TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---LÊ NGỌC DIỆP LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI MỸ trên cứ liệu phân tích thực nghiệm Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU Mã số: 62
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-LÊ NGỌC DIỆP
LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI MỸ
(trên cứ liệu phân tích thực nghiệm)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Mã số: 62.22.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí MinhTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Thị Phương Trang
2 GS.TS Nguyễn Văn Lợi
Phản biện độc lập 1: Phản biện độc lập 2:
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trang 4MỞ ĐẦU Chương 1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Lý do chọn đề tài: Trong sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và
hội nhập quốc tế, tiếng Việt (TV) là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam(VN), ngày càng có vị thế và dần phổ biến trong khu vực và trên thếgiới Việc dạy TV, việc xây dựng các cơ sở lý luận, phương pháp, giáotrình dạy TV cho người nước ngoài với tư cách là L2 ngày càng đượcquan tâm, trong đó việc nghiên cứu các lỗi phát âm TV và đề ra các giảipháp là rất cần thiết
Mục đích nghiên cứu: 1- So sánh, tìm ra những đặc điểm đồng
nhất và khác biệt về ngữ âm - âm vị học TV và tiếng Anh-Mỹ (TA-Mỹ).2- Phân tích các kiểu lỗi phát âm và lý giải nguyên nhân các lỗi phát âm
TV ở người Mỹ (NM): Phụ âm đầu, vần, TĐ Đồng thời, tìm ra các giảipháp chung và các giải pháp cụ thể để khắc phục các lỗi phát âm TV ởNM: Phụ âm đầu, vần, TĐ
Chương 2 Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, từ thập niên 50, đã có những công trình phân tích
lỗi của French (1949), Uriel Weinreich (1968) Tuy nhiên chưa ai đềcập đến vai trò của lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Chođến thập niên 70, nghiên cứu của Corder mới giúp cho các nhà nghiêncứu, người dạy cũng như người học thấy được cái nhìn tổng thể của lỗi
và từ đó giúp cho việc nghiên cứu lỗi trở nên dễ dàng hơn Từ đó,nghiên cứu lỗi đã được nhiều nhà ngôn ngữ học nổi tiếng trên thế giớiquan tâm như Richards (1974), Abbott (1980), Dulay và Krashen(1982), Taylor (1986), Ellis (1992),… góp phần vào mặt lý luận trongviệc phân tích đối chiếu cũng như phân tích lỗi
Tại Việt Nam, lỗi và việc phân tích lỗi cũng đã được các nhà Việt
ngữ học cũng như những nhà ngôn ngữ học nước ngoài quan tâm Đó làcông trình nghiên cứu của Miller (1976) nghiên cứu lỗi giao thoa trongphát âm tiếng Anh của NV, Nguyễn Văn Phúc (1999) nghiên cứu lỗiphát âm của người bản ngữ tiếng Anh học TV, Pimsen Buarapa (2005)nghiên cứu lỗi TĐ người Thái Lan học TV, Phùng Thị Thanh (2007)nghiên cứu lỗi phát âm của học sinh Hmông…
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu lỗiphát âm TV ở người nước ngoài bằng phương pháp ngữ âm học thựcnghiệm khí cụ Vì vậy, trong luận án này, bước đầu chúng tôi muốnkhảo sát một cách tỉ mỉ và toàn diện đặc điểm về âm tiết và các thànhphần cấu tạo âm tiết trong TV và TA-Mỹ, từ đó tiến hành phân tích lỗi
Trang 5phát âm các thành phần âm tiết TV ở NM dựa trên cứ liệu phân tíchbằng máy tính
Chương 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các
lỗi phát âm của 20 NM làm việc trong các ngành nghề khác nhau đã vàđang học TV tại VN
Phạm vi nghiên cứu: Các lỗi phát âm phụ âm đầu, vần, TĐ TV
của NM, có độ tuổi từ 20 đến 50; đây là độ tuổi được cho là đã hoànchỉnh về mặt phát âm tiếng mẹ đẻ
Chương 4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Phương pháp nghiên cứu: Áp dụng các phương pháp phân tích
miêu tả bằng cảm thụ kết hợp với các phương pháp ngữ âm học thựcnghiệm khí cụ (Experimental Intrucmental Phonetics): phân tích cácthông số âm học tiếng nói bằng phần mềm máy tính Praat, SpeechAnalyzer (phân tích tiếng nói), WinCecil (dùng trong window để phântích các yếu tố ngôn điệu của ngôn ngữ) Việc sử dụng 3 phần mềm nàyđưa đến kết quả đồng nhất và bổ trợ cho nhau Thao tác phân tích lỗiđược tiến hành theo cách so sánh các đặc điểm ngữ âm-âm vị học(thông số âm học) của phụ âm, vần, thanh điệu TV do người nói TA-
Mỹ phát âm với các đặc điểm (thông số âm học) của các đơn vị tươngứng TV
Nguồn ngữ liệu: Ngữ liệu được thu thập tại VN Chúng tôi đã ghi
âm 20 học viên là NM (10 nam, 10 nữ) có trình độ từ hậu sơ cấp đếntrung cấp Dữ liệu ghi âm dựa trên cơ sở dữ liệu số hoá (digital database) bao gồm các file âm thanh ghi âm số hoá các cách phát âm phụ
âm đầu, vần, TĐ
Chương 5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề
lý thuyết liên quan đến ngữ âm - âm vị học, những điểm tương đồngcũng như dị biệt về cấu trúc ngữ âm - âm vị học giữa TV (ngôn ngữ L2thuộc loại hình đơn lập, âm tiết tính, có TĐ) và TA-Mỹ (ngôn ngữ L1thuộc loại hình đa tiết, không có TĐ) Luận án cũng chỉ ra các lỗi phát
âm âm đầu, vần, TĐ TV (L2), khi người học có L1 (TA-Mỹ) khác biệt
về loại hình
Ý nghĩa thực tiễn: Từ việc phân tích lỗi để tìm ra được nguyên
nhân gây lỗi dưới góc độ ngôn ngữ học đối chiếu và phân tích thựcnghiệm, luận án hữu ích cho việc biên soạn giáo trình giảng dạy TV,biên soạn phần mềm dạy phát âm góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc TV như một ngoại ngữ
Trang 6Chương 6 Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; luận
án gồm bốn chương chính như sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết; Chương2: Lỗi phát âm phụ âm đầu tiếng Việt; Chương 3: Lỗi phát âm vần tiếngViệt; Chương 4: Lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt
Chương 7 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nội dung chính chương này gồm:
1- Trình bày một số nền tảng lý thuyết về phương pháp phân tíchđối chiếu cùng việc phân tích lỗi;
2- Trình bày một số khái niệm chính làm công cụ cho việc miêu
tả, phân tích ngữ âm âm vị học ở các chương sau như đặc trưng vật lýtrong phân tích âm học, đặc điểm và phương thức cấu âm, sinh lý họccấu âm và cơ chế phát âm;
3- Trình bày đặc điểm âm tiết TV và âm tiết TA-Mỹ để tìm ranhững điểm tương đồng cũng như khác biệt về âm tiết giữa hai loại hìnhtiếng TV và TA-Mỹ
1.1 Phân tích đối chiếu
Phân tích đối chiếu (Contrastive Analysis) nghiên cứu so sánhcác ngôn ngữ với nhau để xác định những điểm giống và khác nhaugiữa ngôn ngữ L1 và L2, làm nảy sinh các kiểu giao thoa, chuyển ditiêu cực, dẫn đến các loại lỗi trong việc thụ đắc ngôn ngữ L2 ở các cáthể song ngữ
1.2.1 Định nghĩa lỗi phát âm
Người học được cho là mắc lỗi phát âm khi họ không nhận rađược các âm đã học và không phân biệt được sự khác nhau giữa chúngtrong khi nghe hoặc có thể họ phân biệt được nhưng không có khả năngphát âm đúng như người bản ngữ
1.2.2 Phân loại lỗi phát âm
Cần phân biệt lỗi phát âm ngữ âm học và lỗi phát âm âm vị học.(i) Lỗi phát âm âm vị học: là lỗi phát âm không thể hiện đúng đặcđiểm âm vị học của âm vị trong L2 Lỗi phát âm kiểu này dẫn đến sựnhận hiểu sai về nghĩa từ vựng Ví dụ, người nước ngoài nói TV phát
Trang 7âm phụ ân /t/ như phụ âm bật hơi /th/ dẫn đến sự nhận hiểu sai về nghĩa(‘tư’ thành ‘thư’).
(ii) Lỗi phát âm ngữ âm học: là lỗi phát âm không thể hiện đúngđặc diểm ngữ âm học của âm vị trong ngôn ngữ L2 Đây là lỗi phát âmkhông đúng chuẩn phát âm L2; người bản ngữ dễ nhận ra tính chất “lơlớ” “giọng nước ngoài”, nhưng không dẫn đến sự hiểu lầm nghĩa từ
vựng Ví dụ, người nước ngoài phát âm phụ âm b, đ TV như phụ âm nổ
ngoài [b, d], không phải là phụ âm hút vào /ɓ, ɗ/
Chính vì vậy trong nghiên cứu về lỗi phát âm L2 do hiện tượnggiao thoa, lỗi âm vị học được chú ý đúng mức, trước tiên
1.2.3 Ý nghĩa của phân tích lỗi
S.Pit Corder (1974) đã đưa ra những khái niệm chung về lỗi, đólà: Giúp người học xác định được cái mình phải học; Giáo trình dựatrên nền tảng nhu cầu của người học hiệu quả hơn giáo trình do ngườidạy tự nghĩ ra; Việc nghiên cứu lỗi có ý nghĩa quan trọng cho cả ba đốitượng: Đối với các nhà nghiên cứu: nó cho thấy tiến trình của sự thụ đắcngôn ngữ, các chiến lược của người học Đối với người dạy: nó là bằngchứng cho thấy mức độ tiến bộ của người học Đối với người học: họ cóthể học hỏi được từ việc rút ra những bài học từ lỗi của chính mình
1.3 Một số khái niệm trong ngữ âm học thực nghiệm khí cụ
Luận án sử dụng các thông số sau trong phân tích âm học: cao độ(pitch), cường độ (intensity), trường độ (duration), tần số cơ bản(fundamental frequency), sóng âm (waveform), thanh phổ(spectrogram), formant F1, F2, F3 để phân tích âm thanh
Hình 1.1 Phổ, sóng âm, trường độ, cường độ, cao độ, F1, F2 của âm
tiết ‘ai’
1.4 Sự khác biệt giữa âm tiết tiếng Việt và âm tiết tiếng Mỹ
Trang 8Anh-Âm tiết TV là một chỉnh thể có cấu trúc chặt chẽ, ranh giới âmtiết trong chuỗi âm thanh lời nói là hoàn toàn cố định, mỗi âm tiết đồngthời cũng là một hình vị hay một từ, có sự cố định về số lượng yếu tốtham gia cấu tạo; ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị Âm tiết
có cấu trúc 2 bậc: Bậc 1 gồm âm đầu, vần thanh điệu Bậc 2 cấu trúccủa vần, gồm âm đệm, âm chính, âm cuối
Cấu trúc âm tiết TA-Mỹ hết sức lỏng lẻo, ranh giới âm tiết không
rõ ràng, gần như chỉ là sự lắp ghép cơ học giữa các âm tố (âm vị)nguyên âm và phụ âm; diện mạo âm tiết dễ bị phá vỡ hoặc bị nhược hoákhi đi vào câu Có kết cấu tuyến tính gồm: phụ âm đầu (hoặc tổ hợp phụ
âm đầu) + Vần (nguyên âm + phụ âm (hoặc tổ hợp phụ âm cuối)
Tiểu kết chương 1
Lý thuyết về phương pháp phân tích đối chiếu và lý thuyết lỗi là
cơ sở lý thuyết của luận án Phân tích đối chiếu để tìm ra sự tương đồngcũng như khác biệt giữa ngôn ngữ nguồn (L1) và ngôn ngữ đích (L2),các kiểu giao thoa, chuyển di tiêu cực giúp các nhà Ngôn ngữ học dựđoán được những khó khăn người học ngoại ngữ có thể mắc phải khithụ đắc và phát âm L2
Phân tích lỗi bao gồm hai khía cạnh: lý thuyết và thực tiễn Mụctiêu lý thuyết góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ và thực tiễn làgiúp người dạy có những bài giảng và bài tập luyện thích hợp, giúp họ
dự đoán những lỗi có thể xảy ra và có biện pháp sửa lỗi hiệu quả Việc phân tích lỗi phát âm ở người học ngôn ngữ L2 cũng cầnnhững kiến thức về ngữ âm cấu âm học và âm học, các kỹ năng vàphương pháp phân tích thực nghiệm bằng máy tính Những khái niệmngữ âm học thực nghiệm khí cụ (Experimental Instrumental Phonetics)
là bộ máy khái niệm cốt lõi để chúng tôi sử dụng trong phân tích, miêu
tả các lỗi phát âm TV của học viên nói TA-Mỹ
Hệ thống ngữ âm TV khác hệ thống ngữ âm TA-Mỹ, trước hết là
sự khác biệt về cấu trúc và chức năng của âm tiết Nhận biết sự khácbiệt về âm tiết giữa 2 ngôn ngữ là khâu then chốt trong nghiên cứu lỗiphát âm TV của người học nói TA-Mỹ
Chương 8 LỖI PHÁT ÂM PHỤ ÂM ĐẦU TIẾNG VIỆT
Nội dung chính của chương này là:
1- Chỉ ra những đặc điểm và những sự tương đồng và khác biệt
về phụ âm đầu TV và TA-Mỹ;
2- Miêu tả và phân tích, xác định nguyên nhân những lỗi phát âmphụ âm đầu TV ở NM học TV;
Trang 93- Bước đầu đề xuất một số giải pháp sửa lỗi phát âm phụ âmđầu TV ở NM học TV.
2.1 Đặc điểm hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt
Hệ thống phụ âm đầu TV được miêu tả qua bảng sau:
Bảng 2.1 Hệ thống phụ âm đầu TV được dạy cho người nước ngoài tại
TP.HCM
Điểm cấu âm
Phương thức cấu âm
Môi
Đầu lưỡi
Mặtlưỡi
Gốclưỡi
ThanhhầuBẹt Quặt
Hữuthanh
2.2 Đặc điểm hệ thống phụ âm đầu tiếng Anh Mỹ
Hệ thống phụ âm đầu TA-Mỹ được miêu tả qua bảng sau:
Bảng 2.2 Hệ thống phụ âm đầu TA-Mỹ
2.3.1 Khác biệt về vị trí cấu âm
TA-Mỹ không có: âm xát gốc lưỡi /X-/ /ɣ-/, âm quặt lưỡi /ʈ-/,/ʂ/, /ʐ/, âm mặt lưỡi /c/, âm mũi /ɲ-/ Âm mũi /ŋ-/ đều có trong TV vàTA-Mỹ, tuy nhiên trong TA-Mỹ /ŋ-/ chỉ xuất hiện ở cuối âm tiết TV
Trang 10không có phụ âm tắc gốc lưỡi /g-/, phụ âm ngạc lợi /tʃ/, /dʒ/, phụ âmrăng xát /θ/ /ð/.
2.3.2 Khác biệt về phương thức cấu âm
TA-Mỹ có các cặp đối lập giữa các phụ âm tắc vô thanh - hữuthanh /b-/ /p-/, /t-/ /d-/, /k-/ /g-/ TV có cặp đối lập vô thanh-hữu thanh
là /t-/ /ɗ-/, /k-/ /ɣ-/
Trong TV, sự đối lập phụ âm tắc vô thanh không bật hơi /t/ > <phụ âm bật hơi /th/ là sự đối lập âm vị học Trong khi đó, tính chất bậthơi của các phụ âm tắc /p, t, k/ trong TA-Mỹ chỉ là tiêu chí ngữ âm.Hình 2.1 và hình 2.2 dưới đây là dạng sóng âm phụ âm /t/ và /th/
TV Phụ âm /t/ ở giai đoạn “thoái” sự bùng nổ tiếng ồn không lớn,khoảng cách giữa sự bùng nổ và điểm bắt đầu của sóng nguyên âm là
55 ms, chu kỳ bật hơi ngắn và cường độ tương đối yếu là 9,8 dB; cònkhi phát âm /th/, sự bùng nổ tiếng ồn lớn hơn, khoảng cách giữa sự bùng
nổ và điểm bắt đầu của sóng nguyên âm là 110 ms với cường độ tươngđối cao là 16,2 dB
Hình 2.2 Sóng âm của phụ âm /t/ trong TV
Hình 2.3 Sóng âm phụ âm /t h / trong TV
Hình 2.3 là sóng âm phụ âm /th/ trong âm tiết “two” [thu] TA-Mỹ
do NM phát âm Trong đó, phụ âm bật hơi /th/ TA-Mỹ có trường độ 88
ms ngắn hơn trường độ phụ âm /th/ TV với cường độ là 33,5 dB mạnhhơn cường độ phụ âm /th/ TV
Hình 2.4 Sóng âm phụ âm /t h / TA-Mỹ do NM phát âm
Dưới đây là bảng tổng kết sự khác biệt nổi bật giữa phụ âm đầu
TV và TA-Mỹ
Trang 11Tiếng Việt Tiếng Anh-Mỹ
- Phụ âm đơn trừ một số từ vay
mượn nước ngoài như cr-:
crôm, dr-: hiđrô, kl-: clo,…
- Tiêu chí bật hơi như tiêu chí
âm vị học /t/> </th/
- Con chữ “b,d” được thể hiện
bằng âm hút vào /ɓ/ /ɗ/
- Con chữ “g” được thể hiện
bằng phụ âm xát vô thanh /ɣ/
- Con chữ “t,r” được thể hiện
bằng phụ âm tắc, vô thanh /ʈ/
2.4 Lỗi phát âm âm vị học các phụ âm đầu tiếng Việt
2.4.1 Lỗi phát âm âm vị học do sự vắng mặt các âm vị tương ứng trong L1 (âm vị phụ âm L2 có, L1 không có)
Phụ âm /ŋ-/ [ɲ-] [n-]
Trong TA-Mỹ, âm /ŋ-/ chỉ có thể xuất hiện ở vị trí cuối âm tiết,
do vậy, khi phát âm phụ âm đầu /ŋ/ TV thì NM có xu thế mắc lỗi phát
âm do phân bố (còn gọi là lỗi phân bố distributional error)
Hình 2.4 thể hiện sóng âm và phổ âm tiết “nghi” /ŋi1/ do NM F4) phát âm thành [ɲi1] có F1=346; F2= 1225 gần với trị số F1, F2 của /ɲ/ TV (F1=281, F2=1142)
(nữ-Hình 2.5 Sóng âm [ŋ] trong âm tiết ‘nghi’ do NM phát âm
2.4.2 Lỗi phát âm âm vị học do nhầm lẫn giữa L1 và L2
Phụ âm /t-/ [th-]
Hình 2.5 dưới đây thể hiện phụ âm đầu /t/ TV được NM M7) phát âm như phụ âm tắc bật hơi [th] có trường độ bật hơi khá dài là
(nam-94 ms
Trang 12Hình 2.6 Sóng âm [t] trong âm tiết ‘ti’ do NM phát âm
2.5 Lỗi phát âm ngữ âm học các phụ âm đầu tiếng Việt
Phụ âm /X-/ [kh-]
Hình 2.6 là sóng âm của phụ âm /X/ TV được NM (nam-M10)phát âm như phụ âm tắc vô thanh [kh] bật hơi có trường độ 102 ms vớicường độ yếu hơn phụ âm /X/ TV là 10,6 dB
Hình 2.7 Sóng âm [X] trong âm tiết ‘khi’ do NM phát âm
Phụ âm /ɓ-/ /ɗ-/ [b] [d]
Xét về vị trí cấu âm thì hai âm này trong TV gần như giống với vịtrí cấu âm trong TA-Mỹ, tuy nhiên có sự khác biệt là phụ âm /ɓ-/ /ɗ-/trong TV là phụ âm hút vào (implosive), còn /b-/ /d-/ trong TA-Mỹ là
âm nổ (plosive)
Hình 2.7 bên trái thể hiện phụ âm /ɗ/ do CTV NV (nam) phát âm
và bên phải là phụ âm /ɗ/ do NM (nam-M7) phát âm thành [d].
Hình 2.8 Sóng âm phụ âm /ɗ-/ do CTV NV (trái) và NM (phải) phát âm
Nhận xét: Từ các lỗi thu thập được, chúng tôi nhận thấy NM mắclỗi đa phần về phương thức cấu âm hơn là mắc lỗi về vị trí cấu âm Khi
TV không có những âm có cùng vị trí cấu âm với những âm trong
TA-Mỹ lúc đó họ mới tìm những âm có vị trí cấu âm gần nhất để thay thếtheo thế tương liên: đầu lưỡi > mặt lưỡi > gốc lưỡi Khi không có những
âm cùng hoặc gần với vị trí cấu âm trong TA-Mỹ, lúc bấy giờ họ sẽ tìmnhững âm có cùng phương thức cấu âm để thay thế Ví dụ khi khôngphát âm được âm /ŋ/ gốc lưỡi họ sẽ thay thế bằng âm /ɲ/ hoặc /n/ (cùngphương thức cấu âm là âm mũi)
2.6 Một số giải pháp khắc phục lỗi
Giải pháp chung: Người dạy và người học cần nắm rõ sự đồng
nhất và khác biệt giữa hệ thống phụ âm đầu TV và TA-Mỹ Người dạycũng cần chỉ ra các hiện tượng chuyển di tích cực, tiêu cực, các hiện
Trang 13tượng giao thoa trong việc thụ đắc và phát âm hệ thống phụ âm đầu TV
ở NM
Giải pháp cụ thể: Người dạy có thể dùng hình vẽ cấu âm so sánh
sự khác nhau giữa hai âm vị TV và TA-Mỹ hoặc dùng phần mềm phát
âm, chơi trò chơi, xây dựng những bài luyện tập giúp người học dễ họchơn
Tiểu kết chương 2
(1) Giữa hệ thống âm đầu TV và âm đầu TA-Mỹ có sự tươngđồng và khác biệt về ngữ âm học và âm vị học Đây là nguyên nhânxuất hiện các kiểu giao thoa và chuyển di tiêu cực khi người nói TA-Mỹthụ đắc và là nguyên nhân gây nên các lỗi phát âm phụ âm đầu TV (2) Lỗi phát âm âm vị học phụ âm đầu dẫn đến sự hiểu sai nghĩacủa từ: các trường hợp lỗi phát âm do sự vắng mặt các âm vị tương ứngtrong L1 (âm vị phụ âm L2 có, L1 không có); lỗi do nhầm lẫn giữa L1
và L2
(3) Lỗi phát âm ngữ âm học là lỗi không thể hiện đúng đặc điểmngữ âm học các phụ âm TV
(4) Lỗi phát âm phụ âm đầu TV ở người nói TA-Mỹ thường sai
về phương thức cấu âm hơn là về vị trí cấu âm
(5) Lỗi phát âm phụ âm đầu xảy ra còn do sự giao thoa về chữviết TV và TA-Mỹ
Chương 9 LỖI PHÁT ÂM VẦN TIẾNG VIỆT
Trong chương này, chúng tôi đề cập đến các nội dung chính:
- Trình bày đặc điểm hệ thống vần TV, phân tích sự đồng nhất vàkhác biệt giữa hệ thống nguyên âm đỉnh vần và âm cuối kết thúc vần
3.1 Đặc điểm hệ thống vần tiếng Việt
Vần TV là đơn vị hoàn chỉnh cả về mặt ngữ âm và âm vị học Vềngữ âm học, vần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nguyên âm và âm cuốitheo quy tắc đắp đổi về trường độ, tạo nên cách tiếp hợp lỏng/chặt khácnhau
Căn cứ vào cách kết thúc âm tiết, vần TV gồm các loại sau:
Trang 143.1.1 Vần đơn
Là vần chỉ gồm nguyên âm Hệ thống nguyên âm TV bao gồm 9nguyên âm đơn /i, e, ɛ, ɯ, ɤ, a, u, o, ɔ/ và 3 nguyên âm đôi /iə,ɯə,uə/.Đặc điểm cấu âm của các nguyên âm đơn và đôi TV được JamesKirby (2011) thể hình qua hình dưới đây:
Hình 3.9 Đặc điểm cấu âm của các nguyên âm đơn và đôi TV