Với những lý do trên, NCS đã chọn vấn đề “Quá trình đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ triết học của mình với mong m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
vào lúc giờ, ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM
Thư viện ĐHQG TP.HCM
Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
vào lúc giờ, ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM
Thư viện ĐHQG TP.HCM
Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Trong suốt quá trình phát triển của nhân loại, mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thờiđại đều chú ý đến tầm quan trọng của giáo dục, nhất là trong thời đại ngày nay khiKHKT, CNTT hiện đại và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ đạt đến đỉnh cao làmthay đổi sâu sắc đời sống vật chất, tinh thần con người, sự “Đi lên bằng con đườnggiáo dục” là sự lựa chọn của hầu hết các quốc gia, các dân tộc, thì giáo dục càng cóvai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa để xây dựng và phát triển đất nước
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, ngay từ khi mới thành lập, Đảng vàNhà nước Việt Nam ta luôn coi trọng công tác giáo dục, đã tiến hành ba lần cải cáchgiáo dục vào các năm 1950, năm 1956, năm 1979, và nhất là đường lối đổi mới cănbản và toàn diện đất nước tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 vàchủ trương này đượcqua 6 lần Đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ kế tiếp tiếp tục hoànthiện và phát triển với các chương trình hành động đổi mới(lần thứ VII (1991), lầnthứ VIII (1996), lần thứ XI (2001), lần thứ X (2006), lần thứ XI (2013), và lần thứXII (2016))
Đến nay, sau hơn 30 năm (1986 - 2019), chủ trương và vận hành đổi mới cănbản và toàn diện GDĐH Việt Nam, nhìn chung còn nhiều hạn chế, yếu kém,bấtcậpngày càng bộc lộ rõ và nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, cần phải nhanhchóng cấp thiết giải quyết
Các vấn đề thực tế trên là các vấn đề thời sự nóng bỏng, mang tính cấp thiếtcần sớm đưa ra giải pháp khắc phụcvà đã thu hút không ít các nhà khoa học giáodục, nhà triết học quan tâm, nghiên cứu Với những lý do trên, NCS đã chọn vấn đề
“Quá trình đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” làm đề
tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ triết học của mình với mong muốn đóng góp mộtphần nhỏ vào việc đề ra phương hướng và giải pháp giải quyết nhằm đưa nềnGDĐHnước nhà phát triển vươn lên đạt chuẩn ngang bằng với các nước trong khuvực và thế giới, đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng mục tiêu yêu cầuđổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học Việt Nam, yêu cầu xây dựng nềnKT-XH của đất nước hiện nay, mở đường cho nền GDĐH Việt Nam hội nhập vàokhu vực và thế giới
Trang 42 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về quá trình đổi mới giáo dục và đào tạocó liên quan đến luận án
Công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Phát triển giáo dục trong
điều kiện kinh tế thị trường” của PGS TS Trần Quốc Toản chủ biên và các tác giả
Đặng Ứng Vận, Đặng Bá Lâm, Trần Thị Bích Liễu, Nxb Chính trị Quốc gia, Sự thật
- Hà Nội, 2012 “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam”của Ban
tuyên giáo trung ương tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông,
Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2012 “Một số vấn đề đổi mới trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo” của GS Trần Hồng Quân, Nxb.Giáo dục, Hà Nội,1995 “Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ gốc độ triết học xã hội” của TS Nguyễn
trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”của GS Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị Quốc gia Hà
Nội, 2002 “Quản lý chất lượng giáo dục đại học” của TS.Phan Thành Nghị, Nxb Đại Học Quốc gia, Hà Nội, 2000.“Giáo dục đại học - Phương pháp dạy và học” của
Lê Đức Ngọc, Nxb Đại Học Quốc gia, Hà Nội, 2005.“Đổi mới giáo dục Đại học
Việt Nam hai thời khắc hai thế kỷ”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Đại học hoa sen tổ
chức năm 2008, của một số tác tác giả Vũ Thành Tự Anh,Nguyễn Tường Bích,
Pierre Brocheux và nhiều tác giả khác “Sử dụng các phương pháp giảng dạy hiệu
quả tại các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam, Hội thảo khoa học Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Viện nghiên cứu Giáo dục, 11/2010
Thứ ba, các bài viết trên các tạp chí, các báo có liên quan đến đề tài luận ánnghiên cứu về vấn đề đổi mới giáo dục đại học ở Viêt Nam
Bài báo:Nhìn thẳng vào sự thật, giải quyết tận gốc các mâu thuẫn trong giáo
dục, đào tạo của PGS Nguyễn Tấn Phát, Nguồn Báo Thanh Niên,2012.Các mâu thuẫn trong phát triển giáo dục và việc giải quyết các mâu thuẫn đó nhằm đổi mới cách làm giáo dục ở Việt Namcủa PGS.TS.Đào Thái Lai, Tạp chí Đại học Sài gòn, số
17, tháng 11/2013.Lựa chọn mô hình giáo dụccủa PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 86 -11-2012.Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH
trong điều kiện KTTT của GS.TS Nguyễn Minh Đường, Tạp chí KHGD, số 123 - 12
- 2015.Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần nghị quyết
Trang 5trung ương 8 khóa XI, của GS.TS Phan Văn Kha, Tạp chí KHGD, số 94-7-2013 Xu thế đổi mới giáo dục ở một số quốc gia và Việt Nam trước bối cảnh hiện nay, của
TS.Đinh Thị Minh Tuyết, Tạp chí GD, số 264-6-2011.Tìm kiếm giải pháp đổi mới
quản lý nhà trường đại học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”của PGS.TS Thái Duy
Tuyên,Tạp chí KHGD, số 90-3-2013 Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn
đề và giải phápcủa Đặng Quốc Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXIcủa Bộ GD&ĐT – Trung tâm thông tin
quản lý, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001; Đổi mới quản lý giáo dục đại học trong giai
đoạn hiện nay của Nguyễn Khắc Bình, Tạp chí giáo dục, số 300,2012;Một số vấn đề cốt lõi trong đổi mới căn bản và toàn diện GD Việt Namcủa Nguyễn Thị Bình, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012;
Ngoài ra, NCS còn nghiên cứu các văn bản pháp quy các đề án, các nghịquyết, luật giáo dục, về đường lối, chiến lược, sách lược có liên quan đến vấn đềtrong lĩnh vực đổi mới hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam qua các nhiệm kỳ Đạihộicủa Đảnglần thứ VI đến lần thứ XII
Tóm lại, đổi mới GDĐH là một vấn đề hết sức phức tạp và cũng đã có nhiều côngtrình nghiên cứu đến.Tuy nhiên, do dưới góc độ, phạm vi nghiên cứu khác nhau, hầuhết các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở đánh giá thực trạng đổi mớiGDĐH,chưa có công trìnhNCKH nào trực tiếp đi sâu vào nghiên cứu quá trình đổiGDĐH ở Việt Nam và tìm ra các phương hướng, các giải pháp cốt lõi nhằm giảiquyết những mâu thuẫn, bất cập trong lĩnh vực GDĐH Việt Nam Cũng chưa cócông trình nào giải quyết tương đối toàn diện các vấn đề mâu thuẫn trong giáo dục
và đào tạo tại đại học Việt Nam theo giác độ nghiên cứu tiếp cận ngành triết học, xãhội và giáo dục Nhưng những kết quả của các nghiên cứu trên có giá trị rất cao,là cơ
sở phương pháp luậnsẽ giúp cho nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu, phát triển trongluận án
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Làm rõ thực trạng quá trình đổi mới GDĐH ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Từ
cơ sở đó, NCS đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyếtmột số mâu thuẫn, bất cập xuất hiện trong quá trình đổi mới GDĐH ở Việt Namnhằm góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượngGDĐH ở Việt Nam, đáp ứngđược yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 63.2 Nhiệm vụ nghiên cứu củaluận án
Thứ nhất, làm rõ lý luận chung về đổi mới giáo dục Đại học và nội dung, đặcđiểm của quá trình đổi mới giáo dục giáo dục đại học ở Việt Nam
Thứ hai, làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong đổi mới giáo dục đạihọc ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới giáodục đại học ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án tập trungnghiên cứu quá trình đổi mới trong hệ thống giáo dục đại học ởViệt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Không gian nghiên cứu: Trên toàn đất nước Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1986 đến nay
Lĩnh vực nghiên cứu: Các mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong quá trìnhđổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
5.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở tiếp thu các lý luận về Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác, Ph Ăngghen, VI Lênin, quanđiểm đường lối giáo dục của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và tư tưởng của Chủ tịch HồChí Minh làm cơ sở khoa học về lý luận chính yếu
Luận án còn dựa trên các văn kiện, luật giáo dục, đường lối chiến lược, chủtrương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dụcđại học Việt Nam nói riêng làm cơ sở khoa học về pháp lý
Cơ sở kinh nghiệm và kế thừa
Luận án còn kế thừa những công trình NCKH có liên quan đến lĩnh vực đổimới GDĐH ở Việt Nam Từ đó, NCS lấy đó làm cơ sở khoa học mang tính kinhnghiệm và kế thừa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp NCKH đã được NCS kết hợp ứng dụng gồm các phươngpháp như:phương pháp phân tích - tổng hợp,phương pháp lịch sử và lô gích(logic),phương pháp so sánh,phương pháp thống kê,phương pháp phân tích mâu thuẫn,phương pháp khái quát hóa triết học, phương pháp chuyên gia, phương pháp điền dã(Khảo sát thực tiễn)
Trang 76 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần hướng nghiên cứu mới, trên cơ sở phân tích làm rõ lý luậnchung về quá trình đổi mới GDĐH ở Việt Nam, nghiên cứu các cơ sở pháp quy củaĐảng và Nhà nước trong lĩnh vực đổi mới hệ thống GDĐH và nhiều văn bản củaChính phủ, của Bộ GD&ĐT về đổi mới GDĐH ở Việt Nam hiện nay, Từ cơ sở đó,giúp cho NCS phát hiện ra những hạn chế, bất cập làm cản trở động lực phát triểnGDĐH Việt Nam và đặt ra cần phải có những phương hướng, giải pháp giải quyết
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần củng cố các luận cứ khoa học, rút ra được ý nghĩa phươngpháp luận khoa học, làm cơ sở cho các nhà lãnh đạo vạch thảo, hoạch định ra đườnglối chính sách, đề ra phương hướng và các giải pháp giải quyết cơ bản khắc phụcnhững hạn chế, bất cập nhằm đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứngđược yêu cầu công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tếcủa đất nước hiện nay
Luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên cứu, giảngdạy chuyên ngành triết học, chuyên ngành giáo dục và các lĩnh vực liên ngành cóliên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
7 Những đóng góp mới của luận án
Một là, luận án chỉ rõ được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân củanhững thành tựu, hạn chế của đổi mới GDĐH ở Việt Nam Từ đó chỉ ra vấn đề sựcần thiết phải đổi mới GDĐH ở Việt Nam hiện nay
Hai là, luận án đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm gópphần vào phát triển nâng cao chất lượng GD&ĐTĐH ở Việt Nam hiện nay, đồngthời góp một phần vào thực hiện có hiệu quả quan điểm chỉ đạo của Đảng vàNhànước về công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện về phát triển GD&ĐTĐH Việt Namtrong điều kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập Quốc Tế
8 Cấu trúc của luận án
Cấu trúc của luận án ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệutham khảo Phần nội dung luận án gồm có ba chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VN.
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỔI MỚI GDĐH Ở VIỆT NAM
1.1.1 Một số khái niệm về đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam
Trước khi tìm hiểu quá trình đổi mới giáo dục đại học của nước Việt Nam, tacần làm rõ các khái niệm:Đổi mới, Đổi mới giáo dục đại học, Đổi mới giáo dục đạihọc ở Việt Nam
Tổng hợp các quan điểm, tư tưởng về các khái niệm trên, nhìn chung, đều coigiáo dục như là một cách thức truyền thụ những giá trị XH nào đó để cho người học
có thể gia nhập vào XH, phục vụ cho XH đó và phát triển nó trong khuôn khổ của
XH Nhất là các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác ngày càng khẳng định tính đúng đắn vềvai trò quan trọng của GD đối với sự phát triển KT nói riêng, của XH nói chung.GDĐH là một quá trình GD&ĐT đi từ thực tiễn XH trong nước, tình hình quốc tế,đến nhận thức tổng hợp, khách quan, toàn diện các tình hình ấy, để từ đó đúc rút rađược các vấn đề thiết thực nhất, tiến bộ nhất của thời đại mà toàn xã hội Việt Nam vàthế giới đang hướng tới Từ các cơ sở trên, mà các nhà hoạch định kế hoạch GD,quản lý GD và các nhà GDĐH và cả những người học sẽ đề ra những đường hướngmới cho việc đào tạo ra được những con người lao động mới, có trình độ KHKT cao,
có chất lượng để phù hợp với thời đại kinh tế tri thức, đầy năng động, sáng tạo màtoàn XH và toàn nhân loại đang cần và sẽ cần.Như vậy, không phải tư duy hay nhậnthức “mới” nào cũng tiến bộ, cần được phát triển, mà chỉ có cái mới phù hợp với tiến
bộ của thời đại mà toàn XH, toàn cầu đang hướng đến, đó mới là cái “mới” cần tìm,cần phát huy theo yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của XH và của thời đại ngày hôm nayđang cần Chính vì lẽ đó, không đúng khi một số quan niệm cho rằng GDĐH là
“nhằm giúp cho các HS,SV đạt được trình độ có học vị một tấm bằng của bậc đạihọc” khi mà kiến thức của họ được đào tạo “trao truyền” từ thế hệ này sang thế hệkhác, chỉ là thói quen, không khách quan, không còn phù hợp với tình hình mới vàtiến bộ của thời đại Nếu như vậy, mục tiêu và chức năng của GDĐH chỉ là dạy chongười ta tồn tại, chứ không phải là dạy cho con người sống có nhân cách, biết sángtạo, biết tự chủ chính sự phát triển của bản thân con người “Học vị hay tấm bằngcủa bậc đại học” ấy chỉ có ý nghĩa khi đó là một chứng nhận của một trình độ đã đổimới theo tiến bộ của thời đại, có khả năng hội nhập quốc tế, một trí thức có tri thức
Trang 9quốc tế phù hợp với xu thế phát triển mới, có phẩm chất, có đủ năng lực và khả năngđáp ứng được yêu cầu phát triển của XH, yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng Vàcũng không đúng khi một số người quan niệm rằng: “GDĐH còn được hiểu là bậchọc và trình độ đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc gia Là giai đoạn cuốicùng của công việc học tập” Bởi kiến thức thế giới rất là rộng lớn, là vô hạn, vô tận,không có giới hạn, tiếp thu hết, học hết cả đời người thì không thể Vì thế, con ngườicần học tập liên tục, học không ngừng, học mãi không dứt, học ở mọi lúc, mọi nơi,
để hiểu biết, để khám phá những điều mình chưa biết trước biển kiến thức mênhmong của nhân loại để theo kịp với thời đại, đáp ứng được yêu cầu xây dựng và pháttriển đất nước của chúng ta đang tiến theo con đường CNH, HĐH Điều này Lênincũng từng nói: “ Học, học nữa, học mãi” Và Nhà bác học vĩ đại Đác-uyn nổi tiếngtrên thế giới khi về già ông vẫn còn học, trong một lần được cậu con trai hỏi tại saocha trở thành bác học mà vẫn thức khuya tìm tòi, khám phá.Ông trả lời: “Bác họckhông có nghĩa là ngừng học” Gần gũi hơn là Bác Hồ của chúng ta với câu nói:
“Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời” Ngày nay, trong giai đoạn đổi mới, khinền GD chuyển mạnh sang đại chúng hóa GD, cửa trường ĐH được mở rộng, tạođiều kiện cho mọi công dân quyền bình đẳng và nhiều cơ hội học tập suốt đời khi cónhu cầu, chương trình GD&ĐT của nền GD phải được hiên đại hóa, quan niệm “họcmột lần làm việc cả đời” trong thể chế KT kế hoạch hóa tập trung phải được thay đổi
là “học liên tục, học cả đời” cho phù hợp với yêu cầu trong thể chế KTTT và hộinhập quốc tế ngày sâu rộng.Nhìn rõ yêu cầu khách quan trên, Đảng và Chính phủViệt Nam, căn cứ vào tình hình quốc tế, tình hình trong nước,qua các nhiệm kỳ Đạihội Đảng vẫn tiếp tục khẳng định đổi mới phát triểnGD là quốc sách hàng đầu, nhằmđào tạo ra được những nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triểnnền KT-XH và hội nhập vào thế giới
1.1.2 Vai trò của đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam
Khi tìm hiểu và phân tích kỹ về vấn đề vai trò của giáo dục đại học, chúng tathấy giáo dục đại học trong xã hội có nhiều vai trò quan trọng
Thứ nhất, GDĐH đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” của mọi lĩnh vựctrong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các côngtác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu, Thứ hai, GDĐH nó đóngvai trò là động lực thúc đẩy nền KT phát triển.Thứ ba,GDĐH còn có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc góp phần hình thành và phát triển toàn diện các năng lực,phẩm chất nhân cách của chính bản thân cá nhân, thông qua đó góp phần quyết định
Trang 10sự vận động và phát triển của XH.Thứ tư, GDĐH còn có vai trò quan trọng góp phần
ổn định chính trị - xã hội
1.1.3 Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam
Giáo dục đại học Việt Nam cần thiết phải bức thiết đổi mới Muốn làm rõ vấn
đề này, ta cần xem xét đặt sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học Việt nam vàocác điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể:
Thứ nhất: Nhận xét, đánh giá khách quan về thực trạng phát triển nền giáodục đại học của trước đổi mới và yêu cầu đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn đổimới hiện nay để xem xét
Thứ hai: Đặt nền giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu hoá, quốc tế hoá đểxem xét
Trước bối cảnh nền GDĐH các quốc gia trên thế giới đang hòa vào xu thếtoàncầu hoá, quốc tế hoá, kinh tế tri thức, hội nhập và cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ.GDĐH Việt Nam đã đạt được một số thành tựu, tuy nhiên hệ thống GDĐH ViệtNam cũng đang bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập.Từ thực tế đó, một yêu cầu bức thiếtđối với GDĐH Việt Nam là phải tăng cường đổi mới một cách cơ bản và toàn diệncho phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu xây dựng phát triển của đất nước
1.2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA ĐỔI MỚI GDĐH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.2.1 Nội dung chủ yếu của đổi mới GDĐH ở Việt Nam hiện nay
Để thực hiện quan điểm chỉ đạo đổi mới trên, Ngày 4/11/2013, Nghị quyếtHội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số29-NQ/TW)đã đề ra đường lối đổi mới GDĐH Việt Nam với nội dung chủ yếu: “Đổimới cơ bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá
và hội nhập Quốc Tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lựcchất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốcdân.Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khuvực” (tr.1)
Quan điểm chỉ đạo đổi mới của Đảng và Chính phủ tiếp tục được khẳng địnhtrong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc thứ XII: “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực”.Về thực chất, tinh thần tư tưởng Đại
hội XII là thể hiện sự kế thừa và phát triển trên cơ sở tinh thần tư tưởng của Đại hộilần thứ XI Đảng và Chính phủ thêm một lần nữa, nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt
và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn
Trang 11bản, toàn diện giáo dục, đào tạo đã khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây,đặc biệt là trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI.
Từ nội dung đổi mới hệ thống GDĐH của Đảng và Nhà nước Việt Nam, ta rútđược đổi mới GDĐH ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm lớn sau
1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của đổi mới GDĐHở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình đổi mới, phát triển GD&ĐTĐH Việt Namtrong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế ở trong giai đoạn từ 1986 đến nay, chothấy đổi mới GD&ĐTĐH Việt Nam có những đặc điểm chung, đồng thời có nhữngđặc điểm riêng so với các nước khác trên thế giới Những đặc điểm riêng đó là: Nếu như trong giai đoạn từ năm 1975 – 1986, đặc điểm lớn của quá trình pháttriển GD Việt Nam nói chung và phát triển GDĐH Việt Nam nói riêng thì GD chịu
sự tác động mạnh mẽ của khủng hoảng KT Đời sống người dân đói khổ, rất nhiềukhó khăn, không có điều kiện đến trường Quy mô, số lượng HS, SV ở mọi cấp học,bậc học đều giảm, chất lượng xuống cấp, giảm sút nghiêm trọng.Hệ thốngGD&ĐTĐH, tổ chức quản lý, pháp luật trong GD không phù hợp với yêu cầu XHđang chuyển đổi.Phát triển GD thiếu sự gắn kết với yêu cầu phát triển KT-XH Chấtlượng đội ngũGV yếu và gặp nhiều khó khăn Các nguồn nhân lực cho các cở sởGD&ĐTĐH thiếu nghiêm trọng
Tóm lại, trong giai đoạn này, GD bị giảm sút nghiêm trọng, nhưng cơ chếphát triển KT vẫn được tiến hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp MặcdùKT khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, nhưng giáo dụcvẫn được Nhà nước bao cấp hoàn toàn, người đi học không phải đóng học phí.Giáodục trung cấp, CĐ, ĐH vẫn được hưởng chế độ trợ cấp Nói chung, quan điểm củaĐảng về mục tiêu phát triển GD trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào việc nângcao dân trí, đào tạo nhân lực gắn với lý tưởng phục vụ cho đất nước sau này Và coi
GD chỉ là một bộ phận của phúc lợi xã hội, nghĩa là giáo dục sử dụng quỹ tiêu dùng
xã hội
Thì trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay, quá trình đổi mới phát triểnGD&ĐTĐH Việt Nam hiện nay có những đặc điểm lớn sau:
Thứ nhất, phát triển nền GD&ĐTĐH Việt Nam đã có những thay đổi lớn
nhằm thích nghi với sự chuyển đổi cơ chế mới, từ cơ chế hành chính kế hoạch hóatập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, theo định hướng XHCN, hội nhập quốc tế
Thứ hai, vai trò của GD&ĐT đối với sự phát triển KT-XH ngày càng được Đảng và
Nhà nước Việt Nam quan tâm và đề cao Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta lúcnày coi GD là động lực chính phát triển nền KT-XH, không còn quan niệm coi GD
Trang 12là một bộ phận của phúc lợi XH như giai đoạn trước kia Thứ ba,Đảng và Nhà nước
coi trọng GD là quốc sách hàng đầu, đã đầu tư rất lớn cho GD lên đến 20%, và đãhuy động được sự quan tâm, tham gia đầu tư nhiều nguồn lực của các thành phần KTkhác nhau, của gia đình người học, của toàn XH đầu tư ngày càng cao cho sự nghiệpphát triển GD&ĐTĐH Nhưng chất lượngGD&ĐTĐH vẫn còn cách xa so với nhu
cầu thực tế, không đáp ứng được nhu cầu phát triển GD Thứ tư, mục tiêuphát triển
GD&ĐTĐH trong giai đoạn này được thay đổi cho phù hợp trước yêu cầu của giaiđoạn mới, từ mục tiêu giáo dục chủ yếu, cơ bản là đào tạo nguồn nhân lực lao độngcho hệ thống kinh tế Nhà nước, chuyển sang GD chủ yếu hướng tới mục tiêu đào tạophát triển năng lực và phẩm chất người học, đào tạo nguồn nhân lực lao động phầnlớn cho toàn XH, cho tất cả các thành phần KT, cho cả nhu cầu hợp tác và hội nhập
quốc tế Thứ năm, tốc độ phát triển quy mô GD&ĐTĐH trong giai đoạn này tăng lên
nhanh chóng, số lượng trường học, số lượng HS, SV ở mọi cấp học, bậc học đượctăng cao ở tất cả cấp học, ngành học Chính phủ cho thành lập nhiều trường học từgiáo dục phổ thông đến các trường dạy nghề, CĐ, ĐH với đa dạng nhiều hình thứcgiáo dục, đào tạo hệ công lập và ngoài công lập, Nhất là hệ thống GDĐH tăng khánhanh đáp ứng nhu cầu học tập của mỗi gia đình ngày càng tăng Đảm bảo côngbằng, bình đẳng cơ hội học tập cho mọi công dân, nhất là đối với những gia đìnhnghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.Nhưng Chính phủ vàBộGD&ĐT cũng đang gặp nhiều khó khăn, không quản lý, kiểm soát được chất
lượng ở các cơ sở GD&ĐTĐH.Thứ sáu, trong giai đoạn mới này nhu cầu học tập của
người dân ngày càng tăng, Đảng và Nhà nước đã chuyển đổi từ nền GD khép kín,đóng cửa, theo cơ chế tập trung bao cấp sang chính sách mở cửa GD cho phù hợpvới cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho GD hướng ra toàn cầu và hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của người học và yêu
cầu xây dựng phát triển đất nước Thứ bảy, tốc độ phát triển quy mô GD&ĐTĐH
tăng lên nhanh chóng,chất lượngđội ngũGVĐH vừa thiếu vừa yếu, gặp nhiều khókhăn, đòi hỏi phải có một trình độ quản lý giáo dục phù hợp
Tóm lại, GD&ĐTĐH Việt Namtrong điều kiện KTTT hội nhập quốc tế với tiềm lựccòn hạn chế nhiều mặt và thế yếu hơn so với các nước tiên tiến, chất lượngGD&ĐTĐH nhìn chung còn thấp, quản lý Nhà nước còn nhiều yếu kém, bộc lộnhiều hiện tượng tiêu cực, bất cập, nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng trong giáodục, đào tạo cần giải quyết
Trang 13Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nhiệm vụ, nội dung, vai trò, đặc điểm của quá trìnhđổi mới GDĐH Việt Nam, nghiên cứu những kinh nghiệm đổi mới GDĐH của cácnước trên thế giới trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế, nghiên cứu các tưtưởng chỉ đạo của Đảng và Chính phủ qua các đại hội trong mấy thập kỷ qua, bêncạnh những chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn đã thúc đẩy nền GDĐH ViệtNam phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu đáng kể nhưng đồng thời GDĐHViệt Nam cũng đang bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập và có nhiều mâu thuẫn nảy sinhtrong quá trình đổi mới cần giải quyết Nguyên nhân cơ bản là chậm đổi mới tư duy,chậm đổi mới cơ chế quản lý, chậm tiếp cận với cơ chế thị trường và hội nhập quốc
tế, và chưa có hệ thống quản lý chất lượng để nâng cao chất lượng GD&ĐTĐH thíchứng với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng phát triển, sâu rộng Quan điểm của Đảng ta xác định việc giải quyết những mâu thuẫn, bất cập là mộtquá trình lâu dài, mang tầm cỡ lớn quốc gia, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, Nhànước và toàn XH phải tích cực cùng nhau tham gia chung sức giải quyết, đểGDĐHViệt Nam khỏi bị tụt hậu xa khi hòa nhập vào thế giới