1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến tầng chứa nước dưới đất áp dụng cho đảo côn sơn, huyện côn đảo, tỉnh bà rịa vũng tàu

24 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 878,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, đề tài luận án “Nghiên cứu lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến tầng chứa nước dưới đất – Áp dụng cho Đảo Côn Sơn, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” được hình thành nhằm đánh giá mức độ tác

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Tại các vùng biển đảo như Đảo Côn Sơn, nguồn nước sạch đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển toàn diện của đảo Do nguồn nước mặt hạn chế nên việc khai thác và cung cấp nguồn nước sạch phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cư dân trên Đảo Côn Sơn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước dưới đất (NDĐ)

Nghĩa trang Côn Đảo có lịch sử hình thành lâu đời và là nghĩa trang lớn nhất trên Đảo Côn Sơn Do nghĩa trang nằm trong khu vực bao gồm các loại đất cát

bở rời, ngay trên tầng chứa nước mà không có lớp sét ngăn cách nên nước rỉ xác từ nghĩa trang lan truyền ô nhiễm đến tầng chứa nước nằm bên dưới là có

thể xảy ra Vì vậy, đề tài luận án “Nghiên cứu lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến tầng chứa nước dưới đất – Áp dụng cho Đảo Côn Sơn, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” được hình thành nhằm đánh giá mức độ tác động của nghĩa trang

đến chất lượng nguồn NDĐ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp cơ sở khoa học cho việc quản lý môi trường các nghĩa trang và góp phần bảo vệ môi trường NDĐ tại và xung quanh khu vực các nghĩa trang

2 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Xác định thông số lan truyền chất ô nhiễm vào dung dịch đất nghĩa trang;

- Đánh giá và dự báo mức độ lan truyền chất ô nhiễm phát thải từ nghĩa trang đến tầng chứa NDĐ

2.2 Ý nghĩa khoa học

- Bước đầu tiếp cận phương pháp xác định thông số lan truyền chất của một tầng chứa nước lỗ hổng bằng thực nghiệm trong phòng thí nghiệm để làm dữ liệu đầu vào cho một mô hình lan truyền chất trong điều kiện không có thí nghiệm hiện trường

- Vận dụng mô hình Hydrus 1D để tối ưu hóa việc tìm nghiệm bài toán phi tuyến tính do phụ thuộc nhiều yếu tố (tham số)

Trang 2

2

- Sử dụng phần mềm GMS để mô phỏng hệ thống NDĐ cho một khu vực và có thể vận dụng mô phỏng này để tìm lời giải bài toán lan truyền chất nhằm dự báo ô nhiễm nguồn NDĐ cho các khu vực khác

2.3 Ý nghĩa thực tiễn

- Phương pháp thực nghiệm được trình bày trong Luận án có thể ứng dụng, thực hiện ở các khu vực khác có điều kiện địa chất thủy văn tương tự và chưa

có thí nghiệm hiện trường

- Kết quả dự báo mức độ lan truyền chất amoni N-NH4+ là thông tin hữu ích cho các nhà quản lý và quy hoạch định hướng khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên NDĐ trên địa bàn đảo Côn Sơn như: khoanh định vùng cấm và hạn chế khai thác NDĐ, vùng bảo vệ vệ sinh, … theo Thông tư quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành

3 Phương pháp nghiên cứu

Hai phương pháp nghiên cứu trọng chính đã được dùng trong luận án là phương pháp mô hình số và thực hiện thí nghiệm mô phỏng quá trình lan truyền chất trong phòng thí nghiệm kết hợp phương pháp mô phỏng toán học trên phần mềm GMS 10 Mô hình thu nhỏ trong phòng thí nghiệm được nghiên cứu sử dụng để xác định các hệ số lan truyền chất trong dung dịch đất Côn Sơn với tỷ

lệ 1/30 so với công trình thực tế

4 Đóng góp mới của luận án

(1) Xác định giá trị các thông số lan truyền chất hòa tan trong dung dịch đất bằng phương pháp thực nghiệm trong quy mô phòng thí nghiệm kết hợp với ước tính tối ưu thông số bằng mô hình Hydrus 1D

(2) Đề xuất quy trình tổng quát xác định sự lan truyền ô nhiễm trong tầng chứa nước dưới đất ở các khu vực khác

6 Cấu trúc luận án

Luận án gồm có các phần: Mở đầu, 03 chương, kết luận và kiến nghị những nghiên cứu tiếp theo Tổng cộng có 139 trang, trong đó có 56 hình, 28 bảng biểu và các công thức tính toán, phương trình phản ứng hóa học Phần phụ lục

có 19 trang

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về mô hình dòng chảy NDĐ

Để mô phỏng hệ thống NDĐ thì phương pháp mô hình toán thường được sử dụng Bên cạnh chức năng mô phỏng dòng chảy cho chuỗi thời gian hiện tại thì các mô hình mô phỏng NDĐ còn có khả năng dự báo các thay đổi hay tác động đến các tầng chứa NDĐ trong tương lai Các mô hình toán được sử dụng để mô phỏng dòng chảy NDĐ trong các nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm MODFLOW, SEAWAT, FEFLOW, TGFM, GSFLOW và PHREEQC-2

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến tầng chứa nước dưới đất

Tại Việt Nam, thông tin về các nghiên cứu trong nước có liên quan đến vấn đề

ô nhiễm nguồn NDĐ tại các nghĩa trang hiện chưa được tìm thấy Một số nghiên cứu liên quan của các tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2009), Nguyễn Thị Vân Hà (2010), Huỳnh Ngọc Phương Mai và cộng sự (2012) là các nghiên cứu ứng dụng mô hình toán (trong đó có sử dụng phần mềm GMS) để mô phỏng quá trình di chuyển của các chất ô nhiễm trong NDĐ trong một khu vực hay bãi chôn lấp cụ thể Tuy nhiên, việc kế thừa các hệ số lan truyền chất có từ các nghiên cứu ngoài nước làm dữ liệu ban đầu cho mô hình toán đã dẫn đến kết quả bài toán mô phỏng lan truyền của các tác giả nêu trên có mức độ tin cậy không cao

Trên thế giới hiện có ít nghiên cứu cụ thể về tình trạng ô nhiễm của nghĩa trang đến chất lượng của NDĐ Các nghiên cứu trên thế giới về khả năng lan truyền ô nhiễm trong các tầng chứa NDĐ xuất phát điểm từ các nghĩa trang tiêu biểu như của tác giả Van Haaren F.W.J (1951), Dent B B và Knight M J (1996,1998), Young C.P và cộng sự (1999), Environment Agency for England and Wales (2004), Hart A và Casper S (2004), Sanaz Khorami Pour và Seyed Mostafa Khezri (2010) phần lớn chỉ dừng lại ở việc khảo sát, phân tích chất lượng NDĐ thực địa và xác định nguồn gốc, nguyên nhân gây ô nhiễm ngay tại

và xung quanh khu vực nghĩa trang và chưa ứng dụng cụ thể các biện pháp xử

Trang 4

Tuy nhiên, với đặc thù địa chất từng vùng nghiên cứu không giống nhau cũng như sự khác biệt giữa các phương pháp đo lường hay phần mềm hỗ trợ tính toán đã cho thấy khoảng giá trị của các hệ số lan truyền tương ứng khác nhau ngay cả trên cùng một dạng chất hòa tan

Tại Việt Nam, hiện chưa ghi nhận bất kỳ nghiên cứu nào trên một khu vực thực địa cụ thể nhằm xác định các hệ số lan truyền chất trong dung dịch đất với phương pháp thực nghiệm trên các cột đất kết hợp với sự hỗ trợ của phần mềm tính toán hỗ trợ

1.4 Đánh giá tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

Nhìn nhận tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy:

- Việc ứng dụng mô hình toán trong mô phỏng dòng chảy NDĐ rất phổ biến và

có nhiều mô hình khác nhau đã được chọn lựa sử dụng để mô phỏng dòng chảy NDĐ cho một vùng, một khu vực cụ thể Với sự tích hợp của nhiều gói chức năng hỗ trợ tiên tiến và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu khả năng lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến tầng chứa nước thì phần mềm GMS 10 được đề xuất

sử dụng trong Luận án

- Số lượng hạn chế trong các nghiên cứu ô nhiễm nghĩa trang và sự tồn đọng trong vấn đề giải quyết xử lý ô nhiễm nghĩa trang cho thấy vấn đề ô nhiễm nghĩa trang chưa nhận được sự quan tâm thích đáng từ cộng động và xã hội

- Liên quan đến bài toán ô nhiễm nghĩa trang, phần lớn các nghiên cứu ngoài nước chỉ dừng lại ở việc khảo sát, phân tích chất lượng NDĐ thực địa và xác định nguồn gốc, nguyên nhân gây ô nhiễm ngay tại và xung quanh khu vực

Trang 5

nghĩa trang Tại Việt Nam, hiện chưa ghi nhận bất kỳ công trình nghiên cứu nào liên quan đến nghĩa trang

- Đối với vấn đề xác định các hệ số lan truyền chất hòa tan trong dung dịch đất, phần lớn các nghiên cứu ngoài nước sử dụng phương pháp thực nghiệm lan truyền chất hòa tan trong các ống cột đất hoặc trong lỗ khoan quan sát ngay tại thực địa kết hợp với các phương pháp xác định mức độ hấp phụ và định lượng nồng độ chất bị hấp phụ khác nhau - được ước tính theo phương pháp giải tích hoặc ước tính trên các phần mềm hỗ trợ Sự kết hợp giữa các phương pháp nêu trên đã xác định được giá trị các hệ số lan truyền của các chất hòa tan khác nhau, tương ứng với các đặc tính đất khác nhau

Điểm khác biệt tạo nên tính mới của đề tài “Nghiên cứu lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến tầng chứa nước dưới đất - áp dụng cho Đảo Côn Sơn, Côn Đảo,

Bà Rịa Vũng Tàu” so với các nghiên cứu trong và ngoài nước đó là xác định được mức độ ô nhiễm, phạm vi và hướng lan truyền chất ô nhiễm phát thải từ nghĩa trang đến NDĐ dựa trên cơ sở xác định cụ thể các hệ số lan truyền chất ô nhiễm trong dung dịch đất pha cát như ở Côn Đảo bằng phương pháp thực nghiệm kết hợp các mô hình toán

Kết luận Chương 1

Đánh giá tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về ô nhiễm nghĩa trang cho thấy bài toán ô nhiễm nghĩa trang chưa thu hút được sự quan tâm từ phía các nhà khoa học đến cộng đồng Tuy đã có số ít các công trình ngoài nước nghiên cứu về lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang nhưng các nghiên cứu này phần lớn là đưa những hệ số lan truyền giả định hoặc tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà chưa xác định cụ thể các hệ số lan truyền phù hợp với vùng nghiên cứu Chính điều này đã đưa đến kết quả đánh giá mức độ ô nhiễm tại các nghĩa trang thiếu tính chính xác và thiếu độ tin cậy Nhìn nhận từ những hạn chế của các nghiên cứu về ô nhiễm nghĩa trang đã được thực hiện, đề tài nghiên cứu lan truyền ô nhiễm nghĩa trang đến các tầng chứa NDĐ áp dụng cho Đảo Côn Sơn, Huyện Côn Đảo được hình thành

Trang 6

6

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM

Mối liên hệ giữa các cơ sở nghiên cứu và hệ giữa các mô hình mô phỏng được

đề xuất sử dụng trong phạm vi đề tài được thể hiện ở Hình 2.1 và Hình 2.2

Hình 2.1 Sơ đồ cơ sở nghiên cứu lan truyền ô nhiễm từ nghĩa trang đến NDĐ

Hình 2.2 Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các mô hình số trong Luận án

Cơ sở

thực

nghiệm

Thực nghiệm lan truyền ô nhiễm trên các cột đất thực địa

Xác định thực nghiệm các

hệ số lan truyền chất ô nhiễm trong dung dịch đất

MODFLOW

Mô phỏng dòng chảy NDĐ

RT3D

Mô phỏng lan truyền chất

HYDRUS 1D

Ước tính các thông số lan truyền chất ô nhiễm

- Xác định hướng dòng chảy NDĐ

Vận tốc dòng chảy - Phân vùng nồng độ ô

nhiễm từ nguồn thải xuống tầng chứa NDĐ

- Xác định thời gian lan truyền ô nhiễm và phạm vi vùng ô nhiễm

Kết quả thực nghiệm

mô phỏng lan truyền chất trên các cột đất

Trang 7

2.1 Cơ sở lý thuyết mô hình dòng chảy NDĐ

Mô hình dòng chảy NDĐ MODFLOW thuộc phần mềm GMS 10., được sử dụng để mô phỏng sự thay đổi mực NDĐ và lưu lượng dòng chảy trong cân bằng với điều kiện địa chất thủy văn được xác định trong mô hình và có thể mô phỏng sự thay đổi này trong tương lai dựa vào sự thay đổi áp lực trong các tầng chứa nước

Có 03 loại điều kiện biên chính được sử dụng trong mô hình bao gồm:

- Điều kiện biên loại I: là điều kiện biên mực nước được xác định trước

- Điều kiện biên loại II: là điều kiện biên dòng chảy được xác định trước

- Điều kiện biên loại III: là điều kiện biên lưu lượng trên biên phụ thuộc vào

mực nước

2.2 Cơ sở lý thuyết mô hình lan truyền chất ô nhiễm

Mô hình RT3D thuộc phầm mềm GMS 10., là mô hình mô phỏng quá trình lan truyền chất ô nhiễm trên cơ sở mô phỏng các quá trình đối lưu, phân tán và các phản ứng hóa học xảy ra trong dung dịch đất và NDĐ dưới những điều kiện thủy lực tổng quát Điểm ưu việt của mô hình RT3D so với nhiều dạng mô hình

mô phỏng lan truyền ô nhiễm khác như MT3DMS, SEAM3D là chức năng cung cấp gói phản ứng hóa học thích hợp với các dạng đa chất và đa dạng các biện pháp xử lý chất ô nhiễm

Kết quả mô phỏng của RT3D là xác định vùng thu giữ chất ô nhiễm và nồng độ các chất nhiễm bẩn còn lại theo từng bước tính toán ở trạng thái cân bằng với

hệ thống dòng chảy NDĐ và điều kiện thủy hóa được xác định trong mô hình

Các điều kiện mô hình

- Điều kiện ban đầu được viết dưới dạng:

),,()

- Điều kiện biên loại I: Là điều kiện nồng độ được xác định dọc theo biên trong

suốt thời gian thiết lập mô hình

Trang 8

8

- Điều kiện biên loại II: Là điều kiện biên mà gradient nồng độ chất ô nhiễm

dC/dx được xác định dọc theo biên trong suốt thời gian tính toán mô hình

- Điều kiện biên loại III: Là điều kiện biên mà giá trị nồng độ chất ô nhiễm dọc

theo biên và gradient nồng độ được xác định dọc theo biên

2.3 Cơ sở lý thuyết mô hình Hydrus 1D

Hydrus 1D là mô hình mô phỏng: (1) dòng chảy NDĐ bão hòa một chiều, (2) lan truyền nhiệt và (3) lan truyền chất hòa tan trong môi trường vật liệu có độ rỗng ở cả điều kiện ổn định và nhất thời

Một trong những ưu điểm nổi bật của Hydrus 1D là ước tính ngược thhông số lan truyền chất theo thuật toán Marquardt-Levenberg Quy trình ước tính các hệ

số lan truyền chất trong Luận án được thực hiện theo sơ đồ Hình 2.3

Kết quả thí nghiệm

Nhập vào

Thí nghiệm lan

truyền chất

hòa tan

(1) Chuỗi giá trị nồng độ chất

hòa tan theo thời gian C(t)

(2) Giá trị đặc tính cơ lý hóa

Thông số giả định ban đầu trong Hydrus 1D

(4) Đặc tính đất: α, n, l, K sat theo phương trình Van Genuchten

(5) Thông số dòng chảy NDĐ: 𝜆

(6) Thông số phản ứng: r 0 , 𝜆, F, K d , β, η, ω, α

Hydus 1D - Quy trình ước tính ngược

Tối ưu các thông số

(7) Đặc tính đất: θ s , θ r , α, n, l, K sat (8) Thông số dòng chảy NDĐ: 𝜆, D

(9) Thông số phản ứng: K d ,, F, α

Kết quả ước tính ngược

Nhập vào

Hydus 1D - Quy trình ước tính thuận

(Nhằm kiểm định kết quả tối ưu thông số)

Kết quả ước tính thuận

Chuỗi giá trị nồng độ chất hòa tan lan truyền trong cột đất theo thời gian

So sánh kết quả ước tính thuận với kết quả thí nghiệm dựa trên giá trị RSQUARE (R2)Kết thúc

Hình 2.3 Quy trình ước tính các hệ số

lan truyền chất

Nhập vào

Trang 9

2.4 Cơ sở thực nghiệm lan truyền chất hòa tan trên các cột đất thực địa

2.4.1 Mục tiêu thực nghiệm

- Xác định hệ số phân tán D trong dung dịch đất thông qua việc mô phỏng lan

truyền dung dịch natri clorua NaCl trong các cột đất Côn Sơn

- Xác định hệ số phân vùng hấp phụ amoni K d , hệ số chuyển đổi chất α và thông số phân vùng hấp phụ F theo sự lan truyền của ion N-NH4+ - một thành phần trong dung dịch amoni clorua NH4Cl (N-NH4+ được xác định là chất gây ô nhiễm chính của tầng chứa NDĐ Côn Sơn)

2.4.2 Quy trình thực nghiệm lan truyền amoni

Các thí nghiệm được thực hiện trên 04 ống cột nhựa có D=9cm và chiều cao H=70cm theo tỷ lệ thu nhỏ 1/30 so với chiều cao phẫu diện đất thực tế tại Trạm quan trắc CS9 (xem Hình 2.4) - là trạm quan trắc NDĐ quốc gia nằm ngay phía cổng nghĩa trang Côn Đảo

Hình 2.3 Sơ đồ thí nghiệm lan truyền trên 04 ống cột

Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm theo trình tự các bước sau:

- Bước 1: nước thủy cục được bơm đẩy với tốc độ thấp vào mỗi ống cột trong

24 giờ để tạo môi trường vật liệu hoàn toàn bão hòa

- Bước 2 - Bước thu nhận chuỗi giá trị nồng độ Cl - theo thời gian: dung dịch natri clorua NaCl với nồng độ 5,8 g/l được bơm vào các ống cột

Trang 10

10

- Bước 3: nước thủy cục được bơm lại vào các ống cột nhằm loại bỏ hoàn toàn

NaCl còn tồn đọng trong dung dịch đất

- Bước 4 - Bước thu nhận chuỗi giá trị nồng độ N-NH 4 + theo thời gian (trường hợp 1): bơm dung dịch amoni clorua NH4Cl với nồng độ từ 4,84÷102,88 mg/l

và với lưu lượng không đổi là 20 ml/phút vào các ống cột thí nghiệm khác nhau

- Bước 5 - Bước thu nhận chuỗi giá trị nồng độ N-NH 4 + theo thời gian (trường hợp 2): định lượng sự ảnh hưởng của lưu lượng dòng chảy đối với nồng độ N-

NH4+ không đổi 100±2 mg/l và lưu lượng dòng chảy được sử dụng lần lượt là

10, 20 và 30 ml/phút

Trong suốt quá trình thí nghiệm, pH và nhiệt độ dung dịch được duy trì ổn định với giá trị pH = 7,8÷8,2 và t = 30ºC ± 2ºC

Kết luận Chương 2

Trong phạm vi Luận án, phần mềm GMS 10 bao gồm các module MODFLOW

và RT3D được đề xuất sử dụng như một công cụ nghiên cứu lan truyền ô nhiễm

từ nghĩa trang đến tầng chứa NDĐ Các cơ sở lý thuyết về dòng chảy NDĐ, lan truyền chất ô nhiễm hòa tan trong NDĐ và các mô hình mô phỏng lan truyền ô nhiễm đóng vai trò là cơ sở khoa học trong việc thiết lập mô hình mô phỏng lan truyền chất ô nhiễm phát thải từ nghĩa trang và hiệu chỉnh - kiểm định các mô hình mô phỏng

Cơ sở thực nghiệm các thí nghiệm là các yêu cầu quan trọng để có thể tiến hành thí nghiệm Từ các kết quả thí nghiệm lan truyền 1D trên các cột đất, phần mềm Hydrus 1D được đề xuất sử dụng để ước tính thành các hệ số lan truyền chất ô nhiễm hòa tan cần thiết Giá trị của các hệ số này là dữ liệu mới, quan trọng và giúp gia tăng độ tin cậy của bài toán mô phỏng hóa lan truyền ô nhiễm và xử lý

ô nhiễm tại nghĩa trang áp dụng cho nghĩa trang Côn Đảo so với các nghiên cứu ngoài nước trước đây về ô nhiễm nghĩa trang

Trang 11

CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG NGHIÊN CỨU CHO NGHĨA TRANG CÔN ĐẢO, ĐẢO CÔN SƠN, HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

3.1 Tổng quan vùng áp dụng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Đảo Côn Sơn là đảo lớn nhất thuộc huyện Côn Đảo có diện tích 51,52km2, chiều dài khoảng 15km, chiều ngang chỗ rộng nhất là 9km, chỗ hẹp khoảng 1km Địa hình Côn Đảo chủ yếu là đồi núi Độ cao thay đổi từ 2 mét đến 577m,

độ cao trung bình 200÷300m với các kiểu hình thái địa mạo: núi, đồi, các bậc thềm bóc mòn và địa hình tích tụ Khí hậu đảo Côn Sơn mang tính chất khí hậu biển trên nền khí hậu nhiệt đới gió mùa

Côn Đảo có 3 phân vị địa tầng địa chất thủy văn: tầng Holocen (qh), tầng Pleistocen (qp) và các thành tạo địa chất nghèo nước hoặc không chứa nước (Mz) Trong đó tầng Pleistocen (qp) là tầng phục duy nhất cho nhu cầu khai thác và sinh hoạt của cư dân Đảo Côn Sơn

Trong hầu hết các lỗ khoan nghiên cứu, lớp cát hạt mịn chiếm tới 70%, cát trung thô chiếm tỷ lệ nhỏ Cát hạt mịn có mức độ đồng nhất khá cao Hiện nay tất cả các giếng đều khai thác từ tầng này

3.1.2 Tổng quan về chất lượng nguồn nước tại Thung lũng Côn Sơn

Kết quả phân tích hóa lý chất lượng NDĐ tại 12 trạm quan trắc NDĐ thuộc Thung lũng Côn Sơn từ 2005-2015 cho thấy phần lớn các chỉ tiêu phân tích chất lượng NDĐ tại các trạm quan trắc trong 10 năm quan trắc cho kết quả đạt quy chuẩn QCVN 09:2015/BTNMT Tuy nhiên vẫn có một số chỉ tiêu vượt quy chuẩn, trong đó nồng độ N-NH4+ được ghi nhận vượt quy chuẩn trong nhiều năm tại các trạm quan trắc và một số chỉ tiêu vượt quy chuẩn khác như COD, nitrit cũng được ghi nhận có giá trị gia tăng đột biến, nhưng các chỉ tiêu này có giá trị vượt chuẩn trong một khoảng thời gian ngắn hoặc không được ghi nhận đầy đủ số liệu, do đó không đủ cơ sở khoa học để tiến hành nghiên cứu chuyên sâu

Kết quả phân tích chất lượng nước mặt cho thấy, nước mặt ở Hồ Quang Trung

Trang 12

3.1.3 Hiện trạng ô nhiễm tại nghĩa trang Côn Đảo

Với vị trí nằm phía trước cổng nghĩa trang Côn Đảo và thuận theo hướng dòng chảy NDĐ của toàn Thung lũng Côn Sơn do đó các giá trị phân tích chất lượng NDĐ của trạm CS9 được đề xuất là giá trị đại diện cho chất lượng NDĐ của nghĩa trang Côn Đảo

Kết quả phân tích chất lượng NDĐ tại trạm quan trắc NDĐ CS9 và toàn Thung lũng Côn Sơn cho thấy, nồng độ N-NH4+ tại trạm CS9 nói riêng hay tại khu vực nghĩa trang Côn Đảo nói chung trong 10 năm hiện trạng có xu hướng giảm Bản chất là một ion tương đối di động nên khi xâm nhập vào trong nguồn NDĐ, amoni N-NH4+ có khả năng lan truyền nhanh trong nước và làm ô nhiễm NDĐ trên phạm vi sâu và rộng, nhất là khi có sự hỗ trợ của mưa và các điều kiện địa

chất thủy văn thuận lợi như tầng chứa nước là đất cát, mạch nông Do đó trong vùng áp dụng nghiên cứu, amoni N-NH 4 + được đề xuất xem là chất gây ô nhiễm chính trong NDĐ Côn Sơn và là chất ô nhiễm phát thải chính của nghĩa trang

3.2.3 Kết quả thí nghiệm

Kết quả thí nghiệm và ước tính từ phần mềm Hydrus 1D cho thấy:

- Độ phân tán dọc được ước tính λ = 0,2 cm và hệ số phân tán D = 8,40 cm2/h với hệ số xác định R2 = 0,97

Ngày đăng: 19/03/2020, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w