1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề thừa kế tài sản trong ngự thành bại thức mục và so sánh với quốc triều hình luật

197 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 3,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là những tiền đề thúc đẩy tác giả luận án quyết tâm đi sâu tìm hiểu về một trong những khía cạnh quan trọng nhất của Ngự thành bại thức mục: những quy định liên quan đến vấn đề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM HOÀNG HƯNG

VẤN ĐỀ THỪA KẾ TÀI SẢN TRONG NGỰ THÀNH BẠI THỨC MỤC

VÀ SO SÁNH VỚI QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚI

HàNội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM HOÀNG HƯNG

VẤN ĐỀ THỪA KẾ TÀI SẢN TRONG NGỰ THÀNH BẠI THỨC MỤC

VÀ SO SÁNH VỚI QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Mã số: 62 22 03 11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS TS Phan Hải Linh

2 GS Phan Huy Lê

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tên đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, khách quan, rõ ràng về xuất

xứ Những kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 13 tháng 9 năm 2016

Tác giả luận án

Phạm Hoàng Hƣng

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Sau một thời gian dài, quyển luận án tiến sĩ với đề tài "Vấn đề thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức mục và so sánh với Quốc triều hình luật" đã được hoàn thành Nhìn lại chặng đường nghiên cứu này, tôi xin phép được bày tỏ lời tri ân tới các thầy cô giáo, đồng nghiệp và bạn bè

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới GS Phan Huy

Lê, người thầy hướng dẫn luận án của tôi Nhắc đến thầy, ai cũng mừng cho tôi vì đã được một nhà khoa học lớn về nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói riêng

và nghiên cứu lịch sử nói chung hướng dẫn trực tiếp Với tôi, Thầy luôn tỉ mỉ chỉ bảo cho tôi từ những vấn đề chuyên môn đến phương pháp nghiên cứu, tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Với tôi, thầy gần gũi như một người ông, có cả khích lệ có cả phê bình sâu sắc

Không thể không nhắc đến cô giáo của tôi, PGS TS Phan Hải Linh

Cô là người đã hướng dẫn tôi trên con đường nghiên cứu khoa học, từ bài tập nhỏ đầu tiên là viết Hùng biện tiếng Nhật đến bài tập lớn hơn là Khóa luận tốt nghiệp (2001) Đến nay, đã tròn 15 năm, cô lại giúp tôi một lần nữa hoàn thành chặng đường nghiên cứu mới Xét ở một khía cạnh nào đó, tôi thấy thật vinh dự khi được nghiên cứu cùng một lĩnh vực quan trọng là vấn đề ruộng đất thời Kamakura, tuy khác ở góc độ tiếp cận nghiên cứu

GS TS Nguyễn Văn Kim là người thầy luôn khuyến khích tôi viết sâu

và nhiều hơn nữa về vấn đề võ sĩ Luận văn thạc sĩ của tôi sẽ không thể hoàn thành nếu không được thầy hướng dẫn, đôn thúc trong quãng thời gian khó khăn của tôi

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các giáo sư, bạn bè đồng nghiệp Nhật Bản, nơi tôi có cơ hội học tập và nghiên cứu tại trường đại học Senshu, đại học Tokyo, đại học Ngoại ngữ Tokyo… Xin được gửi lời tri ân đến cố GS Aoki Michio (đại học Senshu)

Trang 5

Để hoàn thiện bản luận án tiến sĩ này còn là sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn đồng nghiệp, anh chị em ở bộ môn Nhật Bản, khoa Đông phương, khoa Lịch sử, phòng Đào tạo (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), khoa Nhật Bản học (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Sử học…

Xin cảm ơn bố mẹ và gia đình của tôi

Hà Nội, 15 tháng 9 năm 2016

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

5 Những đóng góp của luận án 13

6 Cấu trúc của luận án 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 15

1.1 Nghiên cứu về đẳng cấp võ sĩ Nhật Bản thời Kamakura 15

1.1.1 Nghiên cứu về sự hình thành đẳng cấp võ sĩ Nhật Bản thời Kamakura 15

1.1.2 Nghiên cứu về Ngự thành bại thức mục 19

1.2 Nghiên cứu về vấn đề tài sản và thừa kế ở Nhật Bản và Việt Nam 20

1.2.1 Nghiên cứu về vấn đề thừa kế tài sản thời Kamakura 20

1.2.2 Nghiên cứu về vấn đề thừa kế triều Lê sơ 23

CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH ĐẲNG CẤP VÕ SĨ VÀ BỘ LUẬT NGỰ THÀNH BẠI THỨC MỤC 31

2.1 Bối cảnh lịch sử 31

2.2 Sự hình thành đẳng cấp võ sĩ và Mạc phủ Kamakura 37

2.2.1 Vấn đề hình thành đẳng cấp võ sĩ 37

2.2.2 Đặc điểm của tập đoàn võ sĩ Nhật Bản thời hậu kỳ Heian 43

2.2.3 Đặc trưng của võ sĩ 46

2.3 Mạc phủ Kamakura và quá trình chuyển giao quyền lực sang dòng họ Hojo 50

2.3.1 Mạc phủ - chính quyền của đẳng cấp võ sĩ 50

2.3.2 Loạn Thừa Cửu 1221 51

2.3.3 Chế độ quản lý tập thể 54

2.4 Bộ luật Ngự thành bại thức mục 56

Tiểu kết 64

CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ THỪA KẾ TÀI SẢN TRONG NGỰ THÀNH BẠI THỨC MỤC 68

3.1 Quan hệ giữa người trao tài sản thừa kế và người thừa kế 70

Trang 7

3.2 Điều kiện thừa kế 82

3.2.1 Nhân thân 82

3.2.2 Ngự hạ văn 83

3.2.3 Ngự thư 92

3.2.4 Nhượng trạng 95

3.3 Đối tượng 98

3.4 Cách thức phân chia tài sản thừa kế 101

3.5 Vấn đề thừa kế của phụ nữ gia đình võ sĩ thời Kamakura 107

Tiểu kết 110

CHƯƠNG 4 SO SÁNH VẤN ĐỀ THỪA KẾ TÀI SẢN TRONG NGỰ THÀNH BẠI THỨC MỤC VÀ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT THỜI LÊ SƠ 113

4.1 Bối cảnh xuất hiện Quốc triều hình luật thời Lê sơ 113

4.1.1 Tình hình luật pháp phong kiến Việt Nam đến trước thời Lê sơ qua ghi chép trong sử liệu 113

4.1.2 Bối cảnh xuất hiện Quốc triều hình luật 115

4.1.3 Nội dung căn bản của Quốc triều hình luật 117

4.2 So sánh về nội dung thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức mục và Quốc triều hình luật 119

4.2.1 Thành viên gia đình trong quan hệ thừa kế tài sản 122

4.2.2 Điều kiện thừa kế 128

4.2.3 Đối tượng 130

4.2.4 Cách thức phân chia tài sản thừa kế 134

4.2.5 Thừa kế tài sản của phụ nữ 139

Tiểu kết 140

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 158

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Bộ máy chính quyền trung ương thời cổ đại Nhị quan Bát tỉnh Nhất đài Ngũ

vệ phủ 33

Sơ đồ 2.2: Kết cấu một võ sĩ đoàn 43

Sơ đồ 2.3: Mối quan hệ tôn chủ bồi thần của đẳng cấp võ sĩ 47

Bảng 2.2: Danh sách Hội đồng biên soạn Ngự thành bại thức mục 61

Bảng 2.3: Phân loại theo nội dung trong Ngự thành bại thức mục 62

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ % các điều luật theo kí hiệu của bảng 2.2 63

Sơ đồ 3.1: Mô hình phân chia tài sản 70

Bảng 4.1: Danh sách các chương và các điều khoản trong Quốc triều hình luật 118

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ giữa các chương theo kí hiệu của bảng 4.1 118

Sơ đồ 4.1 : Quy trình lập chúc thư trong Quốc triều hình luật 129

Sơ đồ 4.2: Quy trình phân chia tài sản cho con nuôi trong Quốc triều hình luật 136

Sơ đồ 4.3: Cách thức chia ruộng hương hỏa 137

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhật Bản là một trong số ít các quốc gia còn lưu giữ được hệ thống sử liệu tiền cận đại phong phú Một trong những lý do cơ bản là đảo quốc này hầu như không phải hứng chịu những cuộc xâm lược ngoại bang Các cuộc nội chiến giữa các phe phái diễn ra từ cuối thời cổ đại1 trải qua thời trung thế2 và nửa đầu thời cận thế3 chủ yếu là để tranh giành quyền lực và đất đai, nhưng không mang tính hủy diệt tàn khốc, đặc biệt là đối với các giá trị văn hóa, trong đó có sử liệu Những sử liệu quan trong thời kỳ này phải kể đến hệ thống các văn bản pháp qui, các bộ biên niên sử của chính quyền trung ương và các tư liệu của dòng họ, địa phương Việc phân tích nội dung từng sử liệu và đối chiếu chéo các sử liệu liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu một cách khách quan và sinh động về thể chế cũng như đời sống xã hội của từng giai đoạn lịch sử

Trong lịch sử Nhật Bản thời trung thế, sự tồn tại song song thể chế phong kiến hai chính quyền, gồm vương quyền của Thiên hoàng và chính

quyền quân sự của Tướng quân, hay còn gọi là lưỡng đầu chế được coi là một

đặc trưng quan trọng, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đương thời Chính quyền phong kiến mang tính chất quân sự đó được gọi

là Mạc phủ, đại diện cho quyền lợi của một giai tầng đặc biệt trong xã hội Nhật Bản: đẳng cấp võ sĩ Mạc phủ hình thành, phát triển và kết thúc trong khoảng hơn 670 năm của thời trung thế và cận thế, cụ thể là từ thời Kamakura (1192 - 1333) cho đến hết thời Edo (1603-1868) Điều đó cho thấy, Mạc phủ cũng

1 Có nhiều quan điểm về thời điểm bắt đầu và kết thúc thời cổ đại trong lịch sử Nhật Bản, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả muốn sử dụng cách phân kì phổ biến là từ khi bắt đầu thời Kofun (giữa thế kỉ III) đến khi Minamoto Yoritomo (源頼朝, 1147-1199) được phong chức Chinh di đại tướng quân (征夷大将軍, Seii taishogun) (1192)

2 Tương tự thời cổ đại, về thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời trung thế (tương đương với sơ kì trung đại nếu đối chiếu với cách phân kì lịch sử phương Tây) cũng có nhiều quan điểm khác nhau Tác giả xin sử dụng

cách phân kì phồ biến là từ khi bắt đầu Mạc phủ Kamakura (1192) đến cải cách đất đai gọi là Thái các kiểm

địa (太閤検地, Taiko kenchi) doToyotomi Hideyoshi (豊臣秀吉, 1573-1598) tiến hành vào nửa sau thế kỉ

XVI

3 Tác giả luận án sử dụng phân kì thời cận thế (tương đương với hậu kì trung đại và tiền kì cận đại theo cách phân kì của phương Tây) bắt đầu từ nửa sau thế kỉ XVI và kết thúc vào cuối thời Edo, tức là nửa sau thế kỉ XIX

Trang 10

như đẳng cấp võ sĩ đã ghi dấu ấn đậm nét không thể phủ nhận trong lịch sử Nhật Bản, thậm chí ảnh hưởng của đẳng cấp này vẫn còn lưu giữ trong một số lĩnh vực đến tận ngày nay Một tài liệu lịch sử quan trọng được chính quyền võ sĩ biên soạn

và áp dụng thời kỳ này là Ngự thành bại thức mục, tập hợp các quy định mang

tính pháp chế đầu tiên của chính quyền võ sĩ Kamakura

Một vấn đề quan trọng được đề cập đến nhiều trong Ngự thành bại thức mục

là thừa kế tài sản Có thể nói, những quy định về thừa kế này đã tạo cơ sở kinh tế cho sự duy trì và phát triển của đẳng cấp võ sĩ Trên thực tế, đối với đẳng cấp võ sĩ, tài sản quan trọng nhất là sở lãnh (所領, soryo; gồm đất đai do tổ tiên để lại, đất phong cấp nhờ công trạng và đất đai do khai hoang, mua bán mà có…) kèm theo các chức tước (職, shiki) gắn liền với quyền quản lý và thu hoa lợi từ đất đai đó Đất đai và chức tước ân huệ do võ sĩ cấp cao ban cho võ sĩ cấp thấp trong quan hệ ràng buộc tôn chủ bồi thần là cơ sở tạo dựng lòng tự tôn, vị thế của người võ sĩ trong xã hội Đất đai và chức tước cũng là tài sản thừa kế chủ yếu, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong các gia tộc võ sĩ Tướng quân và Mạc phủ thời Kamakura thường tôn trọng và hạn chế can thiệp vào vấn đề nội bộ của gia tộc võ sĩ Khi xảy

ra tranh chấp về quyền lợi đất đai hay chức tước trong nội bộ võ gia hoặc giữa võ

gia với công gia, các quy định trong Ngự thành bại thức mục được viện dẫn làm cơ

sở xử lý tranh chấp Trong trường hợp tranh chấp vượt ra ngoài quy định, hay việc

xử lý không được các bên ưng thuận thì tranh chấp mới được đưa ra xét xử ở cấp

Mạc phủ hay Tướng quân Như vậy, Ngự thành bại thức mục chính là cơ sở pháp lý

điều tiết và duy trì quyền lợi kinh tế cũng như vị trí xã hội cho đẳng cấp võ sĩ

Tác giả luận án đã theo đuổi nghiên cứu về đẳng cấp võ sĩ Nhật Bản

thời trung thế từ khóa luận tốt nghiệp với đề tài Sự hình thành đẳng cấp võ sĩ

thời Heian và cuộc chiến Gempei (2002) Sau đó, tác giả đã phát triển nghiên

cứu theo hướng đi sâu tìm hiểu về cơ sở pháp lý của chính quyền võ sĩ trong

luận văn thạc sĩ với đề tài Ngự thành bại thức mục – Bộ luật đầu tiên của

đẳng cấp võ sĩ (2006) Với luận văn thạc sĩ, tác giả đã rút ra nhận định rằng,

việc Mạc phủ Kamakura ban hành một văn bản pháp lý tồn tại song song với

Trang 11

các bộ luật do Thiên hoàng ban hành, là kết quả lịch sử tất yếu nhằm khẳng định, bảo vệ và xây dựng nền tảng chính trị - kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của đẳng cấp võ sĩ cũng như chính quyền võ sĩ Đây cũng là những tiền

đề thúc đẩy tác giả luận án quyết tâm đi sâu tìm hiểu về một trong những khía

cạnh quan trọng nhất của Ngự thành bại thức mục: những quy định liên quan

đến vấn đề thừa kế tài sản và thực tế áp dụng cũng như vai trò của nói đối với đẳng cấp võ sĩ và xã hội Nhật Bản đương thời

Mặt khác, là một nhà nghiên cứu người Việt Nam, tác giả không thể không có những suy nghĩ liên tưởng và so sánh lịch sử Nhật Bản với lịch sử nước nhà Trong thời kỳ này, nếu người Nhật tự hào về việc thoát khỏi ách xâm lược Mông Nguyên nhờ kamikaze (Thần phong) và những bức lũy đá hiên ngang thì người Việt Nam tự hào với chiến tích 3 lần chiến thắng quân Mông Nguyên xâm lược dưới sự lãnh đạo của triều Trần Nếu Nhật Bản có

những luật định có sức ảnh hưởng lâu dài như Ngự thành bại thức mục thì

Việt Nam, dù trải qua chiến tranh tàn phá, vẫn lưu giữ được những bộ luật

phản ánh một thời kỳ huy hoàng như Quốc triều hình luật thời Lê sơ

(1428-1527) và Lê Trung Hưng (1593-1789) Đặc biệt, bộ luật thời Lê sơ đã xác lập

những quy định căn bản về vấn đề thừa kế Mặc dù về mặt hình thức Quốc

triều hình luật là bộ luật do triều đình ban hành, còn Ngự thành bại thức mục

là văn bản pháp qui do chính quyền võ sĩ ban hành, nhưng trong bối cảnh võ

sĩ là đẳng cấp đang nắm thực quyền và luật lệ do triều đình Nhật Bản ban hành chỉ giới hạn trong quy định về thừa kế đối với Hoàng thất và quí tộc cao

cấp, thì ảnh hưởng của Ngự thành bại thức mục trong vấn đề thừa kế có sức

mạnh pháp lý không thua kém gì bộ luật do triều đình ban hành Việc áp dụng

nội dung thừa kế của Ngự thành bại thức mục trên thực tế đã mở rộng từ đẳng

cấp võ sĩ sang thường dân và tầng lớp quan lại quí tộc có quan hệ thân nhân với võ sĩ

Theo quan niệm so sánh thông thường, nếu điều kiện lịch sử phù hợp thì

so sánh giữa hai bộ luật do triều đình thời Kamakura và thời Trần ban hành là phù hợp và thuận tiện nhất, vì có những điểm tương đồng về lịch đại, thể chế chính trị

Trang 12

(chính quyền của vua và Thái thượng hoàng), ảnh hưởng của tầng lớp quân sự, tồn tại mô hình điền trang thái ấp, kháng chiến chống quân Nguyên Mông thành công… Tuy nhiên, do hạn chế về mặt tư liệu, đặc biệt khi các vản bản luật thời Trần không còn được lưu giữ đầy đủ, thì văn bản luật sớm nhất của Việt Nam còn lưu giữ đến

nay và có nhiều nội dung khá tương đồng với Ngự thành bại thức mục chính là

Quốc triều hình luật thời Lê sơ

Điều quan trọng nhất là, tác giả luận án tập trung vào đối tượng so sánh chủ

yếu là vấn đề thừa kế tài sản thể hiện trong hai bộ luật Phương pháp so sánh lấy

đối tượng so sánh làm trọng tâm này đang được áp dụng rộng rãi trong giới nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực lịch sử mà còn cả trong lĩnh vực nhân học, ngôn ngữ học, luật học…

Những vấn đề trên chính là lý do khiến tác giả lựa chọn Vấn đề thừa kế

tài sản trong Ngự thành bại thức mục và so sánh với Quốc triều hình luật làm

đề tài cho luận án tiến sĩ của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu căn bản mà đề tài luận án đặt ra là: Cơ sở pháp lý nào giúp đẳng cấp võ sĩ củng cố thế lực kinh tế, xây dựng hệ thống quan hệ xã hội đặc trưng kiểu phong quân, bồi thần và phát triển thế lực chính trị trong bộ máy chính

quyền lưỡng đầu chế Để trả lời câu hỏi nghiên cứu này, tác giả luận án đặt ra mục

tiêu nghiên cứu gồm: 1) Tập trung khảo cứu nội dung và thực tế áp dụng các quy định về thừa kế tài sản tài sản của đẳng cấp võ sĩ thời Kamakura; 2) So sánh với vấn đề thừa kế tài sản thời Lê sơ của Việt Nam để làm nổi bật tính đặc thù của

Ngự thành bại thức mục; 3) Xác định vị trí của Ngự thành bại thức mục trong hệ

thống văn bản pháp qui ở Nhật Bản đương thời và vai trò đối với việc xây dựng và phát triển chính quyền Kamakura

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả đã đề ra các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:

1) Trước hết, tập trung phân tích các điều khoản liên quan đến vấn đề

thừa kế trong Ngự thành bại thức mục, gồm các quy định trực tiếp và gián

tiếp Luận án sẽ nghiên cứu theo từng góc độ của vấn đề thừa kế, từ chủ thể

Trang 13

và khách thể thừa kế với các mối quan hệ gia đình, dòng họ, võ sĩ đoàn…; đến đối tượng thừa kế (gồm bất động sản, động sản); tiêu chí, điều kiện thừa kế; quy cách phân chia tài sản…

2) Mặt khác, đối với từng nội dung, tác giả cố gắng làm sáng rõ bức tranh về tình hình áp dụng luật đương thời thông qua các nguồn sử liệu phong phú của Mạc phủ Kamakura và các dòng họ võ sĩ được lưu giữ ở Nhật Bản Điều này hết sức quan trọng, vì thực tế áp dụng luôn phản ánh cuộc sống đa dạng, nhiều khi không theo ý chí của các nhà làm luật

3) Một nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án đặt ra nhằm làm nổi bật tính đặc

thù của Ngự thành bại thức mục là so sánh với những điều luật liên quan trong

Quốc triều hình luật của Việt Nam Từ đó, lý giải xu thế phát triển, quan hệ và

chế độ sở hữu tài sản ở hai nước, tính tương đồng và dị biệt trong vấn đề thừa kế của hai xã hội Việt Nam và Nhật Bản đương thời

4) Nhiệm vụ cuối cùng là lý giải cơ sở pháp lý giúp Mạc phủ Kamakura

dù chưa phải là một chính quyền quân sự có thiết chế mạnh như các giai đoạn sau, nhưng có thể đảm bảo vị thế, cân bằng quyền lực về kinh tế - chính trị với thế lực triều đình và tôn giáo trong suốt hai thế kỉ

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm:

- Các điều khoản liên quan đến thừa kế tài sản trong Ngự thành bại

thức mục

- Hệ thống tư liệu gốc có liên quan thời Kamakura như sử biên niên, công văn, quyết định do chính quyền trung ương ban hành, các tư liệu địa phương và dòng họ

- Các điều khoản liên quan đến thừa kế tài sản trong Quốc triều hình

luật nhằm đối chiếu những vấn đề nổi bật trong Ngự thành bại thức mục

- Đặc trưng về thiết chế kinh tế, chính trị và xã hội thời Kamakura dẫn

đến sự ra đời của các quy định thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức mục

Trang 14

và ngược lại, vai trò của các quy định này khi được áp dụng đối với việc củng

cố thể chế đương thời

Về phía Việt Nam, đối tượng nghiên cứu của luận án là các điều khoản

về kế thừa tài sản trong Quốc triều hình luật thời Lê sơ (1428-1527) nhằm đối chiếu với những vấn đề liên quan trong Ngự thành bại thức mục

Phạm vi nghiên cứu của luận án, về mặt không gian và thời gian là Nhật Bản thời Kamakura và Việt Nam thời Lê sơ

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài luận án là Vấn đề thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức

mục và so sánh với Quốc triều hình luật, tác giả sử dụng một số phương pháp

nghiên cứu như sau:

1) Phương pháp sử học:

- Văn bản học (phân tích và đối chiếu văn bản) Nội dung này sẽ trình bày kỹ hơn ở mục Nguồn tư liệu

- Lịch đại: Xem xét vấn đề thừa kế tài sản được Ngự thành bại thức

mục đề cập nằm trong dòng chảy lịch sử của Nhật Bản

2) Phương pháp lịch sử so sánh:

- Đồng đẳng: so sánh cùng một vấn đề là thừa kế tài sản nhưng lấy nội

dung liên quan trong Ngự thành bại thức mục làm trọng tâm, và lấy nội dung liên quan trong Quốc triều hình luật làm cơ sở so sánh, từ đó thấy rõ những

điểm tương đồng, dị biệt và lý giải sâu sắc hơn nội dung thừa kế kế tài sản của Nhật Bản

- Đồng đại: Ngự thành bại thức mục được ban hành năm 1232 và kết thúc của thời kỳ Kamakura là 1333 Quốc triều hình luật biên soạn sớm vào

đời Lê Thái Tổ (1428-1433) và hoàn thiện vào thời Lê Thánh Tông 1497), đặc biệt những điều luật về thừa kế tài sản được công bố vào những năm thuộc niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) Tuy có khoảng cách nhất định

(1460-về mặt thời gian nhưng như đã giải thích ở trên, dựa vào những điều kiện

Trang 15

tương đồng như nguyên nhân hình thành của chính quyền, vấn đề nhân sự trong bộ máy chính quyền đó, cũng như tư duy luật và phản ánh xã hội… cho phép luận án có thể tiến hành so sánh (nội dung này xin được trình bày kỹ hơn ở các chương sau)

- Đồng cấp: tuy hình thức văn bản pháp luật khác nhau nhưng xét về phạm vi và đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp lại tương đương nhau, đó là tập trung vào nhóm người có tài sản tư hữu, thuộc tầng lớp trên của xã hội, có khả năng chi phối những tầng lớp khác

2) Phương pháp khu vực học: điền dã, phỏng vấn, nghiên cứu trường hợp Trên cơ sở thực hiện khảo sát tại địa phương, luận án đưa ra một số trường hợp điển hình để chứng minh khả năng áp dụng thực tiễn của luật pháp hiện hành

3) Phương pháp thống kê, sơ đồ hóa bảng biểu: trên cơ sở các số liệu thô, thông tin rời rạc, luận án tiến hành tổng hợp, thống kê và lập sơ đồ, bảng biểu

4.2 Nguồn tư liệu

1) Nguồn tư liệu gốc, có thể được phân chia thành các nhóm:

- Văn bản luật Ngự thành bại thức mục bằng văn bản chữ Hán Để nghiên cứu về vấn đề thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức mục, tác giả luận án đã khảo cứu các sử liệu liên quan Trước hết, đó là những bản sao Ngự thành bại

thức mục thời Edo còn được lưu giữ khá tốt và phong phú tại thư viện, phòng

nghiên cứu thuộc các trường đại học như Đại học Tokyo, Đại học Senshu…

- Biên niên ký của Mạc phủ Kamakura có tên gọi Những tấm gương

miền Đông (吾 妻 鏡, Azuma kagami) Bộ biên niên này đã được Gomi Fumihiko (五味文彦) và Hongo Kazuhito (本郷和人) biên dịch và chú thích

trong 16 tập sách với tên gọi Azuma kagami Cuốn biên niên ký này giúp tác

giả luận án bám sát được tiến trình phát triển của Mạc phủ Kamakura cũng như đối chiếu, so sánh với những tài liệu văn bản khác để đảm bảo tính chân thực và đầy đủ của sự kiện và nội dung của sự kiện đó

- Bộ Tuyển tập các phán quyết của Mạc phủ Kamakura (「鎌倉幕府裁許 状集」), gồm 2 tập, là tập hợp những phán quyết được phân xử bởi các cơ quan liên quan tại Kamakura [68], Rokuhara (六波羅) và Chinzei (鎮西, Trấn

Trang 16

Tây) [69] Đây là công trình nghiên cứu công phu của Seno Seiichiro trong hàng chục năm Đó là 330 phán quyết của tòa án tại Kamakura, 77 phán quyết tại Rokuhara Tandai và 226 phán quyết tại Chinzei

- Tư liệu địa phương kết hợp một số văn bản của chính quyền

Kamakura, tiêu biểu là bộ Di văn thời Kamakura (「 鎌 倉 遺 文 」) [72] Takeuchi Rizo (竹内理三) tập hợp 35.000 văn bản tư liệu thời Kamakura vốn

là của các gia đình, đền chùa, viện bảo tàng… được lưu giữ tại phòng biên tập

sử liệu thuộc trường Đại học Tokyo Các văn bản được sắp xếp theo thứ tự thời gian, được đánh đầu mục, xuất xứ và được tập hợp thành 46 tập

Cũng nằm trong nhóm tài liệu địa phương nói trên, tác giả sao lưu được một số văn bản liên quan đến chứng nhận, thừa kế tài sản thuộc bản quyền của Phòng nghiên cứu biên soạn sử liệu thuộc Đại học Tokyo, Đại học Senshu, Bảo tàng lịch sử Nagoya, Bảo tàng lịch sử Kagoshima…

Về phía tư liệu Việt Nam, tác giả sử dụng và tham khảo tại các nguồn

sử liệu kinh điển như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại

chí và bộ Quốc triều hình luật cùng những tư liệu về luật lệnh liên quan đến

thừa kế tài sản thời Lê sơ

2) Tài liệu thứ cấp:

- Trên cơ sở những bản chụp tư liệu chép tay trên, tác giả đối chiếu với

các bản dịch tiếng Nhật hiện đại, trong đó tác giả sử dụng bộ chú dịch Ngự

thành bại thức mục của Ishii Susumu (石井進), Ishimoda Sho (石母田正), Kasamatsu Hiroshi (笠松宏至), Katsumata Shizuo (勝俣鎮夫) và Sato Shinichi (佐藤進一) trong Tư tưởng Xã hội Chính trị Trung thế quyển Thượng (『中世

- Bản dịch và các tài liệu nghiên cứu về thừa kế tài sản thời Kamakura

và thời Lê sơ của các nhà học giả Nhật Bản, Việt Nam và thế giới

3) Tài liệu điền dã dựa trên những ghi chép, ảnh chụp thu thập được trong các chuyến nghiên cứu thực địa tại Kamakura và Beppu, Nhật Bản

Về cách trình bày thuật ngữ trong luận án, như địa danh, tên nhân vật và chức vụ tiếng Nhật Để tiện theo dõi, tác giả thống nhất cách trình bày như sau:

Trang 17

A) Đối với địa danh sẽ phiên âm bằng chữ La tinh, sau đó chú thích bằng tiếng Nhật, ví dụ Kamakura (鎌倉)

B) Đối với tên nhân vật thì phiên âm bằng chữ Latinh, sau đó chú thích bằng tiếng Nhật, ví dụ Saionji Kintsune (西園寺公経)

C) Đối với những nhân vật quan trọng thì chú giải thêm năm sinh, mất,

ví dụ Hojo Tokifusa (北条時房,1175-1240)

D) Đối với nhân vật lịch sử đứng đầu triều đình hay chính quyền võ sĩ như Thiên hoàng, Tướng quân, luận án chú giải thêm năm tại vị của nhân vật

đó, ví dụ Mimamoto Yoritomo (源頼朝, 1147-1199, tại vị 1192-1199)

E) Trong luận án, tác giả sử dụng tư liệu được số hóa trong CD-Rom Kamakura ibun Khi chú thích cho nội dung này, tác giả sử dụng footnote Ví

dụ, Nhượng trạng của Otomo Yoshinao năm 12234

Trong luận án xuất hiện nhiều chức vụ và thuật ngữ, hình thức trình bày các thuật ngữ này được kết hợp song song theo cả hai cách sau

F) Cách thứ nhất, với những từ đã được phiên âm Hán – Việt có nội hàm tương đối dễ hiểu, hoặc đã được nhiều người Việt chấp nhận từ lâu, sẽ phiên âm bằng Hán - Việt, sau đó chú thích bằng chữ Hán kèm theo phiên âm bằng chữ Latinh, và giải thích sơ lược ý nghĩa của từ đó trong lần đầu tiên, ví

dụ võ sĩ (武士, bushi), Tướng quân (将軍, Shogun), nhượng trạng (譲状, yuzurijo, văn bản phân chia tài sản thừa kế), Ngự hạ văn (御 下 文, go kudashibumi, công văn chứng nhận sở hữu do Mạc phủ ban hành), dưỡng tử (養子, yoshi, con nuôi)

G) Cách thứ hai, đối với những từ dù được phiên âm Hán – Việt nhưng vẫn

có thể khiến người đọc khó hiểu thì sẽ đưa phiên âm Latinh lên trước, sau đó chú thích bằng chữ Hán kèm theo phiên âm Hán - Việt và giải thích sơ lược ý nghĩa của từ đó (hoặc giải thích bằng footnote nếu nội dung dài và cần thiết) trong lần đầu tiên Ví dụ, Man dokoro (政所, Chính sở - là cơ quan quản lý công văn trong

bộ máy chính quyền của võ sĩ thời Kamakura); Ason (朝臣, Triều thần)5

Trang 18

5 Những đóng góp của luận án

Trước hết, đây là nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề thừa kế tài sản được quy định trong văn bản pháp qui của đẳng cấp võ sĩ và áp dụng ở Nhật Bản thời Kamakura Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam tập hợp và hệ thống hóa các tư liệu quan trọng nhất về vấn đề này

Luận án đưa ra cách tiếp cận riêng mang tính đa chiều về vấn đề thừa

kế dựa trên các tiêu chí giới tính, vị trí thành viên trong gia đình dòng họ, thực tế áp dụng

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam và Nhật Bản đặt vấn đề so sánh sự tương đồng và dị biệt trong những quy định thừa kế ở Nhật

Bản qua Ngự thành bại thức mục và ở Việt Nam qua Quốc triều hình luật thời

Lê sơ, đồng thời đưa ra những lý giải riêng của tác giả về nguyên nhân của những điểm tương đồng và dị biệt này Từ đó, luận án khái quát và đưa ra đánh giá riêng về quan điểm của hai quốc gia khi ban hành và thực thi các văn bản luật nói trên

Luận án xây dựng hệ thống sơ đồ và bảng biểu nhằm tổng hợp và phân tích các vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống và dễ hiểu

6 Cấu trúc của luận án

Luận án có kết cấu gồm có 4 chương chính

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Đây là chương trình

bày tổng quan về những công trình chủ yếu nghiên cứu về võ sĩ, về pháp chế thời Kamakura và thừa kế tài sản Từ đó phân tích những vấn đề đã được làm sáng rõ và những điểm cần được nghiên cứu

Chương 2 Sự hình thành đẳng cấp võ sĩ và bộ luật Ngự thành bại

thức mục Trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích bối cảnh hình

thành và đặc điểm của đẳng cấp võ sĩ Đồng thời, trên cơ sở đó lý giải sự ra

phẩm trở lên, tương tự chữ Đại thần, thường có họ gần với hoàng tộc và xuất hiện nhiều trong những gia tộc

võ sĩ như Minamoto Sang thời Kamakura, ý nghĩa họ danh giá đã không còn đậm nét mà Ason chỉ còn mang tính hình thức khi quan chức cấp cao đề chức danh và kí trong các công văn như Ngự hạ văn Đối với quan

hàm tam phẩm thì ason được viết sau họ, với hàm tứ phẩm thì được viết sau tên, đối với hàm ngũ phẩm thì được viết sau họ và tên Trường hợp này ason được viết sau họ Taira có nghĩa là Đại thần Taira hàm tam

phẩm

Trang 19

đời của Ngự thành bại thức mục và trình bày nội dung căn bản

Chương 3 Vấn đề thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức mục

Trên nền tảng những phân tích về võ sĩ và Ngự thành bại thức mục, chương

này phân tích các điều khoản liên quản đến thừa kế tài sản với những lát cắt là thành viên gia đình trong mối quan hệ phân chia tài sản, điều kiện để được hưởng tài sản, cũng như các hình thức tài sản thông qua minh chứng là hệ thống tài liệu văn bản gốc, tư liệu địa phương

Chương 4 So sánh vấn đề thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức

mục và Quốc triều hình luật Chương này tập trung so sánh những vấn đề

liên quan trong Quốc triều hình luật để làm nổi bật tính tương đồng và dị biệt

trong vấn đề thừa kế ở hai nước Đây cũng là chương lý đưa ra giải nguyên nhân từ góc độ bối cảnh lịch sử, đặc trưng văn hóa dân tộc từng quốc gia Từ

đó, tác giả khái quát nét đặc sắc của Ngự thành bại thức mục trong vấn đề

thừa kế cũng như ảnh hưởng của nó đến con đường phát triển của đẳng cấp võ

sĩ và xã hội Nhật Bản đương thời

Trang 20

Đẳng cấp võ sĩ Nhật Bản đã xuất hiện manh nha trong khoảng nửa đầu

thế kỷ X Một số học giả, như George Sansom trong tập 1 tiêu đề Lịch sử

Nhật Bản đến năm 1334 (bộ 3 tập Lịch sử Nhật Bản) [35],cho rằng, căn cứ vào tính chất cuộc nổi loạn của Taira Masakado (平将門, ? - 940) trong vòng 2 năm 939 - 940 và xuất thân của Masakado đã cho rằng, đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự hình thành của võ sĩ Quan điểm này được Takeuchi Rizou (竹内理三) chia sẻ trong tập 6 của bộ Lịch sử Nhật Bản với nhan đề Sự xuất

hiện của võ sĩ [71]

Trong Sự hình thành của thế giới kiểu trung thế, Ishimoda Sho (石母田

正) đã đưa ra 3 giả thuyết về nguồn gốc của đẳng cấp võ sĩ gồm (1) tầng lớp lãnh chủ vốn là hào tộc (豪家的領主層, goka teki ryoushu so), (2) tầng lớp chủ

đất do khai khẩn nắm chức địa đầu (地頭級開発領主層, jito kyu kaihatsu ryoushu so) và (3) tầng lớp danh chủ vốn là nông dân khá giả được đứng danh nhậm canh (安堵名主層, ando myoshu so) [53] Giả thuyết này được nêu ra trên cơ sở những nghiên cứu về tầng lớp lãnh chủ (領主, ryoshu) của Toyoda Takeshi (豊田武) trong Võ sĩ đoàn với xóm làng [76] và Ishii Susumu trong

Mạc phủ Kamakura [49] Điểm chung của các nhóm người này đều là các

lãnh chủ, địa chủ có thế lực sau khi tiến hành khai khẩn ruộng đất tại địa

phương Chính vì vậy, giả thuyết này được gọi chung là Tại địa khai phát

lãnh chủ luận (在地開発領主論)

Tuy nhiên, sau những năm 1970, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng,

dù là lãnh chủ hay địa chủ trở thành võ sĩ thì điểm khác biệt chính là khả năng

võ nghệ được trang bị như là một nghề nghiệp mới trong xã hội Họ đứng từ

Trang 21

góc độ nghề nghiệp để củng cố học thuyết này Đại diện cho khuynh hướng này là các học giả Sato Shinichi (佐藤進一), Toda Yoshimi (戸田 芳实), Takahashi Masaaki (高橋昌明) Đặc biệt, Takahashi Masaaki đã tổng hợp

vấn đề này trong Sự hình thành võ sĩ và sự sáng lập hình tượng võ sĩ [70] Takahashi phân tích rằng bản thân chữ nghệ năng (芸能, geino) hay võ nghệ

(武芸, bugei) xuất hiện trong các tư liệu thời cổ đại không chỉ dành riêng cho giới chiến binh địa phương mà thực tế cũng có thể hiểu với đối tượng là các

võ quan vệ phủ triều đình Ví dụ như kỹ năng xạ kỵ, theo quy định của quốc gia luật lệnh họ thậm chí còn phải trải qua các cuộc thi đấu kiểm tra trình độ định kỳ vào ngày năm tháng năm hằng năm Quan điểm về những chiến binh

có nghệ năng được gọi là Võ nghệ nhân luận (武芸人論, bugeinin ron) hay

Chức năng luận (職能論, shokuno ron) [67; 135-138]

Trong cách lý giải của mình, tác giả cho rằng cả hai lý thuyết trên đều

có lý khi đứng từ mỗi góc độ khác nhau để đưa ra những cái nhìn gần nhất về nguồn gốc võ sĩ Bên cạnh đó, tác giả cũng bổ sung thêm vấn đề xuất thân

trong đó nhấn mạnh yếu tố dòng dõi Nội dung này được đề cập trong phần trình bày những đặc trưng của võ sĩ thời trung thế [9; 108]

Ngoài ra, Takeuchi đưa ra cái nhìn khái quát về sự khác biệt của bản chất võ sĩ được hình thành bởi yếu tố vùng miền, khác với nhiều suy nghĩ cho rằng vào võ sĩ với đại diện là dòng họ Minamoto đã chinh phục toàn quốc nên

từ thời Kamakura võ sĩ đã có xu hướng đồng nhất Về xu hướng này, tác giả cho rằng xuất hiện muộn hơn, sớm nhất cũng từ cuối thời Kamakura Vì võ sĩ miền Đông Nhật Bản chịu ảnh hưởng của dòng họ Minamoto, còn võ sĩ miền Tây chịu ảnh hưởng phong cách của dòng Taira (quan điểm này xin được trình bày kỹ ở phần sau) Kajihara Masaaki (梶原正昭) cũng đã đề cập đến tư

tưởng của vị võ sĩ Masakado trong Tướng quân kí (将門記, Shomonki) khi biên dịch và chú giải cho bộ sách [56]

Việc phát huy cơ hội và cũng là thách thức tại địa phương có tình hình trị an lỏng lẻo, đã giúp cho các vị danh chủ (名主, myoshu, chức vụ quản lý

Trang 22

cấp trung gian tại trang viên) kiêm thủ lĩnh võ trang này xây dựng một kết cấu đơn giản mà hiệu quả, đó chính là võ sĩ đoàn (武士団, bushidan) Bỏ qua những vấn đề về kỹ năng nghề nghiệp đánh trận, tác giả nhận thấy yếu tố đất đai và con người tại địa phương đã hậu thuẫn không nhỏ cho võ sĩ đoàn Những con người được gọi là võ sĩ trong võ sĩ đoàn thời kỳ này rất ít Họ liên kết với nhau chủ yếu dựa vào mối quan hệ huyết thống con em trong gia đình Bên cạnh đó, sự phục tùng của các nhóm võ trang khác, nhỏ yếu hơn Tuy nhiên, trong thang bậc võ sĩ đoàn đó không thể nhắc đến vai trò của những binh sĩ không được coi là võ sĩ, nhưng cũng ra trận chiến đấu gian khổ Đó chính là con em của những người nông dân canh tác thuê trên mảnh đất của vị lãnh chủ Họ bị lệ thuộc vào vị thủ lĩnh và buộc phải đứng vào hàng ngũ võ sĩ đoàn ở vị trí thấp kém nhất Toyoda Takeshi cho rằng, có được lực lượng này chính là vì võ sĩ đã siết chặt quản quản lý và cai trị tại các thôn làng địa phương [76; 91-93]

Bước vào cuối TK XII, võ sĩ đã bước đầu xác lập được một hệ thống chính quyền quân sự riêng của mình, gọi là Mạc phủ (幕府) Phát triển từ mô hình võ sĩ đoàn, Tướng quân (người đứng đầu Mạc phủ) đã củng cố quyền lực của mình thông qua cam kết với các chư hầu võ sĩ Chính quyền này tồn tại song song cùng với chính quyền của triều đình Kyoto Về vấn đề này, tác giả

tham khảo chính trong bài nghiên cứu của Nguyễn Văn Kim có tiêu đề Về cơ

chế hai chính quyền cùng song song tồn tại trong lịch sử Việt Nam và Nhật Bản [15; 206-207] Nguyễn Văn Kim đưa ra hai mô hình chính trị kiểu "chính

quyền kép" hay "song trùng lãnh đạo": (1) giới quân sự nắm ưu thế về quyền lực kinh tế chính trị, còn quý tộc, quan lại của triều đình chỉ là hình thức; (2) mặc dù quyền lực thực tế nằm trong tay giới quân sự, nhưng hai thế lực phong kiến vẫn có chung một mục tiêu và lợi ích giai cấp Theo tác giả luận án, trong trường hợp của Nhật Bản, có lẽ nên đặt cả hai mô hình theo tiến trình lịch sử Mô hình (2) tương ứng với thời kỳ Kamakura, khi ảnh hưởng của Mạc phủ mới tập trung tại miền Đông, đồng thời cả hai chính quyền này khá

Trang 23

đoàn kết trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ để đảm bảo lợi ích giai cấp và dân tộc Mô hình (1) tương ứng với những thời kỳ sau, mà đỉnh cao là thời Edo khi quyền lực về kinh tế và chính trị thực sự nghiêng về Mạc phủ và Tướng quân

Kết cấu để Mạc phủ, võ sĩ đoàn hùng mạnh nhất, có thể gắn kết các thế lực võ sĩ lại với nhau chính là mối quan hệ tôn chủ bồi thần, với chiều dọc là quan hệ huyết thống, và chiều ngang là với các chư hầu Quan điểm này được

Ishii Susumu đưa ra trong Lịch sử Nhật Bản tập 12 Võ sĩ đoàn trung thế (「日

quan hệ theo chiều ngang ngày càng mạnh lên Đó là cơ hội cho hàng loạt các dòng họ võ sĩ như Hojo, Hiki, Wada ra tay tranh đoạt quyền bính

Một yếu tố quan trọng khác là trên cơ sở sự thần phục, hoàn thành nhiệm vụ của võ sĩ, Tướng quân sẽ chứng nhận, đảm bảo quyền lợi về sở lãnh Sở lãnh được chứng nhận này phần lớn là đất bản bộ (本拞地, honkyochi, vùng đất xây dựng thế lực) của các chư hầu (tại chủ địa phương), tức là sở lãnh có sẵn Tuy nhiên, cùng với thời gian, chiến sự xảy ra liên tiếp mà phe Mạc phủ lại là người chiến thắng nên chiến lợi phẩm thu được là các trang viên ngày càng nhiều Tướng quân ban thưởng cho các võ sĩ có công bằng những sở lãnh mới Như vậy, đảm bảo sở lãnh cũ và ban cấp sở lãnh mới cho chư hầu chính là lợi ích mà Mạc phủ có thể lại cho họ Dẫu vậy, Mạc phủ hầu như không can thiệp vào nội bộ của gia đình võ sĩ Ishii Susumu cũng

khẳng định trong nghiên cứu kể trên rằng, thời Trung thế, nhất là thời kỳ Kamakura,

Mạc phủ gắn kết võ sĩ bằng cam kết văn bản, còn gia đình võ sĩ cam kết với nhau bằng ruộng đất Tình trạng này kéo dài đến cuối thời kỳ Chiến quốc (戦国, Sengoku) mới thay đổi Vậy, trong thời kỳ Kamakura, gia đình võ sĩ đã quản lý

ruộng đất ra sao? Mạc phủ đã ban hành Ngự thành bại thức mục (御成敗式目, Goseibai shiki moku) vào năm 1232 để điều chỉnh hành vi của các chư hầu vào khuôn phép, cũng như luật hóa những gì mình đã cam kết với chư hầu

Trang 24

1.1.2 Nghiên cứu về Ngự thành bại thức mục

Đề cập đến nghiên cứu về Ngự thành bại thức mục, không thể không kể

đến Ueki Naoichiro (植木直一郎, 1878-1859) [54] là người có công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này Ông là người có công khảo cứu lại toàn bộ

những văn bản ghi chép lại Ngự thành bại thức mục như Azuma Kagami, hay

các sách giáo khoa được sử dụng trong các trường terakoya (寺子屋) Những

kết quả nghiên cứu ấy được xuất bản thành sách Nghiên cứu Ngự thành bại

thức mục năm 1930 và đó cũng chính là luận án Tiến sĩ được bảo vệ thành

công năm 1931 Sau này, công trình nghiên cứu đã được bổ sung, biên tập tái bản vào năm 1966

Trong Nghiên cứu Ngự thành bại thức mục, Ueki có đề cập đến việc

Ngự thành bại thức mục đã được phổ cập rộng rãi thời kỳ Edo6

và Ueki đánh

giá cao giá trị thực tiễn của Ngự thành bại thức mục do những người biên

soạn thời kỳ Kamakura đem lại Qua nghiên cứu này, Ueki đưa ra một số

nhận định như sau, một là Ngự thành bại thức mục của Mạc phủ Kamakura

không phải để phủ định luật lệnh, hệ thống pháp luật của triều đình, mà chỉ khoanh vùng đối tượng chủ yếu là võ sĩ, ngự gia nhân (御家人, gokenin)7 để thi

hành các chính sách cai trị của mình Hai là, Ngự thành bại thức mục đã hoàn

thành vai trò xác lập vị trí độc lập mang tính tự giác cao của đẳng cấp võ sĩ

thời kỳ Kamakura Ba là, Ngự thành bại thức mục đã tạo nền tảng pháp lý với

tư cách luật pháp võ gia (武家法, võ gia pháp) để các chính quyền võ sĩ (Mạc phủ) sau này tham khảo và học tập

Tiếp theo phải kể đến quyển Nghiên cứu về Ngự thành bại thức mục

của Ikeuchi Yoshisuke (池内義資) [47] Sau này, công trình được biên tập và

tập hợp lại trong bộ Tuyển tập Tư liệu lịch sử pháp chế thời Trung thế8

Ikeuchi Yoshisuke là người đóng góp rất lớn trong việc chú giải các thuật ngữ

pháp luật được ghi trong các điều của Ngự thành bại thức mục

6 Về sự phổ biến của Ngự thành bại thức mục thời kỳ Edo, tác giả sẽ trình bày kỹ hơn tại Chương 2

7 Là các võ sĩ thế lực có công đối với sự nghiệp của Tướng quân và Mạc phủ Họ là các chư hầu, đại diện cho

võ sĩ nói chung trong mối quan hệ thần thuộc với Tướng quân, tương đương tước Hiệp sĩ tại Châu Âu

8 池内義資(1978) 、「中世法制史資料集 別巻 御成敗式目註釈書集要」岩波書店、東京

Trang 25

Tính đến hiện tại, công trình nghiên cứu toàn diện về Ngự thành bại

thức mục được giới nghiên cứu Nhật Bản thừa nhận là công trình của

Kasamatsu Hiroshi (笠松宏至) trong bộ Nhật Bản tư tưởng đại hệ - Tư tưởng

chính trị xã hội thời Trung thế [51] Những nghiên cứu này cũng là một trong

những nội dung trọng tâm để Kasamatsu Hiroshi chấp bút công trình Lịch sử

Trung thế qua luật pháp và từ ngữ9

Trong luận án này, tác giả chủ yếu trích dẫn các điều luật cũng như sử dụng những chú giải liên quan bằng hai công trình nói trên của Kasamatsu Hiroshi

1.2 Nghiên cứu về vấn đề tài sản và thừa kế ở Nhật Bản và Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về vấn đề thừa kế tài sản thời Kamakura

Để tham khảo quá trình hình thành bộ luật cũng như vị trí của Ngự

thành bại thức mục trong hệ thống lịch sử pháp chế Nhật Bản, luận án sử

dụng nhiều thông tin hữu ích từ Lịch sử luật thừa kế Nhật Bản của Ishii

Ryosuke (石井良助) [52] Công trình nghiên cứu này không chỉ hệ thống lịch

sử thừa kế của Nhật Bản mà còn đưa ra những gợi mở về định hướng so sánh

Đó là ý tưởng về nghi lễ truyền lửa (あまつひつぎ, amatsu hitsugi), khi các vị Thiên hoàng, con cháu của Thiên chiếu đại ngự thần (天照大御神), nhường ngôi cho như là một sự kế tục giữa thế sau với thế hệ trước và hành động này chủ yếu gắn với con trai trực hệ Điều này ít nhiều cho ta liên hệ với ý nghĩa của từ hương hỏa được sử dụng khá nhiều trong các văn bản luật khi nhắc đến vấn đề thừa kế Trong tiến trình triển khai vấn đề, các tác giả tiếp cận theo hướng các chính sách của chính quyền đương thời đối với 3 vấn đề cốt lõi là chế độ ruộng đất, chế độ tài chính và chế độ tài sản Điều này gợi mở cho tác giả những điểm mấu chốt của bộ luật chính là ruộng đất và bất động sản

Trong khi Ryosuke phân kỳ lịch sử pháp chế Nhật Bản trước thời Trung thế thành hai thời kỳ là Thượng đại (上代) và Thượng thế (上世), Okubo Haruo lại chia thành thời kỳ Thượng cổ (上古) và Trung cổ (中古)

trong quyển Lịch sử pháp chế Nhật Bản [55] Dù khác nhau cách gọi nhưng

9 笠松宏至、(1984)「法と言葉の中世史」平凡社選書、東京

Trang 26

nội dung đều là thời kỳ đầu tương ứng với chế độ thị tộc, còn thời kỳ sau tương ứng với giai đoạn nhà nước luật lệnh (律令国家, ritsuryo kokka) Khi bước vào thời Trung cổ, ruộng được tách ra thành công điền và tư điền, đất đai được tách thành trạch điền và viên điền và coi đây là đối tượng thu thuế

chính Thời kỳ này, tài sản được phân chia thành di tỉ vật (移徙物, động sản)

và bất di tỉ vật (不移徙物, bất động sản), đi kèm theo quyền sở hữu, cầm cố, biếu tặng, trao đổi, thừa kế… Bước sang thời Trung thế, thứ luật pháp được nhắc nhiều đến là luật pháp võ gia Điều này không có nghĩa pháp luật của triều đình không được sử dụng nữa mà những gì võ sĩ còn thiếu thì pháp luật

mới dành cho võ gia sẽ điều chỉnh

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, ở Nhật Bản xuất hiện luồng nghiên cứu về sự hình thành quốc gia phong kiến Trong đó, nhiều nhà nghiên cứu mà tiêu biểu là Nagahara Kenji (永原慶二) đã

đề xuất cách tiếp cận "chế độ phong kiến" từ nền "kinh tế nông dân quy mô nhỏ kiểu phong kiến" (封建的小規模農民経済, hoken teki shokibo nomin keizai) [77] Theo đó, ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chế độ "nông nô" trong các trang viên đặc biệt là vùng phía đông Nhật Bản Do nhu cầu khai khẩn đất hoang, kéo theo nhu cầu về nhân lực, các tiểu địa chủ ra sức thu gom dân nghèo, dân phiêu bạt để tập trung thành các trang viên vừa và nhỏ Những địa chủ này được gọi là danh chủ

Nhắc đến ruộng đất giai đoạn này, không thể không nhắc đến mô hình trang viên do các lãnh chủ sở hữu và quản lý Trong số các công trình nghiên

cứu, tiêu biểu là Lịch sử trang viên (Thế kỷ VIII - XVI) của Phan Hải Linh

[18] Qua nghiên cứu này, tác giả luận án nhận thức rằng, mô hình trang viên

có sự khác biệt không chỉ theo thời gian mà còn thay đổi theo cả vùng miền Trang viên thời kỳ đầu thì mối quan tâm chính là hoa lợi, còn trang viên thời trung

thế thì Mạc phủ sử dụng hệ thống quản lý shugo (守護, thủ hộ) và địa đầu (地頭, địa đầu) để chiếm đoạt quyền quản lý và cả hoa lợi trên trang viên đó Thời kỳ Kamakura, bức tranh trang viên chia làm hai nửa, phần thuộc miền Đông do Mạc

Trang 27

phủ nắm giữ, phần thuộc miền Tây sẽ do Thiên hoàng chi phối

Mạc phủ Kamakura không phải là chính quyền đầu tiên đề ra và bổ

nhiệm chức vụ địa đầu Chức vụ này xuất hiện từ thời Viện chính (院政, Insei) khi dòng họ võ sĩ Taira bắt đầu nắm các chức vụ quan trọng và chuyên quyền

Địa đầu là võ sĩ được dòng họ này cắt cử đến các trang viên, hoặc công lãnh

(公領, koryo) để kiểm soát tình hình đất đai Quan điểm này được một số học giả như Yoshie Akio (義江彰夫) trong bài Sự hình thành chức địa đầu trong

thời Viện chính [89] hay Santa Takeshige (三田武繁) trong Khảo sát mang

tính cơ sở về vấn đề thủ hộ - địa đầu năm Văn trị [64] Những ý kiến của các

bài nghiên cứu này có giá trị tham khảo to lớn vì trong các điều khoản về thừa

kế của Ngự thành bại thức mục thì không đề cập nhiều đến chức vụ này,

nhưng trong các nhượng trạng lại coi các chức này như là một thực thể không thể tách rời của các sở lãnh khi phân chia tài sản

Để làm rõ hơn vai trò của địa đầu, Yasuda Motohisa cũng là người đi tiên phong trong nghiên cứu về địa đầu, đã nghiên cứu về vai trò thu thuế

thóc phục vụ chiến tranh của người đảm nhiệm chức vụ này Theo đó, nếu

chức địa đầu thời Viện chính, hay cuối thời Heian, đảm nhiệm vai trò quản lý

trang viên và thu thuế cho triều đình thì dưới sự chỉ đạo của Minamoto

Yoritomo, nhiệm vụ của địa đầu đã rõ ràng hơn Bằng áp lực của người chiến

thắng trong cuộc chiến Gempei (源平合戦, 1180-1185), Yoritomo đã ép được

Thượng hoàng công nhận cơ cấu thủ hộ và địa đầu mới của mình đặt tại các

trang viên, công lãnh Quan điểm này đã được Yasuda Motohisa (安田元久)

làm rõ trong bài Khảo sát nhỏ về thóc lương binh và thóc trưng thu thêm của

địa đầu [86; 55-76] Như thế, bằng hình thức thu thuế thóc hợp pháp, các võ

sĩ của Yoritomo đã bước đầu chia sẻ lợi ích kinh tế và sau này là chiếm đoạt hoàn toàn Đây là bước đi đầu tiên trong quá trình chiếm hữu - chuyển giao tài sản của võ sĩ cuối Heian đầu Kamakura

Nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản thời trung thế (Early Medieval Japan), không thể không nhắc đến Jeffrey Paul Mass, một học giả người Mỹ có nhiều

Trang 28

công trình nghiên cứu đồ sộ Liên quan đến đề tài này, tác giả luận án tham

khảo bài viết về Mô hình thừa kế tại địa phương cuối thời kỳ Heian Nhật Bản

[38; 67-95] Jeffrey P Mass cho rằng, cuối thời kỳ Heian, các gia đình võ sĩ

đã chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần thiết để cá nhân hóa sức mạnh gia đình thông qua hai giá trị cốt lõi là mối quan hệ họ hàng và thừa kế tài sản, trong đó ông khảo cứu một số Nhượng trạng tại các tỉnh như Iga, Bungo Đặc

biệt, trong quyển Thủ lĩnh và thừa kế trong thời kỳ đầu Trung thế Nhật Bản -

hệ thống sở lãnh một nghiên cứu về Kamakura, trên cơ sở khảo cứu về gia

đình và thừa kế cuối Heian và Kamakura, ông cho rằng, Yoritomo bằng cơ

chế vận hành trên các chức vị tối giản Tướng quân, Thủ hộ và Địa đầu đã

nâng tầm mô hình sở lãnh thành hệ thống sở lãnh [39] Đây chính là những quan điểm mà luận án quan tâm

Một trong những điểm nhấn của luận án là việc nghiên cứu quyền thừa

kế tài sản của phụ nữ Trong số các nhà nghiên cứu về phụ nữ thời Trung thế, phải kể đến Tabata Yasuko (田端泰子) và Hosokawa Kyoko (細川涼子) với

nghiên cứu Phụ nữ, Người già, Trẻ em (tập 4) trong bộ "Nhật Bản thời trung

thế" [74] Bản thân Tabata Yasuko cũng có những khảo cứu khác về riêng phu nhân Tướng quân Hojo Masako, người có công lớn gánh vác trách nhiệm bảo vệ thành quả của Tướng quân Yoritomo [75] Cùng thế hệ với Tabata, nhà nghiên cứu lịch sử phụ nữ người Mỹ gốc Nhật là Hitomi Tonomura đã có những nhận xét rất sâu về thừa kế tài sản của phụ nữ thời kỳ Kamakura [36; 529-623] Tonomura nhận định rằng, người phụ nữ với tư cách là vợ hay là con gái, khi đã là thành viên gia đình võ sĩ thì phải có nghĩa vụ quản lý tạm thời và chuyển giao số tài sản được thừa kế cho con, cháu trực hệ, hoặc sử dụng biện pháp con gái nuôi để thực hiện biện pháp đó thay cho con gái

1.2.2 Nghiên cứu về vấn đề thừa kế triều Lê sơ

Về mặt pháp luật, quyền kế thừa tài sản thời Lê sơ (1428-1527) được

quy định cụ thể trong bộ Luật Hồng Đức được bắt đầu xây dựng từ thời Lê

Thái Tổ (1428-1433) và hoàn chỉnh thời Lê Thánh Tông (1460-1497) niên

Trang 29

hiệu Hồng Đức (1470-1497) Bộ luật này được bổ sung, điều chỉnh và thi

hành trong thời Lê trung hưng (1593-1789) mang tên chung là Quốc triều

hình luật Bộ Quốc triều hình luật cùng với các văn bản pháp luật được ban

hành trong thời Lê sơ và bổ sung trong thời Lê trung hưng đã được thu thập

lại trong Một số văn bản điển chế và pháp Việt Nam tập I và II (từ thế kỷ XV

đến XVIII) do Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên [24] Bộ luật đã được dịch ra tiếng Pháp10 và tiếng Anh11, được nhiều học giả trong nước và nước ngoài

nghiên cứu Nghiên cứu một cách hệ thống là Vũ Văn Mẫu trong Cổ luật Việt

Nam lược khảo [21] được viết vào năm 1969 và Cổ luật Việt Nam thông khảo

và tư pháp sử [22] viết năm 1974 Trước hết, trên cơ sở phân tích các sử liệu

mà điều kiện nghiên cứu còn hạn hẹp lúc bấy giờ, ông đưa ra giả thiết rằng bộ

Quốc triều hình luật được ban bố vào khoảng cuối những năm niên hiệu Hồng

Đức, và các đời vua triều Lê sau cho in lại và bổ sung một số điều cho phù hợp với tình hình Trên cơ sở khảo cứu hai thiên Hộ hôn và Điền sản, ông cho rằng so sánh với “luật Tầu” thì đây là những điều hết sức "canh tân mới mẻ", đặc biệt là phần thừa kế thì đã "giải quyết cặn kẽ", phần hương hỏa thì đã đề cập đến một "chế độ hoàn toàn Việt Nam" Tiếp đó, liên quan trực tiếp đến

nội dung đề tài phải kể đến công trình Quốc triều hình luật - Lịch sử hình

thành nội dung và giá trị do Lê Thị Sơn chủ biên [26] là tập hợp các bài

chuyên khảo rất hữu ích về các nội dung của bộ luật này

Trong các công trình nghiên cứu liên quan đến Quốc triều hình luật

cũng như hệ thống pháp luật nói chung của các tác giả nước ngoài, trước hết tôi tham khảo các bài viết của học giả Yamamoto Tatsuro Có thể nói, Yamamoto là nhà sử học học Nhật Bản thuộc thế hệ đầu tiên thời hiện đại đặt nền móng nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản Có được thành quả trên, một phần nhờ việc Yamamoto đã sử dụng và nghiên cứu thành công những tài liệu Việt Nam được thu thập trong Đông Dương văn khố (東洋文庫) Yamamoto

10 R Deloustal (1900-1922) La justice dans l’ancien Annam , Bulletin de l’ Ếcole francaise d’ Extrême-Orient

11Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tào, Trần Văn Liêm (1987), The Le code, Law in traditional Vietnam,

Ohio-London

Trang 30

có các công trình từ rất sớm như Luật hôn nhân Lê triều An Nam viết năm

1938 [87; 247-318], hay tập tài liệu có giá trị như Giấy tờ mua bán bất động

sản An Nam viết năm 1940 [68; 370-383] Nghiên cứu sâu về chế độ kế thừa

tài sản trong Quốc triều hình luật, có hai công trình của Tạ Văn Tài12 và Yu

Insun [10] So sánh đối chiếu các điều luật trong Quốc triều hình luật với các

bộ luật của Trung Quốc, các tác giả chứng minh rằng Quốc triều hình luật có

mô phỏng, tham bác luật nhà Đường nhiều nhất, sau đó đến luật nhà Minh, nhưng đều được vận dụng cho phù hợp ở mức độ cho phép với truyền thống

và thực tiễn xã hội Việt Nam Đặc biệt trong số 722 điều luật của Quốc triều

hình luật có đến 404 điều theo Nguyễn Ngọc Huy hay 407 điều theo Yu Insun,

hoàn toàn không tìm thấy trong luật Trung Quốc, trong đó có những điều luật

về kế thừa tài sản

Tiếp đó, liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài phải kể đến công trình

Quốc triều hình luật – Lịch sử hình thành nội dung và giá trị do Lê Thị Sơn

chủ biên [26] là tập hợp các bài chuyên khảo rất hữu ích về các nội dung của

bộ luật này Để minh chứng cho các luận điểm trong bài viết của mình, tác giả

luận án trích dẫn các điều khoản của bộ luật trong Một số văn bản điển chế và

pháp luật Việt Nam Tập I (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) do Nguyễn Ngọc

Nhuận chủ biên [24] trên cơ sở tham khảo bản in chữ Hán gốc mang ký hiệu A.341 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Riêng về chế độ kế thừa tài sản trong Quốc triều hình luật, có một số

công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước như Trương Hữu Quýnh13, Phan Huy Lê [16] và ngoài nước như Makino Tatsumi14, Robert Lingat15, Tạ Văn Tài, Yu Insun Kết quả nghiên cứu đều xác nhận chế độ kế thừa tài sản chủ yếu là ruộng đất, ở Việt Nam thời Lê có những đặc điểm riêng, nhất là quyền sở hữu tài sản của phụ nữ, quyền kế thừa ruộng đất hương hỏa Phan

12 Ta Van Tai (1981), "The status of women in traditionnal Vietnam: a comparison of the code of the Lê

dynasty (1428-1788) with the Chinese code”, Journal of Asian History, Vol 15 (2), pp 97-145

13Trương Hữu Quýnh (2009), Chế độ ruộng đất và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội

14 Makino Tatsumi (1944), Shina kazoku konkyo, Tokyo

15 Robert Lingat (1954-1955), Les régimes matrimoniaux du Sud-Est de l’ Asie, essai de droit comparé indochinois, Hanoi-Saigon

Trang 31

Huy Lê còn cố gắng từ trong Quốc triều hình luật của nhà Lê từ thế kỷ XV

đến thế kỷ XVIII, tách ra những điều luật được ban hành trong thời Lê sơ tức

trong bộ Luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật thời Lê sơ Tác giả chứng minh

hầu hết những điều luật về kế thừa tài sản đều được xác lập từ thời Lê sơ Tác giả

luận án đã nghiên cứu, kế thừa những kết quả khoa học này khi so sánh Ngự thành

bại thức mục của Nhật Bản với Quốc triều hình luật của Việt Nam

Việc kế thừa tài sản thời Lê sơ còn liên quan đến chế độ quân điền và chế

độ lộc điền thời bấy giờ Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, năm 1428, khi vừa lên

ngôi vua, Lê Lợi sai các quan kiểm kê sổ sách, đo đạc ruộng đất, tiến hành từ tháng 8 đến tháng 12 Sau đó cho quan lại địa phương rà soát lại một lần nữa, đến năm 1429 mới định phép quân điền Những quy định về quân điền thời Lê Thái

Tổ đã phần nào được thể hiện trong 32 điều thuộc chương Điền sản trong Quốc

triều hình luật Chế độ quân điền được bổ sung, hoàn chỉnh trong các đời vua sau,

đặc biệt là hoàn thành thời Hồng Đức của Lê Thánh Tông Chế độ quân điền giúp phân phối ruộng đất đến tay nhiều hạng người trong đơn vị làng xã Không chỉ người cô quả, tàn tật mà cả vợ con của người bị tội đồ, lưu cũng được nhận ruộng Quy định này giúp người dân nông thôn có thể an cư lạc nghiệp, khôi phục lại tình hình sản xuất sau chiến tranh Chế độ quân điền quy định thể lệ phân chia ruộng đất công của làng xã cho các thành viên trong thời hạn 6 năm chia lại một lần Trong thời hạn đó, người được chia không có quyền sở hữu nhưng có quyền sử dụng và chuyển giao cho con cháu

Chế độ lộc điền là chế độ ban cấp ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước cho quý tộc và quan lại cao cấp Trong các loại ruộng đất được ban cấp

có loại thế nghiệp điền/thổ và tứ điền, người được cấp được quyền sử dụng và phân chia, chuyển giao cho con cháu, nhưng không có quyền sở hữu hoàn toàn, đời vua sau có quyền để cho con cháu kế thừa hay thu hồi từng bộ phận Phan Huy Lê, Trương Hữu Quýnh đã nghiên cứu cụ thể và nêu lên những đặc điểm của các loại ruộng đất quân điền và lộc điền Phan Huy Lê qua khảo cứu

tư liệu gia phả đã nêu lên một số trường hợp cụ thể cho thấy lộc điền có qui

Trang 32

mô khá lớn, nhưng ruộng đất không tập trung mà thường nằm rải ra trên nhiều địa phương Một số công thần khai quốc như Lê Sao, Lê Thọ Vực được ban đến 2.286 mẫu rải ra trên 15 huyện, Nguyễn Xí được ban đến 5.135 mẫu rải ra đến 93 xã thuộc 25 huyện, 19 phủ, 6 trấn [17; 488] Những ruộng đất ban cấp

đó thuộc sở hữu nhà nước và phần lớn là ruộng hoang nên người được ban cấp phải tổ chức khai hoang lập thành các trang ấp Trương Hữu Quýnh đã dẫn chứng rằng gia phả dòng họ Nguyễn Nhữ Soạn và Trương Như Lôi ghi ruộng đất phong thưởng bằng cách "cho được ở đến đến đâu thì lập trại ấp ở đến đó" [28; 182-183] Trong thời Lê sơ, thái ấp, điền trang không còn nữa, nhưng vẫn tồn tại nhiều trang ấp hay trại ấp của quan lại và địa chủ

Trong thời Lê sơ, chế độ sở hữu ruộng đất gồm hai hình thái chủ yếu là

sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Sở hữu nhà nước gồm ruộng sơn lăng của các hoàng đế nhà Lê, ruộng quốc khố, ruộng đồn điền và ruộng đất công của các xã thôn Sở hữu tư nhân gồm ruộng đất của quý tộc, quan lại, địa chủ và một số nông dân có nguồn gốc từ kế thừa, mua bán, khai hoang và ban cấp Nhà Lê thành lập sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, lúc đầu ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước có tăng lên do triều đình tịch thu ruộng đất của quan lại nhà Minh, những quý tộc Trần bị tiêu vong, ruộng đất bỏ hoang Nhưng theo xu thế chung, sở hữu tư nhân càng ngày càng phát triển, xâm lấn dần ruộng đất của nhà nước Stephen B Young cho rằng, việc Lê Lợi và các đời

vua sau đó ban cấp và đảm bảo ruộng đất cho công thần (meritorious servants) đã tạo ra gia tộc quốc tính Lê (Lê royal clan) đông đảo Điều này đã

tạo dựng niềm tin cho tầng lớp võ tướng sau những năm kháng chiến gian khổ

và nhờ được ban thưởng hậu hĩnh, họ sẽ phục tùng và chiến đấu cho chế độ nhà Lê [44; 1-48] Tuy nhiên, ông cũng rào đón bằng câu thành ngữ rất Việt

Nam "phép vua thua lệ làng" (the Emperor's laws fall before village customs)

để ám chỉ việc luật của nhà vua khi áp dụng trong dân gian có nhiều sai khác Minh chứng là ruộng thế nghiệp về nguyên tắc thì chỉ được cầm cố, không được bán đứt nhưng trong thực tế, sau này, nhiều gia đình công thần đã sa sút

Trang 33

phải bán trộm đi ruộng thế nghiệp cha ông để lại Trong Quốc triều hình luật,

phần lớn các điều khoản trong số 32 điều thuộc chương Điền sản là nỗ lực nhằm ngăn chặn việc lấn chiếm đất công (điều 343), chiếm đoạt của kẻ khác

từ hình thức chiếm không (điều 344) đến đến uy hiếp bán rẻ cho mình (điều 355)… Điều 348 cấm đoán việc tự tiện lập trang trại, đồn chứa dân đinh nhằm tránh việc tập trung người và của cải vào một chỗ tạo thành mối đe dọa như hình thức điền trang

Thừa kế tài sản mà chủ yếu là ruộng đất được thực hiện đối với ruộng đất tư hữu.Khi nghiên cứu về Quốc triều hình luật, hầu hết các học giả trong

và ngoài nước đều nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật là việc chia đều ruộng đất cho các con kể cả trai và gái, thừa nhận quyền thừa kế tài sản của người phụ

nữ, kể cả quyền thừa kế ruộng đất hương hỏa trong một số trường hợp Nếu như Vũ Văn Mẫu mới chỉ đưa ra nhận định rằng, đây là những quan điểm tiến

bộ thời Lê sơ so với hình mẫu pháp luật “bên Tầu”, mà chưa đi sâu phân tích, thì Tạ Văn Tài [45; 97-145] cũng như Yu Insun chứng minh đó là những điều luật hoàn toàn của Việt Nam, không có trong luật Trung Quốc Yu Insun [10] còn đưa ra những kiến giải về mối quan hệ vệ vợ chồng và cha mẹ - con cái, quyền sở hữu và quyền thừa kế tài sản Ông cho rằng, vai trò của người phụ

nữ tự do và cởi mở hơn phụ nữ ở Trung Hoa

Trên cơ sở tìm hiểu những nghiên cứu trên, tác giả luận án nhận thấy vấn đề về nguồn gốc của đẳng cấp võ sĩ đã được nghiên cứu khá kỹ từ góc độ

xã hội và nghề nghiệp trong bối cảnh kinh tế xã hội Nhật Bản cuối thời cổ đại đầu thời trung thế Tuy nhiên, chưa nhiều nghiên cứu tập trung phân tích sâu

về con đường vươn lên của từng dòng họ võ sĩ lớn nắm vận mệnh chèo lái con tàu sóng gió của võ sĩ đoàn, góp phần đưa đẳng cấp này bước lên vũ đài chính trị Vì vậy, với luận án này, tác giả muốn bổ sung thêm một góc độ tiếp cận mới: làm sáng tỏ nguồn gốc xuất thân của một số dòng họ võ sĩ trụ cột Đây là điều kiện tiên quyết để tạo dựng nên những thủ lĩnh võ sĩ, những nhân vật cùng nhau hình thành nên chính quyền của đẳng cấp võ sĩ Cũng tại

Trang 34

chương này, tác giả xâu chuỗi các sự kiện, biến cố lịch sử diễn ra thời Kamakura, đặc biệt là khoảng thời gian từ khi Minamoto Yoritomo khởi binh

(1180) đến thời điểm Ngự thành bại thức mục ra đời (1232) Từ đó luận án tập trung chứng minh hai luận điểm Thứ nhất, Ngự thành bại thức mục ra đời

là kết quả tất yếu của chuỗi vận động lịch sử Nhật Bản Hiện tượng đẳng cấp

võ sĩ, một trong hai cực quyền lực trong cơ cấu chính quyền Nhật Bản, ban hành một văn bản pháp qui riêng có ảnh hưởng không kém gì triều đình là hiện tượng chưa từng xuất hiện ở bất cứ quốc gia châu Á nào trong lịch sử

Thứ hai, Ngự thành bại thức mục phản ánh bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội

Nhật Bản trong thập niên 30 của thế kỉ XIII, với những đặc trưng khác biệt các giai đoạn trước đó như giai đoạn thắng lợi của chiến tranh Gempei (1185-1192), giai đoạn Yoritomo cầm quyền (1192-1199), hay giai đoạn dòng họ Nhiếp chính Hojo xây dựng quyền lực (1221-1225)

Nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng một số điều luật trong Ngự thành

bại thức mục để tìm hiểu những vấn đề về quan chức võ sĩ (thủ hộ, địa đầu),

về vấn đề tố tụng, vấn đề phụ nữ , đồng thời, dẫn chứng bằng hệ thống văn bản tư liệu địa phương Tác giả luận án kế thừa tất cả thành quả nghiên cứu và

áp dụng cách thức nghiên cứu đó cho hướng đi của mình Đó là nghiên cứu về

vấn đề thừa kế tài sản trong Ngự thành bại thức mục một cách tổng hợp và

toàn diện Luận án sàng lọc tất cả những điều khoản liên quan đến thừa kế tài sản (gồm cả trực tiếp và gián tiếp), phân tích những vấn đề về thừa kế tài sản

đó phản ý tư duy luật pháp gì của những người lãnh đạo Mạc phủ, áp dụng trong thực tiễn có đúng như ý định hay không trên cả ở ba vị trí người trao, người nhận tài sản thừa kế và người phân xử

Cuối cùng, bằng việc so sánh với nội dung thừa kế trong Quốc triều

hình luật thời Lê sơ, tác giả mong muốn đưa ra một cách lý giải riêng của một

học giả Việt Nam nghiên cứu lịch sử Nhật Bản về tính đặc thù của lịch sử Nhật Bản Do chưa có công trình nào nghiên cứu về nội dung này cũng như

về mặt tư liệu chưa tìm thấy chúc thư thời Lê sơ nên luận án không đi theo

Trang 35

hướng so sánh song song mà lựa chọn những nội dung tương ứng trong Quốc

triều hình luật để phân tích Tác giả hy vọng có thể phục dựng lại bức tranh

kinh tế xã hội đương thời của hai nước từ góc nhìn thừa kế tài sản, một cách thức quan trọng nhằm duy trì và phát triển địa vị của tầng lớp trên trong xã hội với ưu thế về tài sản tư hữu và khả năng chi phối những tầng lớp khác

Trang 36

kỳ văn hóa Yayoi (弥生,thế kỉ III TCN – thế kỉ III SCN) với kĩ thuật trồng lúa nước được truyền vào theo các luồng di dân từ miền nam Trung Hoa (lưu vực sông Dương Tử) và Đông Nam Á Do có tỷ lệ diện tích địa hình đồi núi cao

mà diện tích đất canh tác lại hạn hẹp, nền kinh tế nông nghiệp của Nhật Bản

có đặc trưng là kinh tế nông nghiệp thung lũng [12] Chịu sự chi phối của hệ

sinh thái chuyên biệt của quốc đảo vùng Đông Bắc Á, diện tích đất canh tác hạn hẹp người Nhật phải thúc đẩy thâm canh, chuyên canh và trong bối cảnh

đó, ý thức về tư hữu sản suất xuất hiện sớm, phát triển mạnh Cùng với sự phát triển của kĩ thuật canh tác và sức sản xuất, quá trình phân hóa xã hội diễn

ra ngày càng mạnh mẽ Dựa trên khả năng tích lũy tài sản, một số dòng họ trở thành hào tộc có thế lực và vươn lên trở thành thủ lĩnh trong cộng đồng gồm một số thị tộc

Vào đầu thời văn hóa Kofun (古墳, III-VII), nhà nước cổ đại đã xuất hiện tại vùng Yamato với sự tập trung quyền lực về kinh tế, chính trị, tôn giáo vào thị tộc được coi là hậu duệ của nữ thần Mặt trời (天照大御神, Amaterasu Omikami) Tuy nhiên, sự du nhập của Phật giáo và ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đã gây nên nhiều biến đổi trong kết cấu xã hội của nhà nước sơ khai Tương truyền người cổ súy cho làn sóng tiếp nhận luồng tri thức mới

Trang 37

này là: thái tử nhiếp chính Thánh Đức (聖徳, Shotoku 572-621) Bản Hiến

pháp mười bảy điều (憲法十七条, Kempo jushichijo)16 cùng chế độ Quan vị

mười hai cấp (冠位十二階, Kani junikai)17 ra đời trong giai đoạn này đánh dấu một bước phát triển mới về xây dựng bộ máy chính quyền trung ương theo

mô hình nhà Đường (Trung Quốc) tại Nhật Bản thời cổ đại

Tiếp nối công cuộc xây dựng thể chế mới của thái tử Shotoku, trong thời kỳ trị vì của Thiên hoàng Kotoku (孝徳, trị vì 645 – 654) một cuộc cải cách sâu rộng đã được thi hành với tên gọi là cải cách Đại hóa (大化改新, Taika kaishin)18 Chiếu cải cách được ban hành năm 646 (大化 2, Taika thứ 2), đánh dấu sự thay đổi lớn lao về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa ở Nhật Bản Các nhà sử học Nhật Bản thường gọi giai đoạn từ cải cách Đại hóa đến trước loạn Nhâm Thân (壬申, Jinshin, 672) là giai đoạn hình thành nhà nước luật lệnh (ritsuryo kokka)

Vào cuối thế kỉ VII, hệ thống quan chế của nhà nước luật lệnh được định hình với Bộ máy chính quyền trung ương gồm hai cơ quan chính là Thần kỳ quan (神祇官, Jingikan, quan tế lễ) và Thái chính quan (太政官, Daijokan, cai quản 8 bộ

lo việc chính sự), kết hợp với sự giám sát của Đàn chính đài (弾正台, Danjodai, chăm lo về đạo đức quan chức và bảo vệ phong tục) Cơ quan bảo vệ bộ máy nhà

nước trung ương gồm 5 bộ phận là Vệ môn phủ (衛門, emonfu), Tả hữu vệ sĩ phủ

17 Chế độ này phân loại quan chức thành 12 cấp bậc được nhận biết bởi các kiểu mũ với các màu sắc nhất định Quan chức được chỉ định vào các chức vụ thích hợp tùy theo khả năng chứ không phải vì nguồn gốc gia đình

18 Cải cách Đại hóa về được công bố vào năm thứ 2 niên hiệu Taika Nội dung căn bản là sự học tập của triều đình Nhật Bản theo mô hình chính quyền và pháp luật nhà Đường dựa trên những thông tin, sách vở, ghi chép do các sứ tiết Nhật Bản cử sang Trung Quốc mang về Bản thân Thiên hoàng Kotoku cũng kỳ vọng vào sự chuyển biến dựa trên mẫu hình này nên đã đặt niên hiệu của mình như vậy Taika, đại hóa, có khả năng dựa trên các trước tác nho học của Trung Quốc, như trong Hán thư quyển 56 có câu “Người xưa lập nên quan chức nhằm Đức thiện hóa dân chúng, sau Đại hóa thì thiên hạ không ai phải chết trong ngục tù” (古者 修教訓之官務以徳善化民、已大化之後天下常亡一人之獄矣)

Trang 38

(左右衛士府, sayu ejifu), Tả hữu binh vệ phủ (左右兵府, sayu hyoefu) Chính vì

vậy, bộ máy chính quyền trung ương thời kỳ này được gọi là Nhị quan Bát tỉnh

Nhất đài Ngũ vệ phủ (二官八省一台五衛府,Nikan hassho ichidai goefu)

Sơ đồ 2.1: Bộ máy chính quyền trung ƣơng thời cổ đại

yếu dựa vào quy định trong Bát ngược (八虐, Hachi gyaku, tức 8 loại tội cơ bản)20

19 Bát tỉnh tức 8 bộ gồm:

Trung vụ tỉnh: đảm nhiệm công việc liên quan đến hoàng thất, chuẩn bị chiếu thư

Thức bộ tỉnh: đảm nhiệm công việc về nhân sự, đào tạo, nghi lễ của dịch nhân

Trị bộ tỉnh: đảm nhiệm công việc về nghi lễ của quý tộc hay tăng ni, sự vụ ngoại giao

Dân bộ tỉnh: đảm nhiệm công việc về quản lý hộ tịch hay tô thuế, tài chính quốc gia

Binh bộ tỉnh: đảm nhiệm công việc quân sự và trị an

Hình bộ tỉnh: đảm nhiệm công việc tòa án, xử phạt; quyết định về lương dân (người dân bình thường) và tiện dân (tầng lớp thấp kém)

Đại tàng tỉnh: đảm nhiệm công việc về quản lý tài chính, vật tư ; quản lý đo đạc

Cung nội tỉnh: đảm nhiệm công việc tạp vụ trong cung

20 謀反(muhen, sát hại Thiên hoàng), 謀大逆(mutaigyaku, phá hoại hoàng cung hay mộ hoàng gia), 謀叛 (muhon, phản loạn triều đình), 悪逆(aku gyaku, âm mưu sát hại ông bà bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng/vợ), 不道 (fudo, mưu đồ giết nhiều người, dùng bùa chú, hoặc hành hung bố mẹ chồng/vợ), 大不敬(taihukyo, bất kính

Trang 39

và Ngũ hình (五刑, Gokei)21 mà thi hành Việc áp dụng luật trừng phạt này không phân biệt tư pháp hay hành chính mà các quan hành chính cũng có quyền tư pháp

Thiên hoàng tuyên bố toàn bộ đất đai và thần dân thuộc sở hữu của

Thiên hoàng theo chế độ công dân công địa (公民公地, kominkochi) Triều đình phân chia ruộng đất cho thần dân theo chế độ ban điền (班田, handen) nhằm đảm bảo nguồn thu thuế ổn định Bộ phận đất thuộc quyền quản lý trực tiếp của Thiên hoàng gọi là đồn thương (屯倉, miyake) Bộ phận đất chia cho quan chức gọi chung là quan điền (官田, kanden), trong đó, đất chia cho quan chức quý tộc từ bậc 5 trở lên gọi là vị điền (位田, iden); đất dành cho những người có công lao đặc biệt gọi là tứ điền (賜田, shiden) và công điền (功田, kouden); đất ban cấp cho quan lại như quốc ty, quận ty gọi là chức điền (職田, shokuden) Ruộng đất của đền và chùa gọi là thần điền và tự điền (神田

shinden, 寺田jiden) Như vậy, cải cách Đại hóa đã làm thay đổi căn bản quan

hệ sản xuất vốn có của các thị tộc, biến phần lớn ruộng đất công làng xã thành ruộng của triều đình, biến bộ dân thành thần dân Mặt khác, việc thiết lập chế

độ hành chính từ trung ương đến địa phương, ban cấp ruộng đất cho quan chức đã tạo nên mối quan hệ ràng buộc về mặt quyền lợi và nghĩa vụ giữa triều đình với các quí tộc, hào tộc địa phương, giúp đảm bảo chế độ lương bổng cho quan chức và nguồn ngân sách

Tuy nhiên, do chính sách thuế chủ yếu đánh vào người dân mà phần lớn ruộng canh tác ở thung lũng và đất đồi, nên để canh tác, người ta phải xây dựng hệ thống thủy lợi tốn kém Mặt khác, quy trình canh tác còn phụ thuộc vào thiên nhiên khiến tình hình sản xuất bất ổn định Điều này làm cho một

bộ phận dân chúng phải trốn thuế, bỏ đi phiêu bạt, làm gia nhân cho các gia đình có thế lực hoặc tham gia các nhóm cướp bóc Năm 723 và năm 743, triều đình đã ban bố các pháp lệnh khuyến khích khai hoang và khẳng định quyền

Trang 40

sở hữu ruộng khai hoang, nhưng các lệnh này trên thực tế đã tạo điều kiện cho quan chức, quý tộc khai phá, mua bán và chiếm đoạt đất của dân thành đất tư

Tóm lại, mâu thuẫn ngay trong luật lệnh ban hành sau cải cách Đại hóa

đã dẫn đến sự thất bại trên thực tế của chế độ công địa công dân Đó là mâu

thuẫn giữa nguyên tắc sở hữu nhà nước về ruộng đất với việc công nhận tình trạng tư hữu ruộng đất của hoàng tộc, quan lại và các đền chùa Sau này, chính những vùng đất tư hữu quy mô lớn đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của hình thức tư hữu ruộng đất qui mô lớn được nhà nước công nhận là trang viên (荘園, shoen)22

Trang viên

Trong các thế kỷ VIII-IX, trang viên Nhật Bản xuất hiện hai loại chính Trước hết là trang viên hình thành trên cơ sở đất mới khai khẩn (自墾地系荘園, jikonchikei shoen) do các lãnh chủ (領主, ryoshu) trực tiếp quản lý và lực lượng khai khẩn canh tác chủ yếu là nô tì và nông dân làm thuê Do đất đai mới khai phá, canh tác khó khăn và ở xa không quản lý hết nên đến thế kỷ X, hầu hết loại trang viên này bị tan rã Loại thứ hai là trang viên hình thành trên

cơ sở đất đã canh tác (奇墾地系荘園, kikonchikei shoen) do các quan lại, địa chủ quản lý, còn người canh tác là tá điền (田堵, tato) vốn là nông dân đã bán ruộng hay kí thác ruộng, hoặc dân phiêu lãng Nhờ hệ thống quản lý gián tiếp

mà trang viên loại này duy trì lâu hơn và được nhà nước thừa nhận là đối tượng thu thuế

Song song với trang viên, bộ phận ruộng đất công vốn là quan điền ở địa phương được giao cho quốc ty quản lý và được gọi là công lãnh (公領, koryo) Vào thế kỷ X, chế độ danh điền (名田制度, myoden seido) được hình

thành trong các công lãnh, dựa trên nguyên tắc quốc ty giao ruộng công cho

nông dân khá giả đứng tên vừa trực tiếp nhậm canh vừa quản lý việc canh tác của các nông dân khác, đổi lại họ phải nộp thuế (官物, kanmotsu) theo tỷ lệ do quốc ty quy định Chế độ này chứng tỏ nhà nước luật lệnh coi trọng nguồn thu

22 Trang viên Nhật Bản giai đoạn đầu thời Nara là mô hình ruộng đất khai khẩn được hưởng một số ưu đãi như miễn một phần thuế Mô hình này ra đời nhằm tăng thêm diện tích đất canh tác

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w