Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề hình thành triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại nói chung và tư tưởng đạo đức Phật giáo nói riêng, như các công trình:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Vào lúc giờ ngày tháng năm 2020.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Đại học quốc gia TP HCM.
- Thư viện Trường Đại học KHXH & NV, TP HCM.
- Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 31 Tác giả: Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam tông đến đời sống văn hóa tinh thần người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Tạp
Nxb Tôn giáo, chỉ số ISBN 978-604-61-6270-4, tr 93-109.
4 Tác giả: Đạo đức Phật giáo với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay - Tham luận Hội thảo quốc tế Đại lễ Phật đản Vesak
2019, (Thích Nhật Từ biên tập), Nền tảng giáo dục Phật giáo về đạo đức, Nxb Tôn giáo, chỉ số ISBN 978-604-61-6270-4, tr 309-338
5 Tác giả: Nhân sinh quan Phật giáo và ý nghĩa phương pháp luận của nó đối với việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay, Luận văn
Thạc sĩ Triết học, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 2013.
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước phương Đông, nơi mà tôn giáo có ảnh hưởng rất lớnđến đời sống văn hóa xã hội Tùy vào các giai đoạn lịch sử phát triển của các nước, tôn giáonắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần, suy nghĩ của con người.Trong các tôn giáo lớn trên thế giới, thì Phật giáo là một trong những tôn giáo đã du nhập vàoViệt Nam và trở thành tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần, xã hội Việt Namcho đến ngày nay
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã có nhiều đóng gópđáng kể đối với sự phát triển của dân tộc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về lĩnh vực giáo dụcđạo đức Có thể nói, Phật giáo được xem là một trong những nhân tố quan trọng góp phầnđịnh hình nên các quan niệm, chuẩn mực và hệ giá trị đạo đức trong xã hội Tư tưởng về đạođức nhân sinh của Phật giáo là một tư tưởng xuyên suốt và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sốngtinh thần của con người Việt Nam Đất nước Việt Nam ngày nay đang trong thời kỳ quá độtiến lên chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉnam cho mọi hoạt động Trong sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục đạo đức con người ViệtNam, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn đáng ghi nhận:
“Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạongày càng tỏ rõ giá trị vững bền làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng
và của cách mạng nước ta, nhân tố hàng đầu đảm bảo cho đời sống tinh thần xã hội phát triểnđúng hướng Ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh thần trách nhiệm
và năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước Nhiều nét mớitrong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành”1
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là trong nền kinh tếthị trường và hội nhập quốc tế, việc giáo dục đạo đức, lối sống ở nước ta vẫn còn những hạnchế, yếu kém “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theolối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầytrò, đồng chí, đồng nghiệp Buôn lậu và tham nhũng phát triển Ma túy, mại dâm và các tệ nạn
xã hội khác gia tăng Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến Nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất
là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ởmột bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền Nạntham nhũng, dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phung phí, ăn chơi sa đọa không được ngănchặn có hiệu quả Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa địa vị, cục
bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến Những tệ nạn đó gây sự bất bình củanhân dân, làm tổn thương uy tín của Đảng, của Nhà nước”2 Đây là tín hiệu “báo động đỏ”trong đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay” Chính điều đó đã ảnh hưởng đến sự phát triểnbền vững của xã hội, nhất là vấn đề xây dựng và phát triển con người đầy đủ đức và tài hiệnnay Trước thực trạng đó, đạo đức Phật giáo có thể có phần chung tay giúp con người thay đổicách nhìn, cái suy nghĩ, và cách hành động theo con đường chánh đạo Từ đó có thể giúp conngười giảm bớt những vấn nạn trong cuộc sống như: vấn đề về môi trường, vấn đề về dân số,vấn đề về cuộc sống hòa bình và hạnh phúc v.v., đồng thời tạo cho con người sức mạnh tinh
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm - Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII Hà Nội: Chính trị
quốc gia, tr 42.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm - Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII Hà Nội: Chính trị
quốc gia, tr 46-47.
Trang 5thần, phát huy nội lực, và thành công trong quá trình hợp tác quốc tế Do đó việc nghiên cứuđạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay là điều cầnthiết, vừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Chính vì thế mà tác giả
chọn vấn đề “Đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nóđến đạo đức con người Việt Nam hiện nay thành ba chủ đề chính
Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề hình thành triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại nói chung và tư tưởng đạo đức Phật giáo nói riêng, như các
công trình: Di sản phương Đông của chúng ta (Our Oriental Heritage) của Will Durant, do Simon and Schuster, New York, xuất bản năm 1954 với quyển 2 có tựa đề: Ấn Độ và những người láng giềng của mình (India and Her Heighbors) đã trình bày rất sâu sắc về lịch sử văn
minh Ấn Độ trên các lĩnh vực như địa lý, dân cư, dân tộc, lịch sử kinh tế, chính trị - xã hội, tưtưởng, khoa học, kỹ nghệ, tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục - tập quán, văn học -nghệ thuật, hội họa - âm nhạc, kiến trúc - điêu khắc, trong đó có triết học, tôn giáo Ấn Độ;
hay tác phẩm Phát hiện Ấn Độ (The Discovery of India) của Jawaharlal Nehru, do The
Oxford University Press, New Delhi, India, 1954, (Phạm Thủy Ba, Lê Ngọc, Hoàng Túy vàNguyễn Tâm dịch), Nxb Văn học, Hà Nội, 1990 Các công trình trên đã tập trung nghiên cứunhững vấn đề liên quan đến điều kiện và tiền đề hình thành, phát triển của triết lý Phật giáo
Ấn Độ nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng
Chủ đề thứ hai, là các công trình nghiên cứu trực tiếp về triết lý Phật giáo Ấn Độ nói chung và nội dung tư tưởng đạo đức Phật giáo nói riêng trong tiến trình phương Đông
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về triết học Ấn Độ qua nội dung, các kinh sách và
tư tưởng của các trường phái triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại, như những công trình: Indian Philosophy, của Sarveoalli Radhakrishnan, New York, The Machillan, 1951; và The Oxford University Press, New Delhi, India, xuất bản năm 1956; Six Systems of Indian Philosophy của
Max Muller, Bhavan’s book University, 1899; Nhập môn triết học Ấn Độ” của Lê Xuân Khoa, Trung tâm học liệu, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1972; Kinh văn của các trường phái triết học Ấn Độ của Doãn Chính, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2003; Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của Doãn Chính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997
Thứ hai, các công trình nghiên cứu và đưa ra những nhận định, đánh giá, rút ra những đặc điểm, giá trị tư tưởng đạo đức Phật giáo trong từng giai đoạn lịch sử Ấn Độ, như những công trình: Đại Thừa và sự liên hệ với Tiểu Thừa của Nalinaksha.Dutt, Thích Minh Châu dịch, Nxb TP HCM, 1999; Tư tưởng Phật giáo Ấn Độ” của Edward Conze, Hạnh Viên dịch, Nxb Phương Đông, 1962; Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận; Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận; Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận của Kimura Taiken, Thích Quảng Độ dịch,
Nxb Tôn giáo, 2012
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trực tiếp về nội dung tư tưởng đạo đức Phật giáo nói riêng và triết lý Phật giáo Ấn Độ nói chung, như những công trình: Đạo đức học Phật giáo của Thích Minh Châu và Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1995; Đạo đức học Phật giáo của Hammalawa Saddhatissa (Thích Thiện Chánh dịch), Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2017; Đạo đức học Phật giáo của Damien Keown, Nguyễn Thanh Vân dịch, Hoàng Hưng hiệu đính, Nxb Tri Thức, 2013; Đạo đức học Đông phương của Thích Mãn Giác, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007; Đạo đức học phương Đông cổ đại của Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1998 Các công trình trên đã đi sâu, làm rõ nội dung các trường phái triết học Ấn
Trang 6Độ cổ, trong đó nổi bật là tư tưởng đạo đức Phật giáo nói riêng và triết lý Phật giáo Ấn Độ nóichung
Chủ đề thứ ba, là các công trình nghiên cứu, nhận định và đánh giá về sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trực tiếp về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay, như các công trình: Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay do Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam của Đặng Thị Lan, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006; Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại của Trần Văn Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993; Ảnh hưởng của Đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay của Tạ Chí Hồng, luận án tiến sĩ Triết học, 2003; Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay của Hoàng Thị Lan, luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2004; Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh của Thân Ngọc Anh, luận
án tiến sĩ Triết học, TP Hồ Chí Minh, 2012
Thứ hai, các công trình nghiên cứu gián tiếp về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam trong các tác phẩm thuộc lĩnh vực lịch sử, văn hóa, khoa học,
xã hội, như các công trình: Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Viện Triết học, Hà Nội, 1991; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999; Phật Giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1999; Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1,2,3, của Lê Mạnh Thát, Nxb.
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về đạo đức con người Việt Nam, đặc biệt là các giá trị đạo đức truyền thống và những giải pháp phù hợp, như các công trình: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, 2011; Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên), Nxb Quân đội nhân dân, 2006; Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - vấn đề và giải pháp của Nguyễn Duy
Quý (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Nhìn chung, các công trình trên đã đisâu vào nội dung của từng trường phái triết học Ấn Độ cổ đại, với những vấn đề triết học Phậtgiáo nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng Từ đó giúp chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc vàtoàn diện hơn về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: Từ việc trình bày khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều
kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại và nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo, các giá trị đạođức truyền thống con người Việt Nam, luận án nhằm chỉ ra giá trị tư tưởng và ảnh hưởng sâusắc của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra một sốgiải pháp thích hợp cho việc phát huy những giá trị của đạo đức Phật giáo trong tình hìnhmới
Nhiệm vụ của luận án: Một là, trình bày, phân tích những đặc điểm điều kiện tự nhiên,
điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng đạo đức Phật
giáo Hai là, trình bày, phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản và giá trị tư tưởng của đạo đức Phật giáo Ba là, từ việc trình bày, phân tích các giá trị đạo đức truyền thống con người
Việt Nam, mối quan hệ giữa đạo đức truyền thống với đạo đức Phật giáo và thực trạng giáodục đạo đức con người Việt Nam hiện nay, luận án chỉ ra những ảnh hưởng của đạo đức Phậtgiáo đến đạo đức con người Việt Nam Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy
Trang 7ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo đến đạo đức conngười Việt Nam hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu về đạo đức Phật giáo
và sự ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu về đạo đức Phật giáo
thông qua các giới điều và giáo lý Phật giáo nguyên thủy Đối với đạo đức con người ViệtNam thì nghiên cứu các vấn đề đạo đức truyền thống nói chung, bỏ qua những đặc điểm khácnhau về vị trí địa lý, vùng miền, lịch sử và văn hóa
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận; đồng thời tác giả luận án còn sử dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, quy nạp vàdiễn dịch, đối chiếu và so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, điều tra xã hội học để nghiêncứu và trình bày luận án Luận án được tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử, triết học tôngiáo và triết học văn hóa
6 Cái mới của luận án
Một là, luận án đã trình bày, làm rõ những điều kiện và tiền đề hình thành, phát triển của
tư tưởng đạo đức Phật giáo trong xã hội Ấn Độ cổ đại Từ đó hệ thống hóa một cách tươngđối logic những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo, từ truyền thống đến hiện đại, từ xuấtthế đến nhập thế như: từ bi, tu tâm, hành thiện và xây dựng các mối quan hệ xã hội, đượctrình bày trên nền tảng giáo lý và giới luật, cũng như các giá trị đạo đức truyền thống nóichung của con người Việt Nam
Hai là, luận án đã phân tích, làm rõ, hệ thống hóa những ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức
Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay qua năm khía cạnh: quan niệm, tư tưởng;đạo đức, lối sống; phong tục, tập quán; văn hóa, nghệ thuật; ứng xử giao tiếp Từ việc phântích thực trạng những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức Phật giáo đến đạo đức conngười Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị đạo đức Phậtgiáo tại Việt Nam trong điều kiện hiện nay Qua đó thể hiện tinh thần nhập thế và phát triểncủa đạo đức Phật giáo
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học: Việc tìm hiểu, nghiên cứu, làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức Phật
giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay, giúp người đọc có sựhiểu biết một cách hệ thống và sâu sắc hơn về triết lý Phật giáo nói chung và đạo đức Phậtgiáo nói riêng trong mối quan hệ với đạo đức truyền thống Việt Nam
Về ý nghĩa thực tiễn: Cùng với ý nghĩa về mặt khoa học, việc nghiên cứu một cách hệ
thống về đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam hiệnnay, không chỉ giúp chúng ta có sự hiểu biết một cách hệ thống và sâu sắc về nội dung cơ bảncủa đạo đức Phật giáo, các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, mà qua đó còn giúp chúng
ta hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Namqua quá trình giao lưu tiếp biến giữa các nền văn hóa từ khi Phật giáo du nhập Việt Nam Qua
đó thể hiện tinh thần nhập thế, phát triển của đạo Phật qua phương châm: “Đạo pháp – Dântộc – Chủ nghĩa xã hội”
8 Kết cấu cơ bản của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 200 trangđược kết cấu thành 3 chương, 6 tiết và 14 tiểu tiết
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
Ấn Độ cổ đại là một trong những cái nôi văn hóa có từ lâu đời của nền văn minh phươngĐông, nơi mà để lại cho nhân loại một kho tàng triết học vô cùng phong phú và đa dạng Do
đó triết học Ấn Độ cổ đại là sự tinh túy giá trị tinh thần và văn hóa của dân tộc Ấn Độ Sựhình thành và phát triển của nó gắn liền với điều kiện địa lý tự nhiên; phong phú và đa dạngnhưng cũng vô cùng khắc nghiệt, và trong một nền chính trị - xã hội với chế độ nô lệ mangtính gia trưởng, bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn và chế độ phân biệt đẳng cấp vôcùng hà khắc
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VỚI
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên Ấn Độ cổ đại
Có thể nói Ấn Độ cổ đại được hình thành và phát triển trong điều kiện sống hết sức đadạng, phong phú nhưng vô cùng khắc nghiệt Đó là một đất nước rộng lớn với cư dân, phongtục, tập quán, ngôn ngữ và cả sinh hoạt xã hội đa dạng Đó cũng là một đất nước có điều kiệntự nhiên, khí hậu hế sức phong phú: có những miền núi cao quanh năm tuyết phủ nhưHymalaya, có vùng cao nguyên khô cằn như Decan và đại dương mênh mông như Ấn Độdương, như những vùng đồng bằng mầu mỡ như đồng bằng Ấn - Hằng, với các con sông lớnnhư sông Ấn (Indus), sông Hằng (Ganga), là cái nôi của nền văn minh tối cổ của Ấn Độ từthiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, là nơi hình thành chế độ nô lệ Ấn Độ và một nền vănhóa cổ truyền Đó là dung hợp giữa nền văn hóa bản địa (người Dravidian, Munda, Naga) vớinền văn hóa của người Aryan, tạo ra nền văn minh mới - nền văn minh Veda rực rỡ
Tóm lại, với những điều kiện địa lý tự nhiên đa dạng, phong phú và khắc nghiệt và đầy
uy lực Ấn Độ cổ đại Đứng trước thiên nhiên hùng vĩ như vậy, người Ấn Độ thiết tha khẳngđịnh cuộc sống tự nhiên thuần phác của mình, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo của thiên nhiên,nhưng cũng chính thiên nhiên đầy huyền bí này gây ra cho con người biết bao những hiểmhọa khôn lường Con người cảm thấy mình nhỏ bé trước những lực lượng mạnh mẽ, khắcnghiệt của tự nhiên, luôn phải sống trong tâm trạng hồi hộp, lo âu Chính điều kiện sống nhưthế đã ảnh hưởng đến sinh hoạt vật chất và tinh thần, đến phong tục tập quán, tâm lý, tínngưỡng tôn giáo, quan điểm tư tưởng, phong cách tư duy độc đáo, trừu tượng, cao siêu củangười Ấn Độ
1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại
Xã hội Ấn Độ cổ đại không chỉ chịu sự ảnh hưởng, quy định bởi điều kiện tự nhiên
phong phú, đa dạng và khắc nghiệt mà còn chịu sự chi phối sâu sắc của chế độ nô lệ mang
tính chất gia trưởng, bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn bảo thủ, trì trệ và chế độ phân
biệt đẳng cấp xã hội hết sức nghiệt ngã - chế độ varna ở Ấn Độ cổ đại Chế độ nô lệ Ấn Độ
được hình thành từ thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên khi người Aryan xâm chiếm Ấn Độ
và chinh phục người Dravidian Từ đó đưa xã hội Ấn Độ cổ đại bước sang thời đại mới vàcũng từ đó làm nảy sinh trong lòng xã hội Ấn Độ những mâu thuẫn sâu sắc, khi người Aryantự cho mình là tộc người thượng đẳng, có quyền thống trị kẻ khác Về tính chất của chế độ nô
lệ ở Ấn Độ thì có 3 đặc tính cơ bản như sau: Theo bộ luật Manu, nô lệ ở Ấn Độ được phânchia thành 15 loại khác nhau: 1 Nô lệ do cha mẹ là nô lệ sinh ra; 2 Nô lệ mua về; 3 Nô lệ dongười khác đem cho; 4 Nô lệ do thừa kế mà có; 5 Do đói khát mà làm nô lệ; 6 Do phạm tội
mà bị xử phạt làm nô lệ; 7 Người làm con tin bị xem như làm nô lệ; 8 Nô lệ chiến tù; 9 Nô
lệ được thưởng trong các kỳ thi đấu; 10 Nô lệ tự nguyện; 11 Vì bội ước mà phải làm nô lệ;
Trang 912 Nô lệ tạm thời; 13 Vì được kẻ khác nuôi nấng mà đi làm nô lệ; 14 Vì lấy nô lệ mà thành
nô lệ; 15 Bán mình là nô lệ Vị trí của nô lệ được ví như “động vật hai chân”, “động vật bốnchân” Người đứng đầu gia đình chủ nô không chỉ toàn quyền quyết định với nô lệ mình màcòn có quyền quyết định tuyệt đối với các thành viên trong gia đình Chế độ nô lệ này chưađạt tới trình độ phát triển thành thục và bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn, với nềnkinh tế tự cung tự cấp, biệt lập và bị sự trói buộc của những hủ tục khắc khe, bảo thủ, trì trệ
Nó khép kín cả về địa bàn cư trú, dân cư, huyết thống, tổ chức hành chính, kinh tế, văn hoágiáo dục, lễ nghi và các sinh hoạt tôn giáo, trói buộc con người với quy tắc xã hội cổ truyền,chế độ chuyên chế phương Đông
Xã hội Ấn Độ cổ đại không chỉ chịu sự chi phối của chế độ nô lệ mang tính chất giatrưởng, bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn bảo thủ, trì trệ mà còn chịu sự tác động của
chế độ phân biệt đẳng cấp hết sức nghiệt ngã Đó còn gọi là chế độ “varna” Chế độ này phân biệt chủng tính, sắc tộc, hôn nhân Theo kinh Rig - Veda và Bộ luật Manu, thì xã hội Ấn Độ
cổ đại có bốn đẳng cấp chính: Một là, đẳng cấp Brahmana (là những tăng lữ, tu sĩ Bàlamôn); Hai là, đẳng cấp Kshatriya (là những vương công, võ sĩ); Ba là, đẳng cấp Vaishya (là những thương nhân, điền chủ và dân tự do); Bốn là, đẳng cấp Shudra (là những người lao động gồm
đa số tiện dân và nô nệ) và tầng lớp Paria (cùng đinh, hạ đẳng) Trong đó mọi quyền lợi, địa
vị xã hội đều nằm trong tay đẳng cấp quý tộc, tăng lữ Các đẳng cấp thấp hèn như tiện dân, nô
lệ và những người ngoài lề đẳng cấp bị khinh miệt và đói khổ Có thể nói chế độ phân biệtđẳng cấp xã hội Ấn Độ hết sức khắc nghiệt Nó không chỉ được giáo lý Bà la môn biện hộ màcòn được pháp luật nhà nước bảo vệ Nó không chỉ là sự phân biệt về địa vị, học vấn, sanghèn, giàu nghèo, như kiểu phân biệt giai cấp ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây màcòn là sự phân biệt về màu da, chủng tính, nghề nghiệp, tôn giáo, chế độ hôn nhân, quan hệgiao tiếp và cả quan niệm về đạo đức thiêng liêng của con người thể hiện ngay trong đời sốnghằng ngày
Như vậy, chính chế độ phân biệt đẳng cấp này, làm cho người Ấn Độ cảm thấy cuộc đờiđầy đau khổ và mơ ước được thoát khổ Do vậy đã xuất hiện những trào lưu triết học mới với
tinh thần tự do tư tưởng, bình đẳng xã hội ở vùng Đông Ấn như phái duy vật vô thần “lục sư ngoại đạo”, phong trào “hư vô chủ nghĩa” và đặc biệt là tư tưởng triết lý đạo đức nhân sinh
của Phật giáo hình thành
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.2.1 Tư tưởng đạo đức trong kinh Veda, Upanishad trong sử thi Ramayana, Mahabharata với sự hình thành tư tưởng đạo đức Phật giáo
Tư tưởng đạo đức trong kinh Veda: chủ yếu là tìm ra cách cư xử đúng đắn hơn trong sự
hòa điệu giữa con người và tự nhiên Con người muốn đạt được sự bình an, hạnh phúc tất yếuphải nhờ đến sự giúp đỡ của các đấng thần linh thông qua con đường hiến tế Đây là conđường thể hiện rõ trách nhiệm và bổn phận của con người trong đẳng cấp của mình, nếukhông thì sẽ bị hạ xuống đẳng cấp thấp hơn
Tư tưởng đạo đức trong kinh Upanishad: chủ yếu chú trọng về tri thức tuyệt đối, đời
sống tâm linh và nghiệp báo luân hồi (Karma - samsara), giải thoát (Moska) Upanishad quan
niệm rằng: biết tức là giải thoát, do đó con người muốn biết thì tất yếu phải “thực nghiệm tâm linh” qua lối sống thoát tục và thiền định Tư tưởng trong kinh Upanishad đánh dấu sự biến
đổi lớn từ tinh thần nghi thức tế lễ sang tinh thần triết lý
Tư tưởng đạo đức trong sử thi Ramayana: là triết lý đạo đức và nhân sinh thể hiện
trong quan niệm về trách nhiệm, bổn phận tự nhiên của con người, về lý tưởng sống cao cảcủa con người Trong đó lòng quả cảm, đức hy sinh, không bị mê hoặc bởi dục vọng của
Trang 10Rama, lòng trung trinh, can đảm, giàu đức nhân từ của Sita những tấm gương điển hình về lýtưởng sống cao cả ấy của người Ấn Độ.
Tư tưởng đạo đức trong sử thi Mahabharata: là chỉ ra cái cao quý và thiết yếu nhất
trong mỗi con người không phải là tình cảm, ý muốn, dòng máu, thân tộc hay sống chết, mà làcái giá trị cao cả, bất diệt trong linh hồn con người, là sự biểu hiện của linh hồn vũ trụ tuyệtđối, tối cao Ngoài ra, tư tưởng đạo đức còn được thể hiện qua truyền thống Đácma, nghĩa làđạo đức hiền hòa, bình đẳng, bác ái của thời kỳ công xã nguyên thủy
1.2.2 Sự tác động, ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức trong Lục sư ngoại đạo và Jaina giáo với sự hình thành tư tưởng đạo đức Phật giáo
Tư tưởng đạo đức trong Lục sư ngoại đạo: Đây là sáu phái chống lại uy thế của Kinh
Veda, Upanishad, phản đối sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm trong giáo lý đạo Bà la môn và
chế độ phân biệt đẳng cấp, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, cùng với đạo Phật Trong
phái này thì nổi bật nhất là phái Lokayata hay Carvaka Khi nói về đạo đức thì Lokayata xem
khoái lạc, nhục dục là đỉnh cao của cuộc sống
Tư tưởng đạo đức trong triết học Jaina giáo: là đề cập đến hai phạm trù có tính bất diệt
cùng tồn tại đó là linh hồn và phi linh hồn Mặt khác, tư tưởng đạo đức trong triết học Jaina
còn được thể hiện qua quan niệm về Nghiệp Muốn giải thoát khỏi khổ đau, chấm dứt sinh tửđòi hỏi con người phải tu tập trả hết các Nghiệp cũ và tạo Nghiệp mới tốt hơn Quan điểm đạođức quan trọng nhất của trường phái Jaina là Ahimsha (bất tổn sinh)
1.2.3 Sự tác động, ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức trong hệ thống triết học chính thống với sự hình thành tư tưởng đạo đức Phật giáo
Dưới sự tác động, chi phối và thống trị của triết lý Veda, Upanishad, giáo lý Bà la mônđược mệnh danh là tư tưởng truyền thống chính thống gọi là darshanas Hệ thống triết học
Bà la môn “thừa nhận ưu thế mặc khải tối cao của kinh Veda và triết lý về tinh thần sáng tạo
vũ trụ tuyệt đối tối cao Brahman trong Upanishad, biện hộ cho giáo lý của Bà la môn, bảo
vệ chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội”3 Trong số các hệ thống triết học chính thống, nổi bật
có sáu trường phái tiêu biểu: Trường phái triết học Samkhya (Số luận); Trường phái triết học Yoga (Du già); Trường phái triết học Nyaya (Chính lý); Trường phái triết học Vaisesika (Thắng luận); Trường phái triết học Mimansa (Di man tác); Trường phái triết học Vedanta (Phệ đàn đa).
Kết luận chương 1
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và sự pháttriển của nền văn hóa tư tưởng, triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại, ta thấy cơ sở và nguồn gốchình thành tư tưởng đạo đức nhân sinh của Phật giáo Quá trình hình thành tư tưởng đạo đứcPhật giáo phản ánh và chịu sự quy định bởi điều kiện tự nhiên và đặc điểm lịch sử, cũng nhưtính chất sinh hoạt của xã hội Ấn Độ cổ đại Trong đó điều kiện tự nhiên, đặc biệt là khí hậuhết sức đa dạng và vô cùng khắc nghiệt luôn tác động và ảnh hưởng đến đời sống vật chất vàtinh thần, từ cách thức sinh hoạt hàng ngày đến quan niệm, tư tưởng, phong tục, tập quán,ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo Tư tưởng đạo đức Phật giáo không chỉ chịu sự ảnh hưởng củađiều kiện tự nhiên mà còn chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Ấn Độ cổđại Đó là một xã hội với chế độ nô lệ mang tính gia trưởng, hà khắc, lại bị kìm hãm bởi chế
độ công xã nông thôn khép kín về địa bàn cư trú và nền kinh tế tự cung tự cấp Đặc biệt là chế
độ phân biệt chủng tính (varna), phân biệt sắc tộc, hôn nhân, nghề nghiệp, tôn giáo và sự giaotiếp khắc khe Bên cạnh đó, tư tưởng về con người cũng được bàn trong các trường phái triếthọc trước thời Đức Phật, đặc biệt là trong Kinh Veda, Upanishad và hai bộ sử thi Ramayana,
3 Doãn Chính (2010) Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại Hà Nội: Chính trị quốc gia, tr.199.
Trang 11Mahabharata Phật giáo ra đời trong hoàn cảnh đó, đã tiếp thu và kế thừa những tư tưởng vềcon người, để hình thành hệ tư tưởng đạo đức đầy tính nhân bản và nhân văn sâu sắc củamình Có thể nói chính điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại là cơ sở quan trọng và quyếtđịnh đến sự hình thành và phát triển các giá trị đạo đức nhân sinh Phật giáo sau này.
Chương 2 KHÁI QUÁT TRIẾT LÝ CƠ BẢN VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
2.1 KHÁI QUÁT TRIẾT LÝ CƠ BẢN PHẬT GIÁO
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sinh vào ngày rằm tháng tư năm 624 trước côngnguyên, thành đạo năm 35 tuổi và nhập Niết bàn lúc 80 tuổi vào năm 544 trước côngnguyên Ngài có tên thật là Siddhatha (Tất Đạt Đa), họ Cù Đàm (Gautama), là người sánglập ra Phật giáo, đồng thời là nhà triết học Ấn Độ được nhân loại biết đến Ngài là thái tử concủa vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Maya) nước Ca Tỳ La Vệ(Kapilavastu), một quốc gia nằm ở miền Bắc Ấn Độ thuộc phía Nam Nepal ngày nay Triết
lý cơ bản của Phật giáo được thể hiện ở hai bình diện thế giới quan và nhân sinh quan nhưsau:
2.1.1 Quan điểm về thế giới của Phật giáo
Quan điểm về Vô thường - Vô ngã
Vô thường (Anitya): Theo Phật Quang đại từ điển 6 thì “ Vô thường tiếng Phạm là
Anitya nghĩa là tất cả các pháp hữu vi do nhân duyên sinh, tùy thuộc bốn tướng sinh, trụ, dị,diệt mà biến hóa đổi dời trong từng sát na, xưa có nay không, nay có sau không, chẳng lúc
nào thường trụ Vì thế nên gọi chung là Vô thường Luận Đại trí độ quyển 43 nêu ra 2 thứ Vô
Thường: Niệm niệm vô thường, Tương tục vô thường”4
Vô ngã: Theo Phật Quang đại từ điển 6 thì: “ Vô ngã tiếng Phạm là Anatman, cũng gọi
là phi thân phi ngã Ngã (ta) tức là vĩnh viễn bất biến (thường), độc lập tự tồn (nhất), là sở hữuchủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối (tể) Nghĩa là Ta là cái chủ tể thường nhất, vĩnhviễn không thay đổi, tồn tại một cách độc lập, tức là cái linh hồn hoặc bản thể có thật Trái lại,chủ trương tất cả sự tồn tại không có cái Ngã như thế mà nói Vô ngã, gọi là chư pháp vô ngã.Quán xét về lí vô ngã, gọi là vô ngã quán Vô ngã là một trong các giáo nghĩa căn bản củaPhật giáo, trong ba pháp ấn có “vô ngã ấn”5
Quan điểm về Duyên khởi và Tính không
Duyên khởi, theo Phật Quang đại từ điển 6 thì: “Duyên khởi tiếng tiếng Phạn là Pratitya
– samutpada, chỉ tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên (các điều kiện) hòa hợp mà thành,
lí này gọi là duyên khởi Tức là bất cứ sự vật gì trong thế giới hiện tượng đều nương vàonhững điều kiện nhân duyên mà sinh khởi, tồn tại, biến hóa (vô thường) và tiêu diệt Đó làpháp tắc mà Đức Phật đã chứng ngộ được Như 12 chi duyên khởi đã được giải thích rõ trongcác kinh điển A hàm: vô minh là duyên của hành, hành là duyên của thức, cho đến sinh làduyên của lão tử “vì cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh”, để chỉ bày rõ lýsinh tử nối nhau, đồng thời cũng nêu rõ lý “cái này không thì cái kia không, cái này diệt thìcái kia diệt” để đoạn trừ vô minh chứng Niết bàn Lý duyên khởi này là sự chứng ngộ thànhđạo của Đức Phật, là nguyên lý cơ bản của Phật giáo”6
4
Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 6: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.7216.
5
Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 6: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.7188
6 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 6: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.1364.
Trang 12Tính Không, là học thuyết nổi bật của Phật giáo Đại thừa Khởi sáng học thuyết này là
Long Thụ (Nāgārjuna), một luận sư nổi tiếng của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ Nội dung củahọc thuyết Tính Không cho thấy rằng tất cả sự vật, hiện tượng đều không có thực hữu nội tại
và chỉ có cái nhìn đó mới đưa tới cái thấy biết toàn hảo về bản chất của chân lý Do đó, mọikhuynh hướng nhận thức lý tính sinh diệt, hữu vô… đều không phản ánh đúng bản chất củachân lý tuyệt đối, mà chỉ là biểu hiện của cái thấy vọng chấp sai lầm Tư tưởng về Tính
Không được Đức Phật nói trong các Kinh Bát Nhã, Kinh Kim Cương, v.v.
Theo Phật Quang đại từ điển 2, thì: “Không chỉ cho tất cả vật tồn tại đều không có tự
thể, thực thể, thực ngã… tư tưởng ấy gọi là Không Nói cách khác, Không là sự hư huyễnkhông thực của sự vật, hoặc là sự rỗng lặng trong sáng của lý thể Tư tưởng Không đã có từthời đại Đức Phật còn tại thế, rõ ràng nhất trong Phật giáo đại thừa sau này và là tư tưởng căn
bản của hệ thống Kinh Bát Nhã”7
2.1.2 Quan điểm về nhân sinh của Phật giáo
Quan điểm về Ngã chấp và Nhân quả
Ngã chấp, theo Phật Quang đại từ điển 3 thì “Ngã chấp (Atmagraha) còn gọi là Nhân
chấp, Sinh chấp, cố chấp có thực ngã Thể của chúng sinh chỉ do năm uẩn giả hợp mà thành,nếu chấp có thực ngã chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta thì gọi là Ngãchấp”8 Theo quan niệm của đạo Phật, thì chúng sinh sở dĩ trầm luân khổ đau là do Ngã chấp.Ngã chấp nói cho đủ làm bám víu vào cái ta không có thật “Ngã (Atman) nghĩa là hô hấp,chuyển thành nghĩa sinh mệnh, tự kỷ, thân thể, tự ngã, bản chất, bản tính, hoặc chỉ chung chochủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thốngnhất”9
Nhân quả theo tiếng Phạn là Pratitya - Samút - Pada, có nghĩa là duyên khởi Nhân là
nguyên nhân, chỉ những vật do chính nó làm nhân trực tiếp sinh ra vật khác Duyên là chỉ chonhững điều kiện có tính chất trợ giúp cho sự vật này sinh ra sự vật khác Nhân duyên là điềukiện tương quan, liên hệ nhân với quả, quả với nhân, biến hóa vô thường Nên gọi chung làNhân -Duyên - Quả Luật nhân quả là giáo lý trọng yếu của Phật giáo Theo luật nhân quả, thìmọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều tồn tại trong các mối quan hệ tác động qua lại lẫnnhau, trong quá khứ hiện tại và tương lai
Quan điểm về Luân hồi và Nghiệp báo
Luân hồi, theo Phật Quang đại từ điển 3 thì “Luân hồi cũng gọi là sinh tử, sinh tử luân
hồi, luân hồi chuyển sinh, lưu chuyển, luân chuyển, là bánh xe quay vòng Chúng sinh dohoặc nghiệp (tham sân si) chết trong kiếp này, rồi lại sinh vào kiếp khác, hệt như bánh xe, cứquay vòng mãi mãi trong ba cõi”10 Thuyết Luân hồi lấy luật nhân quả làm nền tảng vì luânhồi chính là nhân quả liên tục Luân hồi được thể hiện ở mọi vật qua tứ đại: đất, nước, gió,lửa; cơ thể vật chất và tinh thần con người
Nghiệp báo, theo Phật Quang đại từ điển 3 thì “Nghiệp báo cũng gọi là Nghiệp quả, là
từ gọi chung của nghiệp và báo Tức là quả báo khổ, vui do nghiệp nhân thiện, ác của thân,
khẩu, ý chiêu cảm Cứ theo Luận Thành Thực quyển 7 thì nghiệp báo có 3 loại: thiện, bất
thiện, vô ký Nghiệp thiện thì được quả báo tốt đẹp, nghiệp bất thiện cảm quả báo xấu ác,nghiệp vô ký (không thiện không ác) thì không mang lại quả báo”11 Theo Phật giáo thì không
có thiên thần quỷ vật nào có thể áp đặt sức mạnh lên chúng ta, mà chính chúng ta là chủ nhân
7 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 2: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.2484.
8 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 3: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.3240.
9 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 3: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.3238.
10 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 3: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.2865.
11 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 3: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.3276.
Trang 13của nghiệp Trong Kinh Tiểu nghiệp phân biệt Đức Phật có nói: “Này thanh niên, các loài hữu
tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc,nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình, nghĩa là có liệt, có ưu”12
Quan điểm về Khổ đau và Hạnh phúc
Khi nói về đau khổ, Đức Phật đã đi sâu vào phân tích hai tầng nghĩa là: “Hoại khổ” là
tình trạng bị thời gian làm cho thay đổi và hủy hoại, còn “Hành khổ” là tình trạng bị quy
định, bị phụ thuộc, không có tính độc lập Đức Phật khẳng định: do vô minh là nguồn gốc củađau khổ Ngài cho rằng: có tám nỗi khổ: sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ,cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ uẩn khổ Đức Phật nói: nguồn gốc của sự khổ đau là
cái tư duy chấp thủ của con người Nên gọi là ngũ uẩn khổ Trái ngược với đau khổ là hạnh
phúc, đó là không chấp thủ năm uẩn Đức Phật cho rằng: nếu một người không nhìn Sắc, hay
Thọ, hay Tưởng, hay Hành hoặc Thức là tự ngã… khi năm thủ uẩn biến đổi đổi khác thì ưunão không khởi lên trong tâm người ấy và người ấy sẽ không chấp thủ hay ưu não về bất cứ
gì Chính vì không chấp thủ và ưu não nên người ấy cảm nhận giải thoát và hạnh phúc
Tóm lại, quan điểm về thế giới của của Phật giáo cho rằng mọi sự vật hiện tượng đềunằm trong quy luật vô thường, vô ngã, do duyên sinh rồi cũng do duyên diệt Cái này có thìcái kia có, cái này không thì cái kia không Thế giới này không do đấng tối cao nào sáng tạo
ra mà nó tồn tại theo quy luật tự nhiên vốn có: thành trụ hoại không hay sinh trụ dị diệt Thế giới này chi phối đời sống con người Đạo Phật dựa trên cơ sở lý luận về thế giớinày, từ đó đưa ra các thuyết nhân sinh về ngã chấp và nhân quả; luân hồi và nghiệp báo; khổđau và hạnh phúc nhằm hướng đến xây dựng một cuộc sống con người tốt đẹp, hướng đếngiải thoát khổ đau
-2.2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
2.2.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Phật giáo
Trước khi tìm hiểu nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Phật giáo thì trước hết chúng
ta cần làm rõ khái niệm đạo đức và đạo đức Phật giáo
Khái niệm đạo đức: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Đạo đức (Moranlity) là
một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những chuẩn mực xã hộiđiều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình,làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội) Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, người tađánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không được làm(vô đạo đức) và về nghĩa vụ phải làm Khác với pháp luật, các chuẩn mực đạo đức không ghithành văn bản pháp quy có tính cưỡng chế, song đều được mọi người thực hiện do sự thôithúc của lương tâm cá nhân và của dư luận xã hội”13
Khái niệm đạo đức Phật giáo: Theo Phật Quang đại từ điển quyển 2 thì “Đạo đức là
nguyên lý thiện ác, chính tà có liên quan đến hành vi của nhân loại”14 Và theo Từ điển Phật học thì “Đạo là chánh pháp, đức là đắc đạo, là không làm sai lệch nền chánh pháp”15 Như vậy,nếu chánh pháp của Phật giáo là chánh pháp về giải thoát thì mọi giá trị đạo đức Phật giáo gắnliền với quá trình giải thoát Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Phật giáo được thể hiện chủ
12 Thích Minh Châu dịch (2012) Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, Kinh Trung bộ, tập 2, Kinh Tiểu nghiệp phân biệt Hà
Nội: Tôn giáo, tr.539-540
13 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2000) Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 (A-Đ) Hà Nội:
Từ điển Bách khoa, tr.738.
14 Thích Quảng Độ dịch (2000) Phật Quang đại từ điển, tập 2: Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, tr.1621.
15 Đoàn Trung Còn (2015) Từ điển Phật học: Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr.524
Trang 14yếu ở : quan điểm về: đức từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha; tu tâm; hành thiện, giải thoát và xây dựng các mối quan hệ xã hội Đó là những nội dung chung nhất và có giá trị phổ quát nhất
Từ bi - giá trị nền tảng của đạo đức Phật giáo: Lòng từ bi, bác ái là điểm nổi bật của
giáo lý Phật giáo khuyên con người sống có đạo đức, có tình thương yêu, không phân biệtđối với mọi người và mọi loài Từ bi là đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người, mọiloài, và cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh, quên những lợi ích của bản thân Từ bi có ba ý
nghĩa: Một là, Phật giáo đem tình yêu thương, bình đẳng đến với mọi người; Hai là, Phật giáo đề cao con người và giải thoát con người khỏi khổ đau; Ba là, Phật giáo đào tạo con
người “Từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha”
Tu tâm - giá trị định hướng của đạo đức Phật giáo: Phật giáo quan niệm, mọi sự mọi
việc đều do tâm tạo ra tất cả Tu tâm là hành Bát chính đạo để thành tựu giới, định, tuệ Bát chính đạo gồm: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định Bên cạnh đó tu tâm còn là thực hành: ngũ giới, lục độ.
Hành thiện - giá trị chủ đạo của đạo đức Phật giáo: đạo Phật khuyên con người làm
lành lánh dữ Hễ việc nào mang tính thiện thì dốc sức thực hành, cốt yếu là giữ tâm ý trong
sạch để không bị những phiền não quấy nhiễu Trong Kinh Pháp Cú 183 Đức Phật có nói:
“Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy” (Thích Minh Châu, 2016, tr.85) Theo Đạo Phật, đạo đức thể hiện rõ nhất trong
việc giữ giới Đối với giới luật của Phật giáo nói chung thì Ngũ giới là một trong những điềuđạo đức cốt lõi, thiết thực cho tất thảy mọi người
Xây dựng các mối quan hệ xã hội: Phật giáo không chỉ chú trọng đến việc hoàn thiện
đạo đức cá nhân mà còn quan tâm đến vấn đề xây dựng mối quan hệ gia đình và xã hội dựa
trên Sáu pháp lục hòa kính: Có năm mối quan hệ cơ bản trong gia đình và xã hội mà trong Kinh Thiện Sinh (Kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt) Đức Phật đề cập đến:
Một là, quan hệ giữa cha mẹ và con cái: có thể nói mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
là mối quan hệ huyết thống và thiêng liêng nhất của con người, đặc biệt là đối với người ViệtNam Đức Phật cũng rất xem trọng mối quan hệ này Ngài dạy cha mẹ có năm trách nhiệmđối với con cái và con cái có năm bổn phận đối với cha mẹ Đức Phật dạy:
“Này gia chủ tử có năm trường hợp người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phươngĐông: “Tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ; tôi sẽ làm tròn bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ giữ gìndanh dự gia đình và truyền thống; tôi sẽ bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ theo phongtục tập quán khi cha mẹ qua đời” Này gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Đôngtheo năm cách như vậy; cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chặn conlàm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy cho con có nghề nghiệp, cưới vợ, gả chồngxứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con Này gia chủ tử như vậy là cha mẹđược con phụng dưỡng như phương Đông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởngđến con theo năm cách”16
Hai là, quan hệ giữa thầy và trò: trong Nho giáo ta thường nghe “Quân - Sư - Phụ” cho
thấy người xưa đã đặt vị trí ông thầy rất cao trong xã hội phong kiến Ngày nay thầy, cô giáovẫn được xem là nghề cao quý và được xã hội rất tôn trọng Sự thành bại trong sự nghiệp củamột cá nhân, một phần lớn là do người thầy dạy dỗ Riêng đối với đạo Phật, người thầy có vaitrò, trách nhiệm và bổn phận nhiều hơn nữa
“Các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tửnhững gì mình đã được khéo huấn luyện; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì;
16
Thích Minh Châu dịch (1991) Kinh Trường bộ, tập 1 TP HCM: Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, tr.541-542.