Với vị trí giao thông thuận lợi, lợi thế của nguồn nguyên liệu khai thác được các sản vật nông nghiệp nổi tiếng và sẵn có tại địa phương, loại hàng hóa sản xuất không những chỉ phục vụ c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, những phát hiện đƣa ra trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tác giả
Hà Nội, ngày 05 tháng 01 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường
Tôi xin cám ơn thầy cô, cán bộ ở khoa sau đại học, khoa Lịch sử, bộ môn Nhân học trường đại học Khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Lâm Bá Nam – trưởng bộ môn Nhân học trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cám ơn các hộ gia đình, các phòng ban xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình khảo sát tại làng nghề
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 05 tháng 01 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 5
6 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu 6
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 9
1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu 9
1.2.2 Khái niệm làng nghề và nghề 10
1.3 Khái quát làng nghề Bờ Đậu 14
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 14
1.3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 18
1.4 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển nghề thủ công và làng nghề của tỉnh Thái Nguyên 22
1.5 Những thuận lợi cho việc hình thành nghề làm bánh chưng ở làng Bờ Đậu 23 1.5.1 Nhân tố tự nhiên 23
Trang 71.5.2 Nhân tố người tiêu dùng và sức ép kinh tế 25
1.5.3 Nhân tố văn hóa – xã hội 28
CHƯƠNG 2: Sự HÌNH THÀNH NGHề LÀM BÁNH CHƯNG VÀ QUÁ TRÌNH TạO RA SảN PHẩM 30
2.1 Nghề làm bánh chưng 30
2.1.1 Bánh chưng trong văn hóa dân tộc 30
2.1.2 Lịch sử hình thành nghề làm bánh chưng ở làng Bờ Đậu 34
2.1.3 Nguyên liệu làm bánh chưng 37
2.1.4 Kỹ thuật gói bánh chưng 41
2.2 Tình hình kinh doanh bánh chưng 44
2.3 Tình hình về vốn của các hộ trong làng nghề 49
2.4 Vai trò của phụ nữ trong nghề làm bánh chưng 51
2.5 Sự vận động, phát triển của hộ sản xuất và kinh doanh bánh chưng 53
2.6 Tình hình thu nhập kinh tế từ nghề bánh chưng 56
CHƯƠNG 3: TÁC ĐộNG CủA NGHề LÀM BÁNH CHƯNG ĐếN BIếN ĐổI KINH Tế, VĂN HÓA - XÃ HộI LÀNG Bờ ĐậU 59
3.1 Nghề bánh chưng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 59
3.2 Nghề bánh chưng với biến đổi về mặt văn hóa - xã hội 62
3.3 Biến đổi về cơ sở hạ tầng 65
3.4 Biến đổi về dân số, lao động và việc làm 67
3.5Xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới 70
3.6 Biến đổi về tổ chức sản xuất và kỹ thuật chế tác sản phẩm 74
3.7Vấn đề môi trường trong làng nghề 76
3.8 Chính sách phát triển nghề bánh chưng của các cấp chính quyền ở xã, huyện, tỉnh Thái Nguyên 78
3.9 Những hạn chế của nghề bánh chưng 79
Chương 4: KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN NGHỀ LÀM BÁNH CHƯNG Ở LÀNG BỜ ĐẬU 85
Trang 84.1 Thực trạng phát triển nghề bánh chưng ở làng Bờ Đậu 85
4.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghề làm bánh chưng ở làng Bờ Đậu 87
4.2.1 Giải pháp về thị trường sản phẩm 87
4.2.2 Giải pháp về vốn 88
4.2.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 92
4.2.4 Giải pháp về cung cấp nguyên liệu 93
4.2.5 Giải pháp phát triển bền vững về môi trường 95
4.2.6 Giải pháp về mặt bằng sản xuất 96
4.2.7 Giải pháp về cơ chế chính sách 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Thu nhập của người sản xuất và kinh doanh bánh chưng Bờ Đậu 57
từ 2010 – 2013 (ĐVT: VND) 57 Bảng 2: Thống kê số hộ thay đổi ngành nghề tại làng Bờ Đậu(2007 - 2012) Đơn vị: hộ gia đình 60 Bảng 3: Tỷ lệ giàu nghèo của các hộ ở làng Bờ Đậu hiện nay 62 Bảng 4: Số lượng nguyên liệu tiêu thụ theo năm của làng nghề Bờ Đậu (2010 -2014) đơn vị: tấn, (Lá dong tính theo đơn vị: cái) 86
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công cuộc Đổi mới đất nước được tiến hành một cách toàn diện từ cuối những năm 1980 ở nước ta đã đưa đến những thay đổi to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Ở khu vực nông thôn, đó là sự chuyển đổi mạnh mẽ của mô hình kinh tế, cùng với việc ruộng đất được giao cho các hộ nông dân canh tác, vai trò của kinh tế hộ gia đình được khẳng định, trở thành đơn vị kinh tế tự chủ Quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình tạo nên hiệu quả không chỉ với sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, mà còn tác động không nhỏ đến các quan hệ xã hội
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới luôn là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, một thực trạng phổ biến đang diễn ra ở nhiều vùng nông thôn hiện nay, đó là sức hút từ khu vực kinh
tế nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp trồng lúa đang ngày càng suy giảm, thực trạng người nông dân không thiết tha với đồng ruộng, bỏ ruộng, thoát ly khỏi nông nghiệp diễn ra ở nhiều địa phương, điển hình là các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam…Việc người nông dân rời xa đồng ruộng của mình cũng
là điều dễ hiểu, bởi lẽ việc sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở độc canh cây lúa không đem lại nguồn lợi kinh tế cao cho người nông dân, thậm chí còn bị thua lỗ nhiều so với việc đầu tư công sức, thời gian làm công việc khác cho nguồn lợi kinh tế cao hơn Chính vì vậy, để có thể “ly nông bất ly hương”, vừa canh tác nông nghiệp vừa có thể sống được trên chính mảnh đất làng xã
mà lại có nguồn thu nhập kinh tế ổn định và bền vững thì người nông dân phải phát triển những nghề phụ, nghề thủ công truyền thống
Hiện nay, cả nước có trên 3.000 làng nghề1, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn Riêng ở Thái Nguyên, theo thống kê của Hiệp hội làng nghề tỉnh, tỉnh Thái Nguyên có hơn 100 làng nghề, các lĩnh vực ngành nghề chủ yếu bao gồm sản xuất và chế biến chè, đồ gỗ, mây tre đan Là một trong
Trang 11những làng nghề truyền thống cấp tỉnh, Bờ Đậu (thuộc xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương) là địa phương có nghề làm bánh chưng khá nổi tiếng Nghề làm bánh chưng ở Bờ Đậu hiện thu hút gần 100 hộ gia đình trực tiếp tham gia vào các khâu sản xuất và bán sản phẩm, tạo việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động Nghề làm chưng ở Bờ Đậu đem lại nguồn thu nhập không nhỏ cho người lao động, cho các hộ sản xuất, kinh doanh, tác động và tạo nên sự thay đổi diện mạo đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội địa phương Với vị trí giao thông thuận lợi, lợi thế của nguồn nguyên liệu khai thác được các sản vật nông nghiệp nổi tiếng và sẵn có tại địa phương, loại hàng hóa sản xuất không những chỉ phục vụ cho nhu cầu hàng ngày, mà còn là một sản phẩm gắn với truyền thống văn hóa, lễ tiết theo phong tục tập quán của dân tộc , nghề làm bánh chưng ở Bờ Đậu được đánh giá có tiềm năng tiếp tục phát triển, mở rộng hơn về qui mô sản xuất, thị trường tiêu thụ
Qui trình tổ chức sản xuất, khai thác các nguồn nguyên liệu, phân công lao động, phân phối tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là hiệu quả kinh tế, nguồn thu
từ nghề làm bánh chưng đã tác động tới diện mạo đời sống người dân địa phương; cùng với những chính sách phát triển kinh tế của địa phương, tác động từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra ngày càng mạnh
mẽ là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những biến đổi về kinh tế - xã hội ở Bờ Đậu Một nghiên cứu được triển khai trên địa bàn sẽ góp phần làm nhận diện lại quá trình biến đổi kinh tế - xã hội nói trên, nhất là từ giai đoạn sau Đổi mới 1986 đến nay, cung cấp những bài học kinh nghiệm, những gợi
mở cho quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế nông thôn, khai thác những tiềm năng, lợi thế của địa phương, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn
Với những lý do trên, tôi đã chọn Nghề làm bánh chưng ở làng Bờ Đậu xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyênlàm đề tài luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành Dân tộc học
2 Tháng 12 năm 2009, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quyết định số 913-QĐ/UBND công nhận làng nghề
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi mong muốn trình bày cụ thể,
hệ thống về tình hình, lịch sử và quá trình phát triển của nghề làm bánh chưng
và vai trò của nghề với sự biến đổi kinh tế - xã hội làng Bờ Đậu - tỉnh Thái Nguyên từ sau Đổi mới đến nay trong hệ thống các làng nghề truyền thống của làng Việt ở Bắc Bộ
Làng nghề bánh chưng Bờ Đậu là một trong những làng nghề nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên và các vùng lân cận Với sự phát triển các sản phẩm làng nghề đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh, đời sống của người dân cũng ngày một tăng lên vật chất và tinh thần, đặc biệt là sự phát triển của làng nghề kéo theo sự phát triển chung của toàn tỉnh với những giá trị về văn hóa và du lịch làng nghề Hiện nay, cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn dẫn đến những thay đổi về nhiều mặt của làng nghề như vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi kết cấu hạ tầng, mức sống của đời sống của người dân, văn hóa làng xã cũng có những nét thay đổi so với truyền thống Ngoài ra, trong luận văn chúng tôi cũng tìm hiểu thực trạng phát triển của làng nghề để tìm ra những định hướng nhằm phát triển làng nghề bền vững hơn trong tương lai với những vấn đề đặt ra hiện nay như: môi trường làng nghề, du lịch làng nghề, thị trường của làng nghề, văn hóa và kinh tế làng nghề…
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tôi chọn nghề làm bánh chưng và làng nghề bánh chưng Bờ Đậu làm đối tượng nghiên cứu Trong đó, tôi tập trung nghiên cứu về nghề làm bánh chưng với những đặc diểm như: lịch sử hình thành, kỹ thuật, nguyên liệu, phân công lao động, thu nhập, thị trường tiêu thụ và làm rõ
sự tác động hay vai trò của nghề bánh chưng với sự biến đổi kinh tế - xã hội của làng nghề từ những năm 1986 đến nay, qua đó tôi cũng tìm hiểu những tác động của sự biến đổi đó đến mọi mặt đời sống của người dân trong làng nghề nhằm giúp ra những giải pháp và định hướng phát triển làng nghề bền vững trong những năm tới
Trang 13- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của luận văn là làng nghề bánh chưng Bờ Đậu, xã Cổ Lũng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Cùng với đó chúng tôi cũng nghiên cứu một số làng nghề khác trên địa bàn tỉnh để thấy được sự tổng quát phát triển kinh tế chung của cả tỉnh Ngoài ra, tôi cũng nghiên cứu hai làng nghề bánh chưng ở Hà Nội là để có sự so sánh, đối chiếu sự phát triển kinh tế - xã hội có gì giống và khác nhau
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
a Nguồn tư liệu
- Nguồn tài liệu chính và quan trọng nhất là tài liệu điền dã của tác giả luận văn Đây là nguồn tài liệu tác giả đã tự mình thu thập, khai thác, quan sát
và ghi chép theo các phương pháp nhân học, xã hội học…nhằm vào các vấn
đề mà tác giả quan tâm muốn trình bày trong luận văn của mình Có thể nói đây là tài liệu chân thực và đáng tin cậy vì tài liệu được xác minh, sang lọc qua nhiều thông tin từ phía người dân sống tại làng nghề Bờ Đậu và các cấp chính quyền ở xã Cổ Lũng, Hiệp hội làng nghề tỉnh Thái Nguyên
- Nguồn tài liệu thành văn: Tác giả luận văn sử dụng những các văn bản, báo cáo hàng năm của UBND xã Cổ Lũng, Hiệp hội làng nghề tỉnh Thái Nguyên về các vấn đề về dân số, kinh tế - xã hội làng nghề bánh chưng Bờ Đậu tỉnh Thái Nguyên Đồng thời, tác giả tham khảo các bài báo trên các tập san viết về làng nghề, đặc biệt là các bài báo nghiên cứu khoa học về làng và làng nghề của các chuyên gia, các tiến sĩ và giáo sư trong và ngoài nước Tác giả cũng tham khảo và kế thừa các công trình nghiên cứu về làng và làng nghề của các học giả để định hướng cho công trình nghiên cứu của mình
b.Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu về vấn đề này tác giả sử dụng phương pháp điền dã của dân tộc học Đây là phương pháp sử dụng xuyên suốt trong quá trình viết luận văn, với phương pháp này giúp tác giả mô tả lại chân thực những vấn đề về làng nghề như: cảnh quan, con người, quy cách làm bánh chưng, môi trường của làng nghề…cố gắng dựng lại bức tranh toàn cảnh về làng nghề
Phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích cũng là phương pháp tác giả ưu tiên sử dụng vì đây là phương pháp giúp tác giả thông kê những con số
Trang 14biến đổi hàng năm về kinh tế, số lượng dân cư tăng giảm, số nhà, số của hàng xây mới, số lượng sản phẩm làng nghề… qua đó làm cơ sở dữ liệu để phân tích thực trạng và biến đổi, so sánh đối chiếu giữa các làng với nhau
Phương pháp so sánh cũng được tác giả sử dụng nhằm có cái nhìn tổng quát giữa các làng nghề bánh chưng và giữa làng nghề bánh chưng Bờ Đậu với làng nông nghiệp thuần túy xung quanh trong cùng một thời điểm tìm ra
sự giống và khác nhau về sự phát triển kinh tế và biến đổi văn hóa xã hội Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp liên ngành và các nguồn tài liệu của các ngành khoa học khác nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác và xử
lý tài liệu
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống đầu tiên về một làng có nghề làm bánh chưng ở Thái Nguyên Đây sẽ là một công trình đóng góp vào kho tàng kiến thức về văn hóa, kinh tế - xã hội làng nghề
và nghề thủ công nghiệp của cả nước Luận văn nghiên cứu về sự hình thành, phát triển cùng những biến đổi về nhiều khía cạnh của làng nghề trong giai đoạn hiện nay, nhằm đi giải quyết bài toán: Định hướng và phát triển làng nghề trong những năm tới Có thể nói đây là công trình nghiên cứu mang tính
mô tả và thực nghiệm để tạo cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu
- Chương 2: Sự hình thành nghề làm bánh chưng và quá trình tạo ra sản phẩm
- Chương 3: Tác động của nghề làm bánh chưng đến biến đổi kinh tế, văn hóa - xã hội làng Bờ Đậu
- Chương 4: Khai thác, phát triển nghề làm bánh chưng ở Bờ Đậu (Thực trạng, vấn đề giải pháp)
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Làng xã nói chung, làng nghề, các ngành nghề thủ công làng xã nói riêng từ rất sớm đã là đề tài thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Làng xã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như dân tộc học, văn hóa học, kinh tế - chính trị học, xã hội
học Một số nghiên cứu, chuyên khảo có thể đến như Đào Duy Anh: Việt Nam văn hóa sử cương, Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ của P Ory (Paris, 1894), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của P Gourou (Paris, 1936), Hoàng Trọng Phu:Les Industries Familales de Hadong (Nghề thủ công gia đình ở Hà Đông), Vũ Quốc Thúc: L’Economic Communaliste du Vietnam (Kinh tế làng
xã Việt Nam) (Hà Nội, 1951) và Nền kinh tế công xã Việt Nam, Nguyễn Hồng Phong: Xã thôn Việt Nam (Hà Nội, 1959),Trần Từ: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (Hà Nội, 1984)
Bước vào thời kỳ Đổi mới, trước yêu cầu, đòi hỏi của thực tế đất nước, nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho việc xây dựng chủ trương, ban hành các chính sách xây dựng nông thôn mới, xuất hiện thêm nhiều các nghiên cứu về
vấn đề làng xã Có thể kể đến Làng xã và vấn đề xây dựng nông thôn mới
(Hội thảo khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1986), Chương trình khoa học
cấp Nhà nước Phát triển toàn diện kinh tế- xã hội nông thôn (KX.08) Trên các tạp chí chuyên ngành (Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Văn hoá nghệ thuật, Khoa học (Đại học Quốc gia Hà Nội), Vietnamese Studies (Etudes Vietnammiense) ) hàng loạt các luận văn về làng xã cũng được đăng tải Bên
cạnh những nghiên cứu được thực hiện độc lập bởi các nhà nghiên cứu trong nước, xuất hiện nhiều các chương trình hợp tác nghiên cứu với các tác giả
nước ngoài, có thể kể đến: Chương trình hợp tác nghiên cứu Biến đổi của làng Việt Nam từ sau thời kỳ Đổi mới và cuốn sách Vietnamese Villages in
Trang 16Transition(Background and Consequences of Reform Policies in Rural Vietnam) của Đại học Passau (Cộng hoà Liên bang Đức) do Bernhard Dahm
and Vincent J Houben chủ biên (Passau University, 1999) Chương trình hợp
tác Việt - Pháp nghiên cứu về làng xã Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng
(1996-1999) dưới sự chỉ đạo của GS Nguyễn Duy Quý, Lê Bá Thảo và
Philippe Papin, xuất bản thành tập sách Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên (Hà Nội, 2002) Chương trình hợp tác nghiên cứu Nông thôn, nông nghiệp và làng xã châu thổ sông Hồng qua trường hợp làng Bách Cốc (Vụ Bản, Nam Định) của
các nhà khoa học trong Hội nghiên cứu Việt Nam của Nhật Bản
Riêng về mảng làng nghề, thủ công nghiệp làng xã, nghề cổ truyền làng
xã , có thể kể đến: Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam (Phan Gia Bền, 1957), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam (Bùi Văn Vượng, 1998), Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam (Lâm Bá Nam, 1999), Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Quang Ngọc, 1993), Tìm hiểu các nghề thủ công điêu khắc cổ truyền (Chu Quang Trứ, 2000), Nghề thủ công trong cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng Bắc bộ (Nguyễn
Văn Chính, 1989)
Cũng đã có nhiều chuyên khảo, luận văn, luận án lấy đối tượng nghiên
cứu là từng làng xã cụ thể, như: Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ (Nguyễn Hải Kế, 1996), Mông Phụ, một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Tùng chủ biên, 2003), Truyền thống và biến đổi trong cấu trúc cộng đồng làng Việt (qua kết quả nghiên cứu làng La Tinh, xã Đông
La, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) (Nguyễn Văn Chính, 1994), Nghề dệt cổ truyền ở một làng ven đô: làng thủ công Triều Khúc (Lâm Bá Nam, 1992),
Xét về mảng biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội làng nói chung và làng nghề nói riêng cũng có khá nhiều các tác giả nghiên cứu như Lương Văn Hy (1992), Nguyễn Tùng (1999), Tô Duy Hợp (2000), Nguyễn Thị Phương
Châm (2009), Biến đổi văn hóa các làng quê hiện nay, NXB Văn hóa Thông
Trang 17Tin, Nguyễn Văn Sửu "Đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự chuyển đổi sinh kế nông dân ở một làng ven đô Hà Nội" Đề tài nghiên cứu Nhóm B, Đại học Quốc gia Hà Nội và“Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam: Trường hợp một làng ven đô Hà Nội”, Mai Thế Hởn (2002), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô Hà Nội, Luận án Tiến sĩ: “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Trần Minh Yến, Nxb Khoa học Xã hội, năm2004 “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trungương, Hà Nội, năm 2009 “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa”, TS Dương Bá Phượng, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2001, Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”,Nguyễn Thị
Thọ, Hà Nội, 2005…Đây là những công trình nghiên cứu sự biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của một khu vực làng dưới sự tác động của CNH – HĐH, đô thị hóa, các tác giả phân tích và chỉ ra những sự thay đổi từ truyền thống tới hiện đại, cùng những giải pháp phát triển trong tương lai
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về làng xã cho đến nay tập trung
ở các góc độ:
Thứ nhất, nghiên cứu về những lý thuyết và vấn đề chung về làng xã dưới nhiều góc độ chuyên môn, chuyên ngành khác nhau cho chúng ta cái nhìn khái quát về làng xã Việt Nam từ văn hóa, xã hội đến kinh tế, chính trị
và các yếu tố cấu thành nên làng xã như: gia đình, dòng họ, tôn giáo, tín ngưỡng, môi trường, cảnh quan, kết cấu hạ tầng
Thứ hai, nghiên cứu về làng nghề và vai trò của làng nghề đối với đời sống của người nông dân và hệ thống cơ cấu kinh tế làng xã
Thứ ba, nghiên cứu về sự biến đổi của làng nghề: Với vấn đề này cũng
có rất nhiều các học giả đề cập về những tác động của quá trình đô thị hóa, CNH - HĐH dẫn đến biến đổi về kinh tế, xã hội, văn hóa từ truyền thống đến
Trang 18hiện đại Những vấn đề truyền thống đến biến đổi làng xã trên các phương diện văn hóa, kinh tế, xã hội, nghề nghiệp, mối quan hệ giữa các làng với nhau, giữa làng với nước, hệ thống chính sách của nhà nước về làng nghề
Thứ tư, là các công trình nghiên cứu về các nghề riêng lẻ như nghề làm nước mắm, nghề sơn, nghề kim hoàn, nghề làm chiếu, nghề mộc, nghề gốm ở một địa phương nào đó…đây là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tính khái quát cao về một nghề cụ thể từ lịch sử hình thành, tới sự phát triển, biến đổi của nghề ấy qua chiều dài biến thiên của thời gian
Từ những công trình trên đã gợi mở cho tôi những kiến thức về chuyên ngành, liên ngành, những phương pháp nghiên cứu, lý thuyết tiếp cận về lĩnh vực làng xã, làng nghề, nghề, lao động và phương hướng phát triển ổn định, bền vững làng nghề So sánh và tiếp thu những thành tựu của các công trình trước, cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào riêng biệt về làng nghề làm bánh chưng nói chung, làng nghề bánh chưng Bờ Đậu nói riêng Đây là một dạng nghiên cứu trường hợp về một làng nghề của một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, đang trong thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ theo định hướng CNH – HĐH
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của nghề bánh chưng làng Bờ Đậu, và qua việc phát triển kinh tế nghề bánh chưng đã có những tác động đến đời sống xã hội của làng nghề trên các phương diện: biến đổi về lao động, việc làm, mối quan hệ giữa các hộ gia đình và sự phân chia giàu nghèo Tức là làm rõ cấu trúc xã hội và tái cấu trúc xã hội của làng nghề trong quá trình phát triển Để thấy được sự tác động của hoạt động kinh tế ấy với sự chuyển biến về mặt xã hội, tác giả đã sử dụng
lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens làm cơ sở cho việc lý luận và xem xét, đánh giá thực trạng cấu trúc xã hội của làng nghề bánh chưng Bờ Đậu Trong luận văn, tác giả chủ yếu phân tích cấu trúc xã hội – nghề nghiệp
Trang 19(loại hình nghề, quy mô, mạng lưới xã hội, quy mô gia đình nghề), cấu trúc xã hội - mức sống (thu nhập và chi tiêu), cấu trúc xã hội – gia đình (quy mô hộ gia đình, số hộ gia đình làm nghề, số người làm nghề), cấu trúc xã hội dân số (giới tính, độ tuổi, học vấn tham gia vào làm nghề)
Với khởi nguồn từ học thuyết Marx coi cấu trúc xã hội là cấu trúc giai cấp với mối quan hệ chủ yếu là đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, với sự quyết định bởi phương thức sản xuất và trao đổi, Anthony Giddens
đã tiếp tục phát triển với học thuyết cấu trúc hóa Theo học thuyết của Giddens cấu trúc xã hội được tạo ra và liên tục được tái tạo bởi các hành động của con người và cấu trúc xã hội biến đổi kéo theo chức năng biến đổi với hai mặt tốt xấu Ở nước ta, thuật ngữ “cấu trúc xã hội ” dịch từ “Social structure” được nhiều nhà khoa học quan niệm khác nhau Nhưng trong luận văn, tác giả
sử dụng quan niệm của PGS.TS Lê Ngọc Hùng: “Cấu trúc xã hội là hệ thống các mối quan hệ giữa con người và xã hội, có khả năng xác định hành vi, hoạt động, vị thế, vai trò của các cá nhân, các nhóm người tạo nên hệ thống
đó ”[42.Tr182] Qua sự tiếp cận lý thuyết trên để từ đó tác giả đi phân tích sự
biến đổi trong cấu trúc – mức sống, cấu trúc gia đình, cấu trúc – nghề nghiệp làng nghề là kết quả của hoạt động nghề nghiệp của người dân và các chủ thể hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng chức năng kinh tế của làng nghề sao cho tương thích với yêu cầu đặt ra từ đổi mới kinh tế sang cơ chế thị trường.[41, Tr 82-91]
1.2.2 Khái niệm làng nghề và nghề
Làng nghề thủ công là một phần không thể thiếu của làng xã nông nghiệp cổ truyền, vì nó phản ánh đầy đủ thuộc tính tự cung, tự cấp và tính khép kín cố hữu của làng xã nông nghiệp Mặt khác, làng nghề lại biểu hiện tính năng động, sáng tạo của người nông dân trong quá trình thích ứng với điều kiện địa lý, kinh tế xã hội nhất định, đồng thời thể hiện rất rõ yếu tố mở của xã hội tiểu nông
Trang 20Trước tiên, các sản phẩm của nghề thủ công khi sản xuất ra là để đáp ứng nhu cầu thường ngày của từng gia đình, sau đó mới trao đổi trong cộng đồng làng xã Sau này, do nhu cầu của xã hội nên nghề thủ công được chuyên môn hoá, hình thành nên các làng nghề, phường/hội nghề Ngoài ra, làng nghề còn được hình thành bởi yếu tố địa - văn - hoá và sức thu hút của các trung tâm chính trị, kinh tế Đây là một quy luật bất biến, bởi làng nghề hay phường/hội thủ công nảy sinh để đáp ứng nhu cầu nội tại của cộng đồng và nhu cầu của vùng miền Điểm khác biệt giữa chúng chính là tính chất của khu vực trung tâm chi phối đến tính chất sản phẩm của làng nghề
Làng nghề thủ công như là gương mặt khác của làng xã nông nghiệp,
nó là một bộ phận không thể tách rời, thậm chí phát triển song hành cùng làng
xã của người Việt Chính vì vậy, khi tìm hiểu và phân tích về làng nghề truyền thống, chúng ta thật khó có thể phân định một cách rõ ràng thế nào là làng nghề và thế nào không phải là làng nghề
Từ xa xưa, những người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp, phục vụ cho nhu cầu đời sống Các hoạt động sản xuất này đã liên kết với nhau khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội Các nghề được lan truyền và có nhiều hộ ở nông thôn cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Làng nghề đã xuất hiện như vậy trong tiến trình lịch sử Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi
đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề
Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng: “(…) làng nông nghiệp nhưng có thêm một hoặc nhiều nghề như: làng gốm Bát Tràng, làng Vân dệt lụa, làng khảm Chương Mỹ, làng tranh Đông Hồ… có thể xem đó là những làng nghề
Trang 21Vậy làng nghề là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công Những mặt hàng này đã có tính mĩ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và tới thị trường đô thị, thủ đô… và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” [78 Tr 27 - 28]
Theo tác giả Bùi Văn Vượng trong Làng nghề thủ công truyền thống,
quan niệm về làng nghề là “làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy, không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác Khi nói đến một làng nghề thủ công truyền thống, ta không chỉ chú ý các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt, tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất
và thủ pháp nghệ thuật” [77 Tr13]
Theo tác giả Đặng Kim Chi trong Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
vềLàng nghề Việt Nam và môi trường, “có thể hiểu thuật ngữ “làng nghề” là
làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và có thu nhập so với nghề nông” [14.Tr3] Điểm chung trong quan niệm của hai tác giả trên là đều nhấn mạnh đến nguồn gốc hình thành và đặc điểm nổi bật của làng nghề là trình độ kĩ thuật, còn quan điểm thứ ba lại nhấn mạnh đến căn cứ về mặt kinh tế
Như vậy, có thể hiểu làng nghề: là những làng trước đây nguồn thu cũng dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, nhưng do điều kiện khách quan nào đó
Trang 22(vị trí địa lý thuận lợi, nghề phụ có thị trường tiêu thụ rộng lớn trên bình diện vùng, miền ) các làng này đã chuyển hẳn sang sản xuất các sản phẩm mang tính chuyên biệt và nguồn thu của các sản phẩm là nguồn thu nhập chính của làng Ngoài ra, có một số làng nghề có quá trình hình thành rất đặc biệt Ví dụ như làng gốm Bát Tràng ven sông Hồng: làng được hình thành trên cơ sở bãi bồi ven sông, chỉ thuần tuý làm nghề gốm từ khi lập nghiệp (nhưng quê gốc vẫn là những làng xuất phát từ nghề làng) - đây là một minh chứng điển hình cho sức hút của Kẻ Chợ
Ngoài ra, khi nói đến làng nghề là bao gồm cả làng nghề truyền thống
và làng nghề mới Làng nghề truyền thống là loại làng nghề được hình thành
từ lâu đời, trải qua quá trình thử thách và duy trì, phát triển và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu là do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống, hoặc do du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng trong
cả nước Làng nghề mới đang có xu thế phát triển mạnh ở nhiều vùng địa phương trong cả nước
Từ một số quan niệm trên ta thấy rằng thuật ngữ làng nghề bao gồm hai
yếu tố là làng và nghề:
Theo Bùi Xuân Đính, “làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ (về cheo cưới, tang ma, khao vọng) thờ cúng riêng, tâm lý tính cách riêng và cả
“thổ ngữ” (tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử” [32.Tr 97] Làng là một tổ chức ở nông thôn nước ta, là sản
phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của con người, ở đó
họ sống, làm việc, quan hệ vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hóa với thiên nhiên, xã hội và bản thận họ
Nghề trước tiên được hiểu là nghề thủ công truyền thống cụ thể như
nghề dệt vải, nghề đúc đồng, nghề khảm trai, nghề gốm sứ…Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều có hoạt động thêm
Trang 23một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra một số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia đình mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn hoá và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại hàng hoá Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và các sản phẩm của địa phương đó không những bền đẹp mà có giá thành rẻ nên được xã hội chấp nhận Chẳng hạn quê lụa Hà Tây có làng lụa Vạn Phúc nổi tiếng cả trong và ngoài nước, hoặc nghề rèn ở Đa Sỹ…và Hà Tây nơi có nhiều làng nghề nổi tiếng nên được thiên hạ đặt tên là
“đất của trăm nghề” Không riêng Hà Tây mà hầu hết các địa phương trên cả nước ở làng quê nào ngoài sản xuất nông nghiệp đều có làm thêm một vài nghề phụ Song vấn đề quan tâm ở đây là những hoạt động ngành nghề nào được gọi
là nghề Theo quan điểm chung, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở địa phương nào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất, hoặc
hộ sản xuất đó lấy nghề đang hành làm nguồn thu chủ yếu thì mới được xem là
có nghề như cha ông thường nói “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”
1.3Khái quát làng nghề Bờ Đậu
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Làng Bờ Đậu là một làng thuộc xã Cổ Lũng, là một làng nhỏ nằm trong khu vực của xã nên nó cũng mang nhưng diện mạo chung của toàn xã Xã Cổ Lũng nằm phía nam huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, được tiếp giáp với các đơn vị hành chính theo các hướng như sau:
Phía Bắc giáp xã Vô Tranh và thị trấn Giang Tiên
Phía Đông giáp xã Sơn Cẩm
Phía Tây giáp xã Cù Vân – Huyện Đại Từ
Phía Nam giáp xã An Khánh – huyện Đại Từ
Trang 24Xã nằm ở phía nam huyện được xác định là vùng trung tâm có tiềm năng thế mạnh phát triển công nghiệp – dịch vụ, có đầu mối giao thông là ngã
ba bờ đậu để phát triển thương mại, dịch vụ, thủ công nghiệp
Làng Bờ Đậu có chiều dài khoảng gần 3km, bám dọc theo trục quốc lộ
3 (Đoạn đường đi từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn) và quốc lộ 37 (đoạn đường cắt ngang với quốc lộ 3 đi hướng Tuyên Quang) Với diện tích tự nhiên khoảng 28ha, diện tích vườn tạp chiếm 67%, diện tích còn lại là ruộng canh tác, ao hồ, đất ở và đường giao thông [1] Do vị trí tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên và nằm trên trục giao thông chính của hướng Thái Nguyên đi các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang…nên làng Bờ Đậu có rất nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển về dịch vụ và thương mại, mức đô thị hóa khá cao
Phía Đông giáp với thành phố Thái Nguyên Phía Bắc giáp với xóm Dọc Cọ và Làng Ngói, phía Nam giáp với xóm Cổng Đồn, phía Tây giáp xóm Cây Cài, phía Đông giáp xóm Bá Sơn Các xóm trên đa phần là các cư dân thuần nông nghiệp, nên vấn đề sử dụng lao động dư thừa từ các xóm này cho công việc làng nghề bánh chưng thuận lợi vì giá thành nhân công rẻ Thứ hai
là ruộng đất nông nghiệp cũng được giao khoán cho các hộ thuộc xóm bên cạnh canh tác rồi lấy sản phẩm Thứ ba, đây là nơi cung cấp một phần nguyên nhiên liệu cho làng nghề như gạo nếp, than, củi và cũng là một thị trường tiêu thụ các sản phẩm của làng nghề Là vùng ngoại thành nên vấn đề nông nghiệp chăn nuôi cũng phát triển, ngoài nghề nông một số hộ gia đình còn chăn nuôi lợn với số lượng lớn, thuận lợi cho việc cung cấp các mặt hàng nông sản, là nguyên liệu sẵn có cho việc phát triển nghề làm bánh chưng
Với vị trí tiếp giáp với những thị trường tiêu thụ bánh chưng lớn, có một vùng có các cư dân có truyền thống ăn đồ nếp như người Tày, Nùng, Thái, Sán Chay… phía các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ và tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng đã thúc đẩy cũng như yếu tố duy trì được nghề làm bánh chưng tồn tại và phát triển mạnh mẽ như ngày nay
Trang 25Có thể nói rằng, nằm trong vị trí thuận lợi nên Bờ Đậu là làng nghề đã
có nhiều chuyển biến tích cực cả về kinh tế và xã hội trong những năm gần đây Dù có lợi thế của vùng đồng bằng cho phát triển nông nghiệp, nhưng với diện tích không lớn (28ha), dân số lên tới hơn 1 nghìn người (2011), việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bờ Đậu sang hướng đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (mà nghề chính là chế biến lương thực, thực phẩm) và dịch vụ là một hướng đi đúng đắn Bởi Bờ Đậu có lợi thế về lao động, về nguyên liệu, lại thuộc vùng có thuận lợi về vị trí địa lý, với thị trường tiêu thụ lớn là thành phố Thái Nguyên và các vùng lân cận Nghề sản xuất bánh chưng đã có mặt khá lâu ở Bờ Đậu và ngày càng phát triển, mở rộng cả về quy mô và sản phẩm cũng như thị trường tiêu thụ
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã Cổ Lũng nằm ở phía nam huyện Phú Lương có địa hình tương đối phức tạp, độ cao trung bình từ 100m đến 400m so với mặt nước biển, độ dốc dưới 150
địa hình mang đặc điểm trung du miền núi bắc bộ
Trên bản đồ địa hình xã Cổ Lũng có địa hình đồi núi, đồi thấp xen kẽ với đồng bằng, địa hình thấp dần từ tây xuống Đông Nam Địa hình bằng
phẳng là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở cho sản xuất, cư trú
1.3.1.3 Khí hậu
Xã Cổ lũng có khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và có chung đặc điểm của khí hậu vùng đông bắc Được chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô:
- Mùa mưa, nóng nhiều kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Lượng mưa cao chiếm 85% cả năm
- Mùa khô, lạnh, thời tiết khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Do
vị trí địa lý nên hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Vào mùa khô, nhiệt độ và độ ẩm tương đối thấp, lương mưa chỉ chiếm 15% cả năm
- Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,30c, tất cả các tháng nhiệt độ bình quân đều trên 150C, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng tương đối cao
Trang 26- Độ ẩm trung bình năm là 82%
- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm 943 mm
- Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa mưa là gió Đông Nam và mùa khô là gió Đông Bắc
Với khí hậu khá mát mẻ tạo điều kiện cho việc bảo quản bánh chưng tốt hơn kể cả trong những tháng nóng của năm
1.3.1.4 Các nguồn tài nguyên
a, Tài nguyên đất
Sự hình thành và phân bố tài nguyên đất phụ thuộc vào địa chất, địa hình, nguồn nước do vậy theo kết quả điều tra và tổng hợp trên bảo đồ thổ nhưỡng của huyện Phú Lương thì xã Cổ Lũng có diện tích tự nhiên là 1.696,92 ha
Tài nguyên của đất đa dạng, đất thuận lợi cho trồng lúa khoảng 572,6
ha chiếm 34,7% diện tích tự nhiên Đất thích hợp trồng cây công nghiệp, cây
ăn quả, lâm nghiệp là 1022 ha chiếm 61,94% diện tích tư nhiên, đây là thế mạnh của xã để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển cây công nghiệp hàng hóa dài ngày
b,Tài nguyên nước
Trên địa bàn xã có 2 nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
- Nguồn nước mặt: Xã có nguồn nước mặt tương đối phong phú, có sông Giang Tiên chảy quanh xã, có 5 hồ đập với diện tích 5 ha Một nguồn nước mặt khác là nước mưa, với lượng mưa bình quân trên 2000 mm/năm đã
bổ sung nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất Tài nguyên nước tương đói dồi dào nhưng do địa hình, địa thế dốc, phân cắt mạnh, thảm thực vật che phủ thấp, nên mùa khô cạn kiệt, việc khai thác sử dụng còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, xã có 60 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, nhưng do chưa có kênh mương nên chưa phát huy khả năng thủy sản của xã
Trang 27- Nguồn nước ngầm: Có ở độ sâu từ 6÷12 m với chất lượng nước được coi là đảm bảo vệ sinh, về trữ lượng nước tuy chưa xác định được chính xác nhưng về mùa khô trữ lượng ít, một số nơi không đủ nước để phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Nguồn nước này chủ yếu khai thác từ giếng khơi
c, Tài nguyên rừng
Xã có 342,25 ha diện tích rừng sản xuất Diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi bảo vệ kết hợp với các chính sách giao đất giao rừng, các khu vực đất đồi núi trống đã được phủ xanh, diện tích rừng không ngừng được nâng lên
1.3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
a Sản xuất nông nghiệp
Trong những năm gần đây xã Cổ Lũng đã chủ động đưa các giống cây trồng có năng suất, giá trị kinh tế cao vào sản xuất; ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong thâm canh, luân canh tăng vụ, tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích, tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng phù hợp theo định hướng phát triển của huyện, tỉnh
Hiện nay, đất sản suất nông nghiệp trên địa bàn xã là 1288,39ha chiếm 75,92% diện tích tự nhiên của xã và có giá trị sản xuất của ngành trong tổng giá trị sản suất của xã đạt 17 %
Trong ngành nông nghiệp loại cây chủ yếu là lúa, diện tích chủ động cấy hai vụ đạt 310 ha trở nên chiếm 86 – 87% diện tích đất trồng lúa, năng suất bình quân trên 50 tạ/ha Sản lượng lương thực năm 2006 là 3.344,4 tấn, đến năm 2010 là 3.783 ha tăng 1,33 tấn Tăng bình quân 4,54%
b Lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp của xã Cổ Lũng theo kết quả thống kê đất đai, diện tích đất lâm nghiệp của xã là 342,25 ha chiếm 38,66% đất sản xuất nông nghiệp, toàn bộ diện tích đã được giao khoán tận hộ gia đình Các cây trồng chủ yếu: keo, tre mai, sản lượng khai thác hàng năm 500m³ Hiệu quả về
Trang 28kinh tế, xã hội: giải quyết công ăn việc làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình góp phần bảo vệ môi trường sống
c Chăn nuôi
Tình hình sản xuất chăn nuôi chưa thực sự phát triển mạnh, các hộ gia đình chủ yếu nuôi lợn, bò, gia cầm tận dụng nguồn nông sản sẵn có và để phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản phẩm từ chăn nuôi chưa mang tính hàng hoá
Theo thống kê năm 2010, tổng đàn gia súc, gia cầm của xã là 76.434 con Trong đó: đàn trâu, bò 291 con; đàn lợn 9.143 con, đàn gia cầm 67 ngàn con Tuy nhiên việc chăn nuôi chủ yếu là tự phát chưa có khu quy hoạch chăn nuôi tập trung, chưa có đầu ra ổn định Diện tích nuôi trồng thủy sản là 60,74
ha, sản lương đạt 40 tấn Hình thức nuôi chủ yếu là chăn thả, loài nuôi chủ yếu là
cá thịt và sản suất cá giống
d Công nghiệp và thủ công nghiệp
Xã Cổ Lũng là xã nằm phía Nam của huyện Phú Lương, tuy nhiên các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển còn chậm và mang tính nhỏ lẻ, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp chưa có sự đa dạng, chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực như: Khai thác khoáng sản, may mặc, cơ sở gia công
cơ khí máy công cụ, sản xuất gạch, ngói với quy mô tự phát, không mang tính quy hoạch đồng bộ
Trong những năm vừa qua, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của xã đã có bước phát triển, ước tính năm 2010 giá trị ngành công nghiệp, xây dừng trên địa bàn xã là 4,2 tỷ đồng mỗi năm tăng 5% Hoạt động thương mại trên địa bàn xã phát triển khá mạnh nhưng vẫn chiếm tỉ trọng thấp Xã có 1 hợp tác xã dịch vụ kinh doanh tổng hợp, 2 tổ hợp tác, 1 làng nghề và 403 cơ sở dịch vụ, thương mại như: buôn bán hàng tạp hóa, buôn bán lương thực, thực phẩm, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận tải phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, cung ứng giống, dịch vụ thủy lợi,
Tình hình cung ứng dịch vụ các sản phẩm đầu ra cho trồng trọt, chăn nuôi chủ yếu là do một số tổ chức được chính quyền ủy quyền và tư thường
Trang 29làm đầu mối hoặc trung gian bao tiêu sản phẩm Trong những năm tới cần đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ thương mại, phát triển kinh tế Chú trọng đưa các sản phẩm nông nghiệp thành sản phẩm hàng hoá trên thị trường
1.3.2.2 Dân số, lao động, việc làm
Theo thống kê năm 2013, dân số của xã Cổ Lũng là người 9200, tổng
số hộ là 2320 hộ, mật độ dân số là 525 người/km² Làng Bờ Đậu hiện nay có
236 hộ và 864 khẩu Tuy làng nhỏ nhưng do đặc thù của khu vực miền núi, nên có các dân tộc sống xen kẽ với nhau, làng có 7 thành phần dân tộc, bao gồm: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Lào, Mường, Dao Tuy có nhiều thành phần dân tộc nhưng dân tộc Kinh vẫn chiếm tỉ lệ đa số, sau đó là dân tộc Tày, các dân tộc khác chỉ có vài người và họ cũng là người di cư từ nơi khác đến do mối quan hệ hôn nhân Làng Bờ Đậu xưa kia chủ yếu làm nông nghiệp, nhưng đến nay 1/3 (gần 80 hộ gia đình) cư dân chuyển sang làm nghề gói và kinh doanh bánh chưng, còn số còn lại theo các nghề kinh doanh buôn bán hoặc nghề công chức, nghề phụ khác như sửa chữa ô tô, cơ khí Trình độ dân trí cao nhất trong các thôn của xã Cổ Lũng với 15 người học đại học, 8 người học cao đẳng, 10 người học trung cấp (khảo sát thực tế năm 2011)
Theo kết quả thống kê trên tình hình biến động dân số của xã không lớn Tỷ lệ tăng dân số khá ổn định, phản ánh tính hiệu quả tích cực của công tác tuyên truyền dân số kế hoạch hoá gia đình của chính quyền xã, người dân
đã nhận thức được tầm quan trọng của việc kế hoạch hoá gia đình, sinh ít đẻ thưa để có điều kiện phát triển kinh tế gia đình và quan tâm đến việc nuôi dạy con cái được ăn học đầy đủ
Số người trong độ tuổi lao động: 4767 người số người làm trong những lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp: 3665 người, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 76,9% Số lao động đi làm tại các tỉnh khác: 400 người Tỉ lệ lao động tại địa phương tương đối cao, đại bộ phận là lứa tuổi trung niên và người già, lớp trẻ chủ yếu đi học và làm nghề tại cơ quan doanh nghiệp Hàng năm ngành CN- TTCN, thương mại và dịch vụ ở địa phương đã tạo điều kiện
Trang 30giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân và thu hút đáng kể lao động từ các địa phương khác tới tham gia
1.3.2.3 Phát triển cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Hệ thống giao thông của xã nhìn chung là thuận lợi có hai tuyến giao thông quốc gia đi qua bao gồm: quốc lộ 3 và Quốc lộ 37, dài 5,2 km, tuyến đường sắt Quan Triều – Núi Hồng chạy qua xã 2 km, hiện nay một số tuyến đường chính của xã đã được đầu tư, bê tông hoá, tuy nhiên số lượng còn nhỏ; các tuyến đường liên thôn xóm của xã chưa được bê tông hoá, điều kiện đi lại cũng như phát triển kinh tế, xã hội của xã còn nhiều khó khăn
b Thuỷ lợi
Xã có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh Xã có 3 hồ đập lớn nhỏ chứa nước, 4 trạm bơm nước, với tổng diện tích đất thủy lợi là 3,50 ha và đất sông suối, mặt nước chuyên dùng là 44,78ha, với 4km kênh tưới đã được bê tông hóa đã cung cấp cho 50% diện tích gieo trồng Hiện nay, cơ bản đã chủ động tưới tiêu cho sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt của nhân dân
c Y tế
Trên địa bàn xã có 01 trạm y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, cơ bản đảm bảo tiêu chuẩn, định mức Hiện nay, trạm Y tế xã có 04 cán bộ y tế, trong đó có 1 trạm trưởng và 3 cán bộ chuyên môn phục vụ tốt công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân trong xã Các trang thiết bị phụ vụ công tác y
tế chăm sóc sức khỏe cho người dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn; công tác y
tế hàng tháng đều tiến hành tổ chức kiểm tra định kỳ về vệ sinh an toàn thực phẩm và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm Duy trì và thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng mở rộng và các chương trình y tế quốc gia.Trong năm
2013 Trạm y tế xã đã khám và chữa bệnh cho trên 11.255 lượt người
Trang 31d Cơ sở hạ tầng khác
+ Bưu điện - Hệ thống thông tin bưu điện: hiện nay, xã đã có điểm bưu điện văn hoá, hệ thống thông tin liên lạc của xã trong những năm gần đây đã được đầu tư, hoàn thiện, cơ bản đã đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân địa phương
+ Hệ thống lưới điện: Trong những năm qua mạng lưới điện đã được đầu tư xây dựng với hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Nhìn chung
hệ thống điện đã đảm bảo chuyển tải đủ điện năng cho các cơ quan Nhà nước, đơn vị và các hộ dân trong xã có điện thắp sáng và phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn xã
+ Hệ thống cung cấp nước sạch: Hiện nay xã chưa có hệ thống cung cấp nước sạch, người dân chủ yếu sử dụng nước sinh hoạt từ hệ thống giếng khơi của hộ gia đình Trong những năm tới, cần đầu tư, xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân.[5]
1.4 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển nghề thủ công và làng nghề của tỉnh Thái Nguyên
Làng nghề ở Thái Nguyên có lịch sử trên dưới nửa thế kỷ hình thành và phát triển, chủ yếu là sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm do biến cố của lịch sử, do biến động của thị trường giống như nhiều làng nghề trên cả nước, sự phát triển làng nghề gặp cảnh lao đao: một số nghề, làng nghề bị mai một, thất truyền; một số nghề tồn tại nhưng cũng trong tình trạng không ổn định Trong hoàn cảnh đó, những người có tâm huyết đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để giữ gìn nghề truyền thống, du nhập nghề mới Việc bảo tồn và phát triển làng nghề ở Thái Nguyên góp phần tạo thêm thu nhập, nâng cao đời sống lao động nông thôn, ổn định trật tự an ninh xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo tại địa phương
Thái Nguyên có nguồn nguyên vật liệu nông, lâm sản phong phú, nguồn nhân lực dồi dào rất thuận lợi cho phát triển làng nghề Hiện nay trên địa bàn
Trang 32tỉnh Thái Nguyên có trên 157 làng có nghề (trong đó có 32 làng đã được UBND tỉnh cấp bằng công nhận), sản xuất kinh doanh các ngành nghề chủ yếu: chè, mây tre đan, dệt thổ cẩm, vật liệu xây dựng, làm bánh bún,… Tuy nhiên, qua đánh giá thực trạng của các làng nghề trên địa bàn cho thấy điểm yếu của các làng nghề hiện nay là mẫu mã sản phẩm còn nghèo nàn, chưa xây dựng và giữ gìn được thương hiệu của làng nghề; cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất còn khiêm tốn, thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, lao động phổ thông là chủ yếu, năng lực quản lý thấp; chi phí tiêu hao nguyên vật liệu lớn, giá thành sản phẩm cao; chất lượng sản phẩm kém, chưa tạo ra được sản phẩm độc đáo, kiểu dáng, mẫu mã, bao bì chưa được chú trọng nên sản phẩm làng nghề thường thiếu sức cạnh tranh; thiếu vốn đầu tư và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vay tín dụng Do đó, sản xuất của nhiều làng nghề không ổn định, thu nhập thấp, tích lũy cho tái đầu tư còn nhiều hạn chế Nhiều ngành nghề truyền thống đang bị mai một, thất truyền
Các làng nghề đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển ngành tiểu thủ công, ngành nghề truyền thống và nghề mới, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn
Các làng nghề sản xuất, kinh doanh với 4 nhóm ngành nghề chính gồm: sản xuất, chế biến nông sản: chè, nhãn, vải, bánh chưng, sản xuất bún, bánh, chế biến đậu phụ, đường phên, dâu tằm tơ, miến dong, nấu rượu, trồng hoa, sau sạch; may, thêu ren, dệt thổ cẩm; đồ gỗ, mây tre đan, mành cọ; sản xuất vật liệu xây dựng: gạch nung, ngói xi măng Ngành nghề nông thôn đã tạo
ra nhiều việc làm và thu hút một lực lượng lớn lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động theo hướng CNH-HĐH, tạo việc làm và thu nhập ổn định, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội Mặt khác, ngành nghề nông thôn được sản xuất chủ yếu từ nguyên liệu sẵn có và tận dụng có hiệu quả tiềm năng tại chỗ
1.5 Những thuận lợi cho việc hình thành nghề làm bánh chưng ở làng Bờ Đậu
1.5.1Nhân tố tự nhiên
Trang 33Đây là nhân tố rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành
và đảm bảo sự tồn tại, phát triển lâu dài đối với bất kỳ làng nghề thủ công nào
Phần lớn hoạt động sản xuất ở các làng nghề đã sử dụng chủ yếu các nguyên liệu, vật liệu sẵn có trong địa phương Với nguồn đầu vào dồi dào tiềm năng, giá trị thấp để tạo nguồn sản phẩm đầu ra có giá trị kinh tế cao, hiệu quả
Làng nghề bánh chưng Bờ Đậu có vị trí rất thuận lợi trong việc sản xuất cũng như kinh doanh bánh chưng Llàng năm sát bên hai ven đường quốc lộ 3 và 37 đây là hai quốc lộ có số lượng xe qua lại hàng ngày rất nhiều lưu thông đi các tỉnh miền núi và đồng bằng Nên khi sản phẩm làm ra có thể bán trực tiếp cho khách qua đường mà không cần phải chở hàng đi nơi khác Điều này thuận lợi hơn làng nghề Tranh Khúc – Thanh Trì – Hà Nội Với làng nghề Tranh Khúc là làng quê, nằm khá sâu so với khu vực nội thành Hà Nội, đường xá và kết cấu làng xã vẫn mang dáng dấp là làng quê thuần túy, không
có sự lưu thông xe cộ như làng Bờ Đậu Do vậy làng Tranh Khúc không có hàng quán bánh chưng mà chỉ là nơi sản xuất Họ kinh doanh bánh chưng độc lập với nhau bằng cách mỗi hộ tự liên hệ với các đại lý trên Hà Nội để buôn bán Hàng ngày họ phải dùng xe máy hoặc xe ô tô đi giao cho các đại lý Bên cạnh vị trí thuận lợi, làng nghề bánh chưng còn có nguồn nước giếng khoan
Trang 34ngon, luộc bánh không sợ bánh vàng hay nhạt bánh Nhưng với làng nghề Tranh Khúc – Hà Nội phải dùng nước mưa, hoặc nước giếng khoan qua nhiều lần bề lọc mới sử dụng được Họ không bao giờ luộc bánh bằng nước máy do các công ty nước cung cấp
1.5.2 Nhân tố người tiêu dùng và sức ép kinh tế
Nhóm nhân tố kinh tế bao gồm các yếu tố thị trường, sản phẩm, vốn, cơ
Sự phát triển ngày càng nhanh về kinh tế khiến cho nhiều hộ gia đình không còn đủ những điều kiện để tự tay mua nguyên vật liệu về gói và luộc bánh chưng, nên làng nghề có những thị trường luôn luôn ổn định Ngoài ra, bánh chưng Bờ Đậu do nằm vị trí thuộc miền núi trung du phía Bắc, nơi có cộng đồng các dân tộc thiểu số quen ăn đồ nếp như Tày, Nùng, Dao, Thái, Sán Chay, Sán Dìu… mà bánh chưng cũng là loại bánh truyền thống trong văn hóa ẩm thực của các tộc người thiểu số
Ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề còn là nhu cầu của thị trường về các loại sản phẩm của làng nghề Có cầu thì mới có cung, nếu thị trường còn có nhu cầu về các loại sản phẩm của làng nghề thì làng nghề mới
có thể tồn tại và duy trì Cũng như vậy với những làng nghề truyền thống, sản
Trang 35phẩm làm ra là sự kết tinh của những tài hoa, là văn hoá phẩm độc đáo, nhất
là đối với người nước ngoài Để đáp ứng nhu cầu của thị trường và chống lại
sự cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp cùng loại, các làng nghề cần chú
ý đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng mẫu mã sản phẩm, phương thức vận chuyển, thanh toán
Bên cạnh đó vốn và cơ sở hạ tầng là yếu tố quyết định để phát huy các tiềm năng khác về lao động, ngành nghề các nguồn lực khác Đây là yếu tố quan trọng, là cơ sở để giải quyết các yếu tố đầu vào khác Nếu như hệ thống giao thông vận tải không được cải thiện mạnh mẽ với các tuyến đường quốc gia, đường liên tỉnh thì khả năng thông xe cho những loại xe cơ giới cơ trọng tải và kích thước lớn trở nên khó khăn, vì các loại đường liên huyện, liên xã chủ yếu dành cho các loại xe cơ giới nhỏ và xe thô xơ, hệ thống đường xá không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển lớn
Ngoài ra nhân tố khá quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề đó
là lao động và kỹ thuật Về số lượng lao động, làng nghề không chỉ gồm những người trong độ tuổi lao động mà còn bao gồm cả người già và trẻ em tham gia vào hoạt động sản xuất Những nghề là nghề truyền thống thì người già, người ngoài độ tuổi lao động lại có thể là nguồn nhân lực quý giá bởi chính những kinh nghiệm và thời gian làm nghề của họ Đây là một đặc điểm đáng lưu ý trong việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực ở làng nghề so với các ngành khác Còn kỹ thuật sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm Kỹ thuật sản xuất chưa cao sẽ dẫn đến khó khăn trong tiêu thụ,
vì thế nâng cao trình độ cho lao động làng nghề là việc làm hết sức cần thiết
để phát triển kinh tế làng nghề Nhìn chung, bánh chưng Bờ Đậu được hình thành và phát triển mạnh cũng kể đến yếu tố lợi nhuận kinh tế do kinh doanh đem lại, vì trên thực tế làng nghề bánh chưng có thu nhập gấp 3 – 4 lần so với những làng chỉ làm nông nghiệp thuần túy Đến nay, việc phát triển nông nghiệp không còn mặn mà với người dân, vì công sức và vốn bỏ ra nhiều nhưng lợi nhuận thu về không cao; thậm chí còn thua lỗ Chính vì vậy, vừa có
Trang 36thể sản xuất nông nghiệp tạo được lương thực, vừa có thể tăng thêm thu nhập người Bờ Đậu đã mạnh dạn đầu tư đẩy mạnh nghề làm bánh chưng
Trang 371.5.3 Nhân tố văn hóa – xã hội
Nhân tố này bao gồm các điều kiện nói chung về môi trường văn hóa –
xã hội của làng nghề, các chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trước hết là yếu tố truyền thống và tập quán đóng một vai trò quan trọng Đặc điểm này không chỉ chi phối các hoạt động sản xuất mà chi phối cả tiêu dùng và đời sống tinh thần của cư dân nông thôn Yếu tố truyền thống có những tác động trái ngược nhau tới sự phát triển của làng nghề Một mặt, những ràng buộc và quy ước trong luật nghề, lệ làng đề ra những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, đòi hỏi người sản xuất phải sản xuất kinh doanh một cách trung thực, đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt, thì những quy định về việc truyền nghề một cách hạn chế lại không có được những tác động tích cực tới việc mở rộng sản xuất của làng
Sự du nhập lối sống đô thị và những mâu thuẫn giữa các lối sống, các thế
hệ ở nông thôn Nhân tố thúc đẩy quá trình chuyển giao những công nghệ mới, những kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh vào nông thôn Nó cũng góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu hàng hóa trên thị trường quốc gia Tuy nhiên quá trình này cũng tạo ra một tác động bất lợi cho sự phát triển của nông thôn: sự di dân từ nông thôn ra các đô thị, các vùng có trình độ cao hơn về kinh tế và văn hóa
Ngoài ra trình độ nhận thức và học vấn của người lao động cũng có ảnh hưởng đến việc tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất
Một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của làng nghề là các chính sách của Nhà nước Chính sách của Nhà nước là tổng thể các biện pháp tác động vào nông nghiệp- nông thôn nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định phát triển kinh tế nông nghiệp-nông thôn Thực tế cho thấy, nhờ có các chính sách khuyến khích phát triển của Đảng và Nhà nước ta mà một số lớn các làng nghề được bảo tồn và khôi phục Các chính sách có vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến sản xuất làng nghề tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất hàng hoá, phát triển sức mạnh của các thành phần kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới, cải thiện mức sống của người dân nông thôn Sự tác
Trang 38động của chính sách đảm bảo cho sự thành công và phát triển của các làng nghề, phát huy những yếu tố tích cực và khuyến khích sự nỗ lực phấn đấu của người dân làng nghề Những chính sách đúng đắn, kịp thời sẽ là động cơ quan trọng tạo động lực cho phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn và từ đó góp phần phát triển khu vực nông thôn
Tiểu kết
Ở khu vực phía Bắc, khi nhắc đến các làng nghề kinh doanh bánh chưng chúng ta không lạ với các làng nghề nổi tiếng như: làng nghề bánh chưng Tranh Khúc (xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội), làng Bạc (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), làng Lỗ Khê (xã Liên Hà, Đông Anh, HN), làng Đầm thuộc xã Liêm Tuyền (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)…Bánh chưng
là loại bánh xuất hiện khá lâu đời trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam Trải qua các giai đoạn biến cố thăng trầm của lịch sử, bị các đế quốc xâm lược và đồng hóa về mặt văn hóa, thế nhưng văn hóa ẩm thực nhất là bánh chưng vẫn còn tồn tại sâu đậm trong đời sống nhân dân Việt Nam Ngày nay,
do tác động của kinh tế thị trường và đô thị hóa đã có rất nhiều gia đình không còn đủ điều kiện để gói bánh chưng trong những ngày lễ, ngày tết nên xuất hiện những làng quê chuyên gói bánh chưng để giao cho các cửa hàng bán buôn, bán lẻ trên phạm vi tỉnh và các khu lân cận Chính vì vậy, cùng với nhiều làng khác làng Bờ Đậu đã được tỉnh Thái Nguyên ra quyết định số 923/QĐ – UBND ngày 27/04/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc công nhận làng nghề , làng nghề truyền thống cấp tỉnh năm 2009 Nghề có lịch sử hình thành và phát triển gần 30 năm vì thế lao động có trình độ tay nghề chiếm tỷ lệ cao đã tạo điều kiện cho việc truyền nghề và học nghề Trong những năm qua, nghề đã mở rộng được thị trường tiêu thụ rộng lớn, tăng giá trị sản xuất và tiêu thụ nên đã thu hút được sự đầu tư của các CSSX Bên cạnh
đó, với lợi thế của làng nghề nằm ven đường quốc lộ 3 và quốc lộ 37, và khu vực ngã ba đường nên việc thu mua cũng như vận chuyển sản phẩm khá thuận lợi
Trang 39CHƯƠNG 2: Sự HÌNH THÀNH NGHề LÀM BÁNH CHƯNG VÀ QUÁ
TRÌNH TạO RA SảN PHẩM
2.1 Nghề làm bánh chưng
2.1.1 Bánh chưng trong văn hóa dân tộc
Nói đến bánh chưng hẳn không còn lạ lẫm đối với cư dân người Việt và một số các quốc gia Đông Nam Á, Bắc Á Đây là một loại bánh nếp có từ rất lâu đời trong đời sống của người Việt, thật khó xác định xem loại bánh này xuất hiện từ khi nào và cư dân của quốc gia nào là chủ nhân tạo ra loại bánh này Ở nước ta, trong 54 dân tộc anh em cũng có rất nhiều các tộc người cũng
sử dụng loại bánh này trong các dịp lễ tết đặc biệt, tiêu biểu như dân tộc Mường, Thái, Tày, Sán Chí, Nùng, Hoa, Sán Dìu…Mỗi một tộc người có cách gói và cách chế biến khác nhau, quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung
về nguyên vật liệu, cách ăn đều có những nét giống nhau
Ở nước ta, bánh chưng lâu nay vẫn được coi là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt, ban đầu được làm ra nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời Bánh chưng thường được làm vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày giổ tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm) Theo quan điểm của nhiều người, bánh chưng là loại bánh duy nhất có lịch sử lâu đời trong ẩm thực truyền thống Việt Nam còn được nhắc lại trong truyền thuyết, đồng thời có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt Gốc tích chiếc bánh chưng luôn được gắn
liền với “Sự tích bánh chưng bánh dày” trong truyền thuyết, có liên quan đến
hoàng tử Lang Liêu vào đời Vua Hùng thứ 6, sự tích muốn nhắc nhở con cháu
về truyền thống của dân tộc Và rồi xưa nay, sự tích-truyền thuyết ấy luôn là lời giải thích cho ý nghĩa cũng như nguồn cội của chiếc bánh chưng, bánh
Trang 40dày, đồng thời cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn minh lúa nước
“Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc
Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho
có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho" Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha
mẹ Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành." Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18 Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất”