NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ ĐỊNH VỊ TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH...8 2.1... in = trong, ngoài, trên, dưới Những khác biệt trong tri nhận và biểu đạt khôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN VĂN DƯƠNG
TRI NHẬN KHÔNG GIAN VÀ HƯỚNG VẬN ĐỘNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
Mã số: 62.22.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tô Minh Thanh
PGS TS Lê Khắc Cường
Phản biện độc lập 1:
Phản biện độc lập 2:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại:
vào hồi ……… giờ ……… ngày ……… tháng …….năm………
2
Trang 3Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
(ghi tên các thư viện nộp luận án)
3
Trang 4MỞ ĐẦU 1
01 Lý do chọn đề tài 1
02 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
0.3 Lịch sử vấn đề 2
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 2
0.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
0.7 Bố cục của luận án 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Quá trình ý niệm hóa không gian 5
1.2 Phạm trù tỏa tia của các ý niệm không gian 5
1.3 Quá trình mã hóa không gian qua ngôn ngữ 5
1.4 Vai trò của các khung quy chiếu không gian 6
1.5 Các chiến lược định vị không gian 7
1.6 Tiểu kết 7
CHƯƠNG 2 NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ ĐỊNH VỊ TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH 8
2.1 Ngữ nghĩa của TRÊN – DƯỚI 8
2.1.1 TRÊN – DƯỚI theo trục thẳng đứng 8
2.1.2 TRÊN – DƯỚI theo yếu tố địa lý, địa hình 8
2.1.3 TRÊN – DƯỚI theo cấu hình đầu – cuối 8
2.1.4 TRÊN – DƯỚI theo sự tiếp xúc giữa F và G 9
2.1.5 TRÊN – DƯỚI theo cấp bậc đơn vị hành chính 9
2.2 Ngữ nghĩa của TRONG – NGOÀI 9
2.2.1 G là bao chứa 9
2.2.2 G là một thực thể đa tố hoặc một thực thể khối 10
2.2.3 G là một thực tại thời-không (spatio-temporal) 10
2.2.4 Định vị TRONG Nam – NGOÀI Bắc 11
2.3 Tiểu kết 11
Trang 5CHƯƠNG 3 NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ HƯỚNG VẬN ĐỘNG
LÊN – XUỐNG, RA – VÀO
TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH 12
3.1 Mối quan hệ giữa định vị và hướng vận động 12
3.2 Ngữ nghĩa của LÊN – XUỐNG 12
3.2.1 LÊN – XUỐNG theo trục sức hút của trái đất 12
3.2.2 LÊN – XUỐNG với đích đến là mặt đất hoặc bầu trời 12
3.2.3 LÊN – XUỐNG theo tư thế chuẩn tắc của cơ thể người hoặc vật
3.2.4 LÊN – XUỐNG theo cấu hình bao chứa 13
3.2.5 LÊN – XUỐNG theo cấu hình bao phủ 13
3.2.6 LÊN – XUỐNG theo yếu tố địa hình 13
3.2.7 LÊN – XUỐNG với đích đến là một mặt phẳng 14
3.2.8 LÊN – XUỐNG theo cấp bậc đơn vị hành chính 14
3.3 Ngữ nghĩa của RA – VÀO 14
3.3.1 RA – VÀO theo cấu hình bao chứa 14
3.3.2 RA – VÀO theo cấu hình không gian hẹp – rộng, kín – mở 15
3.3.3 RA – VÀO chỉ sự phân tán và thu gom 15
3.3.4 Hướng vận động VÀO Nam – RA Bắc 15
3.4 Sự chuyển nghĩa của LÊN – XUỐNG và RA – VÀO 16
3.4.1 Sự chuyển nghĩa của LÊN – XUỐNG 16
3.4.2 Sự chuyển nghĩa của RA – VÀO 16
3.5 Tiểu kết 17
CHƯƠNG 4 DỊCH NHÓM TỪ ĐỊNH VỊ VÀ NHÓM TỪ CHỈ HƯỚNG VẬN ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG ANH 17
4.1 Kết quả thống kê từ bản dịch Việt-Anh 17
4.1.1 Nhóm từ định vị TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI 17
4.1.2 Nhóm từ chỉ hướng vận động LÊN – XUỐNG, RA – VÀO 18
4.2 Thủ pháp dịch nhóm từ định vị và nhóm từ chỉ hướng vận động 18
4.2.1 Diễn giải và một số lưu ý khi dịch nhóm từ định vị 19
4.2.2 Diễn giải và một số lưu ý khi dịch nhóm từ chỉ hướng vận động 19
4.3 Tiểu kết 20
KẾT LUẬN 20
2
Trang 63
Trang 7MỞ ĐẦU 0.1 Lý do chọn đề tài
Không gian được mã hóa qua các biểu thức ngôn ngữ Tuynhiên, cơ chế tri nhận không gian, việc cấu trúc hóa kinh nghiệmkhông gian và biểu đạt chúng bằng ngôn từ lại có sự khác biệt rất lớngiữa các cộng đồng ngôn ngữ và văn hóa khác nhau Chẳng hạn, để
mô tả cùng một sự tình ‘con chó hiện diện ở trong phòng khách’, người Việt có thể sử dụng các đơn vị từ vựng tương phản nhau như:
‘Con chó đang ở trong phòng khách / ngoài phòng khách/ trên phòng khách/ dưới phòng khách’ Thế nhưng, trong ngữ cảnh này, người bản ngữ Anh chỉ dùng duy nhất một từ in mà thôi: The dog is
in the living-room (in = trong, ngoài, trên, dưới)
Những khác biệt trong tri nhận và biểu đạt không gian như thế
thôi thúc chúng tôi thực hiện một nghiên cứu sâu về cơ sở định vị không gian và hướng vận động của người Việt đối chiếu với người bản ngữ Anh, qua đó giúp nhận diện rõ hơn những tương đồng và
khác biệt trong tri nhận và biểu đạt không gian giữa hai ngôn ngữ
0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Tri nhận không gian và hướng vận động trong tiếng
Việt đối chiếu với tiếng Anh” nhằm: (1) Phân tích, mô tả việc ý niệm hóa và mã hóa không gian của người Việt qua nhóm từ định vị
TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI, và nhóm từ chỉ hướng vận độngtương ứng LÊN – XUỐNG, RA – VÀO; (2) So sánh, đối chiếu ngữnghĩa của các nhóm từ này với những hình thức biểu đạt tương
đương trong tiếng Anh; nhận diện những nét đặc thù trong ý niệm hóa và mã hóa không gian của mỗi cộng đồng đồng ngôn ngữ.
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu, luận án có các nhiệm
vụ cụ thể sau đây: (1) Xây dựng khung lý thuyết về quá trình ý niệm hóa và mã hóa không gian trong ngôn ngữ; (2) Xây dựng ngữ liệu
song ngữ bao gồm ngữ cảnh của nhóm từ định vị TRÊN – DƯỚI,
Trang 8TRONG – NGOÀI và nhóm từ chỉ hướng vận động LÊN – XUỐNG,
RA – VÀO trong tiếng Việt và những hình thức biểu đạt tươngđương trong tiếng Anh; (3) Phân tích ngữ liệu đã tổng hợp được để
chỉ ra những đặc điểm trong cách thức ý niệm hóa và mã hóa quan hệ
định vị và hướng vận động trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh
0.3 Lịch sử vấn đề
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học tri nhận đều ít nhiều đề cập đếnvấn đề tri nhận không gian, tiêu biểu là Fillmore (1982, 2006),Jackendoff (1983, 1990), Langacker (1987, 1990, 1991, 1999, 2008,2009), Svorou (1994), Talmy (2000, 2006), Tyler & Evans (2003),Freksa (2004), Levinson (1996, 2004) và Evans & Chilton (2010) Cáctác công trình nghiên cứu trong Việt ngữ học có Dư Ngọc Ngân (1995,1998), Nguyễn Đức Dân (2005), Trần Văn Cơ (2007), Lý Toàn Thắng(2005, 2008, 2012), Trịnh Sâm (2016a, 2016b) và các luận án tiến sĩcủa Trần Quang Hải (2001), Lê Văn Thanh (2003), Nguyễn Thị Dự(2004)
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cách thức ý niệm hóa và
mã hóa các quan hệ định vị TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI và
các hướng vận động LÊN – XUỐNG, RA – VÀO trong tiếng Việt vànhững hình thức biểu đạt tương đương trong tiếng Anh, qua đó chỉ ramột số nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ
0.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận án này, việc khảo sát nhóm từ chỉ không gian được
giới hạn trong hai phạm trù định vị và hướng vận động; quá trình so
sánh đối chiếu cũng được giới hạn trong phạm vi các đặc điểm cấu
trúc đồng đại của hai ngôn ngữ Việt – Anh.
0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
0.5.1 Phương pháp nghiên cứu
2
Trang 9Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
Phương pháp miêu tả được dùng để mô tả các cấu hình không gian
và các hiện tượng định vị và định hướng không gian trong tiếng Việt
và tiếng Anh; Phương pháp đối chiếu được dùng để so sánh đối
chiếu những đặc điểm tri nhận không gian của hai cộng đồng ngôn
ngữ thông qua các điển cảnh (proto-scene); Phương pháp điển cứu
(case study methodology) được sử dụng để khảo sát các cặp định vị
và định hướng không gian tiêu biểu: TRÊN – DƯỚI, TRONG –NGOÀI và LÊN – XUỐNG, RA – VÀO
0.5.2 Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu song ngữ của luận án gồm 1.858 ngữ cảnh của nhóm
từ định vị TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI và nhóm từ chỉ hướngvận động LÊN – XUỐNG, RA – VÀO trong tiếng Việt cùng với bảndịch tiếng Anh được trích xuất từ 59 truyện ngắn và 1 tiểu thuyết của
45 tác giả trong hai tuyển tập: (1) Tình yêu sau chiến tranh: tuyển tậptruyện ngắn Việt Nam đương đại; (2) Trong sương hồng hiện ra, vàbản dịch tiếng Anh: (1) Love after War: Contemporary Fiction fromViet Nam; (2) Behind the Red Mist: Fiction by Ho Anh Thai đượcnhà xuất bản Curbstone Press ấn hành
Ngoài ra, luận án cũng sử dụng hai nguồn ngữ liệu bổ sung: (1)Ngữ liệu trích xuất từ kho ngữ liệu tiếng Việt (Vietnamese Corpus)của Trung tâm Từ điển học (Vietlex); (2) Ngữ liệu trích xuất từ khongữ liệu COCA (Corpus of Contemporary American English)
0.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Góp phần vào việc nghiên cứu một cách hệ thống nhóm từ định
vị và định hướng không gian trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anhdựa trên khung lý thuyết về ý niệm hóa và mã hóa không gian trongngôn ngữ; đồng thời, đưa ra những gợi mở cho việc tiếp tục pháttriển khung lý thuyết này trong nghiên cứu thực tiễn tiếng Việt;Đưa ra những biện giải mang tính khoa học và đề xuất một sốthủ pháp dịch phù hợp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong việc dịch
3
Trang 10nhóm từ định vị và định hướng không gian từ tiếng Việt sang tiếngAnh;
Cung cấp ngữ liệu và những phân tích khoa học để biên soạntài liệu giảng dạy nhóm môn học chuyên ngành biên phiên dịch, đặcbiệt là dịch Việt – Anh
0.7 Bố cục của luận án
Phần chính văn của luận án dài 183 trang, bao gồm phần Mở đầu (14 trang), phần Kết luận (3 trang), và 4 chương với nội dung
như sau:
Chương 1 (28 trang) trình bày một số vấn đề có tính lịch sử và
cơ sở lý luận liên quan đến quá trình ý niệm hóa và mã hóa các phạmtrù định vị và định hướng không gian Qua đó, luận án xác định mộtkhung lý thuyết áp dụng cho quá trình nghiên cứu
Chương 2 (48 trang) mô tả và phân tích đặc trưng về ngữ
nghĩa, ngữ dụng của nhóm từ định vị TRÊN – DƯỚI, TRONG –
NGOÀI trong tiếng Việt, đối chiếu với những hình thức biểu đạttương đương trong tiếng Anh
Chương 3 (66 trang) mô tả và phân tích đặc trưng về ngữ
nghĩa, ngữ dụng và một số hiện tượng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hướng vận động LÊN – XUỐNG, RA – VÀO trong tiếng Việt, đối
chiếu với những hình thức biểu đạt tương đương trong tiếng Anh
Chương 4 (24 trang) đề xuất một số thủ pháp dịch nhóm từ
định vị và nhóm từ chỉ hướng vận động từ tiếng Việt sang tiếng Anh
dựa trên cơ sở lý thuyết về ý niệm hóa và mã hóa không gian và kết quả thống kê các phương án dịch của nhóm 19 dịch giả.
Kèm theo phần chính văn của luận án là cuốn Phụ lục dài 205
trang, gồm 8 tiểu phụ lục, thống kê và tổng hợp các nhóm ngữ liệuphục vụ cho quá trình thực hiện luận án
4
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Quá trình ý niệm hóa không gian
Thế giới chúng ta đang sống là thế giới khách quan, tồn tại độclập, còn việc tri nhận thế giới ấy là quá trình chủ quan, mang nét đặcthù của mỗi cộng đồng ngôn ngữ Các cộng đồng ngôn ngữ và văn
hóa khác nhau ý niệm hóa không gian theo những sơ đồ hình ảnh
(image schemas) có khi giống nhau, cũng có khi khác nhau Đồng
thời, việc mã hóa không gian qua các biểu thức ngôn ngữ cũng có
những nét tương đồng và khác biệt
Theo Fillmore (1982b:373-400), hệ thống các ý niệm gắn kếtchặt chẽ với nhau đến độ để hiểu bất kỳ ý niệm nào trong mạng lưới ýniệm, chúng ta phải hiểu được cấu trúc toàn thể mà ý niệm đó là một
thành phần Theo Evans (2007:38), ý niệm hoá là quá trình kiến tạo
nghĩa, quá trình tích hợp ý niệm (processes of conceptual integration)gắn liền với bản chất của tư duy năng động Các đơn vị ngôn ngữnhư từ vựng không phải là những đơn vị chuyển tải ý nghĩa mà chỉ làyếu tố đóng góp vào quá trình hình thành ý nghĩa
1.2 Phạm trù tỏa tia của các ý niệm không gian
Phạm trù tỏa tia (radial category) là phạm trù ý niệm trong đó các ý niệm thành viên hình thành xung quanh một ý niệm điển mẫu Các thành viên của phạm trù tỏa tia không sản sinh (generated) mà được mở rộng (extened) mang tính ước lệ (Evans, 2007:177) Mạng
lưới những ý niệm không gian được hình thành theo cấu trúc phạm trùtỏa tia: xung quanh mỗi điển mẫu luôn hình thành mạng lưới những ýniệm với mức độ điển hình khác nhau
1.3 Quá trình mã hóa không gian qua ngôn ngữ
Theo Fillmore (1982b:373-383), nghĩa của từ không nằm ở
thực tại khách quan mà được hình thành từ quá trình ý niệm hóa và
5
Trang 12phạm trù hóa kinh nghiệm Một số biểu thức ngôn ngữ mô tả cùng
một thực tại khách quan nhưng có thể biểu đạt những nghĩa hoàntoàn khác nhau
Theo Evans (2007:203), đơn vị mã hóa kinh nghiệm khônggian vào trong ngôn ngữ là CẢNH (spatial scene) Các cảnh khônggian được định hình dựa trên bốn tham biến (parameters), gồm:HÌNH (figure); ĐỐI TƯỢNG QUY CHIẾU (reference object), còngọi là VẬT MỐC (landmark); VÙNG (region); và có thể thêm mộtĐỐI TƯỢNG QUY CHIẾU PHỤ (secondary reference object) Đốitượng quy chiếu phụ kết hợp với đối tượng quy chiếu chính tạo thànhKHUNG QUY CHIẾU (reference frame) Chẳng hạn, trong (10.a) và
(10.b), ‘the bike’ là HÌNH, ‘the church’ là ĐỐI TƯỢNG QUY CHIẾU, còn VÙNG là sự kết hợp giữa giới từ ‘on the side of’ với đối
tượng quy chiếu (cái mã hóa việc định vị không gian của HÌNH),
‘the cemetery’ là ĐỐI TƯỢNG QUY CHIẾU PHỤ.
Theo Langacker (2008:43), ngữ nghĩa gồm cả nội dung ý niệm
và cách diễn giải nội dung ý niệm đó (construal) Để minh họa cho
điều này, ông đã đưa ra ví dụ sau: Từ ý niệm một cái ly chứa lượngnước bằng một nửa dung tích của nó, chúng ta có thể có bốn cách
diễn giải như minh họa trong Hình 1 Khi mã hóa ý niệm này vào
ngôn ngữ, chúng ta cũng áp đặt một trong bốn cách diễn giải đó, mỗicách diễn giải tương ứng với một biểu thức ngôn ngữ
Cách diễn giải 3
Cách diễn giải 4
Hình 1 Nội dung ý niệm được mã hóa
1.4 Vai trò của các khung quy chiếu không gian
Theo nghĩa chung nhất, một khung quy chiếu bao gồm mộthoặc nhiều điểm quy chiếu và một hệ tọa độ gồm các trục và góc
6
Trang 13nhìn Tùy vào các loại điểm quy chiếu và tọa độ mà ta có những dạngkhung quy chiếu khác nhau Ứng với các khung quy chiếu khácnhau, có các hệ tọa độ khác nhau Ba loại khung quy chiếu NỘI TẠI,TƯƠNG ĐỐI và TUYỆT ĐỐI giúp nhận diện cách thức ý niệm hóa
và mã hóa quan hệ không gian trong mỗi ngôn ngữ Đồng thời,những khác biệt trong khuynh hướng sử dụng các khung quy chiếugiúp chúng ta lý giải được những khác biệt về cách tri nhận và biểuđạt không gian giữa các cộng đồng ngôn ngữ
1.5 Các chiến lược định vị không gian
Theo Levinson (2004:65), định vị không gian, tự bản chất là
xác định quan hệ không gian giữa F và G, và trả lời cho câu hỏi ở đâu (where-question) Các ngôn ngữ tự nhiên thường sử dụng hai
giải pháp (solutions) hay cũng gọi là chiến lược (strategies) gồm (1)định vị không theo hệ tọa độ, và (2) định vị theo hệ tọa độ Trong cácchiến lược định vị không theo hệ tọa độ, quan hệ không gian giữa F
và G được xác định không phải dựa trên các tọa độ mà dựa trên quan
hệ trùng khớp, tiếp xúc, bao chứa, tiếp giáp và gần kề Bên cạnh đó,
ba loại khung quy chiếu NỘI TẠI, TƯƠNG ĐỐI và TUYỆT ĐỐI
với các hệ tọa độ cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình ý niệm hóa và mã hóa không gian qua ngôn ngữ
1.6 Tiểu kết
Không gian được mã hóa trong ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với không gian nhận thức chứ không phải không gian vật lý khách quan Các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau có thể sử dụng các khung quy chiếu khác nhau trong tri nhận và biểu đạt không gian
7
Trang 14CHƯƠNG 2 NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ ĐỊNH VỊ
TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH
2.1 Ngữ nghĩa của TRÊN – DƯỚI
2.1.1 TRÊN – DƯỚI theo trục thẳng đứng
Để biểu đạt quan hệ không gian theo trục thẳng đứng, tiếng Việt
chủ yếu sử dụng hai từ TRÊN – DƯỚI và một số biến thể như bên trên – bên dưới, phía trên – phía dưới Một số điển cảnh theo trục thẳng đứng: TRÊN đầu – DƯỚI chân; TRÊN trời – DƯỚI đất Trong
khi đó, cách thức ý niệm hóa và mã hóa các quan hệ không gian nàytrong tiếng Anh có những điểm tương đồng và khác biệt so với tiếng
Việt Chẳng hạn, tương đương với TRÊN trời lại là in the sky; tương đương với DƯỚI đất có thể là on the ground hoặc in the ground.
2.1.2 TRÊN – DƯỚI theo yếu tố địa lý, địa hình
Trong tiếng Việt, quan hệ không gian giữa F và G thường được
biểu thị bằng TRÊN khi G là vùng địa lý cao hơn, và bằng DƯỚI khi
G là vùng địa lý thấp hơn Các ý niệm định vị TRÊN – DƯỚI này có khuynh hướng hình thành những cặp tương phản, như: TRÊN núi/ non/ rừng/ cao nguyên – DƯỚI đồng bằng Trong tiếng Anh, thống
kê từ COCA cho thấy: khi G là ‘the mountain’ (danh từ số ít) thì quan hệ giữa F và G được định vị bằng on với tần số (1.148) vượt trội so với in (388); còn khi G là ‘the mountains’ (danh từ số nhiều) thì quan hệ giữa F và G lại được định vị bằn in với tần số (2.574) hoàn vượt trội so với on (128)
2.1.3 TRÊN – DƯỚI theo cấu hình đầu – cuối
Trong tiếng Việt, các điểm đầu – cuối của một số thực thể được
ý niệm hóa và biểu thị bằng TRÊN – DƯỚI: Đầu biểu thị điểm xuất
8
Trang 15phát, còn cuối biểu thị chỗ giới hạn, sắp hết của một khoảng không gian, chẳng hạn, cấu hình không gian của một trang giấy, một rạp hát, hoặc cấu hình không gian của một thực thể theo hướng vận động như cái xe, con thuyền Đối chiếu với những cách biểu đạt tương
đương trong tiếng Anh, chúng ta cũng thấy một số nét tương đồng vàkhác biệt Chẳng hạn, (1) đối với mô hình không gian của một trang
giấy, dù F nằm ở đầu (top) hay cuối (bottom) trang thì đều được định
vị với một giới từ topo duy nhất là at (ở/ tại); (2) đối với các mô hình
không gian như rạp hát, cái xe thì tiếng Anh chỉ sử dụng một cách
biểu đạt duy nhất bằng cặp front – back (trước – sau).
2.1.4 TRÊN – DƯỚI theo sự tiếp xúc giữa F và G
Cả trong tiếng Việt và tiếng Anh, yếu tố tiếp xúc giữa F và G
thường được ưu tiên chọn lựa đưa ra cận cảnh, và quan hệ tiếp xúc
đó được biểu đạt bằng TRÊN trong tiếng Việt và ON trong tiếng
Anh, bất kể theo trục thẳng đứng hay trục ngang: trên nền nhà (on the floor), trên tường (on the wall), trên trần nhà (on the ceiling),
trên mái nhà (on the roof).
2.1.5 TRÊN – DƯỚI theo cấp bậc đơn vị hành chính
Trong tiếng Việt, TRÊN – DƯỚI biểu đạt ý niệm định vị theo
cấp bậc giữa các đơn vị hành chính, như TRÊN tỉnh – DƯỚI huyện; TRÊN huyện – DƯỚI xã; TRÊN trung ương – DƯỚI địa phương.
Trong tiếng Anh, theo thống kê từ COCA, cũng có hiện tượng định
vị tương tự như trong tiếng Việt; chẳng hạn như ‘the upper house’ (thượng viện) và ‘the lower house’ (hạ viện) Tuy nhiên, khi G chỉ
địa giới của các đơn vị hành chính thì quan hệ định vị giữa F và G
thường được mã hóa bằng các giới từ in, on hoặc at tùy theo cấu
hình của G
2.2 Ngữ nghĩa của TRONG – NGOÀI
2.2.1 G là bao chứa
9