những thế, tránh gây ảnh hưởng xấu tới tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội và thế bố trí chiến lược toàn cầu của Mỹ và tránh lôi kéo Trung Quốc, Liên Xôtrực tiếp tham chiến, chính quyền L.Giônxơn chủ trương bó hẹp cuộc chiến này trongkhuôn khổ một cuộc chiến tranh hạn chế (limited war): đưa quân chiến đấu Mỹ vàonhanh, rút nhanh, giành thắng lợi trong một thời gian ngắn (18 tháng)
Trang 33Về cuộc CTPH miền Bắc, vì không thể đổ bộ quân viễn chinh nên chính quyềnL.Giôn - xơn chủ trương sử dụng chủ yếu lực lượng không quân và hải quân Trong đó,lực lượng không quân giữ vai trò quyết định Không quân Mỹ oanh tạc “vào tất cả cơ sở
do con người xây dựng lên ở Việt Nam, phá hoại lớn nhất và tốt nhất, và không bao giờngừng lại khi hai viên gạch dính vào nhau, nhằm kéo lùi miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”.Tháng 6 – 1965, máy bay Mỹ đe dọa vùng trời Hà Nội, Hải Phòng Quy mô và cường độđánh phá miền Bắc gia tăng cùng với sự phát triển chiến tranh ở miền Nam Với tư duycủa kẻ nắm ưu thế tuyệt đối về vũ khí tối tân, hiện đại, giới quân sự Mỹ tin rằng, “dướibom đạn Mỹ, Bắc Việt Nam không chịu nổi vài tuần” và “Hà Nội phải quỳ gối trong vòng
2 đến 6 tháng” [226]; sẽ làm lung lay quyết tâm giải phóng miền Nam của quân dân ViệtNam ở cả hai miền; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, cô lập và tiêudiệt cách mạng miền Nam; củng cố tinh thần của chính quyền và quân đội VNCH đangsuy sụp; phá hoại công cuộc xây dựng CNXH, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, quốc phòngmiền Bắc Theo đó, buộc Việt Nam phải chấp nhận thương lượng giải quyết cuộc chiếntranh ở miền Nam theo những điều kiện có lợi cho Mỹ Ngoài ra, dùng không quân đánhphá miền Bắc, đế quốc Mỹ còn nhằm đánh một đòn ngăn đe vào hệ thống XHCN, uy hiếpcác nước trung lập và phong trào GPDT trên thế giới
Không chỉ có vậy, chính quyền Mỹ còn tiến hành hàng loạt biện pháp hỗ trợ chochiến lược chiến tranh mới Tại Lào, không quân Mỹ tăng cường ném bom vùng giảiphóng Tháng 7 – 1965, quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn được chính phủ cực hữu Làođồng ý cho phép vượt biên giới vào đất Lào hoạt động Quân đội Sài Gòn phối hợp vớiquân đội tay sai Lào mở các cuộc hành quân ở vùng Trung, Hạ Lào Tại Campuchia, đếquốc Mỹ gây sức ép với chính phủ trung lập, lôi kéo Xihanuc ngả về phía Mỹ chống lạicách mạng Việt Nam Trên trường quốc tế, lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung, Mỹ mở
“chiến dịch hoà bình”; xuyên tạc sự kiện Vịnh Bắc Bộ, che giấu các bước leo thang chiếntranh bằng cái gọi là “những hành động trả đũa”, “thực hiện cam kết với đồng minhVNCH” Trong nước, chính quyền L.Giônxơn bưng bít tin tức, không gọi lính trù bị,không tăng thuế, với hy vọng duy trì được sự ổn định nội bộ, tranh thủ được sự đồng tình,ủng hộ của Quốc hội và nhân dân Mỹ
Sự việc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam và tăng cường ném bom miềnBắc không chỉ làm cho tình hình bán đảo Đông Dương hết sức căng thẳng mà còn đe
Trang 34doạ nghiêm trọng hoà bình thế giới Nhiều chính phủ, nhiều nhà hoạt động xã hội vànhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới lo ngại có thể bùng phát cuộc chiến tranh thếgiới mới; dư luận lo lắng liệu Việt Nam đối phó với một cường quốc có tiềm lực kinh
tế, quân sự mạnh nhất thế giới Trong khi đó, Liên Xô, Trung Quốc, hai đồng minhchiến lược quan trọng nhất của VNDCCH lại có những mâu thuẫn, bất đồng ngày càngsâu sắc làm cho khối các nước XHCN phân hoá về tổ chức Một tuyên bố chung củacác nước XHCN về việc phản đối sự xâm lược của Mỹ mà VNDCCH nhiều lần vậnđộng cũng không thực hiện được Một số nước XHCN có những khó khăn nội bộ, thái
độ chống đế quốc thiếu kiên quyết khiến một số nước trong phong trào Không Liên kếtcũng hoài nghi về thắng lợi của Việt Nam “Thiếu một đồng minh hùng mạnh, đoànkết, nhất trí để tạo thành một đối trọng có khả năng kiềm chế và ngăn chặn có hiệu quảcác chính sách, hành động phiêu lưu, mạo hiểm của Mỹ” [142, tr 136] là khó khăn vềmặt hậu phương quốc tế khi Việt Nam phải đương đầu trực tiếp với Mỹ
Như vậy, đầu năm 1965, đẩy chiến tranh Việt Nam lên nấc thang mới, đế quốc
Mỹ không chỉ tăng cường lực lượng, vũ khí hiện đại mà còn ráo riết thực thi nhiều thủđoạn ngoại giao chống phá cách mạng Việt Nam Bước vào “cuộc đụng đầu lịch sử”với đế quốc Mỹ, những sứ mệnh nặng nề đặt lên vai hậu phương miền Bắc
1.1.2 Xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc trong điều kiện chiến tranh lan rộng
*Chủ trương xây dựng miền Bắc trong thời chiến
Trong 10 năm (1954 – 1964), cách mạng Việt Nam đối mặt với chính quyền,quân đội tay sai người bản xứ do Mỹ tài trợ, cố vấn, chỉ huy, huấn luyện ở miền Nam.Thời gian này, chiến tranh chưa phát triển đến mức quyết liệt, miền Bắc mới gánh vác
phần trách nhiệm làm chỗ dựa cho cách mạng miền Nam Nay, cuộc chiến tranh lan ra
cả hai miền, phải trực tiếp đối đầu với quân đội viễn chinh xâm lược Mỹ thiện chiếncùng quân đội tay sai với bộ máy chiến tranh hiện đại, khổng lồ nhất thế giới, liệu ViệtNam có thể đánh thắng? Sứ mệnh của miền Bắc đối với miền Nam ra sao? Quy luậtnghiệt ngã muôn đời của chiến tranh là mạnh được yếu thua Theo lẽ đó, để thắng Mỹ thìphải mạnh hơn Mỹ Nhưng làm thế nào mạnh hơn Mỹ trong khi Việt Nam nghèo, trảiqua chiến tranh liên miên? Những vấn đề lớn và phức tạp này đòi hỏi BCT, BCHTƯĐLĐVN phải nhanh chóng, kịp thời có những đường hướng cùng những biện pháp,
Trang 35cách thức huy động, phát huy lực lượng một cách khoa học, hợp lý ngõ hầu tạo ra sứcmạnh áp đảo kẻ thù trong cuộc đối mặt lịch sử này Hai hội nghị quan trọng ngay trongnăm 1965, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 11 (3 - 1965) và Hội nghị BCHTƯ Đảnglần thứ 12 (12 - 1965) đã thực hiện trách nhiệm lớn lao này.
Trong Hội nghị lần thứ 11, BCHTƯ Đảng nhận định âm mưu của đế quốc Mỹkhông có gì khác trước, đó vẫn là dã tâm xâm lược, hòng biến miền Nam thành thuộcđịa kiểu mới, một căn cứ quân sự của Mỹ nhằm hạn chế sự phát triển của CNXH ở khuvực Đông Nam Á và ngăn chặn phong trào GPDT trên thế giới, cứu vãn sự sụp đổ củachiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam, nhưng hiện giờ nó được thựchiện với một lực lượng mới, hùng hậu hơn Trên cơ sở phân tích thấu đáo điểm yếu,điểm mạnh của đế quốc Mỹ và những khó khăn, thuận lợi của cách mạng Việt Nam,BCHTƯ Đảng nhận định “mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạnquân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn” [107, tr633] Cuộc chiến trở nên gay go, ác liệt, nhưng nhân dân Việt Nam có cơ sở chắc chắn
để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiệnđánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của đế quốc Mỹ Từ đó, BCHTƯ Đảng xác địnhnhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam là: Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng doĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra, động viên lực lượng của cả nước, kiên quyếtđánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miềnNam, hoàn thành cách mạng DTDCND trong cả nước Đường lối và phương châm đấutranh ở miền Nam nêu ra trong những nghị quyết trước đây về cơ bản không thay đổi.Tuy nhiên, trong tình hình mới thì “miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậuphương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng vừa trực tiếp chiến đấu, vừachi viện cho tiền tuyến miền Nam” [107, tr 108] Mỗi miền phải đảm trách một chiếnlược cách mạng với những nhiệm vụ khác nhau song hai miền quan hệ khăng khít, gắn
bó hữu cơ Hội nghị phân tích rất rõ: Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ cách mạng của cảnước vì miền Bắc XHCN là thành quả cách mạng to lớn của nhân dân Việt Nam, miềnBắc là căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước Việc đánh bại đế quốc Mỹ trênchiến trường chính miền Nam không những là nhằm giải phóng miền Nam mà đồng thời
là biện pháp tích cực nhất để bảo vệ miền Bắc, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhấtnước nhà [107, tr 636] Phương châm chiến lược của cuộc đấu tranh là đánh lâu dài, dựa
Trang 36vào sức mình là chính Hai miền phải cố gắng cao độ, tranh thủ thời cơ giành thắng lợiquyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường chính miền Nam Riêngđối với miền Bắc, nhiệm vụ, sứ mệnh của hậu phương chiến lược trong giai đoạn mớiđược BCT, BCHTƯ Đảng bàn bạc, thảo luận kỹ càng Là hậu phương lớn của tiền tuyếnlớn, miền Bắc ngày càng có ý nghĩa sống còn, quyết định đối với tiền tuyến miền Namcũng như đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nước hơn bao giờ hết: “Đế quốc
Mỹ càng đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chiến tranh càng trở lên quyết liệt ở miền Namthì nhiệm vụ của miền Bắc đối với miền Nam càng nặng nề và quan trọng” [107, tr 643].Vấn đề đặt ra là lúc này, miền Bắc xảy ra chiến tranh thì làm thế nào để tiếp tục xâydựng, phát huy vai trò, sức mạnh của hậu phương lớn Sự nghiệp xây dựng CNXH ởmiền Bắc tiếp tục hay dừng lại? Trả lời cho vấn đề này, tại Hội nghị lần thứ 11, BCHTƯĐLĐVN khẳng định: “miền Bắc không có lựa chọn nào khác ngoài con đường là phảitiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới, đó là vừa xây dựngkinh tế vừa chiến đấu nhưng xây dựng kinh tế phải phù hợp với tình hình cả nước đang
có chiến tranh với đế quốc Mỹ [107, tr 110] Chính vì thế, BCHTƯ Đảng quyết định:Phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăngcường lực lượng quốc phòng để cho miền Bắc có đủ sức mạnh nhằm kịp thời đáp ứngyêu cầu bảo vệ miền Bắc, chống lại các cuộc ném bom bắn phá và phong tỏa của địch;nhằm sẵn sàng đối phó với khả năng địch mở rộng chiến tranh ở bất cứ mức độ nào ởmiền Nam, miền Bắc cũng như Lào; nhằm đáp ứng yêu cầu chi viện to lớn cho cáchmạng miền Nam trong tình hình mới, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu tiếp tục xây dựng
cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội [107, tr 110] Đây là quyết định hết sứcquan trọng trong chiến lược xây dựng, bảo vệ hậu phương miền Bắc
Chuyển hướng xây dựng kinh tế
Trong chủ trương chuyển hướng xây dựng hậu phương miền Bắc thì chuyểnhướng xây dựng kinh tế là một trong những nội dung trọng tâm, giữ vai trò quyết định,bởi kinh tế luôn đảm bảo yếu tố vật chất cho toàn bộ cuộc chiến Đây là vấn đề có tínhquy luật Điều này đòi hỏi ĐLĐVN phải có điều chỉnh trong đường lối xây dựng kinh
tế cho phù hợp với tình hình Mỹ tăng cường CTPH ở miền Bắc, mở rộng chiến tranhcục bộ ở miền Nam; miền Bắc đáp ứng cùng lúc yêu cầu: vừa phát triển sản xuất, bảođảm chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất, bảo đảm yêu cầu chi viện cách
Trang 37mạng miền Nam Không những thế, chuyển hướng xây dựng kinh tế phải phù hợp vớiphương hướng lâu dài về công nghiệp hoá, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật choCNXH, đáp ứng nhu cầu thiết yếu về đời sống của nhân dân.
Trên lĩnh vực công nghiệp, từ chỗ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng ở Trungương trên quy mô lớn nay điều chỉnh lại chỉ tiêu các công trình công nghiệp; tiến hành
di dời, phân tán những cơ sở công nghiệp quan trọng đến chỗ an toàn; tập trung pháttriển sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, chú trọng công nghiệp vừa và nhỏ, côngnghiệp địa phương Thực hiện chủ trương này không chỉ hạn chế được sự thiệt hại vềvật chất mà còn tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ của các địa phương nhờ đóvẫn duy trì, bảo đảm được sản xuất rộng khắp Phát triển công nghiệp địa phương, tiểuthủ công nghiệp, nông nghiệp còn tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa công nghiệp vànông nghiệp trong từng địa phương, từng vùng, giúp cho mỗi địa phương, mỗi vùngphát huy thế mạnh của mình, trên cơ sở đó xây dựng từng vùng kinh tế chiến lược quantrọng, làm cho mỗi vùng có khả năng tự giải quyết phần lớn nhu cầu ăn, mặc, ở, học,bảo vệ sức khoẻ, tiêu dùng thiết yếu của nhân dân; đảm bảo yêu cầu phục vụ chiến đấuchống CTPH tại chỗ; yêu cầu chi viện cho miền Nam
Trong kế hoạch xây dựng kinh tế thời chiến, hai ngành giao thông và bưu điện đượcđặc biệt chú trọng duy trì, phát triển Bởi sự vận hành thông suốt của bưu điện đảm bảo sựlãnh đạo, chỉ đạo của BCT, BCHTƯ Đảng xuống các địa phương, các cấp, các ngành đượcchính xác, bí mật, an toàn và ngược lại từ các địa phương, cơ sở, mặt trận kịp thời phản ánhtình hình lên Trung ương Trong khi đó, giao thông là mạch máu nối liền hậu phương vớitiền tuyến Vì thế, đảm bảo, phát triển giao thông, bưu điện trong thời chiến mang tính chiếnlược trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh hậu phương
Trong chiến tranh, nhu cầu lương thực, thực phẩm, nguyên liệu công nghiệp ngàycàng tăng Do đó, miền Bắc chủ trương tập trung sản xuất nông nghiệp, chú trọng khu vựctrung du, miền núi Việc phát triển trồng lúa, hoa mầu, cây công nghiệp và chăn nuôi ởnhững vùng này không chỉ làm cho các địa phương có khả năng tự giải quyết phần lớnlương thực, thực phẩm mà còn giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nhất lànhững người sơ tán, di cư từ đồng bằng lên Hơn nữa, với tiềm năng lớn phát triển cây côngnghiệp và thế mạnh từ rừng, khu vực này góp phần bảo đảm và phát triển các HTX tiểu thủcông nghiệp, cung cấp nguyên vật liệu cho quốc phòng, tạo nguồn hàng xuất khẩu có giá trị
Trang 38Sự phát triển của khu vực miền núi, trung du phía Bắc còn góp phần giảm bớt sự mất cânđối kinh tế giữa các vùng, miền, một chiến lược quan trọng mà miền Bắc hướng tới.
Về kế hoạch phát triển kinh tế, ĐLĐVN chủ trương xây dựng các kế hoạch ngắnhạn một vài năm, làm cho nền kinh tế thích nghi dần với hoàn cảnh chiến tranh, giữ vữnghoạt động sản xuất, bảo đảm tính chủ động trong thực hiện và nâng cao chất lượng côngtác tổ chức, quản lý kinh tế của Nhà nước Thực hiện cơ chế quản lý kinh tế tập trung,thống nhất theo kế hoạch; Trung ương chỉ nắm những khâu cơ bản, những vật tư chủ yếu;các địa phương được trao quyền rộng rãi hơn, đặc biệt là quyền lập kế hoạch và ngân sáchcấp tỉnh Phương thức này làm cho các ngành, các cấp, các địa phương phát huy khả năng,tính chủ động và sức sáng tạo của mình trong xây dựng, chiến đấu và phục vụ chiến đấu
Về việc huy động sức mạnh của nền kinh tế, ĐLĐVN chủ trương thực hành tiết kiệm,tăng cường dự trữ vật tư của Nhà nước và của nhân dân; bảo đảm các nhu cầu thiết yếu về đờisống; tăng cường động viên nhân, tài, vật lực của nhân dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân
để sản xuất và chiến đấu lâu dài Đặt trong bối cảnh, nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, tích luỹ nội bộcòn thấp, phụ thuộc nhiều vào sự giúp đỡ, viện trợ của các nước XHCN lại trong điều kiệnCTPH, bị phong toả các cảng biển, cảng sông, thì chủ trương này sẽ giúp miền Bắc có khảnăng vật chất và lực lượng cần thiết, chủ động khắc phục hậu quả chiến tranh, duy trì hoạtđộng sản xuất, tiến hành chiến tranh lâu dài và chi viện cho tiền tuyến miền Nam Ngoài ra,Đảng cũng rất chú trọng công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật; đào tạo cán bộ; điều tra cơbản, thăm dò tài nguyên, những nguồn lực quan trọng phục vụ chiến tranh
Chuyển hướng công tác tư tưởng và tổ chức
Chuyển hướng công tác tư tưởng và tổ chức được xác định giữ vai trò hết sứcquan trọng trong chuyển hướng xây dựng miền Bắc sang thời chiến Tại Hội nghịBCHTƯ lần thứ 11 (3 - 1965) và Hội nghị BCHTƯ lần thứ 12 (12 - 1965), ĐLĐVN xácđịnh: công tác tư tưởng có nhiệm vụ phải làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận rõ âm mưu,hành động mới của đế quốc Mỹ; tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng ViệtNam và đế quốc Mỹ; chỗ mạnh, chỗ yếu; thuận lợi, khó khăn của hai phía; ra sức xâydựng tư tưởng phấn khởi, tin tưởng, quyết chiến, quyết thắng; sẵn sàng chiến đấu vàcông tác bất cứ nơi nào; sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ;sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn gian khổ, chiến đấu lâu dài; xây dựng tinh thần tự lựccánh sinh; chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá Mỹ quá cao, hoặc chủ quan hoặc hoang
Trang 39mang, dao động, cầu an, muốn đàm phán khi chưa có điều kiện thuận lợi, muốn kết thúcchiến tranh với bất cứ giá nào Công tác tư tưởng cũng phải làm cho toàn Đảng, toàn dânnhận rõ giải phóng miền Nam là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước; miền Bắc dù
bị ném bom, bắn phá đến đâu cũng phải vì giải phóng miền Nam mà không chút naonúng, quyết tâm thắng Mỹ; xây dựng tác phong tích cực, khẩn trương của thời chiến
Về chuyển hướng công tác tổ chức, BCHTƯ Đảng chủ trương điều chỉnh lực lượngcông nhân viên giữa các ngành, các địa phương, bố trí lại lực lượng cán bộ phù hợp với việcchuyển hướng nền kinh tế và việc tăng cường lực lượng quốc phòng; cân đối giữa yêu cầusản xuất và chiến đấu, giữa yêu cầu của miền Bắc với miền Nam; tăng cường cán bộ cho cáctỉnh trung du, miền núi, các địa phương quan trọng; cải tiến bộ máy, sửa đổi lề lối làm việc ởtất cả các cấp BCHTƯ ĐLĐVN nhấn mạnh việc kiện toàn sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiệncủa các cấp khu, thành, tỉnh, huyện; đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt, làmcho cơ sở Đảng được củng cố, phát triển vững mạnh, đều khắp Chú trọng công tác đào tạo,bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, kịp thời bổ sung vào Đảng những người ưu tú Việc chuyểnhướng kinh tế và tổ chức hết sức phức tạp song có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với vaitrò, sức mạnh hậu phương miền Bắc nên BCHTƯ Đảng yêu cầu tiến hành tích cực, khẩntrương, mạnh dạn, nhưng phải tính toán, cân nhắc không gây ra đảo lộn, lãng phí
Tăng cường lực lượng quốc phòng và công tác phòng thủ, trị an
Trong chiến tranh, xây dựng kinh tế luôn phải gắn với xây dựng, củng cố quốcphòng bởi lẽ sản xuất để phục vụ chiến đấu và chiến đấu phải nhằm bảo vệ sản xuất Nếutách rời nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu thì sản xuất sẽ không đáp ứng được yêu cầu thựctiễn chiến tranh đòi hỏi, không phát huy được vai trò của yếu tố vật chất, đồng thời cũngkhông bảo vệ được những mục tiêu kinh tế
Về tăng cường lực lượng quốc phòng, BCHTƯ Đảng xác định: Phải tăng thêm bộ độithường trực, gọi nhập, gọi nhập tái ngũ một số cán bộ, quân nhân phục viên, tăng thêm thờihạn nghĩa vụ quân sự, tăng thêm số người phục vụ trực tiếp cho quốc phòng Phải ra sứcphát triển, củng cố, tăng cường năng lực chiến đấu của dân quân; đẩy mạnh công tác PKND,hạn chế sự thiệt hại của miền Bắc và gây thiệt hại cao nhất cho đế quốc Mỹ, tích cực phátđộng phong trào toàn dân bắn máy bay Mỹ Ngoài ra, phải tranh thủ sự giúp đỡ về mặt quân
sự của các nước anh em tới mức cao nhất trên cơ sở có lợi cho công cuộc đấu tranh chống đếquốc Mỹ và tăng cường đoàn kết quốc tế trong phe XHCN, nhất là giữa Liên Xô và Trung
Trang 40Quốc [107, tr 112] BCHTƯ cũng yêu cầu miền Bắc chú trọng tăng cường phòng thủ ởnhững vùng, những mục tiêu quan trọng về quân sự, kinh tế; tăng cường công tác chốnggián điệp, trừng trị Việt gian, phản động.
*Phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc
Cả hai Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 11 và lần thứ 12 đều yêu cầu: Hơn lúc nào hết,miền Bắc phải phát huy cao độ vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam: phảiđộng viên sức người, sức của đến mức cao nhất; phải là nguồn dự trữ lực lượng to lớn nhấtđối với miền Nam, đồng thời trực tiếp tham gia đánh đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam.Không những thế, miền Bắc còn phải tích cực giúp đỡ cách mạng Lào một cách toàn diện,trên tất cả các mặt trận Đây không chỉ là nghĩa vụ quốc tế cao cả mà là một sự phối hợp cầnthiết và có tác dụng hỗ trợ tích cực đối với cách mạng Việt Nam ở cả hai miền
Để xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnh của miền Bắc, ngoài việc phát huy nộilực, Việt Nam nhất thiết phải tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế Vì thế, trongNghị quyết Hội nghị BCHTƯ lần thứ 12 (12 – 1965) về “Những nhiệm vụ cụ thể và côngtác lớn của miền Bắc”, Đảng xác định: “phải tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của phe XHCN
và của nhân dân thế giới” coi đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [107, tr 649]
Như vậy, đương đầu với CTPH, miền Bắc quyết tâm làm tròn sứ mệnh hậu phươnglớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam Xây dựng, bảo vệ miền Bắc và đảm bảo cho sức mạnh
ấy đến với tiền tuyến miền Nam có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ cuộc chiến tranh.Nhanh chóng điều chỉnh đường hướng xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh của hậuphương miền Bắc cho phù hợp với hoàn cảnh là nội dung quan trọng mà hai Hội nghịBCHTƯ ĐLĐVN năm 1965 thông qua
1.2 Chỉ đạo xây dựng, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc
1.2.1 Chỉ đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc
Chuyển đất nước sang thời chiến là tổ hợp nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, phức tạp đòihỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành từ trung ương xuống cơ sở phải tập trung, thống nhất;mọi công tác tiến hành phải khẩn trương, kịp thời, an toàn, không gây xáo trộn, lãng phí.Tuy nhiên, để thực hiện được nhiệm vụ này lại phụ thuộc nhiều vào việc chuẩn bị đất nước
từ trước khi chiến tranh xảy ra