Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phụ thuộc một cách quyết định vào chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong những yêu cầu rất quan trọng trong mọi giai đoạn cách mạng. Chất lượng người cán bộ lãnh đạo, quản lý được tạo thành bởi những yếu tố: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ trí tuệ, năng lực hoạt động thực tiễn, phong cách, phẩm chất nhân cách… trong đó phẩm chất nhân cách giữ vai trò quan trọng. Lịch sử hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo có phẩm chất, nhân cách, đạo đức, có trí tuệ và tài năng, góp phần có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi trong cách mạng dân tộc, dân chủ và thời kỳ đầu trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong bối cảnh thế giới và trong nước đang có nhiều thuận lợi, thời cơ nhưng cũng không ít thách thức và nguy cơ. Bên cạnh nhiều cán bộ nói chung, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng có phẩm chất, nhân cách, đạo đức và tài năng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới, vẫn còn không ít cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở còn có những biểu hiện tiêu cực rất đáng lo ngại, trong đó tổ chức nghiêm trọng nhất nếu không kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi sẽ dẫn đến nguy cơ làm cho Đảng mất vai trò lãnh đạo là “tình trạng tham nhũng, quan liêu, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả đảng viên là cán bộ có chức, có quyền”. Xuất phát từ tình hình nêu trên, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục xây dựng phẩm chất nhân cách, đạo đức đội ngũ cán bộ nói chung, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phụ thuộc một cáchquyết định vào chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý.Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong những yêucầu rất quan trọng trong mọi giai đoạn cách mạng
Chất lượng người cán bộ lãnh đạo, quản lý được tạo thành bởi nhữngyếu tố: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ trí tuệ, năng lực hoạt động thựctiễn, phong cách, phẩm chất nhân cách… trong đó phẩm chất nhân cách giữvai trò quan trọng
Lịch sử hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta đã xây dựngđược một đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo có phẩm chất, nhâncách, đạo đức, có trí tuệ và tài năng, góp phần có ý nghĩa quyết định vàothắng lợi trong cách mạng dân tộc, dân chủ và thời kỳ đầu trong cách mạng xãhội chủ nghĩa
Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh trong bối cảnh thế giới và trong nước đang có nhiềuthuận lợi, thời cơ nhưng cũng không ít thách thức và nguy cơ
Bên cạnh nhiều cán bộ nói chung, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lýnói riêng có phẩm chất, nhân cách, đạo đức và tài năng đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ mới, vẫn còn không ít cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cáccấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở còn có những biểu hiện tiêu cực rấtđáng lo ngại, trong đó tổ chức nghiêm trọng nhất nếu không kịp thời ngăn
chặn, đẩy lùi sẽ dẫn đến nguy cơ làm cho Đảng mất vai trò lãnh đạo là “tình trạng tham nhũng, quan liêu, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả đảng viên là cán bộ
có chức, có quyền”.
Xuất phát từ tình hình nêu trên, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục xây dựngphẩm chất nhân cách, đạo đức đội ngũ cán bộ nói chung, đặc biệt là đội ngũcán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giaiđoạn hiện nay
Là một thành viên trong cấp ủy Đảng bộ xã An Thạnh Đông, huyện CùLao Dung, tỉnh Sóc Trăng, qua hai năm học tập tại Phân viện thành phố Hồ
Trang 2Chí Minh, với kiến thức đã được nhà trường trang bị và với ít vốn sống tiễn
được tích lũy qua quá trình công tác, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu một số phẩm
chất nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tình hình hiện nay ở xã An Thạnh Đông, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng” để làm
tiểu luận tốt nghiệp theo quy chế của phân viện; đồng thời lấy đó làm cơ sở lýluận để vận dụng vào thực tiễn nhằm góp phần xây dựng phẩm chất nhâncách đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của xã ngang tầm nhiệm vụ mới
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu :
- Tiểu luận nhằm nghiên cứu thực chất mặt mạnh, mặt yếu kém vềphẩm chất nhân cách đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở xã An Thạnh Đông
từ đó đề ra một số giải pháp chủ yếu, từng bước hoàn thiện phẩm chất nhâncách đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của xã ngang tầm nhiệm vụ mới
3 Đối tượng nghiên cứu :
Cán bộ lãnh đạo, quản lý xã An Thạnh Đông, huyện Cù Lao Dung, tỉnhSóc Trăng
4 Phương pháp nghiên cứu :
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh để phân tích phẩm chất nhân cách của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơsở
- Xuất phát từ thực trạng phẩm chất cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay,
từ đó nêu lên những yêu cần cần thiết và biện pháp để xây dựng, hoàn thiệnphẩm chất nhân cách của cán bộ lãnh đạo, quản lý của xã đáp ứng yêu cầunhiệm vụ mới hiện nay
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN CÁCH CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
a Phẩm chất
Trang 3Theo từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1994, phẩm chất là cái làm nêngiá trị của người hay vật Nói cách khác phẩm chất là giá trị và tính chất tốtđẹp của con người.
đã hình thành và phát triển từ trong các quan hệ xã hội
- Về mục tiêu:
Người quản lý coi mục đích, mục tiêu của tập thể là nghĩa vụ phải hoànthành nhiệm vụ do Nhà nước giao phó, không phải là nhiệm vụ do ý định, ýmuốn của người quản lý đề ra
Còn lãnh đạo thì mục đích, mục tiêu cao hơn người quản lý ở chỗ coimục tiêu chung như chính bản thân mình, làm việc với niềm say mê, nhiệttình và có trách nhiệm cao
Người quản lý chỉ cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, trong khilãnh đạo ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ mà phải có tầm nhìn xa, hiểu rộng,luôn vươn tới cái thiện hơn
Người lãnh đạo không dừng lại với cái hiện có mà luôn tìm tòi sáng tạo
để nâng cao hiệu quả công việc
- Về chức năng:
Quản lý là lên kế hoạch tổ chức và kiểm tra việc thực hiện, còn lãnhđạo là hướng cấp dưới hoàn thành mục tiêu bằng biện pháp giáo dục, độngviên và gây ảnh hưởng
Trang 4Quản lý là thực hiện mục tiêu thông qua những người khác, còn lãnhđạo là động viên, thuyết phục, tạo điều kiện giúp đỡ, lôi kéo mọi người cùnglàm.
- Về quyền lực:
Quản lý chỉ có quyền lực về mặt quản lý, người quản lý do Nhà nước
ủy quyền có thể thay mặt Nhà nước chỉ huy, có quyền khen thưởng, kỷ luật
Lãnh đạo, ngoài quyền lực pháp chế còn có những quyền lực khác, đó
là sức mạnh ảnh hưởng đến người khác, có thể nói quyền lực này có được từphẩm chất đạo đức của người lãnh đạo, được quần chúng tin yêu ủng hộ
Tóm lại: Tuy có sự khác nhau về mục tiêu, chức năng, quyền lực nhưng
lãnh đạo và quản lý không đối lập nhau, bổ sung cho nhau Người lãnh đạocần có tính cách, tư tưởng của người lãnh đạo biết quản lý con người thôngqua khối óc lẫn chinh phục con tim của con người; còn lãnh đạo cần làm tốtquản lý, không quản lý tốt thì không thể lãnh đạo tốt, không lãnh đạo tốt thìkhông thể quản lý tốt
1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN CÁCH
Về nhân cách, hiện nay có nhiều quan niệm với những góc cạnh khácnhau, nhưng tựu trung có 3 quan niệm sau:
- Quan niệm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản: nhận thức (baogồm cả tri thức và năng lực trí tuệ); rung cảm (tình cảm và thái độ), ý chí( phẩm chất, ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)
- Quan niệm coi nhân cách gồm bốn cấu trúc nhỏ: xu hướng (thế giớiquan, lý tưởng, hứng thú, tâm thế); kinh nghiệm (tri thức, kỹ xảo, thói quen);đặc điểm của các quá trình tâm lý (các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm củacảm xúc, tình cảm), các thuộc tính sinh học quan trọng (khí chất, giới tính, lứatuổi và đặc điểm tâm lý)
- Quan niệm về các mặt đào tạo của nhân cách: đạo đức, thể, dũng… vàquan niệm về bốn thuộc tính phúc hợp của nhân cách là xu hướng, tính cách,năng lực và khí chất
Song, lý luận chung về nhân cách cần được hiểu là toàn bộ đời sống
tinh thần xã của con người, bao gồm “tầng” xã hội và “tầng” tâm lý của con người Khái niệm này cho phép ta hiểu được cái bản chất bên trong “người” ở
Trang 5mỗi cá nhân, cái tư cách làm “người” của mỗi người, phân biệt giữa người
với các động vật khác Bởi vì con người như Ănghen đã nói: là tổng hóa cácmối quan hệ, do đó con người rất phức tạp Con người khác với những độngvật khác ở chỗ con người có ý thức Con người không chỉ biết chấp hànhmệnh lệnh mà còn là chủ thể sáng tạo, tự chủ trong quá trình hoạt động, vì thếchủ thể lãnh đạo, quản lý phải biết lôi cuốn, thu hút mọi người để họ tham giahoạt động một cách tự giác, tự chủ và sáng tạo nhằm mang lại hiệu quả cao.Chính từ trong quá trình sống và hoạt động của con người sẽ cải tạo, biến đổi
và phát triển phẩm chất nhân cách tự nhiên của con người
Nhân cách tuy là cái vốn có của một con người, của môt cá nhân, songmỗi con người khi sinh ra chưa phải đã là một nhân cách, mà nhân cách chính
là con người xét về mặt bản chất xã hội, hoạt động xã hội và giá trị xã hội vềnhững hành vi của người đó
Nhân cách còn có nghĩa là kiểu cách sống của con người, là bộ mặt tinhthần của con người, con người có ý thức nên nó có khả năng điều khiển, điều
chỉnh hành vi của mình, nó thể hiện được cái “tôi” của con người, khẳng định
con người đó có giá trị và tính chất tốt đẹp riêng biệt của nó Nhân cách còn làtoàn bộ những đặc điểm ổn định của cá nhân tạo nên giá trị xã hội của cá nhân
đó mà tổng thể của nó bao gồm cái chung và cái riêng của con người; cáichung là xã hội, dân tộc, lịch sử, văn hóa… nó hòa quyện vào con người biếnthành cái riêng của mỗi con người tạo nên vai trò, sắc thái riêng của mỗi cánhân
Nhân cách không sinh ra và lớn lên với con người, nhân cách chỉ hìnhthành và phát triển bởi cơ chế điều chỉnh từ bên ngoài, cá nhân tự điều chỉnhthông qua con đường giáo dục, giao lưu và dư luận tập thể, dư luận xã hộitrong quá trình hoạt động, quan hệ xã hội Nhân cách không mất đi theo sựmất đi của con người cụ thể mà nó được người khác đang sống trong xã hội
kế thừa, chọn lọc, duy trì và phát triển
1.3 NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ
Toàn bộ những hành vi, cách thức ứng xử hay cái được xem là nhâncách nó được hình thành và biến đổi tùy thuộc vào điều kiện xã hội trong từngthời kỳ Vì vậy, nhân cách của người cán bô lãnh đạo quản lý cũng tùy thuộcbởi những khuôn mẫu quy định hành vi, cách ứng xử Và, quy định bộ mặt xãhội của người cán bộ lãnh đạo quản lý cũng không cố định mà luôn biến đổi
Trang 6bởi nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáodục….
Nói như vậy không có nghĩa là nhân cách người cán bộ lãnh đạo quản
lý luôn biến đổi bất kỳ, không theo một khuôn mẫu nhất định nào, vì nhữngyếu tố chung nhất tạo nên nét đặc thù, riêng biệt của người cán bộ lãnh đạoquản lý cơ bản là ổn định; những yếu tố này của nhân cách đóng vai trò chỉhuy để phân biệt với nhân cách xã hội khác với tư cách là một hệ thống nhữngđặc điểm tâm lý, hành vi xác định của con người chung chung Điều đó cónghĩa là bất kỳ người cán bộ lãnh đạo quản lý nào, dù trong chế độ xã hộinào, ở bất kỳ thời kỳ nào của lịch sử, với tư cách là thành viên của nhómngười đóng vai trò lãnh đạo, chỉ huy đều phải có một cấu trúc tâm lý xã hộiphổ biến bao gồm những yếu tố cơ bản ổn định, xác định cần thiết, phải cómột xu hướng tâm lý quy định cho tính cách hoạt động, thái độ của ngườilãnh đạo quản lý đối với mọi người xung quanh, đối với cấp trên, cấp dưới vàđối với chính bản thân mình Đó là đặc điểm mang màu sắc đạo đức mà xãhội đòi hỏi phải có mới đảm nhận được vai trò lãnh đạo quản lý
Từ những lý luận trên, người lãnh đạo quản lý tất yếu đòi hỏi phải vừa
là một nhà chính trị, một nhà tổ chức, một nhà sư phạm, đồng thời là một nhàchuyên môn, am hiểu được lĩnh vực mình hoạt động, có đa chức năng để thỏamãn tương ứng với vai trò mình đảm nhận nó bao gồm hai mặt cơ bản, đó là
“phẩm chất nhân cách” và “năng lực” hay còn gọi là “đức” và “tài” Đây là
hai đặc trưng cơ bản nhất đối với người cán bộ lãnh đạo quản lý, hai đặc trưng
đó không thể tách rời một cách riêng biệt mà nó luôn hòa quyện, bổ sung, hỗtrợ cho nhau trong quá trình hoạt động
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
a/ Đạo đức, một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, những lãnh tụcách mạng đã bàn nhiều nhất đến vấn đề đạo đức Người không để lại nhữngtác phẩm đạo đức lớn, nhưng những tư tưởng lớn của Người về đạo đức nằmtrong những bài viết, bài nói ngắn gọn, được diễn đạt rất cô động, hàm súctheo phong cách phương Đông, rất quen thuộc với con người Việt Nam Bảnthân Người lại thực hiện trước nhất và nhiều nhất những tư tưởng ấy, nhiều
Trang 7hơn cả những điều Người đã nói, đã viết về đạo đức Người vừa là một nhàđạo đức lớn, lại vừa là tấm gương đạo đức trong sáng nhất, tiêu biểu nhất đãđược không những nhân dân trong nước mà cả thế giới thừa nhận.
Tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện quanhững tác phẩm của Người về đạo đức, mà quan trọng hơn là thông qua chínhhành vi được thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của Người, thông quamẫu mực đạo đức của Người đã để lại cho Đảng, cho dân tộc và nhân loại Sựthống nhất giữa tư tưởng và hành vi, động cơ và hiệu quả, giữa lý luận vàthực tiễn đã trở thành một đặc trưng nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặctrưng này đã làm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt với rất nhiều nhà tưtưởng, nhiều lãnh tụ khác từ trước đến nay
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”, thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.
Người cũng thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu chotrí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và của thời đại Nếu xét đếncùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng đắn vềchủ nghĩa Mác – Lênin, những tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn ViệtNam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, nhữnghiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn Còn đạo đứcchính là những phẩm chất nhân cách đòi hỏi con người cần phải có để thamgia vào việc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để cống hiếnđược nhiều nhất cho cuộc đấu tranh đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng,cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông của suối Đạo đức là nền tảng, làgốc, là ngọn nguồn bởi vì muốn là cách mạng thì trước hết con người phải cócái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân laođộng, với cả dân tộc mình Cái tâm, cái đức ấy lại phải thể hiện trong các mốiquan hệ xã hội hàng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, vớimọi người chung quanh mình Phải có tâm, có đức mới giữ vững được chủnghĩa Mác – Lênin và đưa được chủ nghĩa Mác – Lênin vào cuộc sống
Chính vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết củacán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm đến việcgiáo dục đạo đức cho mọi người Tùy theo từng thời kỳ cách mạng, Người đề
ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người phấn đấu rèn luyện nhằmhoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn, phức tạp hơn, từ đó màgiành thắng lợi to lớn hơn cho sự nghiệp cách mạng
Trang 8“Đường Kách Mệnh” xuất bản năm 1927 là cuốn sách đầu tiên dùng để
bồi dưỡng lớp cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam đi theo học thuyếtMác – Lênin và con đường cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, đi theo lốicách mạng mới của Nguyễn Ái Quốc xác định Nhưng mở đầu cuốn sách lại
là bài nó về tư cách môt người cách mạng Chắc chắn chúng ta không thể tìmthấy một trường hợp nào truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin giống như vậy.Phải chăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một quan điểm lớn: phải có cáiđức để đi đến cái trí Vì khi đã có cái trí, thì cái đức chính là cái đảm bảo chongười cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấpnhận, đã đi theo
Quan điểm lấy đức làm nền tảng, làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minhkhông có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài Đức là gốc nhưngđức và tài , hồng và chuyên phải kết hợp, phẩm chất nhân cách và năng lựcphải đi đôi, không thể có mặt này, thiếu mặt kia Như Người đã phân tích,người nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trongchùa, không làm hại ai, nhưng chẳng có ích gì Ngược lại, nếu có tài màkhông có đức, thì cũng chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lạinhiều lãi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì như vậy chỉ có hại chodân, cho nước, cho sự nghiệp bản thân và sớm muộn cũng đỗ vỡ
Thực vậy, đức và tài là hai mặt đặc trưng cơ bản không thể thiếu được
ở người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nó phải gắn bó mật thiết với nhau
Đạo đức cách mạng trong nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cảmột hệ thống tư tưởng rất phong phú và chặt chẽ, nội dung sâu rộng và toàndiện được tóm tắt trong 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm và được Ngườigiải thích rõ:
- Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào, sẵn
sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế màkhông ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ uy quyền Những người đãkhông ham, không e, không sợ gì là việc phải, họ đều làm được
- Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có
việc gì phải dấu đoàn thể, ngoài lợi ích của đoàn thể không có lợi ích riêngphải lo toan Lúc Đảng giao cho việc thì dù bất cứ việc to, nhỏ đều ra sức làmcẩn thận, thấy việc phải thì làm, thấy việc trái thì nói, không sợ người khácphê bình mình, mà mình phê bình người khác cũng phải chân thành trên tinhthần giúp đỡ
Trang 9- Trí là không có việc đi trái làm mù quáng cho nên đầu óc trong sạch,
sáng suốt Dể hiểu lý, dễ tìm phương hướng, biết xem người, biết xét việc Vìvậy mà biết làm việc gì có lợi, tránh làm việc có hại cho đoàn thể
- Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết
điểm có gan sửa chữa, cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng Có gan chống lạivinh hoa, phú quý không chính đáng Nếu cần có gan hy sinh cả tính mạngcho đoàn thể, cho tổ quốc, không rụt rè, không nhút nhát
- Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung
sướng, không ham người khác tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chínhđại, không bao giờ hủ hóa Chỉ có một thứ ham: ham học, ham làm, ham tiếnbộ
5 điều trên được xem là sức mạnh, là cái gốc, là chuẩn mực về phẩmchất nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trong quyển “Sửa đổi lối làm việc” xuất bản năm 1947, khi nói về lựa
chọn cán bộ, Người đã nêu một số phẩm chất, nhân cách của người cán bộlãnh đạo, quản lý đó là:
- Những người tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, tronglúc đấu tranh
- Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng.Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng Như thế, thì dân chúng mới tincậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ
- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàncảnh khó khăn
Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnhđạo
Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang mang, khithắng lợi không kêu ngạo, khi thi hành các Nghị quyết, kiên quyết, gan góckhông sợ khó khăn
- Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật
Đó là những khuôn khổ lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho đúng.Cùng với việc nêu lên những phẩm chất, nhân cách, đạo đức của người
cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ” đề này 1/
3/1947, tức 18 tháng sau ngày Việt Nam tuyên bố độc lập và giữa lúc cuộckháng chiến ở Bắc Bộ nổ ra non hai tháng rưởi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ
Trang 108 khuyết điểm mà cán bộ cần khắc phục sửa chữa: Địa phương chủ nghĩa; óc
bè phái; óc quân phiệt; óc hẹp hòi; ham chuộng hình thức; làm việc với bàngiấy; vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm; ích kỷ, hủ hóa
Nhân kỷ niệm 113 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí
Trần Bạch Đằng – Nhà nghiên cứu, có viết bài với tựa đề “Sức mạnh của
một bức thư” đăng trên báo Sài Gòn, số ra ngày chủ nhật 18/ 05/ 2003, nói
về bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau:
Có thể nói đây là những suy nghĩ đàu tiên của lãnh tụ về hiểm họa suythoái của một Đảng vô sản cầm quyền Mặc dù thời gian cầm quyền còn ngắnnhưng kinh nghiệm già dặn cùng sự quan sát, tiếp xúc thực tế đã cho phépChủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một loạt nguyên tắc định hướng lâu dài mà tậnhôm nay vẫn còn giá trị thời sự
Người lên án “chủ nghĩa địa phương” như “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích toàn bộ… Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực, vun đắp cho bộ phận ấy…”, lên án “óc bè phái” với nhận xét vừa sát vừa súc tích “ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm
họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe”.
Người phê phán “óc quân phiệt, quan liêu” như “khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạch họe… Cái đầu “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân”.
Về “óc hẹp hòi”, Người nói: “Chúng ta phải nhớ rằng: người tài ai cũng có chỗ hay chỗ dở Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở… Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp Đoàn thể mà hẹp hòi không thể phát triển” Chữ
“đoàn thể” Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng ở đây chỉ Đảng Cộng sản bấy giờ,Đảng đã tuyên bố tự giải tán về danh nghĩa công khai Với vài nhận xét, Chủtịch Hồ Chí Minh đã khái quát căn bệnh nguy hiểm của kẻ cầm quyền Hẹphòi tức tự cô lập, tức tự tôn tự đại, tức xem mình như một thế lực “siêu đẳng”
Hẹp hòi và bè phái là hai triệu chứng của một căn bệnh mà hậu quả đã biến
Đảng thành một tầng lớp quyền bính, biệt lập, càng lâu dài đối lập với lợi íchcủa đông đảo nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án bệnh “ham chuộng hình thức”: việc gì cũng không xét đến kết quả thiết thực, cẩn kíp, chỉ nhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai….
Trang 11Đối với lối “làm việc trên bàn giấy”, Người viết: Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều Ngồi một chỗ chỉ tay năm ngón, không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành Chỉ thị, Nghị quyết… Những Nghị quyết cấp trên gửi xuống cho địa phương có thực hiện được hay không, các đồng chí cũng không biết đến.
Đối với “bệnh vô kỷ luật”: Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Nhiều nơi các đồng chí bị phạm lỗi nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có đồng chí bị hạ tầng công tác nơi này, đi nơi khác ở nguyên cấp cũ hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức nhưng vẫn ở cấp bộ cũ làm việc Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh cáo qua loa cho xong chuyện Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thể Đến nay, chúng ta thấy tính phường hội của đảng cầm quyền
chưa giảm, đôi mặt còn nghiêm trọng hơn so với thực tế mà Chủ tịch Hồ ChíMinh bắt gặp Trên môt ý nghĩa nào đó, đảng viên, nhất là cán bộ cấp cao,như một hạng công dân dặc biệt và, chúng ta biết, khi xã hội có vài ba trămngàn “công dân đặc biệt” thì xã hội không thể phát triển bình thường Chủ
tịch Hồ Chí Minh dặn thêm: nếu kỷ luật lỏng lẻo, những phần tử phản đông
sẽ có cơ hôi chui vào hàng ngũ ta để phá hoại Bao nhiêu điều xảy ra trước
mắt chúng ta gây tổn thất cho nền kinh tế, nền an ninh quốc gia dưới cái vỏbảo vệ, vì lợi ích của chế độ, mặc dù sai sót quá rõ ràng, vẫn được che chở, xíxóa không có sức phá hoại nào ghê gớm hơn với lá mặt lá trái này
Về bệnh “ích kỷ, hủ hóa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc: Có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cố tranh cho được ủy viên này, chủ tịch kia Có những đồng chí lo ăn ngon, mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị
và công tác của mìh mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công Đạo đức cách mạng thế nào, dư luận che bai thế nào cũng mặc.
Chắc chắn bệnh “ích kỷ, hủ hóa”này sẽ tăng cấp số trong vài chục nămnay, nhất là từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ở một lượng cán bộ,đảng viên không nhỏ Óc địa vị được quyền lực và quyền lợi tăng đọ nồng,giành và giữ ghế không hề hổ thẹn, khư khư ngồi lì mặc thiếu tài kém đức Cứmỗi kỳ bầu cử trong nội bộ Đảng hay trong cơ quan Nhà nước, đoàn thể, tệhại phơi bày trơ trẽn: vu khống, chụp mũ, nịnh nọt, mị dân… đó là sự sa đọa
về luân lý mà đông đảo quần chúng và đảng viên Cộng sản vốn chính trực hếtsức khinh bỉ Nhưng, vẫn có kẻ mặt dày, cố “chịu đấm ăn xôi” miễn được
“bao nhân sự” ghé mắt, miễn phỉnh phờ được cử tri Tiền trường và hậu
Trang 12trường rộn ràng Ta hiểu, bối cảnh ấy chỉ thích nghi với những kẻ ăn bám,suốt đời làm nghề nhìn gió để trỏ cò - nói thẳng, lớp hạ đẳng của xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng khái niệm “ích kỷ, hủ hóa” Người viết:
có những đồng chí hay có tính khiêu ngạo, tự mãn, cho mình là cựu chính trị phạm, là người của Mặt trận (nên hiểu: Mặt trận Việt Minh, tức tổ chức cách mạng thay mặt cho Đảng lúc Đảng chưa ra công khai – ghi chú của TBĐ) thì giỏi hơn ai hết, ai cũng không bằng mình Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là một đoàn thể gồm những người yêu nước Nhưng hẳn rằng ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay, người giỏi
mà Việt Minh chưa tổ chức được Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận là giỏi hơn ai hết thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Măt trận đó là vô tài vô dụng cả sao?
Mỗi đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta (tức Lênin – TBĐ ghi chú): Phải học, học thêm, học mãi Tự mãn,
tự túc là co mình lại, không cho mình tiến bộ thêm.
Vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong bức thư vừa được tríchdẫn trên hóa thân trong cách cư xử với những người dân vùng bị giặc chiếmlâu dài và với những trí thức đào tạo ở các trường phương Tây, từng làm việcvới chế độ cũ và cả đối với trí thức nói chung Nó ẩn giấu đằng sau cái gọi là
“xét lý lịch” – xét quá khứ chứ không xét hiện tại Nó làm mất lòng dân, phíphạm tài năng, gây nhiều nỗi oan khiên thắt ruột Nó cũng là chiếc áo giápche chắn cho sự dốt nát, tinh kiêu ngạo và nó đồng lõa với bệnh bè phái
Kết thúc bức thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Vẫn biết các đồng chí nóichung có nhiều ưu điểm như: nhẫn nại, chịu khó, tháo vát, nhiều sáng kiến
Đó là những tính rất quý báu Nó làm căn bản cho những tính tốt khác pháttriển Nhưng trong thời kỳ khó khăn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm đóthôi cũng chưa đủ Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyếtkhắc phục những khuyết điểm
Sức chứa của một bức thư đã bao quát bao nhiêu bài toán và vượt cảkhông gian, thời gian
Càng đọc kỹ lại bức thư Bác viết vào cuối thập kỷ bốn mươi thế kỷtrước, chúng ta sửng sốt: Hình như Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bức thư đókhông chỉ cho các đồng chí một địa phương mà cả nước và gửi cho chúng ta,vào đầu thế kỷ XXI
Trang 13b/ Từ khi ra đời đến nay Đảng ta luôn quan tâm xây dựng phẩm chất, nhân cách, đạo đức đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm xâydựng đội ngũ cán bộ về mọi mặt mà nòng cốt là cán bộ lãnh đạo, quản lý có
đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Cách mạng Tháng támnăm 1945 thành công , hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ thắng lợi không thể không nói tới nhân tố có ý nghĩa quyết định là vấn đềcán bộ
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã đánh giá: “trải qua đấu tranh cách mạng lâu dài và hơn bốn năm tiến hành công cuộc đổi mới,
số đông đảng viên mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt từ Trung ương đến
cơ sở đã thể hiện phẩm chất chính trị vững vàng trước mọi thử thách, nhất là những biến động hết sức phức tạp của tình hình thế giới, đã kiên định và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Trình đô nhận thức lý luận
và thực tiễn của nhiều cán bộ, đảng viên đã được nâng lên” (Báo cáo xây
dựng Đảng và sửa đổi điều lệ Đảng, NXB Sự Thật, Hà Nội 1991, trang 7-8)
Những năm qua kể từ Đại hội VII, những mặt tích cực đó của đội ngũđảng viên, cán bộ tiếp tục bổ sung, phát huy tác dụng và trở thành nhân tốquan trọng góp vào những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, xã hội và đổi mới, chỉnh đốn Đảng Tuy nhiên, đánh giá một cách nghiêmtúc những khuyết điểm, tồn tại của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Đại hội VIII và
Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đoạ về đạo đức và lối sống Một số thoái hóa
về chính trị, tuy rất ít nhưng hoạt động của họ gây hậu quả hết sức xấu”(văn
kiện Đại hội VIII, CTQG, ST, Hà Nội 1996, trang 137) Đại hội IX nhấnmạnh: Một bộ phận cán bộ đảng viên lại là đảng viên là cán bộ có chức cóquyền suy thoái về đạo đức, lối sống, ảnh hưởng tới bản thân của Đảng, làm
sa sút lòng tin của nhân dân, làm tổn thương mối quan hệ giữa Đảng và nhândân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng Đồng thời, Đại hộiđặc biệt lưu ý tính chất nghiêm trọng của tình trạng tham nhũng và suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộđảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng, gây bất bình và giảm sút lòng tin trong nhân dân
Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công