- Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình dạy học nói chung và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật trong dạy – học lịch sử ở trường phổ thông nói riêngDạy học là một quá trình sư phạm
Trang 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC ĐỂ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG MÔN
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Trang 2Cơ sở lí luận và xuất phát
Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản sử dụng trong đề tài
Hoạt động và hoạt động học tập
Hoạt động : Theo “Từ điển Tiếng Việt” (2002) của Hoàng Phê (chủ biên): “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”[42 ;543-544]
Theo Wiktionary tiếng Việt, hoạt động là làm nhữngviệc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội
Như vậy hoạt động là làm những việc khác nhau nhưng
có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm thực hiện một mục đíchnhất định trong đời sống xã hội
Hoạt động học tập:
Là một hoạt động nhận thức, chỉ khi có nhu cầu hiểu biếthọc sinh mới tích cực học tập Nhu cầu hiểu biết đó chính làđộng cơ nhận thức của học sinh trong học tập
Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học
Trang 3Đề cập đến phương pháp và phương pháp dạy học, kĩthuật và kĩ thuật dạy học cho tới nay có rất nhiều nguồn tưliệu khác nhau Về cơ bản, các nhà lí luận và phương phápdạy học cho rằng:
Phương pháp dạy học là những con đường, cách thứchoạt động (dạy) của giáo viên và (học) của học sinh trongnhững điều kiện dạy học đã xác định nhằm đạt được mục tiêudạy học đề ra Khi nói đến phương pháp dạy học là nói đếntính định hướng cho GV khi lựa chọn cách thức thực hiện chứchưa chỉ rõ cho GV thực hiện cụ thể (theo các bước) như thếnào Vì vậy, GV cần phải vạch ra các biện pháp cụ thể hơn,chi tiết hơn theo trình tự logic, nhưng vẫn phải theo địnhhướng của phương pháp Ví dụ: Để tổ chức DH về quá trìnhthực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, GV chọn phương pháp
sử dụng lược đồ nhưng sử dụng thế nào cho hiệu quả thì phảivạch ra các bước cụ thể đó là biện pháp sư phạm
Kĩ thuật dạy học là những cách thức, hành động của giáoviên và học sinh trong các tình huống, hành động nhỏ nhằmthực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kĩ thuật dạyhọc là đơn vị nhỏ nhất của phương pháp Kĩ thuật dạy họcchưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà là các
Trang 4thành phần của phương pháp dạy học Khi nói đến kĩ thuật
DH là nói đến việc trình bày, biểu diễn, tổ chức, điều khiểnhoạt động của GV khi dạy học trên lớp (khác với phươngpháp chỉ mang tính định hướng; khác với biện pháp chỉ vạch
ra quy trình các bước thực hiện) Để thực hiện hiệu quả kĩthuật tổ chức DH, GV cần kết hợp với các thao tác, cử chỉ sưphạm…
Như vậy, nếu phương pháp mang tính định hướng, biệnpháp là các công việc, cách làm cụ thể thì kĩ thuật DH là việc
tổ chức hoạt động dạy học theo các biện pháp đã vạch ra
Kĩ thuật dạy học tích cực:
Là các kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việcphát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạyhọc, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc củahọc sinh Các kỹ thuật dạy học tích cực được trình bày trongluận văn ( nhóm kĩ thuật dạy học “ KWLH, ZYZ, 321” và
“công não, lắng nghe và phản hồi tích cực, tranh luận”) có thểđược áp dụng thuận lợi trong cả làm việc nhóm và cá nhân.Tuy nhiên, chúng cũng có thể được kết hợp thực hiện trong
Trang 5các hình thức dạy học toàn lớp nhằm phát huy tính tích cựccủa toàn lớp và từng học sinh.
Những kĩ thuật dạy học tích cực mang ưu thế phát huytính tích cực, chủ động của người học, hình thành và pháttriển những năng lực cá nhân, năng lực xã hội của học sinh
Bên cạnh các kĩ thuật dạy học đã được biết đến như dạyhọc dự án, dạy học hợp đồng, dạy học theo góc, kĩ thuật khăntrải bàn, sơ đồ tư duy,…có thể kể đến các kĩ thuật dạy họcnhư: KWLH, XYZ, 321, 5W- 1 How
Mối quan hệ giữa phương pháp dạy học, biện pháp
sư phạm, kĩ thuật dạy học và thao tác sư phạm
Bất kì một hoạt động học tập nào của học sinh cũng cầnphải có các yếu tố như phương pháp dạy học, biện pháp sưphạm, kĩ thuật dạy học và cả thao tác sư phạm
Khái niệm PPDH trong đề tài này được hiểu theo nghĩahẹp, đó là các PPDH, các mô hình hành động cụ thể PPDH
cụ thể là những cách thức hành động của giáo viên và họcsinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phùhợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể PPDH
Trang 6cụ thể bao gồm những phương pháp chung cho nhiều môn vàcác phương pháp đặc thù bộ môn Bên cạnh các phương pháptruyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, trựcquan, làm mẫu, có thể kể một số phương pháp khác như:phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp học tập theo tracứu, phương pháp dạy học dự án…
Phương pháp dạy học chỉ mang tính chiến lược chưa cụthể, nó chỉ cho chúng ta biết phương pháp, cách thức hoạtđộng cho giáo viên và học sinh vì vậy cần có biện pháp cụthể
Biện pháp sư phạm chỉ rõ những công việc cụ thể mà cảgiáo viên và học sinh phải tiến hành trong hoạt động dạy học
để thực hiện con đường nhận thức phù hợp với phương phápdạy học Giáo viên muốn vận dụng tốt kĩ thuật dạy học thì cầnphải nhờ đến các biện pháp sư phạm và phải được tiến hànhtrên cơ sở lí luận dạy học nhưng nó lại phụ thuộc vào tínhsáng tạo, trình độ và nghệ thuật, thao tác sư phạm của giáoviên
Kĩ thuật dạy học (KTDH): Là những động tác, cách thứchành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống
Trang 7hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạyhọc Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập Bên cạnhcác KTDH thường dùng, có thể kể đến một số KTDH pháthuy tính tích cực, sáng tạo của người học như: kĩ thuật tiachớp, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật thông tinphản hồi….
Thao tác sư phạm là hệ thống các động tác và các hoạtđộng nhuần nhuyễn của thày và trò diễn ra trong dạy học,trong đó sự gắn bó hữu cơ, chặt chẽ giữa thao tác sư phạm củathày và của trò là một trong những đặc trưng nổi bật nhất củathao tác sư phạm
Như vậy để tổ chức một hoạt động học tập thì mối quan
hệ giữa phương pháp dạy học, biện pháp sư phạm, kĩ thuậtdạy học, thao tác sư phạm có mối quan hệ khăng khít, khôngtách dời nhau Bởi giáo viên lựa chọn được phương pháp tốtnhưng không có biện pháp sư phạm, kĩ thuật dạy học, thao tác
và nghiệp vụ sư phạm tốt thì giờ học cũng khó đem lại hiệuquả Có thể hình dung mối quan hệ của phương pháp dạy học,biện pháp sư phạm, kĩ thuật tổ chức dạy học và thao tác sưphạm qua sơ đồ sau:
Trang 8- Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình dạy học nói chung và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật trong dạy – học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng
Dạy học là một quá trình sư phạm phức tạp, vì quá trìnhnày có sự tham gia của nhiều yếu tố: mục tiêu dạy học, khungchương trình, vật dụng dạy học, sách giáo khoa, hoạt độngcủa thày, hoạt động của trò, môi trường dạy học, kiểm tra –đánh giá…trong đó:
Mục tiêu dạy học là kết quả mà GV hình dung ra trướcrồi sử dụng các phương pháp, biện pháp cách thức làm biếnđổi đối tượng cho phù hợp với mục tiêu mà mình đặt ra.Trong cuộc sống và hoạt động của con người nói chung vàtrong dạy học ở trường phổ thông nói riêng luôn luôn cónhững mục đích của công việc, hoạt động và chúng ta cũnghiểu mục tiêu nó hình thành từng tầng, từng lớp không có mộtmục tiêu duy nhất, ít nhất là có mục tiêu chung, mục tiêuriêng và cụ thể Ví dụ trong DHLS thì chúng ta có mục tiêucủa môn Lịch sử trong nhà trường, chúng ta lại có mục tiêucủa cấp học,mục tiêu của lớp học rồi của từng chương từngbài Mục tiêu dạy học càng được xác định cụ thể bao nhiêu thìcàng đúng đắn bấy nhiêu càng tốt bấy nhiêu Mục tiêu sẽ
Trang 9quyết định đến việc lựa chọn phương pháp dạy học, nội dungnào thì phương pháp ấy Mục tiêu đúng thì có phương phápđúng.
Đối với trong dạy học môn Lịch sử, mục tiêu luôn luônthể hiện các yếu tố mục tiêu về kiến thức, mục tiêu về nănglực và thái độ để hướng tới
Về nội dung dạy học tức là chúng ta không chỉ phải xácđịnh cho được mức độ kiến thức nông sâu, số lượng kiến thứcnhiều ít mà tổ chức cho học sinh phải trả lời cho câu hỏi dạycái gì? Cho một đối tượng ở lớp học cụ thể Nội dung mà xácđịnh rõ bao nhiêu, khách quan bao nhiêu thì càng đúng bấynhiêu, nội dung nào thì phương pháp ấy
Việc dạy cho học sinh không chỉ căn cứ vào chươngtrình sách giáo khoa không chỉ căn cứ vào sự hiểu biết củangười thầy, kiến thức của người thầy mà quan trọng hơn làcăn cứ vào đối tượng học sinh Nếu trường nào, lớp nào HSkhá thì số lượng kiến thức nhiều hơn, mức độ kiến thức sâuhơn và ngược lại thì phải giảm tải sao cho vừa đủ khả năngcủa học sinh vừa phải có những cố gắng nhất định
Trang 10Phương tiện dạy học là các phương tiện trực quan, đồdùng trực quan Một số vấn đề về kiến thức dạy học mà nhờ
có nó HS sẽ nhận thức LS một cách dễ dàng hơn, sinh độnghơn như: lược đồ, biểu đồ, phim tài liệu, tranh ảnh Xuất phát
từ đặc trưng của kiến thức LS mà các phương tiện dạy học cóvai trò rất lớn không chỉ giúp cho các em hiện đại hóa LS màcòn giúp các em nhận thức LS một cách trực quan sinh động
nó tác động đến các giác quan của học sinh: mắt nhìn, tainghe…
Hoạt động của thầy – trò (hay phương pháp dạy học):đây là hai hoạt động, hai yêu tố con người trong quá trình dạyhọc coó ai trò quyết định đến chất lượng dạy học HS vừa làchủ thể vừa là đối tượng của quá trình dạy học Hai hoạt độngnày thống nhất không tách dời nhau, thầy dạy thế nào thì HShọc thế đấy và ngược lại HS học thế nào thì thầy dạy thế đấy
…
Các yếu tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợtác động cho nhau để quá trình dạy học mang lại hiểu quả.Thiếu 1 yếu tố nào đó thì sẽ không còn là quá trình dạy họcnữa
Trang 11Trong các yếu tố trên thì hoạt động dạy của giáo viên vàhoạt động học của học sinh (thông qua sử dụng các phươngpháp, kĩ thuật, biện pháp và thao tác nghiệp vụ sư phạm…)đóng vai trò quyết định nhất đến chất lượng dạy học, học sinhvừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình dạy học Haihoạt động này nó thống nhất không tách rời nhau, thầy dạythế nào thì trò học thế đấy và ngược lại trò học thế nào thìthầy dạy thế đấy Các yếu tố khác phải thông qua hai yếu tốnày mà phát huy tác dụng dạy của thầy và học của trò Cácyếu tố khác phải thông qua hai yếu tố này mà phát huy tácdụng dạy của thầy và học của trò có thể sẽ phát huy được ưuthế của các yếu tố khác hoặc làm giảm đi ý nghĩa của các yếu
tố khác Ví dụ: mục tiêu đúng, phương tiện dạy học, phươngpháp, kiểm tra – đánh giá khách quan nhưng người thầy – trò
mà không sử dụng khách quan thì không đạt kết quả, chươngtrình sách giáo khoa dù có hoàn chỉnh, tốt đến đâu chăng nữathì cũng không đạt kết quả Các yếu tố như : phương tiện dạyhọc, SGK, môi trường dạy học là yếu tố chủ quan Mục tiêu làmục tiêu chung chung của nhà nước chứ không phải là cụ thểcho từng lớp học mà phải do người thầy hay chương trìnhSGK cũng thế người thầy sử dụng nó mà là thầy giỏi và vững
Trang 12về chuyên môn thì sẽ khắc phục được những nhược điểm củaSGK để tìm được những ưu điểm để dạy Mà vì vậy hoạtđộng của người thày- vai trò của đội ngũ GV, chất lượng của
GV có ý nghĩa quyết định đến quá trình dạy học
- Xu hướng đổi mới phương pháp giáo dục trên thế giới hiện nay
Thế giới bước sang thế kỉ XXI với đầy biến động vànhững chuyển biến to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội Điều này đã ảnh hưởng to lớn đến tình hìnhcác nước, các dân tộc và cuộc sống của mỗi cá nhân Điểmnổi bật trong sự biến động và chuyển biến đó là sự phát triểnnhanh chóng của khoa học công nghệ, sự hình thành một xãhội thông tin, kinh tế tri thức và xu thế hội nhập toàn cầu hóa.Những yếu tố đó ảnh hưởng mạnh mẽ tới giáo dục, tạo ra mộtlàn sóng đổi mới – cải cách giáo dục ở các nước trên thế giới
với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ theo phương châm “giáo dục cho thế kỉ XXI” của UNESCO:
Học để biết
Học để làm
Trang 13Học để chung sống
Học để khẳng định mình
Giáo dục phải đào tạo ra những con người có đầy đủnăng lực để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống như: năng lựcsáng tạo, năng lực tư duy, năng lực hợp tác, năng lực tự khẳngđịnh….đây chính là yêu cầu đối với mục tiêu giáo dục củanhiều nước trên thế giới và ở nước ta
Muốn hội nhập, học sinh cần phải có tiêu chuẩn cần thiết
để đáp ứng: kiến thức – học để biết (biết tiếp nhận thông tin,biết tạo lập và sử dụng thông tin tri thức như là công cụ tâm líbao gồm kĩ năng thực hành nghề nghiệp, tư duy sáng tạo, ócphê phán); kĩ năng học để làm
Giáo dục là một hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, cóliên quan mật thiết đến việc hình thành và phát triển conngười, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người
vì vậy quốc gia nào, dân tộc nào cũng đều hết xức quan tâmđến giáo dục nhưng, giáo dục hiện nay đang đứng trướcnhững sứ mệnh nặng nề do xã hội đặt ra, đang phải giải quyếtrất nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả
Trang 14năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã hội, đặc biệt lànăng lực hành động, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực vàtrách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lựcgiải quyết các vấn đề phức hợp…
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của cải cách giáo dục nói chung cũngnhư cải cách THPT nói riêng Mục tiêu, chương trình, nộidung dạy học mới đòi hỏi phải cải tiến phương pháp học và sửdụng những phương pháp dạy học mới Các nước muốn vươnlên, phát triển cao hơn, có thể đuổi kịp với các nước kháctrong khu vực và trên thế giới thì người ta phải tiến hành cảicách, đổi mới
Các nước phương Tây: Từ những năm 1950- 1960 ,
trào lưu cải cách giáo dục đã được tiến hành ở nhiều nước trênthế giới như Mĩ, Anh , Pháp, Italia… do tác động của nhu cầuphát triển xã hội nên các nước này đã khẩn trương tiến hànhcải cách, đổi mới phương pháp giáo dục, chuyển nền giáo dục
cổ truyền sang nên giáo dục hiện đại với các đặc trưng cơ
bản: “hướng chủ đạo là phát triển năng lực thay cho định hướng truyền thụ kiến thức; Chuyển từ dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học tổ chức các hoạt động học tập, phát
Trang 15huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo; Đảm bảo sự phát triển phong phú của giáo dục, làm cho giáo dục thích ứng với sự phát triển đa dạng của kinh tế thị trường hiện đại; Thay đổi nền giáo dục cổ truyền thành nền giáo dục hiện đại ở tất cả các thành tố của nó” [13; 45].
Các nước châu Á và trong khu vực:
Tại Nhật Bản, từ giữa những năm 1980, giáo dục NhậtBản đã bộc lộ những yếu tố khủng hoảng, họ nhận định rằng:
“Giáo dục nước ta đã quá thiên về đào tạo những con người sách vở cứng nhắc, thiếu năng lực sáng tạo và chủ kiến, thiếu những nhân tài được môt thức hóa về cá tính” Vì thế, chính
phủ Nhật Bản đã tiến hành cải cách giáo dục, họ đặt ra mụctiêu đào tạo một lớp người mới đầy năng lực sáng tạo, có khảnăng khám phá, có năng lực thích ứng nhanh với xã hội thôngtin, nhằm làm cho giáo dục phát triển, đảm bảo vị trí về siêucường về kinh tế- kĩ thuật của Nhật Bản khi bước vào thế kỉXXI, đồng thời vẫn giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắcdân tộc trong quá trình tiếp tục phát triển Hội đồng cải cáchgiáo dục Nhật Bản đã nêu lên tám nguyên tắc căn bản làm cơ
sở xây dựng chính sách phát triển giáo dục trong giai đoạn tới
là: “Tôn trọng hơn nữa nhân cách học sinh; Tăng cường kiến
Trang 16thức cơ bản; Phát triển óc sáng tạo; Tăng cường kĩ năng, kĩ xảo và tình cảm; Mở rộng cơ hội lựa chọn nhân tài; Nhân văn hóa môi trường giáo dục; Sớm chuyển tiếp qua hệ thống giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời; Theo kịp bước phát triển của quốc tế; Theo kịp tiến bộ tin học, tăng cường công nghệ thông tin” [47;13] Trọng tâm của cải cách giáo dục ở
Nhật Bản là đổi mới phương pháp dạy học và hình thức tổchức đào tạo, gây hứng thú tối đa cho người học, tiếp tục chútrọng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngườihọc
Với chủ trương “khoa giáo hưng quốc” từ năm 1992,Trung Quốc đã tiến hành cải cách giáo dục Cuộc cải cachgiáo dục ở Trung Quốc được chuẩn bị tương đối kĩ về lí luận,các cơ sở khoa học Họ tiến hành một cuộc cải cách giáo dụcsâu rộng, cải cách từ mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa,phương pháp dạy học, đánh giá và thi cử, cơ sở vật chất vàthiết bị dạy học, cải cách thể chế quản lí… Khâu đầu tiêntrong cuộc cải cách là “giải phóng tư tưởng”, nhằm thực hiệnmục tiêu chuyển từ nền giáo dục áp đặt sang nền giáo dụcphát triển tố chất con người Chính phủ Trung Quốc coi việcđổi mới phương pháp dạy học là công việc quan trọng và
Trang 17quyết định đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục phổthông, cần được tiến hành bằng nhiều giải pháp đồng bộ, nhấtquán và mang tính chiến lược lâu dài Phương châm chiến
lược phát triển giáo dục của Trung Quốc là “Giáo dục hướng
về hiện đại, giáo dục hướng tới tương lai và giáo dục hướng
ra thế giới”[1;53].
Ở các nước Đông Nam Á, cuộc cải cách giáo dục đượctiến hành ở nhiều nước từ những năm 1970 ( Singapo, Tháilan…), nhất từ sau cơn bão khủng hoảng tài chính năm 1977,
nó tiếp tục được đặt ra những chuyển biến cần thiết trong mộtthời gian nhưng vẫn không đáp ứng yêu cầu mới trong xu thếhội nhập Họ thấy rằng giáo dục phải đáp ứng tốt hơn yêu cầucủa kinh tế - xã hội, người học cần phải linh hoạt, sáng tạohơn nữa, có ý thức trách nhiệm đối với cá nhân và cộng đồnghơn nữa Từ cuối thế kỉ XX, ở các nước Singgapore,Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia… đều tiến hànhcải cách giáo dục với trọng tâm là làm cho hệ thống giáo dụcthích ứng hơn đối với những biến đổi của kinh tế - xã hội, chútrọng đặc biệt đến việc làm cho người học sáng tạo hơn, cótính tích cực trong công việc hơn Chính phủ các nước đã chútrọng đầu tư cho việc đổi mới không gian và môi trường giáo
Trang 18dục, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, làmcho người học chủ động, sáng tạo hơn Như Thái Lan đã chútrọng đến việc làm cho học sinh biết khao khát tìm kiếm trithức, khám phá cuộc sống và bản thân Còn Singapore đã đầu
tư lớn để đổi mới phương pháp dạy học, tập trung nâng caochất lượng giáo dục, biến Singapore thành địa chỉ đào tạo hấpdẫn đối với thanh thiếu niên nhiều nước
Tóm lại, chúng ta thấy rằng, rõ rằng cải cách giáo dụcnói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là một xuthế tất yếu khách quan trên toàn thế giới, là sản phẩm của sựphát triển kinh tế - xã hội, của sự biến đổi về nhu cầu, nănglực của người học, đơn đặt hàng của xã hội đối với giáo dục.Cải cách giáo dục phản ánh rõ quy luật về mối quan hệ ràngbuộc, phụ thuộc giữa giáo dục đối với kinh tế, chính trị, xãhội, văn hóa Ở Việt Nam, để có thể theo kịp, không bị tụt hậu
và dần dần ngang hàng với nền giáo dục của các nước tiêntiến trong khu vực và trên thế giới, chúng ta cũng cần đẩymạnh cuộc cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng nền giáodục đất nước
- Mục tiêu đổi mới chương trìnhvà phương pháp giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015
Trang 19Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung (truyền thụ kiến thức) sang dạy học theo hướng tiếp cận năng lực (giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực)
Theo chương trình tổng thể (dự thảo) của chương trìnhgiáo dục phổ thông mới ở Việt Nam (7/2015), mục tiêu đổimới chương trình giáo dục phổ thông là:
Chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinhphát triển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách
và thói quen; phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần trởthành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghềnghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và cácnăng lực cần thiết để trở thành người công dân có tráchnhiệm, người lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo
Chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp học sinhhình thành những cơ sở ban đầu cho sự hình thành và pháttriển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lựcđược nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông;định hướng chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương,những thói quen cần thiết trong học tập và sinh hoạt; có được
Trang 20những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất để tiếp tục học trunghọc cơ sở.
Chương trình giáo dục cấp trung học cơ sở nhằm giúphọc sinh duy trì và nâng cao các yêu cầu về phẩm chất, nănglực đã hình thành ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theocác chuẩn mực chung của xã hội; hình thành năng lực tự học,hoàn chỉnh tri thức phổ thông nền tảng để tiếp tục học lêntrung học phổ thông, học nghề hoặc bước vào cuộc sống laođộng
Chương trình cấp trung học phổ thông nhằm giúp họcsinh hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động,nhân cách công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ đối với Tổquốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và định hình các phẩm chất,năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở; có khả năng tựhọc và ý thức học tập suốt đời, có những hiểu biết và khảnăng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích,điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, họcnghề hoặc bước vào cuộc sống lao động
Các năng lực chung cần hình thành cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015
Trang 21Bên cạnh khái niệm năng lực, việc phân loại năng lựctrong học tập cũng là một vấn đề rất phức tạp Nghiên cứuchương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của cácnước trên thế giới có thể thấy, các nhà giáo dục chia năng lựcthành hai loại chính: những năng lực chung và năng lực cụthể, chuyên biệt.
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượngđầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàndiện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụngtri thức để giải quyết các vấn đề, tình huống thực tiễn nhằmchuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các vấn đề, tìnhhuống trong cuộc sống và nghề nghiệp Điều này, nhấn mạnhvai trò chủ thể của người học với tư cách là chủ thể của quátrình nhận thức và người học cần đạt được các năng lựcchung
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để conngười có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội Nănglực này được hình thành và phát triển toàn diện do nhiều mônhọc tạo thành, đòi hỏi sự vận dụng ở tất cả các bộ môn (toánhọc, vật lí, hóa học, sinh học, ngữ văn, lịch sử, địalí….).Trong các năng lực chung, nổi bật nhất vẫn là năng lực
Trang 22tư duy và năng lực thực hành Hội đồng châu Âu gọi năng lựcchung là năng lực chính, được nhiều nước trong Liên minhChâu Âu (EU) sử dụng [30;42].
Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước pháttriển, đối chiếu với yêu cầu kinh tế - xã hội và điều kiện giáodục trong nước Các nhà giáo dục, khoa học Việt Nam đã đềxuất chuẩn đầu ra về các năng lực chung, cần thiết được hìnhthành và phát triển cho học sinh THPT những năm sắp tới baogồm 8 năng lực sau:
Đề xuất, lựa chọn giải pháp
Thực hiện và đánh giá giải quyết vấn đề
Trang 23Xác định mục tiêu giao tiếp
Thể hiện thái độ giao tiếp
Lựa chọn nội dung và phương pháp giaotiếp
Trang 24Sử dụng và quản lý các phương tiện, công
cụ của công nghệ kỹ thuật số
Nhận biết, ứng xử phù hợp chuẩn mực đạođức và pháp luật trong xã hội hóa
Phát hiện và giải quyết vấn đề trong môitrường công nghệ tri thức
Trang 25Học tập, tự học với sự hỗ trợ của ICT
Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác qua môitrường ICT
Những năng lực này được giáo viên, nhà trường nhậndiện như là kết quả đầu ra được suy tính kĩ lưỡng (chuẩn đầura), đó là kết quả của quá trình dạy và học Vì vậy nhất thiếtphải phát triển được các chương trình giáo dục và áp dụng cácchiến lược dạy học phù hợp để nuôi dưỡng, hình thành cácnăng lực này Năng lực là một tổng hòa phức tạp của kiếnthức, kĩ năng và thái độ, của tiêu chí và giá trị Nghĩa là nănglực không phải là cái có sẵn, tồn tại trong mỗi con ngườingười mà ban đầu chỉ có tư chất của năng lực, những tư chấtnày được dần hình thành và phát triển, tích lũy trong quá trìnhhọc tập và lao động
Các năng lực chuyên biệt cần hình thành cho học sinh qua bộ môn Lịch sử
Trong học tập LS, nói đến năng lực của HS tức là phảinói đến khả năng thực hiện, nghĩa là HS không chỉ nhận biết,
Trang 26ghi nhớ (know – remember), hoặc biết và hiểu kiến thức(know – what), mà còn phải biết làm (know – how) và vậndụng vào cuộc sống (apply knowledge in life) Tất nhiên,hành động (làm, thực hiện) của HS phải gắn với ý thức và thái
độ, phải có kiến thức, kĩ năng cụ thể, chứ không phải làm mộtcách “máy móc”, “tùy tiện”
Để xác định năng lực cần hình thành và phát triển cho
HS trong DHLS ở trường phổ thông, ngoài những định hướngchung theo quan điểm của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục vàđào tạo, chúng tối căn cứ vào những yếu tố sau:
Thứ nhất, chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hệthống năng lực được quy định trong chương trình giáo dụcphổ thông Bên cạnh những năng lực chung (đã nêu ở trên),trong lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn (bao gồm mônLịch sử) cần hình thành và phát triển cho HS những năng lựcchuyên biệt: Giải quyết vấn đề về khoa học xã hội và nhânvăn, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh các sự kiện, hiệntượng không gian và thời gian
Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm của bộ môn LS ở trườngphổ thông là một trong những môn học cơ bản thuộc lĩnh vực
Trang 27khoa học xã hội Đối tượng tìm hiểu của LS là sự vận động vàphát triển của xã hội loài người trong quá khứ; làm rõ các quyluật và vận động và phát triển của xã hội loài người Bộ môn có
ưu thế đặc biệt trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, phẩmchất và hoàn thiện nhân cách HS,đặc biệt là phát triển năng lực
tư duy LS Do tồn tại nhận thức sai lầm “trọng khoa học tựnhiên, xem nhẹ khoa học xã hội”, nên LS vẫn bị xem là môn
“học thuộc”, môn học dựa vào trí nhớ Đó là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng dẫn đến chất dạy học bộ môn giảm sút,
LS chưa phát huy được vai trò của mình trọng việc phát triểnnăng lực cho học sinh
Thứ ba, đặc trưng của kiến thức lịch sử luôn mang tínhquá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, hệ thống, tính thốngnhất giữa sử và luận…nên LS có ưu thế đặc biệt trong việcphát triển năng lực tư duy cho HS (trí tưởng tượng, tư duy phêphán, tư duy logic…)
Thứ tư, xuất phát từ đặc trưng của nhận thức trong quátrình DHLS Nhận thức của HS trong học tập LS vừa phải tuânthủ quy luật chung (từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng), vừa phải phù hợp với đặc trưng của kiến thức LS Các
em luôn phải xuất phát từ sự kiện cụ thể để hình thành nên biểu
Trang 28tượng LS Từ đó tiến tới khái quát lí luận thông qua hình thành
hệ thống khái niệm và rút ra quy luật, bài học LS Khác vớinhận thức thông thường, nhận thức của HS trong học tập LSchủ yếu mang tính gián tiếp (các em bắt buộc phải tri giác tàiliệu để khôi phục lại sự kiện và tìm ra mối liên hệ bản chất bêntrong của các sự kiện hiện tượng, không có tài liệu thì khôngthể tri giác LS)
Thứ năm, xuất phát từ những yêu cầu của công cuộc cảicách giáo dục hiện nay Xu hướng chuyển đổi cách kiểm tra,đánh giá nặng về kết quả ghi nhớ kiến thức sang định hướngđánh giá theo năng lực HS Điều này đặt ra yêu cầu phải xácđịnh hệ thống năng lực riêng của bộ môn làm tiêu chí trongdạy học và kiểm tra, đánh giá
Thông thường, một thang NL sẽ có từ 4 đến 10 bậc Sốbậc càng nhiều thì việc đánh giá càng chi tiết, nhưng nếu quánhiều NL sẽ khá phức tạp Từ kết quả nghiên cứu lí luận, vậndụng và đào tạo sinh viên khoa Lịch sử - Trường ĐHSP HàNội và quá trình DHLS ở THCS & THPT Nguyễn Tất Thành(thuộc Trường ĐHSP Hà Nội) trong nhiều năm qua, nhóm tácgiả Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Mạnh Hưởng trong bài viếtcủa mình đã đưa ra hệ thống NL cần hình thành và phát triển
Trang 29chio học sinh trong DHLS ở trường phổ thông như sau:
NL thu thập và xử lí thông tin về các sự kiện, hiện tượngLS;
NL tái hiện quá khứ LS;
NL xác định mối liên hệ logic của các sự kiện, hiệntượng LS;
NL đánh giá, giải thích các sự kiện, hiện tượng theoquan điểm LS;
NL vận dụng kiến thức để hiểu biết, giải quyết các vấn đềđang diễn ra;
NL trình bày các sự kiện, hiện tượng LS
Những NL chuyên biệt của bộ môn LS này vừa gópphần vào hình thành và phát triển 8 NL chung (được nêutrong chương trình giáo dục phổ thông mới sau 2015), vừamang tính chuyên biệt (đặc thù đối với bộ môn LS) Nếu HS
có được 6 NL này qua học tập bộ môn, đương nhiên các em
sẽ có năng lực tự học, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NLhợp tác, có thêm điều kiện để hình thành NL thẩm mĩ…
Trang 30Để hiểu rõ hơn những NL cần hình thành và phát triểncho HS trong DHLS ở trường phổ thông, các tác giả cũng đưa
ra những biểu hiện của từng NL thông qua bảng sau [51; 6-7]
Biết chọn lọc thông tin, tư liệu LS chânthực, có giá trị
- Phân biệt được đâu là tư liệu thật, tưliệu giả; biết những thông tin không chânthực về các sự kiện, hiện tượng LS
2 Tái hiện quá
khứ LS
Có trí tưởng tượng phong phú, khôi phụclại các sự kiện, hiện tượng LS với đầy đủtính cụ thể tính hình ảnh, tính muôn hìnhmuôn vẻ của nó
Khôi phục được bức tranh LS với các yếu
tố chính về thời gian, địa điểm, nhân vật,
Trang 31diễn biến kết quả.
- Phân biệt được bối cảnh LS,diễn biếnchính, kết quả của các sự kiện, hiện tượngLS
- Hiểu được LS là hệ thống hoàn chỉnh,liên tục, không thể chia cắt: Một sự kiện,hiện tượng LS này mất đí sẽ là nguyênnhân nảy sinh sự kiện, hiện tượng khác;Một sự kiện LS mới xuất hiện là kết quảcủa những sự kiện trước đó
Xem xét những tác động của những điều
Trang 32theo quan
điểm LS
kiện đối với các sự kiện, hiện tượng LS
- Đánh giá được các sự kiện, hiện tượng
LS vừa phải đảm bảo tính khách quantrung thực của LS, vừa phải đảm bảo tính
tư tưởng, giá trị dân tộc, giá trị nhân văn
So sánh được các sự kiện, hiện tượng của
LS với các vấn đề đang xảy ra hiện nay;Rút ra những điểm tương đồng, khác biệt
Trang 33Để giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lựcchung cũng như năng lực chuyên biệt của bộ môn lịch sử,giáo viên cần sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực như: công não, KWLH, ZYZ, …
- Ý nghĩa của việc sử dụng các kĩ thuật dạy học để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong môn lịch sử ở trường phổ thông
Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực cụ thể là các kĩthuật: KWLH, XYZ, 321, công não, lắng nghe và phản hồitích cực, tranh luận trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Trang 34giữ một vai trò, vị trí quan trọng, định hướng cho giáo viênthay đổi từ cách dạy truyền thống theo lối mòn trước đâyhướng tới phương pháp dạy học mới chú trọng tính tích cựccủa học sinh Sử dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy họcmới cũng tạo điều kiện cho học sinh chủ động, tích cựcnghiên cứu bài học, hiểu rõ các sự kiện, hiện tượng lịch sử,tiến tới hình thành khái niệm và góp phần giáo dục tư tưởng,tình cảm, đạo đức cũng như phát triển toàn diện các em Cóthể nói sử dụng kĩ thuật dạy học này là một trong những conđường, biện pháp đổi mới phương pháp dạy học, góp phầnthực hiện mục tiêu môn học
Về bồi dưỡng kiến thức
Sử dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đạigóp phần giúp học sinh nắm vững kiến thức lịch sử trên cả bamức độ biết, hiểu, vận dụng
Thứ nhất, với việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực
như: KWLH, XYZ, công não, tranh luận…giúp học sinh tiếpnhận cũng như khám phá kiến thức mới một cách tự nhiên,chủ động, tích cực nghiên cứu bài học, lĩnh hội những kiếnthức mới và ghi nhớ kiến thức sâu sắc hơn Với đặc điểm tâm
Trang 35lí học sinh ở lứa tuổi trung học phổ thông Học sinh đã có thểtạo được tâm thế phân hóa trong trí nhớ: những kiến thức nàocần phải ghi nhớ từng câu từng chữ, kiến thức nào chỉ cầnhiểu mà không cần nhớ máy móc, Những kĩ thuật dạy học tíchcực tạo cho học tính độc lập cao khi nghiên cứu kiến thức, lựachọn những sự kiện quan trọng cần ghi nhớ hay những sựkiện lịch sử nào cần hiểu sâu Tích cực, chủ động trong họctập giúp học sinh lĩnh hội kiến thức theo sự sắp xếp logic củachính các em thay vì cách ghi nhớ máy móc những sự kiệntheo trình tự mà giáo viên cung cấp, cho ghi chép như trướcđây.
Thứ hai, sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực này
giúp học sinh hiểu rõ vấn đề, sự kiện lịch sử một cách sâu sắcvới đúng bản chất của nó Việc sử dụng một số kĩ thuật dạyhọc tích cực vào tổ chức hoạt động học tập , giáo viên địnhhướng, giúp đỡ học sinh nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề,
sự kiện lịch sử một cách sâu sắc trên nhiều góc độ để tìmnguyên nhân, ý nghĩa hay bản chất của sự kiện
Thứ ba, các kĩ thuật dạy học tích cực, trong đó có kĩ
thuật dạy học “KWLH,XYZ,321 và công não, lắng nghe vàphản hồi tích cực, tranh luận” sẽ tạo điều kiện cho học sinh
Trang 36phát huy nhiều hơn khả năng vận dụng kiến thức linh hoạt,sáng tạo Khi sử dụng một số kĩ thuật này trong dạy học đòihỏi học sinh có sự liên hệ, vận dụng linh hoạt nhiều lĩnh vựckiến thức khác nhau hoặc vận dụng chính những kiến thứcvừa học được để thực hiện nhiệm vụ học tập mà giáo viên yêucầu.
Ví dụ, khi sử dụng kĩ thuật KWLH, học sinh được yêucầu hoàn thành cột H (tức How có nghĩa là các em vận dụngđược gì và như thế nào với kiến thức đã có và vừa học đượcvào nghiên cứu cũng như trong cuộc sống) Học sinh sẽ cụ thểhóa những kiến thức vừa học trong bài, trong chương hoặctrong cả một phần thành những ý tưởng, hành động cụ thể
Về kĩ năng
Việc sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực như:
“KWLH, XYZ, 321, Công não, lắng nghe và phản hồi tíchcực, tranh luận” mang ưu thể nổi bật trong việc phát triển cácnăng lực, kĩ năng cho học sinh
Thứ nhất, sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực có ý
nghĩa quan trọng trong việc phát triển các năng lực học tập lịch
sử cần thiết cho học sinh như tri giác, ghi nhớ, hình dung –
Trang 37tưởng tượng, năng lực thực hành, các kĩ năng suy luận, phântích, tổng hợp, kĩ thuật dạy học XYZ có ưu thế phát huy kĩnăng lực hợp tác, làm việc nhóm, các em sẽ được rèn luyệnnhững kĩ năng xã hội, làm việc cùng nhau sẽ phải học cách tintưởng người khác, chấp nhận và hỗ trợ lẫn nhau Học sinh sẽphải học cách giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình thựchiện nhiệm vụ Trong trương hợp này những kĩ năng hợp tác
sẽ tạo ra các tình huống thực tế để áp dụng kĩ năng đã có vàothực tiễn
Thứ hai, góp phần phát triển ở học sinh sự tự tin, nâng
cao tính hứng thú trong học tập, phát triển tư duy và rèn luyệncho học sinh năng lực diễn đạt một vấn đề lịch sử, các kỹnăng giao tiếp cá nhân như: nghe, nói, tranh luận, lãnh đạo vàkhả năng hợp tác, tương hỗ giúp học sinh tự tin hơn trong họctập và cuộc sống, tập họp được những ý kiến sáng tạo củatừng cá nhân, từ đó sản phẩm học tập sẽ giàu tính sáng tạo,tạo cơ hội tối đa cho mọi thành viên trong lớp học được bộc lộhiểu biết và quan điểm của mình về nội dung và phương pháphọc tập, cũng như các lĩnh vực khác, giúp các em có nhiều cơhội rèn luyện các khả năng diễn đạt, cách thức tư duy và ýtưởng của mình Những hình thức dạy học hiện đại này còn có
Trang 38thể hiện sự đa dạng và hiệu quả, nhất là đối với các lĩnh vựctri thức, phương pháp tư duy và kỹ năng diễn đạt Ví dụ khivận dụng phương pháp dạy học hợp tác trong một bài học cụthể, trách nhiệm truyền đạt, học và hiểu bài được chuyển giao
cụ thể cho người học Do vậy các thành viên trong mỗi nhómđều phải nâng cao trách nhiệm và sự nỗ lực của mình trướcnhóm
Thứ ba, góp phần hình thành năng lực tự đánh giá, tự ý
thức, phát triển kĩ năng xã hội Các phương pháp, kĩ thuật dạyhoc hiện đại tạo điều kiện cho học sinh so sánh đối chiếu quátrình làm việc, kết quả với các thành viên khác trong nhóm,trong lớp để từ đó tự điều chỉnh, đánh giá mình, tạo điều kiện
để các thành viên trong lớp học được chia sẻ, học hỏi kinhnghiệm lẫn nhau để thiết lập các mối quan hệ, có tinh thầnđoàn kết
Về mặt tư tưởng, thái độ
Sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực góp phần bồidưỡng, giáo dục tư tưởng, tình cảm, phẩm chất cho học sinh
Thứ nhất, sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực
“KWLH,XYZ,321, Công não, Lắng nghe và phản hồi tích
Trang 39cực, Tranh luận” giúp học sinh rèn luyện tinh thần vượt khó,kiên trì trong lao động học tập Những kĩ thuật dạy học nàyđòi hỏi tinh thần chủ động, tích cực tham gia các hoạt độnghọc tập của học sinh để thực hiện các nhiệm vụ bài học.Đốivới những nhiệm vụ học tập khó hơn, ví dụ như những nhiệm
vụ tự chọn khi tiến hành học theo nhóm, học sinh cần phảikiên trì nhẫn nại để nghiên cứu, suy tìm ra câu trả lời
Thứ hai, sử dụng những kĩ thuật dạy học tích cực góp
phần nâng cao tinh thần hợp tác trong lao động học tập, thái
độ tôn trọng bạn bè Ví dụ như kĩ thuật lắng nghe và phản hồitích cực cũng đòi hỏi học sinh có tính kiên trì, tinh thần đoànkết với toàn nhóm để hoàn thành sản phẩm nhiệm vụ
Thứ ba, góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục của
bài học Khi sử dụng những kĩ thuật dạy học mới, học sinh có
cơ hội được trình bày, thể hiện những quan điểm, thái độ củacác em với những vấn đề lịch sử, từ đó góp phần bồi dưỡng tưtưởng, tình cảm cho các em Với những kĩ thuật dạy học tíchcực, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động trong việcnghiên cứu, phân tích và đưa ra những quan điểm của mình vớinhững sự kiện, vấn đề lịch sử quan trọng Thái độ kính yêu,căm thù, cảm thông qua các sự kiện lịch sử hay qua một nhân
Trang 40vật được chính học sinh tìm hiểu, khám phá và trình bày quanđiểm cá nhân sẽ góp phần khắc sâu kiến thức bài học trong tâmtrí các em.
Ví dụ:Về nhân vật Tôn Thất Thuyết Tôn Thất Thuyếtmột mặt phế bỏ vua này lập vua kia, quyền thế gần nhưkhuynh đảo triều đình phong kiến Huế Mặt khác, ông làngưới có tinh thần kháng Pháp mạnh mẽ, là người chủ mưu
vụ phản công quân Pháp tại Kinh thành Huế (7/1885) và lấydanh nghĩa vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vươngsôi nổi suốt những năm cuối thế kỉ XIX…Qua việc tìm hiểunhững sự kiệ, học sinh đưa ra đánh giá của mình Giáo viênkhông ép buộc mà định hướng các em có cái nhìn đúng đắn
và khách quan
Tuy nhiên cần nhận thức rằng, những kĩ thuật dạy họcnày ngoài những ưu điểm như trên, còn có những hạn chếriêng của nó Nếu áp dụng một cách tràn lan mà không tínhđến mục đích, yêu cầu, nội dung và đối tượng học sinh cụ thể,không phối hợp với các phương pháp khác, không coi trọngvai trò của giáo viên, thì chẳng những không nâng cao đượcchất lượng mà còn làm cho hiệu quả bài học trở nên kém chấtlượng dẫn tới phản tác dụng Việc sử dụng kĩ thuật nào cho