CƠ sở KHOA học của PHÁT HUY sức MẠNH KHỐI đại đoàn kết TOÀN dân tộc TRONG xây DỰNG đời SỐNG văn hóa ở TỈNH bến TRE HIỆN NAY CƠ sở KHOA học của PHÁT HUY sức MẠNH KHỐI đại đoàn kết TOÀN dân tộc TRONG xây DỰNG đời SỐNG văn hóa ở TỈNH bến TRE HIỆN NAY
Trang 1CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY
Trang 2Cơ sở lý luận về phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH
Các khái niệm cơ bản
Đoàn kết, dân tộc, ĐĐKDT
a/ Khái niệm“Đoàn kết”
Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Tài Thư thì “Đoàn kết làhiện tượng nhiều người kết hợp với nhau thành cộng đồngthống nhất cùng hoạt động vì một mục đích chung” [102] Ví
dụ như: đoàn kết thì sống, chia rẻ thì chết
Bên cạnh đó “đoàn kết có khi còn được hiểu là: đồngtâm hiệp lực, tề tâm nhất trí, liên hợp, kết hợp” [102] Ví dụnhư: chúng ta cùng nhau đoàn kết lại
Đồng quan điểm với ông, dù được hiểu dưới dạng nàothì “đoàn kết” đều có nghĩa là sự kết hợp thành một khốithống nhất, chặt chẽ, cùng một mục đích chung “Đoàn kết”không phải là sự kéo bè, kết phái, tạo lập vây cánh để bao checái xấu, đi ngược lại lợi ích chung mà là sự tương trợ, giúp đỡlẫn nhau tạo nên sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ chung to
lớn hơn “Đoàn kết” chính là nguồn cội tạo nên sức mạnh.
Trang 3“Where there is unity, there is always vitory – nơi nào có đoàn kết, nơi đó có chiến thắng” (Publilius Syrus).
Điều đó được minh chứng rõ nhất qua “Câu chuyện bó đũa” - bài học vỡ lòng về sự đoàn kết Khi người cha đưa cho
các con riêng lẻ từng chiếc đũa thì chúng dễ dàng bẻ gãy,nhưng khi ông giao cho chúng cả một bó đũa thì bất kể aitrong các con cũng khó lòng thực hiện được Câu chuyệntưởng chừng như đơn giản nhưng lại chứa đựng bài học vôcùng sâu sắc, đồng thời, khái quát được rất nhiều vấn đề trongcuộc sống Một cá nhân đơn lẻ dù có mạnh đến đâu cũngkhông thể đánh bại được một tập thể nếu biết đoàn kết
Và chính vì ý nghĩa đó mà nhân dân ta đã biến tinh thần
“đoàn kết” trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc.
b/ Định nghĩa “Dân tộc”
“Dân tộc” là một khái niệm xã hội đặc biệt, đã được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, dântộc học, nhân chủng học, lịch sử, và ở mỗi lĩnh vực “dântộc” lại được tiếp cận, tìm hiểu theo các hình thức khác nhau
Vì thế mà dân tộc có rất nhiều định nghĩa
Trang 4Khái niệm “Dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa hẹp: dân tộc (tộc người) Chỉ một cộng đồngngười là một bộ phận của một quốc gia Có nghĩa là một cộngđồng người được hình thành và phát triển trong lịch sử có bađặc trưng cơ bản là chung một ngôn ngữ tộc người, một bảnsắc văn hóa tộc ngườivà có ý thức tự giác của tộc người Vídụ: dân tộc Kinh, Thái, Khơme (dân tộc = ethnic)
Ở đây, khái niệm dân tộc là tộc người có mối liên hệthống nhất, ổn định và bền vững; có chung sinh hoạt kinh tế;xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn nhữngnhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc Một tộc người thường trảiqua nhiều thế hệ, kể cả những người đã chết và những ngườichưa sinh ra, đều được tính là người cùng tộc Ngoài ra, cácdân tộc ít người thường gọi là dân tộc thiểu số, họ thường sinhsống ở vùng cao nên còn gọi là người miền núi Ngược lại,dân tộc có đông dân số, sống ở vùng đồng bằng thường đượcgọi là người miền xuôi Ví dụ: dân tộc Ê đê, H’ mông thườngsinh sống ở vùng núi cao, dân tộc Kinh, Hoa thường sống ởđồng bằng Khái niệm theo nghĩa này thường được dùng trongcác ngành dân tộc học, nhân chủng học, văn hóa học, xã hộihộc, lịch sử
Trang 5Nghĩa rộng: dân tộc (cộng đồng) Ta có thể hiểu dân tộc
ở đây đồng nghĩa với quốc gia, đất nước hay Tổ quốc Vớitầng nghĩa này dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cóbốn đặc trưng chung về ngôn ngữ; về lãnh thổ; về kinh tế; vềvăn hóa, tâm lý, tính cách Nghĩa là, dân tộc được hình thành
do sự phát triển của cộng động người qua quá trình lâu dàitrong lịch sử nhân loại Nó phát triển theo tiến trình từ thấpđến cao, từ hình thức sơ khai đến tổ chức có hệ thống Banđầu là thị tộc, bộ lạc lớn dần thành bộ tộc và phát triển mạnh
mẽ thành dân tộc Và khi một dân tộc được hình thành gắnvới hình thức tổ chức nhà nước thì sẽ gọi là quốc gia Ví dụ:dân tộc (đất nước) Việt Nam có ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế vàvăn hóa, tâm lý, tính cách khác biệt so với dân tộc (đât nước)Trung Hoa, (dân tộc = nation) Sự hình thành của một quốcgia - cộng đồng dân tộc có thể diễn ra sớm hay muộn, lâu đờihay mới xuất hiện là phụ thuộc vào điều kiện lịch sử pháttriển của từng quốc gia Và thường là các cộng đông dân tộcchâu Á xuất hiện sớm hơn các cộng đồng dân tộc châu Âu,
Mĩ, Úc Ví dụ: dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 4000 nămvăn hiến
Trang 6Với kiểu nói này, ta có thể hiểu là cộng đồng dân tộcViệt Nam được hình thành từ rất lâu đời, từ thuở Hùng Vươnglập nên một thể chế chính trị - xã hội, một nền văn hóa, mộtlãnh thổ, một tiếng nói, một ý thức tự giác của từng thànhviên trong cộng đồng đó Tất cả đều thống nhất, một lòng, tựnguyện, gắn kết với nhau trong suốt quá trình lịch sử lâu dàidựng nước và giữ nước của dân tộc.
c/ ĐĐKTDT
Theo quan điểm của CNM-LN thì ĐĐKDT bắt nguồn từ
sự liên minh của giai cấp công nông, sự đoàn kết của GCVS
và rồi nhân rộng ra đó là sự đoàn kết của các dân tộc bị ápbức, bốc lột.Mác - Ăngghen đã sớm đề cập đến mối quan hệgắn bó mật thiết giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc Vìthế, theo tư tưởng của hai ông ĐKDT là tập hợp lực lượngcách mạng để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ CNTB và xâydựng thành công xã hội mới - xã hội XHCN Bởi áp bức giaicấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc và ápbức dân tộc tác động mạnh mẽ trở lại áp bức giai cấp Có giảiquyết tốt vấn đề giai cấp-dân tộc thì mới đem lại sự thắng lợicho công cuộc cách mạng của liên minh công-nông Và điều
Trang 7tất yếu để đưa đến thắng lợi là phải có sự đoàn kết của cácdân tộc bị áp bức.
Tuy nhiên, trong thời kì lịch sử của mình Mác chỉ mớinhắc đến vấn đề đoàn kết giai cấp mà chưa trực tiếp nói vềĐKDT Dù vậy, Mác đã chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của GCVS làphải tạo được sự liên minh của giai cấp công- nông trongcông cuộc thực hiện cách mạng XHCN vĩ đại Minh chứng
cho điều đó Mác đã từng nói: “Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị” [43, t4, tr.608].
Chỉ có đấu tranh chính trị thì giai cấp áp bức mới giành thắnglợi, lật đổ sự thống trị của giai cấp bốc lột, giải phóng GCVS,hướng đến xây dựng thành công xã hội mới công bằng, dânchủ hơn.Trong Thông báo của Ban tổ chức về việc triệu tập
Đại hội Công nhân XHCN quốc tế, ông viết: “Mục đích của chúng tôi là thiết lập chế độ XHCN, chế độ sẽ đem lại cho mọi người công ăn việc làm lành mạnh và có ích, sự bảo đảm
về vật chất, thời gian nhàn rỗi và tự do đầy đủ thật sự” [44,
t7, tr.85] Vì lẽ đó, Mác khẳng định đoàn kết GCVS và nhữngtầng lớp bị áp bức, bóc lột khác để chống lại giai cấp tư sản vàtầng lớp thống trị là nhu cầu tất yếu, lẽ dĩ nhiên sẽ phải diễn
ra trong sự nghiệp cách mạng XHCN mà trong đó, GCVS là
Trang 8đóng vai trò lãnh đạo đem đến thắng lợi.Nếu không thực hiệnđược sự liên minh công nông thì GCVS chỉ là những con
người lẻ loi, đơn độc Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác từng nhắc đến: “Vô sản các nước đoàn kết lại”.
Bởi, các giai cấp bị bóc lột có cùng chung kẻ thù và chúngràng buộc với nhau bởi những lợi ích, hoàn cảnh thống nhất
Từ đó, vấn đề đoàn kết giai cấp hình thành và thắng lợicủa giai cấp cũng đồng thời mang lại dấu hiệu tích cực chogiải phóng dân tộc.Có thể hiểu, sự thống nhất về lợi ích chính
là tiền đề tạo nên sự thống nhất giữa vấn đề đoàn kết giai cấp
và ĐKDT
Và chính tư tưởng này là cơ sở cho Lênin nhận thứcđúng đắn tầm quan trọng của vấn đề ĐKDT sau này Thời đạicủa Lênin đã có những thay đổi to lớn về điều kiện lịch sử.Chính vì thế, Ông đã nhận ra rằng cuộc cách mạng XHCNkhông đơn thuần chỉ là sự nghiệp của riêng giai cấp côngnhân mà nó là sự gắn kết, hợp lực của tất cả mọi tầng lớp bị
áp bức, bóc lột và nhân dân lao động Cho nên, để sự nghiệpcách mạng thành công thì vấn đề ĐKDT cần phải được đặt lênhàng đầu.Năm 1920, Ông đã kế thừa và phát triển khẩu hiệu
của Mác thành “Vô sản tất cả các nước và dân tộc bị áp bức,
Trang 9đoàn kết lại” Khẩu hiệu của ông vẫn giữ nguyên giá trị đến ngày nay vì “đã đánh giá đúng đắn vai trò cách mạng có ý nghĩa thời đại của các dân tộc bị áp bức, chỉ ra sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, các dân tộc bị áp bức là nắm ngọn cờ dân tộc để lãnh đạo quần chúng làm cách mạng”[30,tr.511] Đồng thời, Lênin cũng chỉ rõ muốn đưa phong trào cách mạng tiến lên thì “phải kết hợp chặt chẽ lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc.”[30,tr.511]
Mối quan hệ giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc
có sự tác động qua lại lẫn nhau Bởi dân tộc muốn độc lậpthống nhất thì phải có giai cấp đại diện, giai cấp muốn hoànthành sứ mệnh lịch sử thì phải vì lợi ích chung của dân tộc.Cho nên, sự đoàn kết giai cấp gắn liền với ĐKDT, vì chúngđều dựa trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích quốc gia và lợi íchdân tộc, hay lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc
Nhìn chung, khối ĐĐKDT là vấn đề liên minh các giaicấp, các dân tộc bị áp bức, tập hợp lực lượng đưa cuộc cáchmạng đi đến thành công Đồng thời, cho thấy sức mạnh củakhối ĐĐKDT không chỉ đảm bảo cho thắng lợi bước đầu củaGCVS trong giai đoạn giành chính quyền mà nó còn đảm bảo
Trang 10cho các dân tộc trong công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng
xã hội mới - xã hội XHCN
- Văn hóa, ĐSVH, xây dựng ĐSVH
a/ Khái niệm“văn hóa”
Văn hóa xuất hiện cùng với con người và cho đến nay,
có vô số các học giả đưa ra những định nghĩa về văn hóanhưng hầu hết giữa chúng chưa tìm thấy được sự thống nhất.Người ta đã thống kê hơn 4000 định nghĩa Điều đó cho thấy,
sự xác định khái niệm “văn hóa”không đơn giản Bởi lẽ,
trong khoa học chưa có một khái niệm nào lại mơ hồ như vănhóa, cộng thêm việc mỗi nhà khoa học lại xuất phát từ góc độriêng, mục đích riêng để tiếp cận, nghiên cứu nó
Định nghĩa “văn hóa” xuất hiện từ rất lâu đời nhưng
phải đến những năm đầu thế kỷ XX - thế kỷ của văn hóa, khitriết gia người Đức Wilhelm Ostwald sử dụng vào năm 1909thì nó mới thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học thuộc cácngành khoa học xã hội và nhân văn trên khắp thế giới Theo
ông, “chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật
là văn hóa” [52, tr.35] Định nghĩa này ra đời đã thôi thúc các
Trang 11học giả bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về văn hóa Từ đó, bắtđầu xuất hiện vô số các định nghĩa.
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng nhìn
chung khái niệm “văn hóa” đều được hiểu dưới hai góc độ
rộng và hẹp; gồm hai thành phần nội hàm và ngoại diên vàngày càng hoàn thiện
Góc nhìn rộng: văn hóa bao gồm cả đời sống vật chất, xãhội, tinh thần của một cộng đồng người nhất định và có thểhiểu theo nghĩa chung nhất là những gì không phải thiênnhiên thì là văn hóa
Ở góc độ này UNESCO đưa ra định nghĩa được nhiều
nhà khoa học nhất trí: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện đại, qua bao thế kỷ, nó đãcấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [52, tr.39].
Góc nhìn hẹp: văn hóa thường được hiểu ở khía cạnhtinh thần nhưng biến đổi hằng ngày theo sự biến động của
Trang 12cuộc sống Theo nghĩa này, văn hóa được giới hạn theo chiềurộng, chiều sâu, không gian hoặc thời gian
Theo nhà Nhân học nổi tiếng người Anh, EB.Tylor trong
tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy” vào năm 1871 thì “Văn hóa
là một tổng thể phức tạp bao gổm tri thức, tín ngương, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và cả những khả năng và thói quen khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội”[1,tr.15]
Như vậy, theo định nghĩa của Tylor ta có thể thấy ông đã
xác định được bản chất, đặc trưng và nguồn gốc của “Văn hóa” Tuy nhiên nó vẫn nghiêng về mặt tinh thần mà phủ
nhận những gì thuộc về văn hóa vật chất.Đến năm 1952, dựa
trên các định nghĩa về“Văn hóa”, hai nhà Nhân loại học
người Mỹ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê và phân
loại các định nghĩa về “Văn hóa” thành các loại cơ bản như:
định nghĩa miêu tả, lịch sử, chuẩn mực, tâm lý học, cấu trúc,biến sinh và phát sinh
Nhìn chung, “Văn hóa” là một dấu ấn đặc trưng cho xã
hội loài người, khác về cơ bản với tổ chức của xã hội độngvật Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con người, được hình thành
Trang 13và phát triển từ hoạt động sáng tạo của con người trong toàn
bộ tiến trình lịch sử của các cộng động dân tộc và toàn nhân
loại Các Mác cũng đã gọi “Văn hóa” là “thiên nhiên thứ hai” tức là thiên nhiên được “nhân hóa”, được con người sáng tạo theo “quy luật cái đẹp”.[52, tr.41]“Ở nước ta, trong
Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thì văn hóa có 5 nghĩa:1.Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Ví dụ khi nói: kho tàng văn hóa Việt Nam.2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói một cách tổng quát Ví dụ như: văn hóa văn nghệ.3 Tri thức kiến thức khoa học Ví dụ như: phổ cập văn hóa.4 Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh.
Ví dụ như: Cơ quan văn hóa.5 Nền văn hóa của một thời kì lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vậttìm thấy được có những đặc điểm giống nhau Ví dụ như: văn hóa Đông Sơn.” [52,tr.35-36]
Bên cạnh đó, một trong những người nêu lên định nghĩa
về “Văn hóa” sớm nhất ở nước ta có thể kể đến là Đào DuyAnh Năm 1938, ông cho rằng văn hóa là kiểu sinh tồn của xã
hội Còn theo Hồ Bá Thâm trong “Văn hóa và bản sắc văn
Trang 14hóa dân tộc” thì “Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính chân - thiện - mỹ, do hoạt động của con người sáng tạo ra, thông qua các phương thức sinh tồn của đời sống xã hội, và ngày càng phát triển Văn hóa là sự phát triển, tiến bộ và phát triển tiến bộ là văn hóa” [67,tr.21] Trên
cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa Trần Ngọc Thêm
đã đưa ra khái niệm văn hóa trong cuốn “cơ sở văn hóa Việt Nam” như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [69, tr.14]
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có nhận xét về văn
hóa: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà nó liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sông dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản
Trang 15và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sưc đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”[69, tr.14]
Trong lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa rakhái niệm về văn hóa vô cùng gần gũi và dễ hiểu Bác viết:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
dó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[49, tr.431] Theo Bác, nhu cầu của
con người là cội nguồn văn hóa Trải qua quá trình tồn tại vàphát triển của con người đã tạo tiền đề cho văn hóa xuất hiện.Con người không thể tồn tại mà thiếu sáng tạo, và những sángtạo đó chính là văn hóa, đồng thời chính phương thức sáng tạocũng là văn hóa
Đảng ta quan niệm văn hóa đóng vai trò vô cùng to lớntrong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam Văn hóa luôngắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Nó
Trang 16là một mắt xích quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Điều đó đượcthể hiện rất rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) Nghị quyết đã
“phát thảo một chiến lược phát triển văn hóa quan trọng nhằm giữ gìn và phát huy toàn bộ di sản văn hóa thiêng liêng của dân tộc và xác lập mục tiêu hiện thực xây dựng nền văn hóa mới cho thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” [23, tr.43] Đảng đã nêu ra 05
quan điểm chơ bản về xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam:
“Thứ nhất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội Thứ hai, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Thứ ba, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thứ tư, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong
đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Thứ năm, văn hóa
là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và
sự kiên trì, thận trọng”.Và 10 nhiệm vụ cụ thể là:“Xây dựng
Trang 17con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới;Xây dựng môi trường văn hóa;Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật;Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa;Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ;Phát triển
đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng;Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số;Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa;Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa”.[23, tr.43-44]
Tóm lại, qua nhiều quan điểm khác nhau về “văn hóa”,
cá nhân nhận thấy: khái niệm về ‘văn hóa” của Bác gần gũi,
dễ hiểu Đồng thời nếu thực hiện tốt năm quan điểm và mườinhiệm vụ cụ thể về xây dựng văn hóa mà Nghị quyết trungương 5 khóa VIII đã đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện nhữngvấn đề văn hóa quan trọng mà thực tiễn cách mạng Việt Namđòi hỏi
b/ “ĐSVH”
“ĐSVH” là cụm từ bắt đầu được sử dụng phổ biến ởnước ta vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX Ban đầu, cụm
từ này được biết dưới dạng “Đời sống mới”do Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết vào tháng 3- 1947 để hướng dẫn việc xây dựng
Trang 18đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội.Theo
Bác: “Văn hóa là bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng bộ mặt tinh thần ấy không phải là cái gì cao siêu, trừu tượng, mà lại được thể hiện ngay ra trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người, rất dễ hiểu, dễ thấy.” [31,tr.443].Từ đó ta thấy, ĐSVH
là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo ra trong các lĩnh vực hoạt động sống gắn vớicác hoạt động xã hội Hay có thể nói, ĐSVH là một phức thểhoạt động văn hóa diễn ra trong thực tiễn, từ văn hóa vật chấtđến văn hóa tinh thần
Theo Đoàn Văn Chúc nếu như đời sống xã hội là toàn bộnhững hoạt động nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
trong một xã hội, thì ĐSVH được hiểu là “một phức hợp những ứng xử thành nếp, điển hình nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của các thành viên một xã hội” [14,tr.329]
Và trong cuốn Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa củaĐảng năm 2007 cũng đã chỉ ra: ĐSVH là một bộ phận của đờisống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động vănhóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhautrong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóatrong cộng đồng trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống
Trang 19con người Tuy nhiên, ĐSVH không đồng nhất với văn hóacủa một cộng đồng Bởi, ở ĐSVH ngoài những yếu tố văn hóatruyền thống, ngưòi ta còn bắt gặp cả những yếu tố văn hóamới được hình thành từ những thay đổi trong hoạt động sinhhoạt xã hội của con người.Có thể thấy, ĐSVH chứa đựngnhững yếu tố không thể tách rời các lĩnh vực của đời sống xãhội, bao gồm: Thứ nhất là Văn hóa vật thể và phi vật thể tồntại trong cộng đồng: thiết chế văn hóa, tác phẩm, sản phẩmvăn hóa, phương tiện thông tin đại chúng và truyền bá vănhóa, lễ hội, văn hóa, văn nghệ dân gian…Thứ hai là cảnhquan Văn hóa (do tự nhiên hoặc con người tạo ra): di tích lịch
sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công viên, tượng đài Thứ
ba là yếu tố văn hóa cá nhân: trình độ học vấn, nhu cầu, sởthích và thị hiếu văn hóa, phong cách sinh hoạt, văn hóa ứng
xử giao tiếp, nếp sống văn hóa…Thứ tư là những yếu tố vănhóa của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng như: gia đình, nhàtrường, cơ quan, công sở, tổ nhóm lao động, học tập
Nhìn chung, ĐSVH được tổng hợp từ sự tích lũy kinhnghiệm và kiến thức lao động qua sáng tạo, đấu tranh, pháttriển để tạo nên lối sống, đạo lý, tâm hồn ngày càng hoàn
Trang 20thiện, hướng đến chân - thiện - mỹ Đồng thời cũng tạo ra mốiquan hệ hài hòa giữa con người và môi trường sống.
c/ Xây dựng ĐSVH
Xây dựng ĐSVH là một trong những chủ trương lớn củaĐảng, Nhà nước đặt ra từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V(1981) Xây dựng ĐSVH chính là đưa văn hóa thâm nhập vàocuộc sống của nhân dân, làm cho văn hóa ngày càng là yếu tốgắn liền với mỗi con người trong xã hội Năm 1986, ở Đại hộiđổi mới của đất nước thì công cuộc Xây dựng ĐSVH đượctriển khai trên phạm vi toàn quốc Ở Đại hội VIII, Xây dựngĐSVH được xem như là một mục tiêu cơ bản, một nhiệm vụ
có ý nghĩa chiến luọc trong chương trình mục tiêu quốc gia vềvăn hóa Kì Đại hội tiếp theo, Đảng ban hành Nghị quyết
trung ương 5 khóa VIII với việc chỉ rõ “văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện giá trị mới của con người Việt Nam” [23,tr.208]
Ở những kì Đại hội tiếp theo, Đảng tiếp tục ban hành cácnghị quyết, chủ trương nhằm nhấn mạnh vai trò quan trọngcủa Xây dựng ĐSVH và đề ra những mục tiêu, chiến lược đểnâng cao chất lượng của việc Xây dựng ĐSVH nhằm, thúc
Trang 21đẩy sự phát triển mạnh mẽ nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc.
Bác cũng từng chỉ ra cách Xây dựng ĐSVH: Đời sốngmới không phải cao xa gì, cũng không phải khó khăn gì Nókhông bảo ai phải hy sinh chút gì Nó chỉ sửa đổi những việcrất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức
là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làmviệc Sửa đổi được những điều đó thì mọi người đều đượchạnh phúc Mà chắc sửa đổi được, vì nó không có gì gay go,khó làm
Trong cuốn “Đời sống mới”, Người nêu lên ba nội dung
có quan hệ mật thiết với nhau để xây dựng ĐSVH là: đạo đức
mới, lối sống mới và nếp sống mới Bác cho rằng: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi.Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu voớ dân hơn khi trước.Cái gì mới
Trang 22mà hay, thì ta phải làm Thí dụ: ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp”[31,tr.447].
Cho nên, xây dựng ĐSVH không phải là công việc mộtsớm một chiều mà cần phải tiếp tục duy trì, phát triển Tậptrung nâng cao chất lượng phong trào xây dựng ĐSVH gắnvới cuộc vận động toàn dân xây dựng NTM, ĐTVM Đâycũng chính là việc làm thiết thực, là mục tiêu hàng đầu trong
sự nghiệp phát triển văn hóa của nước ta hiện nay
- Các quan điểm về phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT
- Quan điểm lịch sử
Tinh thần đoàn kết đã trở thành một truyền thồng quýbáu của dân tộc Việt Nam ta, được hình thành và phát triểnqua quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.Truyền thống đó đã được kết tinh từ những gì thiêng liêngnhất, cao quý nhất của con người Việt Nam Nhờ tinh sự đoànkết mà dân tộc ta như xích lại gần nhau, yêu thương, gắn bóvới nhau hơn trước những khó khăn, thử thách Và cũng chínhtinh thần ấy đã trở thành nguồn cội sức mạnh, là niềm tin, làđộng lực vươn đến những chiến thắng vĩ đại cho nhân dân khi
Trang 23đối mặt với sự tàn phá của thiên nhiên và sự xâm lược của kẻthù.Truyền thống tốt đẹp đó luôn được ông cha ta gìngiữ, bảotồn và lưu truyền cho con cháu ngàn đời sau và nó mãi trườngtồn với lịch sử, cùng thời gian.
Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT đã được ông cha ta
áp dụng từ rất lâu trước đây Ngay từ thuở khai thiên lậpquốc, Lạc Long Quân đã biết dạy dân đoàn kết đánh đuổi yêuquái quấy phá dân lành Đến khi giặc Ân xâm lược, nhân dânlại một lòng đoàn kết cùng nhau thổi cơm nuôi Gióng đánhgiặc Hay như Trưng vương biết tập hợp sức mạnh người tài
từ khắp miền đất nước để chống lại lũ giặc xâm lược Hoặcnhư cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu gặp khó khăn phải lui về ẩnnúp ở núi Nưa, bà đã biết vận dụng sự kết đoàn của bà condân bản để cùng mưu nghiệp đánh đuổi ngoại bang
Sức mạnh đó càng được đẩy lên cao hơn khi Ngô Quyền
kêu gọi quân dân cùng nhau tham chiến “kẻ lên rừng chặt gỗ lim, gỗ táu, người vạt nhọn đầu rồi sau đó bịt sắt lại Tất cả những cây cọc nhọn hoắt ấy, Ngô Quyền đã sai quân lợi dụng lúc thủy triều xuống đem đóng ở cửa sông Bạch Đằng” [60,
t5, tr.14] Để rồi khi ra trận toàn quân lại phối hợp cùng nhau
làm quân thù khiếp sợ: “Trước sức tấn công dữ dội của ta,
Trang 24các chiến thuyền của giặc phải quay đầu bỏ chạy, nhưng vì nước rút quá nhanh,nên chiến thuyền đã mắc vào cọc sắt Thuyền bị vỡ và đắm rất nhiều Cùng lúc đó trên bờ sông một lực lượng khác lại dùng tên tẩm thuốc độc bắn như mưa xuống thuyền của quân Nam Hán Quân giặc phần bị giết, phần bị đuối, thiệt hại hơn quá nửa” [60, tr.16] Nhờ tài mưu
lược của ông kết hợp với sự đoàn kết của quân dân, trên dướimột lòng tạo nên một chiến tích oai hùng, mãi lưu truyềntrong sử sách với Bạch Đằng giang dậy sóng, chôn vùi quân
Nam Hán Theo nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết thì: “chiến thắng Bạch Đằng là vũ công cao cả vang dội đến ngàn thu, không chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ thôi đâu”[60,tr.17] Thật vậy,
với chiến thắng kì vĩ ấy, Ngô Quyền đã đập tan ý chí xâmlược của giặc Tàu, kết thúc thời kì Bắc thuộc 1000 năm, đấtnước không còn là một quận của phương Bắc, mở ra thời kìđộc lập, tự chủ của dân tộc sau hơn mười thế kỷ ngoan cườngchống giặc ngoại xâm Thế mới thấy sức mạnh của sự đoànkết thật lớn lao
Và đỉnh cao nhất của việc phát huy sức mạnh khốiĐĐKTDT trong lịch sử nước Việt Nam ta được thể hiện qua
ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của vua tôi
Trang 25nhà Trần Vào thế kỷ thứ XIII khi mà đế quốc Mông Cổ dưới
sự trị vì của Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân đã bànhtrướng lãnh thổ từ bờ Thái Bình Dương đến bờ Hắc Hải,chiếm toàn bộ nước Nga, một số nước Đông Âu, miền Trung
Á, Ba Tư và sau này là toàn bộ Trung Quốc Một đất nước cóquân đội hùng mạnh đến nổi vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thìnơi đó ngay cả ngọn cỏ cũng không thể mọc Thế nhưng,chúng phải chịu thất bại ba lần liên tiếp trên cùng một đấtnước, tuy nhỏ bé về địa lý nhưng lại vô cùng lớn mạnh về ýchí và tinh thần Ý chí đó là sự quyết tâm của mọi tầng lớpmong muốn giữ gìn cuộc sống thanh bình, lạc nghiệp âu ca.Tinh thần đó là tinh thần đoàn kết của toàn dân, một lòng,chung sức đánh đuổi kẻ thù bảo vệ nền độc lập chủ quyền cho
Tổ quốc Một đất nước thua kém quân giặc về nhiều mặt,nhưng trái ngược lại hơn kẻ thù ở những con người vĩ đại.Những con người đó là những bậc minh quân như vua TháiTông, Thánh Tông hay Nhân Tông; là những bề tôi mưu lượcnhư Thái sư Trần Thủ Độ, Chiêu Minh Vương - Thượngtướng, Thái sư Trần Quang Khải ; là những vị tướng tài banhư Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Đại Vương Trần QuốcTuấn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Nhân Huệ Vương
Trang 26Trần Khánh Dư, ; là những anh hùng bất tử như Trần BìnhTrọng, Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm NgũLão ; là những tướng lĩnh của dân tộc vùng cao như HàBổng, Trịnh Giác Mật; họ có thể là những người đứng đầuquốc gia, quân đội, hay cũng có thể chỉ là những người línhtận trung và có khi họ còn là những bô lão, thiếu niên, thậmchí ở họ còn có cả những người con gái chân yếu tay mềmquen sống trong nhung lụa vàng son, nhưng khi đất nước cầnthì sẵn sàng đứng lên như công chúa An Tư, Linh Từ QuốcMẫu , và trên tất cả họ là những người dân rất đổi bìnhthường, suốt ngày chỉ quen với cái cày, cây cuốc, quanh nămlam lũ ruộng đồng, tuy vậy họ cũng chẳng ngại ngần mà cầmkiếm, cầm thương để chống lại kẻ thù xâm lược.
Biểu hiện cụ thể của tinh thần đoàn kết là ở việc Thái sưTrần Thủ Độ trả lời vua Trần Thái Tông khi quân Nguyênxâm lược nước ta lần thứ nhất, năm 1258, vua hỏi ý kiến quần
thần, thì thái sư đã đanh thép tuyên bố: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” [60, tr.107] Có được sự tự tin
đó là vì Thái sư tin tưởng vào tài cầm quân của những vịtướng tài ba, tin tưởng vào tinh thần đoàn kết một lòng củaquân dân ta Ông tin, quân thù dù mạnh đến đâu cũng không
Trang 27thể chiến thắng được một đất nước khi sức mạnh tập thể hợpthành một khối thống nhất Và điều đó đã minh chứng bằngchiến thắng của quân ta ở Đông Bộ Đầu Sự tự tin đó cònđược thể hiện ở Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - làlinh hồn của cả ba cuộc kháng chiến, ở ông hội đủ đức và tàicủa một nhà quân sự, một bậc tôi trung Khi quân Mông -Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai, năm 1285 Khi vua
Trần Nhân Tông thương lượng cùng ông “Thế giặc hùng hổ như vậy, chống cự với nó thì muôn vạn sinh linh bị tàn sát hay là trẫm đầu hàng để cứu vớt muôn dân” Nghe vậy, ông
đã khẳng khái đáp “ Bệ hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng tôn miếu xã tắc thì sẽ ra sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì xin hãy chém đầu tôi đi đã, rồi hãy hàng” [60, tr.61] Khi giặc sang ông đã thực hiện kế “vườn không nhà trống”, tập
hợp toàn quân, toàn dân di chuyển về Thiên Trường, để dụđịch vào tiêu diệt Trải qua cuộc chiến oanh liệt, quân dân ta
lại tiếp tục giành thắng lợi ở Hàm Tử, Chương Dương:“Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm hồ Hàm Tử quan, Thái bình tu trí lực, Vạn cổ cựu giang san” [86, t1, tr.514]
Mặt khác, trong cuộc chiến này, ta cũng thấy được sựđoàn kết được thể hiện khi cả hai vị vương là cùng bắt tay làm
Trang 28hòa, dẹp mối hiềm khích Sau hội nghị tại bến Bình Than nhằm tạo sự đoàn kết giữa tầng lớp quý tộc và các tướng lĩnhcao cấp- Chiêu Minh Vương đi thuyền đến gặp Hưng ĐạoVương để cùng đánh cờ, bàn bạc việc quân Tại đây, khi biếtthói quen lười tắm của Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn đãsai lính nấu nước thơm và tự tay cởi áo và lau rửa giúp Cảmđộng trước nghĩa cử của người anh, Thượng tướng đã nói
-rằng: “- Tôi được Quốc công tắm cho thì quả thật là chuyện hiếm có Trần Quốc Tuấn đã vui vẻ đáp lại: - Còn tôi được tắm cho Thượng tướng thì cũng là chuyện hiếm có Rồi cả hai sảng khoái cười vang” [60, tr.58] Việc làm của cả hai đã xóa
tan mối bất hòa Tướng sĩ nhìn vào càng thêm phấn chấn tinhthần vì sự đoàn kết, thân mật của hai vị thống soái tối cao.Tinh thần đoàn kết của dân tộc ta đã được khắc sâu, in đậm từtrong sâu thẫm mỗi con người Chỉ cần đều kiện đủ là sẵnsàng phát huy Nay, khi đất nước lâm nguy, thân là hai ngườiđứng đầu quân đội thì há để tình riêng mà làm bận việc quốcgia, rối lòng chiến sĩ Đây chính là lúc tinh thần đoàn kết pháthuy thành tinh hoa văn hóa của dân tộc mà các thế hệ sau cầnlưu truyền và noi theo
Trang 29Ngoăi tăi cầm quđn, Hưng Đạo Vương trở nín vĩ đạiđược người đời ngưỡng mộ như bậc thânh vì ông đê đặt lợiích của Tổ quốc lín trín quyền lợi của gia đình khi chủ độngcủng cố khối ĐĐK trong nội bộ vă tiếp tục củng cố khối ĐĐKtrong toăn quđnthông quaBinh Thư yếu lược vă Hịch tướng sĩ.Ông viết hai tâc phẩmđể kíu gọi toăn quđn đồng lòng giếtgiặc.Theo ông, khi đất nước bị xđm lăng thì phải biết nhục:
“không những thâi ấp của ta bị tước mă bổng lộc của ngươi cũng bị người khâc chiếm lấy, không những gia thuộc ta bị lùa mă vợ con câc ngươi cũng bị người khâc bắt mất; không những xê tắc tổ tông bị người khâc giăy xĩo, mă mồ mả cha
mẹ câc ngươi cũng bị người khâc bới đăo; không những đời năy ta bị nhục, dù trăm đời sau, tiếng dơ khôn rửa, tín xấu mêi còn, mă đến gia thanh câc ngươi không khỏi mang câi nhơ lă tướng thua trận” [86,t1 tr.556] Vă kết quả lă tất cả
binh sĩ hừng hực chí cđm thù, nguyện cùng xđm lín người hai
chữ “Sât thât” để thể hiện lòng quyết tđm, sự đoăn kết, thề
đem xương mâu đânh đuổi quđn thù, giănh lại đất nước Quđn
sĩ tin ông như cha, tướng lĩnh xem ông anh em ruột thịt Vẵng cũng đối đêi với họ bằng câi tđm Một lần khi giao chiếnvới quđn Nguyín, Hưng Đạo Vương định rút quđn theo
Trang 30đường núi, nhưng vì trước đó Yết Kiêu đang giữ thuyền ở Bãi
Tân nên Dã Tượng nói: “Yết Kiêu chưa thấy đại vương, tất không dời đi chỗ khác.” Thật vậy, khi vương đến Yết Kiêu vẫn neo thuyền ở đấy chờ Vương mừng lắm, nói rằng:
“Chim hồng hộc bay cao được là nhờ ở sáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì cũng như chim thường thôi.” [86, t1, tr.504] Ý vương đã rõ, người tài mấy mà
không có sự tương trợ của mọi người thì cũng không thể làmnên đại nghiệp thiên thu Chỉ có sức mạnh của sự đoàn kếtmới tạo thành công Đó cũng chính là nguyên dân dẫn đếnnhững thắng lợi liên tiếp của quân dân ta trước mọi thế lựcthù địch
Thời đại nhà Trần không hổ danh là đỉnh cao của dântộc Khi trên mọi lĩnh vực đều tạo được những dấu ấn mà chođến ngàn sau còn ngưỡng vọng Với một Hội nghị Diên Hồng
mở rộng khối ĐĐK toàn dân tộc: “Trước câu hỏi: Nên hòa hay nên đánh? Thì cảm động thay các bậc bô lão tóc bạc trắng đều đồng thanh: Quyết đánh!”[60, tr.60] từng tiếng hô vang thể hiện lòng quyết tâm vạn người như một: “Toàn dân nhất trí chấp hành mệnh lệnh kháng chiến: Tất cả các quận, huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà
Trang 31đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẫn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng” [60, tr.60] Mệnh lệnh được treo
khắp mọi nơi và người đều thực hiện, toàn dân cùng một ýchí, khí thế ấy,tinh thần ấy như còn sôi sục cho đến tận ngàynay.Hay đến những chính sách, binh pháp thật hữu ích KhiHưng Đạo Vương lâm bệnh sắp mất, vua Anh Tông đến thăm
và hỏi ông về sách lược lâu dài với phương Bắc, ông trả lời
rằng: “Tóm lại có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được Vả lại, khoan sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước vậy” [86,t1,tr.548-
549] Tư tưởng của ông cách cả hàng thế kỷ vẫn không hề maimột Ông xứng đáng được suy tôn là Đức Thánh Trần
Những con người đã làm nên thời đại Với những chiếncông mang tầm quốc tế Những con người ấy đã hòa linh hồnmình vào đất nước, làm kết tinh cho tinh thần đoàn kết của cảdân tộc Quả thật đáng tự hào về thời đại Hào khí Đông A
Tinh thần của thời đại đó còn được tiếp nối đến thời của
Lê Lợi, Nguyễn Trãi Những con người ngoan cường, khôngmàn gian khổ, nếm mật nằm gai hơn hai mươi năm, kiên trìvượt qua mọi nguy nan thử thách cốt yếu để giành lại độc lậpchủ quyền cho đất nước Chỉ với 18 con người thuở ban đầu ở
Trang 32hội thề Lũng Nhai Họ chung tay cắt máu ăn thề, thề một lòng
với sự nghiệp cứu non sông: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cớ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” [87, t2, tr.118-119].
Binh thư sách lược từ thời Trần của Hưng Đạo Vương đãđược nghĩa binh Lam Sơn áp dụng thật hiệu quả Họ là binh,
là tướng nhưng cũng là “phụ tử” Họ chiến đấu bên nhau, hysinh cùng nhau, họ xem nhau như người thân ruột thịt Tất cảtrên dưới một lòng cùng chia sớt khó khăn Dù phải trải quabao lần thất bại nhưng họ vẫn kiên trì vớiý chí kiên cường,quyết tâm sắc đá Có thể nói cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giànhđược thắng lợi to lớn là nhờ vào lòng dân, nhờ tinh thần đoànkết không chịu khuất phục của Lê Lợi và nghĩa binh Khihoạn nạn họ nhận được sự chở che của nhân dân, của anh emđồng đội Đó là khi Lê Lợi thua trận chạy ngang cánh đồngđược gia đình nông dân giúp đỡ Là lúc Lê Lai quên mình,
khoác chiến bào thay vua mở đường máu, nên có câu: “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” Lê Lai xả thân cứu chủ, Nguyễn
Trãi cũng hao tâm tổn trí dâng sách lược Bình Ngô để giúpminh quân Nếu Lê Lai gắn liền với Lê Lợi ở tấm lòng dũngcảm hy sinh thì Nguyễn Trãi lại kề vai sát cánh cùng ông ở sự
Trang 33tương trợ, đồng tâm: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”.
Mặt khác, hình ảnh Lê Thận ba lần nhặt được lưỡi gươm, đemdâng Lê Lợi, kết hợp cùng chui Lê Lợi tìm thấy trên cây, đã
tạo nên một thanh gươm báu “Thuận Thiên” Hình ảnh đó thể
hiện rất rõ sự đoàn kết quân dân trong cuộc khởi nghĩa trường
kì ấy Nó cho thấy, nếu chỉ có chuôi gươm - tượng trưng cho
Lê Lợi, người đứng đầu nghĩa quân mà không có lưỡi gươm đại diện cho nghĩa binh, cho nhân dân cả nước, thì cả hai đều
-vô dụng Do đó, cần có sự kết hợp, tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau thì nghiệp lớn mới thành
Truyền thống đó, đến thời Quang Trung Nguyễn Huệ đãnâng lên thành thuật đánh giặc, giữ nước Vua đã kết hợptuyệt vời giữa tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhaucủa dân tộc ta với thuật hành binh trong chiến đấu để làm nêncuộc tiến quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long, vừa hành
quân vừa chiêu mộ binh linh, tập hợp nhân dân: “Cứ ba người một tốp, luân phiên khiêng võng lẫn cho nhau Suốt đường đi ai cũng được nằm võng và khiêng võng Nhờ vậy họ
đi được nhanh mà không mất sức” [60, tr.106] Trong suốt
đường đi ông luôn khích lệ tinh thần tướng sĩ nhằm làm tăng
sĩ khí và ý chí chiến đấu cho họ “nhà vua cho tổ chức duyệt
Trang 34binh để biểu dương lực lượng và cổ vũ quân sĩ trước khi bước vào cuộc chiến đấu sống mái với giặc Ngồi trên bành voi, vua ra lệnh: - Trong các quân của ta, ai muốn đánh thì hãy vì
ta mà diệt hết lũ chó Ngô Nếu không muốn đánh thì hãy xem
ta chỉ trong một trận giết hàng vạn người cho coi, không phải nói khoác đâu Quân sĩ dạ ran như sấm Núi rừng rung động Chiêng trống vang rền.” [60, tr.106] Mặt khác, Quang Trung rất biết cách khơi gợi lòng tự hào dân tộc trong quân sĩ “ra đến Thanh Hóa, nhà vua cho dừng quân, tiếp tục tuyển thêm quân rồi làm lễ tuyên thệ với quyết tâm sắt đá: Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chích luân bất phân Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.” [60, tr.106] Đồng thời, nhà vua
còn rất am hiểu lòng quân Khi ngày Tết gần kề, dù hành quânnhưng vua cũng không quên cho quân ăn Tết trước và hứađến mùng 7 khi vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc ăn mừngchiến thắng Không chỉ rõ dạ quân ta, vua cũng tường lònggiặc Ông thừa hiểu, những ngày Tết chúng sẽ lơi là phòng bịnên quyết tâm đánh nhanh thắng nhanh để chúng trở taykhông kịp Tuy chiêu mộ được đông binh sĩ nhưng so vớicường quốc như nhà Thanh thì quân lực ta kém xa Hiểu vậy
Trang 35nên vua dặn binh sĩ: khi loa gọi giặc hàng thì “quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vạn người!” [60, tr.108]
Bằng thiên tài quân sự của mình, tiên liệu trước mọi tìnhhuống Vua Quang Trung với 5 ngày kì diệu (từ 30 tháng Chạpnăm Mậu Tuất đến mùng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu) đãđánh cho quân giặc thua tan tác, không gì chống đỡ nổi, quétsạch 29 vạn quân Thanh ra khỏi cõi bờ Một chiến thắng vớikhí thế ngút trời, khi quân dân hòa cùng một chí
Truyền thống đoàn kết ấy được hình thành và phát triểnmạnh mẽ qua mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam là dựatrên cơ sở của lòng yêu nước mãnh liệt của nhân dân ta Chỉ
có thể là lòng yêu nước mới khiến cho một đất nước nhỏ bésản sinh ra những thiên tài Từ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứquân, thống nhất đất nước, đem lại thanh bình cho nhân dân.Đến Lê Đại Hành người mà theo sử thần Ngô Sĩ Liên là:
“đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục thiên di bắt sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ” - một con người đã làm mạnh
thêm cho nước Nam Và cũng chỉ có lòng yêu nước thiết tha,
Lý Thường Kiệt mới có thể quên mối thù riêng, mời Lý Đạo
Trang 36Thành trở về giúp đất nước trước cảnh lâm nguy, để rồi làmnên chiến thắng trên sông Như Nguyệt với bài thơ Thần mang
ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân
tộc:“Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” [85, t1, tr.330] Áng thiên cổ hùng văn ấy
được cất lên giữa một không gian huyền bí không chỉ khiếncho quân giặc khiếp sợ mà còn khơi gợi lòng tự hào dân tộc,giúp gắn kết lòng quân, làm cho họ hừng hực khí thế chiếnđấu Và trên cả, bài thơ như khẳng định mạnh mẽ chủ quyềncủa đất nước ta Dù một li cũng không sai biệt, một tất cũngkhông thể đánh mất! Cho đến nay, nó vẫn còn vẹn nguyên giá
trị.Có yêu nước Hưng Đạo Vương mới cảm thấy: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận không được ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu quân thù, tuy trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây
ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.” [86,tr.59] Có
yêu nước Lê Lợi mới nguyện đem tất cả sản nghiệp ra mà tập
hợp bốn phương manh lệ để dựng cờ khởi nghĩa: “Ta đây dấy quân đánh giặc không phải vì tham phú quý mà muốn cho ngàn đời sau biết rằng, dân Nam ta không bao giờ chịu thần
Trang 37phục bọn giặc Minh bạo tàn, ngang ngược ” [60, tr.81] Vì
vậy mà “người kéo về dằng dặc, người rước nhau ùn ùn, từkhắp nơi kéo đến” qui phục dưới cờ nghĩa Lam Sơn Hay nhưNguyễn Huệ vô cùng đau lòng và tức giận khi Lê ChiêuThống cổng rắn cắn gà nhà, rước vôi về dày xéo mả tổ.Lòngyêu nước còn được biểu hiện qua việc Trần Quốc Toản vìkhông được dự hội nghị luận bàn việc đánh giặc cứu nước màtức giận bóp nát quả cam khi mới 15 tuổi Vị thiếu niên anhhùng ấy với lòng căm thù giặc đã lập nên một đội quân cảm tử
nguyện hy sinh vì nước với lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân” Hay như Trần Bình Trọng, khi bị
giặc bắt, chiêu hàng Ông đã đấm thẳng vào mặt kẻ thù bằng
câu nói: “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” [60, tr62] Một sự kiên định, không gì khuất phục được.
Sẳn sàng hy sinh bản thân để bảo vệ minh chủ, chấp nhậnchọn cái chết để không hổ thẹn với quê hương Sống làmngười nước Nam, chết vẫn nguyện làm ma đất Việt Một tinhthần yêu nước mãnh liệt, tuyệt vời!
Tinh thần ấy còn kéo dài mãi đến những anh hùng ở thế
hệ sau như: Bình Tây đại nguyên soái -Trương Định, mấy trận
Gò Công nức tiếng đồn; như Võ Duy Dương, Tháp Mười lưu