1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẶC điểm NGÔN NGỮ GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY TIẾNG VIỆT (có liên hệ với tiếng anh)

27 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 390,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ giao thông đường thủy tiếng Việt có liên hệ với tiếng Anh”, nghiên cứu những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của ngôn ngữ chuyên ngành, góp phần nâng cao chỉ số

Trang 1

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

Mã số: 62.22.01.10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 2

ii

Công trình được hoàn thành tại:

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Lê Thư

Vào hồi…… giờ… … Ngày… … Tháng… … năm… …

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển dài 3.260km và gần 6.500km đường sông, vì vậy, GTĐT không chỉ quan trọng về giao thông, mà còn là tiềm lực phát triển nền kinh tế của đất nước Cùng với những ứng dụng mới về công nghệ, việc chuẩn hóa ngôn ngữ chuyên ngành GTĐT rất cần thiết trong việc đào tạo nhân lực ngành GTĐT Là

1 trong 172 quốc gia thành viên của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), việc nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành GTĐT ở Việt Nam càng trở nên cấp thiết Đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ giao thông đường thủy tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)”, nghiên cứu những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của ngôn ngữ chuyên ngành, góp phần nâng cao chỉ số hiệu quả của thị trường lao động, tính sẵn sàng về công

nghệ và trình độ tiếng Anh chuyên ngành của nhân lực ngành GTĐT

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm ra những đặc điểm chung và riêng về ngữ nghĩa của bảy trường từ vựng có tần suất cao trong hoạt động giao thông đường thủy; tổng hợp, phân tích những đặc điểm về ngữ nghĩa

và các tình huống giao tiếp thường gặp trong giao thông đường thủy; chỉ ra những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong văn hóa giao tiếp của đội ngũ thuyền viên Việt Nam so với những từ ngữ được qui định bởi tổ chức Hàng hải thế giới

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:

- Giới thiệu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như các lý thuyết

về trường nghĩa, về định danh, về thuật ngữ, về ngữ dụng và hội thoại

- Thống kê, xác lập và phân tích bảy trường từ vựng tiêu biểu, các tiểu trường, các đơn vị định danh bậc một, bậc hai của ngôn ngữ GTĐT; phân tích những nét nghĩa chung của các trường, các tiểu trường từ vựng GTĐT tiếng Việt; so sánh số lần xuất hiện của các từ ngữ này trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh; chỉ ra được tính hệ thống, tính tầng bậc và tính giao thoa trong nội bộ mỗi trường nghĩa

- Nêu lên một số nét đặc trưng của ngôn ngữ GTĐT tiếng Việt và so sánh với ngôn ngữ qui chuẩn của Tổ chức Hàng Hải thế giới; trình bày một

số khuôn mẫu hội thoại bằng song ngữ Việt – Anh trong các tình huống giao tiếp cụ thể

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của những từ ngữ được sử dụng cho nhiều ngành nghề thuộc lĩnh vực giao thông đường thủy, nhưng tập trung chủ yếu vào ngôn ngữ nói (khẩu ngữ) của ngành hàng hải Về ngữ nghĩa, luận án tập hợp và phân tích các đơn vị định danh chỉ người (ngành nghề), chỉ sự vật, hiện tượng (bờ, bến, bão tố ) Về ngữ dụng, luận án nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong 5 tình huống thông dụng và 10 tình huống bất trắc của hoạt động giao thông đường thủy

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là các trường từ vựng và các tình huống giao tiếp GTĐT trong một số tài liệu đang được sử dụng ở các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực GTĐT, qua thực tế sử dụng ngôn ngữ của các thủy thủ dày dạn kinh nghiệm

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

Phương pháp nghiên cứu

Luận án đã sử dụng các phương pháp phân tích thành tố nghĩa, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh, đối chiếu và thủ pháp thống

kê, thủ pháp phân tích ngữ cảnh, … để giải quyết các vấn đề cụ thể của

luận án

Nguồn ngữ liệu

Để đáp ứng cho luận án, chúng tôi sử dụng 3 nguồn ngữ liệu chính, có

độ tin cậy cao, đó là: i/ Từ điển thuật ngữ Đường thủy nội địa do Ngô Xuân Sơn chủ biên, xuất bản năm 2002; ii/ Thành ngữ giao tiếp chuẩn trong hàng hải của IMO do thuyền trưởng Cổ Tấn Anh Vũ biên dịch và thuyền trưởng Nguyễn Văn Thư hiệu đính, năm 2010; iii/ Từ điển Hàng Hải Anh Việt (thực tế là sổ tay ghi chép) của Hội người đi biển, ghi chép của nhiều thủy thủ, thuyền trưởng, máy trưởng trên các tàu viễn dương qua nhiều năm Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có tham khảo các giáo trình đang được sử dụng giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành đường biển, đường sông như các cuốn

Marlins - Engish For Seafarer - Study Pack 2 (Tony Grice, 1998), English For Mariners (2009) v.v…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Luận án góp phần làm rõ tính hệ thống cấu trúc, tính tầng bậc, sự tích hợp và tính giao thoa của ngôn ngữ GTĐT bằng tiếng Việt trong quan hệ với tiếng Anh, góp phần vào việc nghiên cứu lý thuyết về trường nghĩa và lý thuyết giao tiếp, hội thoại Kết quả luận án có thể làm sáng tỏ hơn một số

Trang 5

Đây có thể được xem là cơ sở ban đầu hướng tới việc tập hợp từ vựng để biên soạn từ điển Việt - Anh hoặc Anh - Việt chuyên ngành GTĐT, tạo điều kiện cho người học tiếng Anh dễ dàng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế; góp phần nắm vững tính hệ thống của ngôn ngữ GTĐT

6 Bố cục luận án

Luận án gồm có hai quyển: chính văn và phụ lục

Quyển chính văn, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo; luận án gồm ba chương chính như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 2: Đặc điểm các trường từ vựng ngữ nghĩa trong giao thông đường thủy

Chương 3: Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong giao thông đường thủy

Quyển Phụ lục gồm có 03 phần:

+ Phụ lục 01: Từ vựng đường thủy nội địa

+ Phụ lục 02: Từ vựng IMO

+ Phụ lục 03: Từ vựng Hội người đi biển

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong Chương này, chúng tôi trình bày hai vấn đề Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu trường từ vựng, ngữ dụng và ngôn ngữ GTĐT Hai là, cơ sở lí thuyết cho những nội dung sẽ được đề cập trong phạm vi của luận án

1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa

Từ cuối thế kỷ XIX, các nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đến việc nghiên cứu ngữ nghĩa của ngôn ngữ W.Humboldt và F de Saussure là

những người đặt tiền đề cho lý thuyết về trường nghĩa Sau đó, rất nhiều

nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra những quan điểm về trường nghĩa, nhưng chỉ đến thời của J.Trier, lý thuyết về trường mới thực sự đi vào lịch

Trang 6

sử ngữ nghĩa học Từ đó đến nay, lý thuyết trường nghĩa ngày càng hoàn thiện và đạt được nhiều thành tựu lớn Ở Việt Nam, từ những năm 1960, các công trình nghiên cứu về từ vựng học đã ra đời, đó là các giáo trình như

“Giáo trình Việt ngữ, tập hai” (1962) của Đỗ Hữu Châu, “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” (1968), “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976) của Nguyễn Văn Tu Sau đó là những nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Hồ Lê, Lê Quang Thiêm Một số tác giả, đặc biệt là Đỗ Hữu Châu, đã nghiên cứu ngữ nghĩa gắn liền với lý thuyết trường nghĩa Có thể nói, từ những năm 1980 trở lại đây, lý thuyết trường nghĩa đã được chú ý nghiên cứu ở Việt nam

1.1.2 Những nghiên cứu về ngữ dụng

Trên thế giới, ngữ dụng học được quan tâm từ thời Hy Lạp cổ đại Aristotles đã nhấn mạnh đến việc vận dụng từ ngữ trong những tương tác thực tế để đạt được hiệu quả giao tiếp Nhưng phải đến những năm 1960,

ngữ dụng học mới phát triển mạnh mẽ, khởi đầu bằng sự ra đời của Lý

thuyết hành động ngôn từ (speech act) mà tác giả là J.L Austin và J.Searle

Từ đó đến nay, ngữ dụng học đã góp phần lớn trong việc mở rộng phạm vi quan tâm của ngôn ngữ học, bao quát đến từng lời nói, từng giao tiếp cụ thể của con người

Ở Việt Nam, ngữ dụng học được nhiều người biết đến thông qua những

công trình tiêu biểu như Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân (tập 1, 1998),

Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đại cương Ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu (tập hai, Ngữ dụng học, (2003), Giáo trình ngữ dụng học của Đỗ Thị Kim Liên (2005) và một số công trình khác

1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ giao thông đường thủy

Ngành hàng hải có mặt trên thế giới từ rất lâu đời, nhưng mãi đến năm

1982, Tổ chức Hàng hải thế giới (International Maritime Organization -

IMO) mới ban hành cuốn tài liệu Những cụm từ giao tiếp chuẩn của IMO,

qui định về sử dụng ngôn ngữ chung cho tất cả các đoàn tàu lưu thông trên biển Từ năm 2008 trở lại đây, trên thế giới đã có thêm một số tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ giao thông đường thủy với hình thức những bài báo và luận văn thạc sỹ

Ở Việt Nam, nghiên cứu về ngôn ngữ GTĐT có tác giả Nguyễn Xuân

Sơn (2005), với công trình Từ điển thuật ngữ giao thông đường thủy nội

địa, tác giả Nguyễn Văn Phòng, tác giả Vũ Phi Hoàng, tác giả Cung Kim

Tiến với công trình là các cuốn từ điển Hàng hải Anh-Việt và Việt-Anh

Đến năm 2016, luận án “Đặc điểm ngôn ngữ điện tín Hàng hải tiếng Anh”

của Phạm Văn Đôn cũng nghiên cứu về ngôn ngữ GTĐT, nhưng mới chỉ dừng lại ở góc độ điện tín

Trang 7

5

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa

Mỗi hệ thống ngữ nghĩa do một tập hợp các từ biểu hiện được gọi là một trường nghĩa, trong đó các từ có liên quan đến nhau về ngữ nghĩa hay

có cùng một phạm trù ngữ nghĩa Đối với quan hệ ngữ nghĩa trong trường nghĩa thì “chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa

và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.170)

1.2.2 Lý thuyết định danh

Định danh là chức năng gọi tên những đối tượng, thuộc tính hoặc

những hành động… Yêu cầu của một tên gọi là: i) Phải khái quát, trừu

tượng, phải mất khả năng gợi đến những đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng vì nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng Về mặt ngữ

nghĩa, nó phải tách hẳn với những dấu vết của giai đoạn cảm tính; ii) Các tên

gọi có tác dụng phân biệt đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hay phân biệt các loại nhỏ trong cùng một loại lớn Sự phân biệt này phải dứt khoát, có nghĩa là khi đã có tên gọi thì sự vật này, loại nhỏ này cũng trở thành độc lập với nhau, riêng rẽ với nhau Nhờ có tên gọi mà sự vật có đời sống độc lập trong tư duy (Chafe W.L., 1998, tr.190)

Chúng tôi dựa trên quan điểm của Hồ Lê (2003) để phân biệt ra hai

loại định danh, đó là định danh bậc 1 và định danh bậc 2

Về hình thức: thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ

Về ngữ nghĩa: thuật ngữ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối

tượng chuyên môn của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định

Hai nội dung cơ bản trên chính là tiêu chí để xác định thuật ngữ và phân biệt thuật ngữ với các đơn vị phi thuật ngữ như từ nghề nghiệp, từ thông thường và danh ngữ

1.2.4 Lí thuyết dụng học giao tiếp

Lý thuyết dụng học giao tiếp mà chúng tôi áp dụng cho đề tài là lý thuyết về ngữ cảnh, vai giao tiếp, nhân vật giao tiếp, chiếu vật và chỉ xuất, dựa

Trang 8

trên quan điểm của một số nhà khoa học qua những công trình nghiên cứu rất thành công như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên,…

1.2.5 Lí thuyết hội thoại

Trên thế giới, tác giả có những đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu lí thuyết hội thoại là H.P Grice (1975), với các công trình nghiên cứu lí thuyết cộng tác hội thoại, tương tác hội thoại, lô gích với hội thoại Trước

đó, tác giả D Hymer (1974) đã đề cập đến các thành tố có mặt trong hoạt động giao tiếp G Yule (1986) cũng đã đề cập đến vấn đề cộng tác và hàm

ý, hàm ý hội thoại, các đặc tính của hàm ý hội thoại trong mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật giao tiếp, lịch sự và tương tác, hội thoại và cấu trúc ưa chuộng (như trích dẫn ở Đỗ Thị Kim Liên, 1999, tr.25-26)

Ở Việt Nam, nghiên cứu về hội thoại có quan điểm của nhiều tác giả: Đỗ Hữu Châu (2003), Nguyễn Đức Dân (1998), Đinh Văn Đức (2012), Nguyễn Thiện Giáp (2005), Đỗ Thị Kim Liên (1999), Hoàng Phê (2008) v.v Trong đó, quan điểm của Nguyễn Đức Dân về hội thoại là bao quát hơn cả Theo ông, hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người, là một loại văn bản riêng biệt được chi phối bởi những quy tắc thực hiện đặc thù

1.3 Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý thuyết cơ sở của luận án

Chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết trường nghĩa, lý thuyết định danh

và lý thuyết thuật ngữ vào chương 2 để xác lập, thống kê và phân tích, miêu

tả các trường từ vựng của ngành GTĐT, làm sáng rõ những đơn vị ngôn ngữ được liên kết với nhau nhờ có một hoặc một số điểm chung Trên cơ sở các

nghiên cứu có trước, chúng tôi sẽ thống nhất các tên gọi trường nghĩa,

trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa bằng một tên gọi duy nhất trong

luận án: trường từ vựng ngữ nghĩa

Lý thuyết dụng học giao tiếp và lý thuyết hội thoại sẽ được vận dụng vào chương ba, làm cơ sở cho việc phân tích, miêu tả các tình huống hội thoại, tìm hiểu những hoàn cảnh đặc thù của chuyên ngành GTĐT, để ít nhiều chế định cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp

Trang 9

2.2 Đặc điểm hình thức

Chúng tôi nghiên cứu hình thức của các từ, ngữ dựa trên số lượng

các đơn vị định danh tạo thành Đơn vị định danh là từ được gọi là đơn vị

định danh bậc 1, hay đơn vị định danh gốc; các đơn vị định danh là cụm từ,

đoản ngữ, được gọi là đơn vị định danh bậc 2, hay đơn vị định danh phái

sinh

2.2.1 Định danh bậc 1

Đơn vị định danh bậc 1 là những từ tối giản về mặt hình thái - cấu

trúc, được dùng làm cơ sở để tạo ra những đơn vị định danh bậc 2 (định

danh phái sinh) Ví dụ: từ sông trong mom sông, sông thượng nguồn; từ

chèo trong mái chèo, chèo lái v.v… Từ trong đơn vị định danh bậc 1

thường là từ chỉ loại Nói cách khác, trong tiếng Việt, mô hình cấu tạo từ kiểu

này thường là từ đơn

Bảng 2.2.1.1 thể hiện kết quả đối chiếu về tần suất của các đơn vị định danh bậc 1 giữa tiếng Việt và tiếng Anh trong các trường từ vựng Số thứ tự chính là kết quả sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao

Bảng 2.2.1.1 Đối chiếu tần suất sử dụng các đơn vị định danh bậc 1

1 Nhân lực hoạt động GTĐT Giao tiếp trên tàu

3 Khí tượng thủy văn Khí tượng thủy văn

5 Phương tiện GTĐT Nghiệp vụ thuyền nghệ

7 Nghiệp vụ thuyền nghệ Nhân lực hoạt động GTĐT

2.2.2 Định danh bậc 2

Định danh bậc 2 (định danh phái sinh) là những đơn vị có mô hình kết

hợp một thành tố chỉ loại với các thành tố khác Đây là những đơn vị định

danh có hình thức gồm 2 từ trở lên và có cấu trúc chính - phụ

Trang 10

Xét về hình thức, những đơn vị định danh bậc 2 có cấu tạo giống với các biểu thức đẳng lập vì mỗi thành tố là một yếu tố chỉ loại tương

đương nhau, ví dụ: sông nước, phao tiêu, tàu bè

Xu hướng định danh theo bậc 1 đã tạo ra những tên gọi có phạm vi nghĩa rộng, mang tính đại diện về loại trong mỗi trường từ vựng Theo kết quả thống kê từ ba nguồn ngữ liệu, kiểu từ có quan hệ ngữ nghĩa rộng này chỉ chiếm tỉ lệ 20,37% trong số 2,822 đơn vị định danh tiếng Việt và 22,39% trong số 3,497 đơn vị định danh tiếng Anh Xu hướng cấu tạo từ theo bậc 2 đã tạo ra những tên gọi có phạm vi nghĩa hẹp hơn, có chức năng phân biệt từng đối tượng, sự vật để dễ nhận diện hơn Theo kết quả khảo sát, lượng từ ngữ này chiếm tỉ lệ lớn, 79,63 % đối với tiếng Việt và 77,61% đối với tiếng Anh trong toàn bộ ngữ liệu

Từ bảng tổng hợp này, chúng tôi sẽ tập trung phân tích, miêu tả 7 trường

từ vựng lớn, nhằm chỉ ra những đặc điểm cơ bản về ngữ nghĩa của chúng

2.3.1 Trường Nhân lực hoạt động giao thông đường thủy

Chúng tôi lấy tiêu chí môi trường làm việc để phân lập trường từ vựng Nhân lực hoạt động giao thông đường thủy ra hai tiểu trường, đó là trường Nhân lực hoạt động trên bờ và trường Nhân lực hoạt động trên phương tiện

2.3.1.1 Trường Nhân lực hoạt động trên bờ

Nhân lực hoạt động trên bờ có mặt trong hầu hết các hoạt động GTĐT, từ đóng gói, sắp xếp hàng hóa, điều tiết GTĐT, sửa chữa và bảo trì phương tiện, bảo vệ con người và tài sản…, chỉ trừ việc có mặt trong các hải trình Chúng tôi phân lập trường nhân lực hoạt động GTĐT dựa trên 5

Trang 11

9

thành tố nghĩa: i) vị trí hoạt động (công nhân cảng docker, thủ kho ttores

foreman ); ii) thao tác công việc (công nhân xếp dỡ, điều độ viên stevedore, kiểm kiện tallyman, tallywoman); iii) sở hữu (chủ bến wharf employer, whaft owner, chủ hàng good owner); iv) vị thế xã hội (điều độ

viên longshoreman, máng trưởng gang foreman); v) giám sát liên ngành (cảnh sát police officer, giám định viên surveyor)

2.3.1.2 Trường Nhân lực hoạt động trên phương tiện

Tiểu trường Nhân lực hoạt động trên phương tiện cũng được phân tích theo 5 thành tố nghĩa như trường Nhân lực hoạt động trên bờ Ví dụ:

+ Vị trí hoạt động: Thủy thủ boong deck hand, deckie man, Thủy thủ/kỹ sư máy engine crewmember, engineer

+ Thao tác công việc: thợ chấm dầu greaser, thủy thủ lái Helman

+ Sở hữu: chủ tàu, chủ thuyền ship holder, ship owner

+ Vị thế: máy trưởng chief engineer, thủy thủ trưởng boastwain/ bosun + Giám sát liên ngành: cảnh sát đường thủy waterway police officer, hải quan customs

2.3.2 Trường Địa hình giao thông đường thủy

Địa hình GTĐT là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến tốc độ, năng lực vận tải của tàu, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của của mỗi chuyến hàng Bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp, yếu tố ngôn ngữ đồng

bộ, thống nhất cũng góp phần không nhỏ trong thành công của hoạt động nghiệp vụ này

2.3.2.1 Trường Đặc điểm bờ bến

Đối với hàng hải, yếu tố bờ bến chỉ đơn thuần là những cầu tầu, bến cảng, hiện đại hoặc bán hiện đại Những đặc điểm địa hình của bờ

sông, bến đậu như cong, vênh, lồi lõm, bồi, lở… không phải là những yếu

tố tác động lớn đến hiệu quả của hải trình GTĐTNĐ có 80 từ ngữ tiếng Việt và 96 từ tiếng Anh về bến bờ, thì hàng hải chỉ có 34 từ ngữ tiếng Việt

và 59 từ tiếng Anh mà thôi Những thành tố nghĩa chỉ đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh trong tiểu trường này gồm có:1/ Tính ổn định hay

không ổn định (bãi bồi warp, alluvia, bãi triều lầy high tide swamp…); 2/

Vị trí (bãi bên side plain, nội thuỷ inland waterway port); 3/ Chức năng (cảng trung chuyển entrepot port, bến tàu khách passenger ship port …)

2.3.2.2 Trường Đặc điểm tuyến luồng

Các thành tố nghĩa được dùng để phân lập tiểu trường này là: 1/

Tính ổn định hay không ổn định, ví dụ: ghềnh rapid, whirlpool, lưu vực

basin, đoạt dòng snatch flow, capture, loạn lưu turbulence; 2/ Vị trí, ví dụ:

thượng lưu upstream section, nội lưu hinterland navigation, gần bờ coastal

navigation, xa bờ off shore navigation; 3/ Chức năng, ví dụ: luồng dẫn leading flow, luồng phụ auxiliary current, tuyến chính main route…

Trang 12

Số lượng từ ngữ mang nét nghĩa chỉ đặc điểm tuyến luồng trong Từ điển thuật ngữ ĐTNĐ có 286 trong tổng số 366 đơn vị định danh tiếng Việt, chiếm tỉ lệ 78,14%, và 226 trong 322 đơn vị định danh tiếng Anh, tỉ lệ 70,18%; IMO có 22 trong tổng số 36 đơn vị định danh tiếng Việt, tỉ lệ 61,11% và 23 trong tổng số 34 đơn vị định danh tiếng Anh, tỉ lệ 67,64%; HNĐB có 62 trong tổng số 96 đơn vị định danh tiếng Việt, tỉ lệ 64,58% và

94 trong 153 đơn vị định danh tiếng Anh, tỉ lệ 61,43%

2.3.3 Trường Khí tượng thủy văn

Khí tượng thủy văn bao gồm nhiều yếu tố, nhưng chúng tôi chỉ khảo sát, phân tích và miêu tả những yếu tố có tác động nhiều nhất đến GTĐT

2.3.3.1 Trường Sóng

Trường Sóng có những thành tố nghĩa như: các loại sóng (sóng

triều tidal wave, sóng thần Tsunami), mức độ sóng (sóng cao Sea high, Sóng dữ Sea rough, sóng lừng Swell, sóng dị thường Abnormal waves)…

Kết quả khảo sát cho thấy, tiếng Việt có 34 đơn vị định danh Sóng trên

tổng số 2,822 từ ngữ được khảo sát, chiếm 1,20%, trong khi tiếng Anh có

21 đơn vị định danh, tỉ lệ 0,6% Đó là các đơn vị định danh theo cả hai xu hướng mà chúng tôi đã đề cập

gió xoáy nhiệt đới tropical cyclone; lốc xoáy tornado; ngay chính gió dead

on end); gió theo mùa (gió heo may autumnal cold breeze, autumn wind, gió

mùa đông bắc northeast wind)

Kết quả: tiếng Việt có 48 đơn vị định danh theo các mô hình đã miêu

tả, chiếm 1,70% ngữ liệu; tiếng Anh chiếm tỉ lệ 1,28% (45/3,497 đơn vị định danh) Nét đặc trưng là cấp độ gió và hướng gió

2.3.3.3 Trường Bão

Những thành tố nghĩa của trường bão gồm có: 1/ Vị trí bão (bão Thái

Bình Dương Typhoon, bão châu Úc Willy-willy…); 2/ Cấp độ bão (bão táp

violent storm, bão xoáy revolving storm); 3/ Hướng di chuyển (hướng di

chuyển hiện tại present movement, tốc độ di chuyển speed of advance…)

Theo ngữ liệu tra cứu, tiếng Việt có 25 đơn vị định danh về bão, chiếm 0,88% các từ ngữ trong nguồn ngữ liệu, tiếng Anh có tỉ lệ 0,91% (32 đơn vị định danh), gồm các yếu tố đặc trưng giống với trường gió, đó là cấp độ

và hướng di chuyển

2.3.3.4 Trường Thủy triều

Trang 13

11

Thủy triều, hay chế độ thủy văn là yếu tố quan trọng trong GTĐTNĐ

ở nước ta, nhưng mức độ ảnh hưởng đến GTĐB lại không lớn Nước lớn, nước ròng, thủy triều lên hay xuống không tác động nhiều đến biển cả, đại dương Những đặc trưng cơ bản của thủy triều là: 1/ Chế độ (nhật triều, bán nhật triều); 2/ Tốc độ; 3/ Cao độ và biên độ Lượng từ này có 43 đơn vị định danh, chiếm

gần 1,7% trong tổng số ngữ liệu

2.3.3.5 Trường Tầm nhìn

Trường tầm nhìn có thể tập hợp và phân lập theo những tiêu chí ngữ

nghĩa như những yếu tố tác động và mức độ của tầm nhìn Ví dụ:

+ Những yếu tố tác động: dải sương mù fog bank; mưa rain, heavy rain, rainy season, sương mù, mù sương Mist, fog

+ Mức độ: tầm nhìn thay đổi visibility variable, tầm nhìn giảm visibility decreasing; tầm nhìn xa hạn chế restricted visibility…

Trường Tầm nhìn có số lượng từ ngữ ít nhất trong các tiểu trường,

nhưng tầm quan trọng của nó vô cùng lớn đối với GTĐT Các thiết bị dẫn đường như đèn, radar, kính thiên văn… tuy hiện đại cũng không thể giảm hết khó khăn cho hành trình khi điều kiện khí tượng thủy văn không thuận lợi, tầm nhìn bị hạn chế Cả ba nguồn ngữ liệu chỉ có 17 đơn vị từ ngữ chỉ tầm nhìn tiếng Việt và 19 đơn vị từ ngữ tiếng Anh

2.3.4 Trường Phương tiện giao thông đường thủy

Trường Phương tiện GTĐT có số lượng từ ngữ nhiều nhất và mô hình định danh đa dạng, phong phú nhất trong 7 trường từ vựng được tập hợp và khảo sát Chúng tôi chia trường Phương tiện ra 3 tiểu trường: các

loại phương tiện, cấu trúc phương tiện và trang thiết bị trên phương tiện

2.3.4.1 Trường Các loại phương tiện

Tên gọi phương tiện GTĐTNĐ còn có tên của các phương tiện truyền thống, chịu ảnh hưởng theo vùng miền (từ địa phương) Ví dụ như

ghe, lưởn, xuồng (xem thêm phụ lục 1) Trong hai nguồn ngữ liệu còn lại,

hầu như không gặp những đơn vị định danh kiểu này Chính vì vậy, tên gọi các loại phương tiện trong NNGTĐTNĐ đa dạng hơn, phong phú hơn Những thành tố nghĩa chủ yếu dùng để tập hợp cũng như phân lập trường các loại phương tiện gồm có: 1/ Hình dạng; 2/ Kích cỡ; 3/ Chất liệu cấu tạo; 4/ Đối tượng chuyên chở; 5/ Phạm vi hoạt động

2.3.4.2 Trường Cấu trúc phương tiện

Cấu trúc phương tiện là những yếu tố sẵn có, được qui định về thiết

kế, tuy không bất di bất dịch nhưng ít thay đổi Từ ngữ ở trường từ vựng này là cuốn cẩm nang quý cho thủy thủ Việt Nam khi tham gia hành hải, vì

đa số những từ ngữ này, khi qua trường giao tiếp trên tàu sẽ được chuyển loại, góp mặt rất nhiều trong các mệnh lệnh điều khiển phương tiện Các

Ngày đăng: 19/03/2020, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w