Trong dạy học bộ môn Lịch sử, trình bày là con đườngđể học sinh thể hiện được vốn kiến thức đã học, đã nắm bắtcũng như phát triển những kiến thức đó không chỉ dừng lại ởmức độ thông hiểu
Trang 1PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRÌNH BÀY CHO HỌC SINH GIỎI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 2Trong dạy học bộ môn Lịch sử, trình bày là con đường
để học sinh thể hiện được vốn kiến thức đã học, đã nắm bắtcũng như phát triển những kiến thức đó không chỉ dừng lại ởmức độ thông hiểu mà còn ở mức độ vận dụng và vận dụngcao
Về khái niệm năng lực, đây là một khái niệm lớn, mới vàkhá phức tạp, đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau vì không
có một khái niệm nào hoàn chỉnh được tất cả mọi người thừanhận
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2001),năng lực được định nghĩa theo hai cách hiểu khác nhau:
“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn
có để thực hiện một hoạt động nào đó”[55, tr.660].Hoặc
Trang 3“Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngườikhả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chấtlượng cao” [55, tr.661].
Theo tác giả Thái Duy Tuyên trong cuốn “Những vấn đề
cơ bản củagiáo dục học hiện đại” đã định nghĩa: “Năng lực là
những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là điều kiện chủ quan đểthực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhấtđịnh”[49,tr.68].Như vậy, năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩnăng, kĩ xảo Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bềnvững với phạm vi ảnh hưởng của hoạt động ở tính sáng tạo, tínhđộc lập của phương pháp hoạt động
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn, “Năng lực là
tổ hợp các thuộc tính độc lập của cá nhân phù hợp với nhữngyêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động
đó hoạt động có kết quả” [54, tr.178]
Trong tài liệu tâp huấn “Một số vấn đề đổi mới về
chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông” của Bộ
Giáo dục và Đào tạo (tháng 5 - 2015), khẳng định: “Năng lực
là tổ hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một người vớinhững phẩm chất (giá trị) riêng của mình, cần vận dụng để
Trang 4thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh nhất định” [12,tr.45].
Như vậy, dù có những định nghĩa khác nhau, cách diễnđạt khác nhau nhưng nội hàm của khái niệm năng lực chính làkhả năng làm việc tốt nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độchuyên môn Các định nghĩa trên đều phản ánh những nănglực bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ và phẩm chất
Nói đến năng lực là nói đến khả năng có thể thực hiệnđược và thể hiện tốt một hoạt động nào đó của chủ thể Đểhoạt động có kết quả, chủ thể phải có những hiểu biết về kiếnthức, về phương pháp hoạt động và có sự nỗ lực, tập trung đểhoạt động kết thúc nhanh, có hiệu quả
Đồng thời, cơ sở để hình thành và phát triển năng lực làhoạt động, kiến thức và trạng thái tâm lí phù hợp như: hứngthú, ý chí… Năng lực được biểu hiện ở các mức độ khác nhauthông qua chất lượng của hoạt động và sự nhạy bén, làm chủtình huống để thực hiện tốt hoạt động ở một lĩnh vực nào đótrong các tình huống khác nhau
Năng lực được chia thành hai loại là năng lực chung vànăng lực riêng biệt Hai loại năng lực này luôn luôn bổ sung,
Trang 5hỗ trợ nhau Năng lực chung là năng lực cần thiết để conngười có thể hoàn thành những hoạt động của mình một cáchhiệu quả dựa vào quan sát, tư duy, tưởng tượng… Còn nănglực riêng biệt hay còn gọi năng lực chuyên môn là sự thể hiệnmột cách độc đáo các phẩm chất riêng biệt của mỗi cá nhân,
nó mang tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt độngcủa con người đạt kết quả cao như năng lực toán học, nănglực âm nhạc, năng lực thể dục thể thao…
Cùng với năng lực thì tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là rất cầnthiết cho việc thực hiện một hoạt động nào đó đạt kết quả.Những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo không đồng nhất với nănglực mà có sự thống nhất biện chứng, có mối quan hệ mật thiếtvới năng lực Ngược lại, năng lực giúp cho việc tiếp thu trithức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với năng lực đóđược vận dụng vào thực hiện dễ dàng hơn
Một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dụcnước ta hiện nay là phát triển và bồi dưỡng năng lực cho họcsinh nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡngnhân tài Năng lực của mỗi người chịu ảnh hưởng của đặcđiểm tâm lý cá nhân, các yếu tố bẩm sinh di truyền, điều kiệncủa môi trường sống… Nhưng điều chủ yếu là năng lực được
Trang 6hình thành, phát triển, thể hiện trong hoạt động của con ngườidựa vào quá trình dạy học, giáo dục và tự rèn luyện Vì vậy,mỗi cá nhân khác nhau thì năng lực cũng khác nhau Chúng tanên tiếp cận vấn đề phát triển năng lực theo hướng tiếp cậnnhân cách của mỗi người học vì việc hình thành và phát triểnnhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển nănglực.
Đối với môn Lịch sử, để dạy và học hiệu quả, người giáoviên cần nắm được một số những năng lực chung như sau:
Trang 7Bảng biểu hiện các năng lực chung của học sinh trong dạy
học môn Lịch sử
Năng lực
chung
Biểu hiện trong môn Lịch sử
Nhóm NL chủ động, tích cực tìm kiếm tri thức mới
NL tự học - Khả năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh
ảnh lịch sử, phim tư liệu để tự tìm hiểu nộidung lịch sử thông qua kênh hình
- Đọc và phát hiện kiến thức cơ bản trongSGK Lịch sử
- Khả năng tự tìm hiểu kiến thức lịch sửthông qua tài liệu tham khảo
- Kết hợp đọc SGK với nghe giảng và tự ghichép
- Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi
- Khả năng tự hệ thống kiến thức ôn tập, củng
cố kiến thức
Trang 8- Lựa chọn được cách giải quyết vấn đề lịch
sử, vấn đề tình huống thực tiễn một cách tốiưu
- Trình bày được diễn biến cuộc kháng chiến,trận đánh, chiến dịch, cuộc chiến tranh trênlược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử
- Vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn của cuộc sống, haycác vấn đề thời sự đang diễn ra trong nước vàthế giới
- Xác định và giải quyết được mối liên hệ,ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sửvới nhau
NL sáng tạo
trong học tập
- Tư duy tái tạo (Kĩ năng ghi nhớ sự kiện,
Trang 9tưởng tượng, kĩ năng tái tạo…)
- Tư duy sáng tạo (Kĩ năng so sánh, kĩ năngphân tích, kĩ năng phản biện, kĩ năng kháiquát hóa…)
- Trả lời câu hỏi, bài tập lịch sử khái quát
- Nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từnhững sự kiện, biểu tượng, nhân vật, vấn đềlịch sử
Nhóm NL về vận dụng tri thức lịch sử trong ứng xử xã hội
và hợp tác cùng học tập
NL giao tiếp - Khả năng sử dụng được kiến thức lịch sử đã
học để giải thích một hiện tượng xã hội cóliên quan
- Khả năng tái hiện lịch sử nhằm phục vụ chomột vấn đề hoặc sự kiện liên quan
- Khả năng sử dụng vốn kiến thức và thái độbiểu cảm lịch sử để thể hiện quan điểm, chínhkiến về một sự việc liên quan
Trang 10- Khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức lich
sử và các kiến thức xã hội khác để giải quyếtnhững vấn đề cụ thể
- Sử dụng phần mềm dạy học như sơ đồ tưduy, Powerpoint để trình bày nội dung lịchsử
NL sử dụng
ngôn ngữ
- Khả năng trình bày, lập luận, thể hiện chínhkiến của mình về một nội dung kiến thức lịch sửbằng ngôn ngữ viết
- Khả năng thuyết trình bằng lời nội dung kiếnthức lịch sử
Trang 11NL tính toán Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộ
môn Lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thịlịch sử
- Biết chọn lọc thông tin, tư liệu lịch sửchân thật, có giá trị
- Phân biệt được đâu là tự liệu thật, tưliệu gốc, biết những thông tin không chânthực về các sự kiện, hiện tượng lịch sử
2 Xác định
mối liên
- Hiểu được bản chất của các sự kiện,
Trang 12- Khôi phục được bức tranh lịch sử với cácyếu tố chính về thời gian, địa điểm, nhânvật, diễn biến, kết quả.
Trang 13- Xem xét những tác động của nhữngđiều kiện đối với các sự kiện, hiện tượnglịch sử.
- Đánh giá được các sự kiện, hiện tượnglịch sử vừa phải đảm bảo tính kháchquan, trung thực của lịch sử, vừa phảiđảm bảo tính tư tưởng, giá trị dân tộc, giátrị nhân văn
Trang 14- Biết cập nhật, nhạy bén với những vấn
- Thuyết trình, trình bày, kể lại được lịch sử rõràng, dễ hiểu
Trang 15[48, tr.27]
Từ năng lực chung và các năng lực riêng biệt của họcsinh trong học tập môn Lịch sử tại trường THPT, chúng ta cóthể thấy rằng năng lực trình bày của bộ môn Lịch sử nằmtrong nhóm NL công cụ và là một trong những NL chuyênbiệt cần phát triển cho học sinh giỏi nói riêng và cho tất cảhọc sinh nói chung trong quá trình dạy học môn Lịch sử tạitrường THPT
Từ những quan điểm nêu trên, theo chúng tôi, năng lực trình bày của học sinh trong quá trình học tập lịch sử là khả năng diễn đạt (bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ hình thể) những hiểu biết về các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, quy luật, bài học lịch sử một cách rõ ràng, dễ hiểu, logic chặt chẽ Đối với năng lực này, học sinh không
Trang 16chỉ hiểu đơn vị nội dung kiến thức mà hơn thế còn phải thểhiện nó một cách logic, dễ hiểu bằng văn phong trong sángcủa mình.
- Các dạng trình bày trong môn Lịch sử ở trường phổ thông
- Trình bày dưới dạng ngôn ngữ nói (trình bày miệng)
Trình bày dưới dạng ngôn ngữ nói hay còn gọi là trìnhbày miệng là một dạng trình bày phổ biến nhất và thường gặpnhất trong cuộc sống nói chung và trong học tập nói riêng.Trình bày miệng là phương thức đơn giản nhất để truyền đạtđược nội dung kiến thức của giáo viên đến với học sinh vàcũng là con đường nhanh nhất, thuận lợi nhất để học sinhtrình bày quan điểm, thể hiện được kiến thức Đồng thờithông qua trình bày miệng, giáo viên không chỉ nắm được khảnăng tiếp nhận kiến thức của học sinh mà còn hiểu được khảnăng tư duy logic, cách sử dụng từ ngữ và khả năng biểu đạtcủa học sinh
Tuy nhiên, trong trình bày miệng cũng xuất hiện nhiềudạng trình bày khác nhau, cụ thể:
Trang 17Thứ nhất, tường thuật
Đây là một cách trình bày quan trọng nhằm tái hiện ởhọc sinh những biến cố lịch sử quan trọng Tường thuật khitrình bày miệng hay tường thuật khi trình bày viết cũng có tácdụng khơi dậy óc tưởng tượng tái tạo cho học sinh trong quátình học tập lịch sử
Thứ hai, miêu tả
Đây là trình bày cụ thể những đặc trưng, đặc điểm củamột sự vật, một sự kiện lịch sử nào đó để nêu lên những nétđặc trưng, bản chất chủ yếu, cấu tạo bên cũng như hình dángbên ngoài của chúng Khác với tường thuật nêu trên, miêu tảkhông có chủ đề cụ thể, rõ ràng mà chỉ có đối tượng cụ thểcần phải trình bày được xác định từ trước Trong miêu tả cũng
có hai loại chính là miêu tả toàn cảnh và miêu tả có phân tích
Thứ ba, nêu đặc điểm về sự kiện, nhân vật lịch sử
Đây được coi là một dạng đặc biệt của miêu tả, thôngqua việc nêu đặc điểm về sự kiện, nhân vật lịch sử mà làmsáng tỏ những bản chất, những đặc trưng trong mối liện hệbên trong của các hiện tượng lịch sử đó Việc nêu đặc điểm về
Trang 18sự kiện, nhân vật lịch sử không nhằm mục đích ghi nhớ kiếnthức mà nhằm mục đích khiến học sinh biết khái quát vấn đềvới những đặc trưng nổi bật nhất.
Thứ tư, giải thích
Đây là cách thức trình bày khiến học sinh có thể hiểu sâuhơn bản chất, ý nghĩa của những hiện tượng phức tạp, nắmvững những khái niệm, các quy luật, góp phần vào phát triển
tư duy lí luận của học sinh
- Trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết
Trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết là cách trình bày phổbiến và thường thấy trong quá trình học tập môn Lịch sử,được tiến hành thông qua các bài tập trên lớp cũng như vềnhà, các bài kiểm tra định kỳ
Cũng giống như trình bày bằng ngôn ngữ nói, trình bàybằng ngôn ngữ viết cũng có nhiều cách trình bày khác nhaunhư tường thuật, miêu tả, nêu đặc điểm… Tuy nhiên, trìnhbày dưới dạng ngôn ngữ viết không chỉ dừng lại ở việc biểuđạt suy nghĩ của người viết thông qua câu chữ mà còn đượcthể hiện thông qua hình thức, tức là trình bày một văn bản
Trang 19của người viết sao cho rõ ràng, mạch lạc và có sự khoa học.Bên cạnh đó, việc trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết được ápdụng trong dạy học môn Lịch sử còn được thể hiện thông quaviệc lập bảng biểu, sơ đồ để ghi nhớ sự kiện, niên đại…
- Trình bày dưới dạng ngôn ngữ hình thể (biểu cảm)
Việc trình bày dưới dạng ngôn ngữ hình thể trong mônLịch sử tại trường THPT không quá phổ biến tuy nhiên đâyvẫn là một kiểu dạng trong trình bày mang nét đặc trưng riêngbiệt
Trong quá trình trình bày dưới dạng ngôn ngữ hình thể một dạng trình bày phi truyền thống, người trình bày sẽ thểhiện suy nghĩ, cảm xúc của mình thông qua cử chỉ, điệu bộ và
-hệ thống những sắc thái biểu thị cảm xúc trên khuôn mặt vànhững dấu hiệu trên cơ thể Đây là những hệ thống diễn đạtrất phức tạp và mang tính chất tương đối
- Cấu trúc năng lực trình bày lịch sử
- Về kiến thức: kiến thức là nền tảng, không có kiến thức
sẽ không có năng lực Năng lực hình thành trên nền tảng kiếnthức Kiến thức là những hiểu biết thu nhận từ sách vở, học
Trang 20hỏi, kinh nghiệm từ cuộc sống Để phát triển năng lực trìnhbày lịch sử, về mặt kiến thức, học sinh phải nắm bắt đượcnhững tri thức, kiến thức lịch sử cơ bản trong các bài học lịchsử: nội dung, diễn biến, kết quả, ý nghĩa, tính chất của sự kiệnlịch sử,…
- Về kĩ năng: là sự vận dụng bước đầu những kiến thứcthu lượm được để thực hành một kĩ năng nào đó, bước đầuvận dụng kiến thức vào một hoạt động nào đó của cuộc sống
- Về kĩ xảo: là những kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiềulần đến mức thuần thục, cho phép con người không cần tậptrung nhiều ý thức vào công việc mình đang làm
- Về phẩm chất: là thái độ, tính cách, tư tưởng, đạo đứctương đối ổn định, cho phép thực hiện các kĩ năng vận dụngcác kiến thức trong hành động
Giữa năng lực, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, phẩm chất cómối quan hệ mật thiết với nhau Kĩ năng, kĩ xảo, phẩm chất làđiều kiện cần để hình thành năng lực, tuy nhiên không đồngnhất với năng lực Ngược lại, năng lực làm cho quá trình lĩnhhội kiến thức, kĩ xảo, phẩm chất được nhanh chóng và thuậnlợi hơn Có năng lực tức là có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong
Trang 21lĩnh vực đó Nhưng có kĩ năng, kĩ xảo không có nghĩa là cónăng lực.
- Đặc điểm kiến thức lịch sử ở trường phổ thông
- Quan niệm về kiến thức lịch sửở trường phổ thông
Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông là những hiểu biết
về lịch sử xã hội loài người và của dân tộc từ trước đến nayđược khoa học lịch sử xác nhận và ghi chép trong sách giáokhoa mới nhất Đó là những kiến thức đã được lựa chọn phùhợp với mục tiêu đào tạo, khả năng nhận thức của học sinh,mang tính trung thực, khoa học, khách quan
- Cách phân loại kiến thức lịch sử
Trong giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông người tathường phân loại kiến thức Phân loại kiến thức lịch sử cónhiều cách khác nhau, có những tiêu chí và căn cứ khác nhau.Thông thường, chúng ta có cách phân loại như sau:
- Căn cứ vào chương trình sách giáo khoa, nên có kiếnthức lịch sử ở các lớp
- Căn cứ vào địa điểm xảy ra sự kiện, từ đó có ba loạikiến thức: kiến thức lịch sử thế giới, kiến thức lịch sử dân tộc,
Trang 22kiến thức lịch sử địa phương.
- Căn cứ vào tầm vóc, ý nghĩa, vai trò của kiến thứctrong hệ thống kiến thức, từ đó có kiến thức cơ bản và kiếnthức không cơ bản Kiến thức cơ bản là những kiến thức quantrọng không thể thiếu mà nếu thiếu nó sẽ không khôi phục lạiđược bức tranh của quá khứ Kiến thức không cơ bản lànhững kiến thức không quan trọng lắm mà thiếu nó học sinhvẫn biết được lịch sử diễn ra như thế nào một cách căn bản
- Căn cứ vào con đường nhận thức Kiến thức lịch sử củahọc sinh là đi từ đơn giản đến phức tạp, biết đến hiểu, vậndụng; từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, từ cáchphân loại này mà có kiến thức các loại sự kiện, biểu tượng,khái niệm, quy luật và bài học lịch sử
- Căn cứ vào tính chất mà chia kiến thức lịch sử thànhhai loại là phần sử và phần luận Phần sử chính là cái lịch sử
đã xảy ra bao gồm các yếu tố cơ bản tạo ra lịch sử là thờigian, địa điểm, nhân vật, diễn biến, kết quả Phần luận là phầnđánh giá, giải thích, bình luận cái lịch sử đã xảy ra Cách phânloại này giúp giáo viên trong quá trình dạy học cần chú ý đếnmỗi loại kiến thức để có phương pháp dạy học phù hợp Phần
Trang 23sử chủ yếu là thầy và trò thừa nhận Kiến thức về phần luậncần đến sự tổ chức, hướng dẫn của người thầy để học sinh làmviệc nhằm phát huy tính thông minh, sáng tạo, sự phản biện,suy luận.
- Căn cứ vào nội dung kiến thức lịch sử phản ánh mà từ
đó có các loại kiến thức lịch sử về kinh tế, chính trị, vănhóa… Lịch sử của xã hội loài người diễn ra trên tất cả các mặtcủa đời sống xã hội - đó là lịch sử toàn diện mà mỗi một lĩnhvực đó là một loại kiến thức Từ cách phân loại này mách bảogiáo viên trong dạy học phải đảm bảo tính toàn diện, tínhchiều sâu của kiến thức
Việc phân loại nói chung, phân loại kiến thức lịch sử nóiriêng chỉ có ý nghĩa tương đối Mỗi cách phân loại đều có ưuđiểm và nhược điểm của nó Không có cách phân loại nào làtuyệt đối thay cho các cách phân loại khác
- Đặc điểm của kiến thức lịch sử
+ Tính quá khứ: Lịch sử hình thành và phát triển theomột quá trình xuyên suốt từ khi con người xuất hiện và chođến tận ngày Những sự kiện diễn ra trong lịch sử mà chúng tanhắc đến đều là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ và
Trang 24không thể xuất hiện trở lại, không thể lặp lại ở hiện tại nữa.
Đó chính là tính quá khứ của sử học Đồng thời đây cũng làđiểm khác biệt giữa hiện tượng lịch sử và hiện tượng tự nhiên.Nếu như hiện tượng tự nhiên mà chúng ta nhắc đến có thểdiễn ra trong quá khứ, có thể diễn ra trong hiện tại hay tươnglai thì hiện tượng lịch sử chỉ diễn ra một lần và không thể xuấthiện trở lại trong hiện tại hay quá khứ Chính vì thế, người takhông thể trực tiếp quan sát lịch sử quá khứ mà chỉ có thể tìmhiểu, tiếp cận chúng thông qua sách vở tài liệu ghi chép lạinhững hiện tượng sự kiện đó, đồng thời bằng sự so sánh đốichiếu với những sự kiện hiện tượng tương tự của các dân tộckhác để phân tích, nhận xét và đưa ra kết luận về những vấn
đề lịch sử mà chúng ta đang nghiên cứu Việc sử dụng nhữngtài liệu trên chỉ mang tính chất tham khảo chứ không thể thaythế hay đồng nhất khi nói về vấn đề lịch sử hay hiện tượnglịch sử mà chúng ta đang nghiên cứu Đó là nét độc đáonhưng cũng chính là điểm khó khăn trong nghiên cứu và họctập lịch sử Đặc điểm tính quá khứ của kiến thức lịch sử làđộng lực để thôi thúc những người nghiên cứu, đặc biệt làgiáo viên và học sinh trong quá trình dạy học sẽ phát triển vàtăng cường khả năng tưởng tượng, hình dung, tái hiện sự kiện
Trang 25Vì vậy trong giảng dạy, GV phải chú ý cách sử dụng từ ngữcủa mình sao cho phù hợp với bối cảnh thời đại mà sự kiệnđang diễn ra Không chỉ thế, đối với học sinh, khi diễn đạt haytrình bày một câu trả lời nào đó dù là trình bày miệng haytrình bày viết cũng phải quan tâm chú ý nhấn mạnh đếnnhững từ ngữ mang tính chất của từng thời kì đó Ngôn ngữ
HS sử dụng phải rõ ràng, mạch lạc đồng thời phản ánh đúngbản chất của sự kiện và bối cảnh thời đại mà sự kiện diễn ra
+ Tính không lặp lại: Tính chất này được thể hiện ở cảhai phương diện không gian và thời gian Tri thức lịch sửkhông lặp lại về cả hai mặt này Mỗi sự kiện lịch sử đều xảy
ra trong một khoảng không gian và thời gian nhất định, vànhững khoảng không gian, thời gian này đều có sự khác nhau.Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùngthời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giốngnhau Hơn thế, lịch sử loài người có sư thay đổi, phát triển,biến hóa không ngừng trên tất cả các lĩnh vực khía cạnh củađời sống Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy, người giáoviên phải chú ý nhấn mạnh đến tính cụ thể của không gian vàthời gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó Qua đó mới cóthể thấy được sự khác biệt giữa các sự kiện hay mối quan hệ
Trang 26có nét tương đồng giữa các sự kiện nhưng trên cơ sở kết thừa,phát triển Chính vì thế, điều này đặt ra yêu cầu đối với GV và
HS đó là khi nhắc đến một sự kiện nào đó trước tiên phảinhấn mạnh đến thời gian và không gian diễn ra sự kiện đó Đó
là yêu cầu tiên quyết khi nghiên cứu, giải thích bất kì một vấn
đề lịch sử nào Song, GV hay HS cũng luôn phải đặt sự kiện
đó trong cái nhìn so sánh đối chiếu với những sự kiện khácdiễn ra cùng thời điểm hay những sự kiện diễn ra trước đó haysau đó trong lịch sử để thấy được nét tương đồng, sự kế thừa
và phát triển Ví dụ, khi giảng về cuộc khai thác thuộc địa lầnthứ hai của thực dân Pháp diễn ra trên đất nước ta thì GV phảinêu thời gian diễn ra cuộc khai thác thuộc địa Bên cạnh đó,ngoài những nội dung giảng dạy cần thiết, GV cần phải đốichiếu với cuộc khai thác thuộc địa lần nhất thực dân Pháp tiếnhành trên đất nước ta để từ đó HS thấy được quy mô, cường
độ của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai hơn hẳn so vớicuộc khai thác thuộc địa lần nhất
+ Tính cụ thể: Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi vùngmiền đều mang những nét đặc trưng riêng biệt Điều đó donhững điều kiện về vị trí địa lí, dân cư, khí hậu… quy định
Và điều này cũng cho thấy rằng, dù trải qua một tiến trình
Trang 27phát triển chung trong lịch sử loài người, chịu tác động bởinhững quy luật chung thế nhưng sự phát triển của mỗi quốcgia dân tộc lại không hoàn toàn giống nhau Có những nướcphát triển, đi trước thời đại nhưng cũng có những nước pháttriển chậm hơn Điều này cho thấy tính cụ thể trong lịch sửđóng một vai trò quan trọng Ví dụ với các nước phương Tây,
sự ra đời của Đảng Cộng Sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩaMác - Lênin và phong trào công nhân thế nhưng ở Việt Nam,
sự ra đời của Đảng Cộng sản lại là sự kết hợp nhuần nhuyễngiữa ba yếu tố: chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân
và phong trào yêu nước Đó chính là điểm khác biệt, và cũng
là đặc trưng của tính cụ thể trong lịch sử Vì vậy, trong quátrình giảng dạy đòi hỏi GV và HS phải trình bày cụ thể vấn đềlịch sử Việc trình bày càng cụ thể, sinh động, chi tiết baonhiêu, HS càng nắm rõ được kiến thức, hiểu được nội dungđồng thời thấy được nét đặc trưng của sự kiện lịch sử này vớinhững sự kiện lịch sử khác Nó không chỉ tăng tính hấp dẫncho bài giảng mà còn giúp HS hiểu sâu kiến thức và phát huynhững năng lực khác trong học tập như so sánh, đối chiếu,nhận xét… Tuy nhiên dù có sự khác biệt, sự phát triển củalịch sử các dân tộc đều tuân thủ những quy luật chung của sự