1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: NGHIÊN CỨU, BẢO TỒN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN

153 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự quan tâm và đầu tư kinh phí để nghiên cứu của UBND tỉnh Quảng Ngãi; sựphối hợp giữa Sở KH-CN & MT và UBND huyện Lý Sơn; cùng với sự nỗ lựccủa các nhà nghiên cứu trong tỉnh và các

Trang 1

UBND TỈNH QUẢNG NGÃI

SỞ KH – CÔNG NGHỆ & MÔI TRƯỜNGT UBND HUYỆN LÝ SƠN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:

NGHIÊN CỨU, BẢO TỒN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VẬT THỂ

VÀ PHI VẬT THỂ Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN

Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Thanh TùngPhó Chủ nhiệm đề tài : Đoàn Ngọc Khôi

Nguyễn Văn Xuân

Trang 2

THAM GIA NGHIÊN CỨU VÀ BIÊN SOẠN ĐỀ TÀI:

- -CHƯƠNG 1: Đoàn Ngọc Khôi

CHƯƠNG 2: Đoàn Ngọc Khôi

CHƯƠNG 3: Đoàn Ngọc Khôi - Nguyễn Đăng Vũ - Phan Đình Độ CHƯƠNG 4: Đoàn Ngọc Khôi

CHƯƠNG 5: Nguyễn Thanh Tùng - Nguyễn Đăng Vũ - Phan Đình Độ

2

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

PHẦN MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I: 10

TỔNG QUAN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, HÀNH CHÍNH VÀ 10

LỊCH SỬ CỦA HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 10

1 Địa lý tự nhiên, hành chính của huyện đảo Lý Sơn: 10

2 Lịch sử hình thành đảo Lý Sơn : 14

CHƯƠNG II 22

ĐẢO LÝ SƠN TRONG THỜI TIỀN SỬ 22

VÀ SỰ XÁC LẬP VĂN HÓA VIỆT 22

I/ THỜI TIỀN SƠ SỬ TRÊN ĐẢO LÝ SƠN 22

1 Lịch sử nghiên cứu: 22

2 Văn hóa tiền sơ sử trên đảo Lý Sơn: 23

2.1- Dạng văn hóa vật chất của cư dân Sa Huỳnh hải đảo: 23

2 Văn hóa Chămpa trên đảo Lý Sơn: 30

II- SỰ XÁC LẬP VĂN HÓA VIỆT TRÊN ĐẢO LÝ SƠN: 33

1- Hình thành thiết chế làng xã: 33

2 Chủ xóm: 37

3 Chủ Lân: 37

LÀNG - XÃ LÝ HẢI 44

LÀNG - XÃ LÝ VĨNH 45

4 Các vấn đề bảo vệ và phân chia nguồn lợi biển và rừng của làng: 48

1/- Cơ cấu tổ chức Vạn: 49

2.2 Cơ cấu tổ chức của Vạn 50

2.3 Mối quan hệ giữa Làng và Vạn 51

4 Tín ngưỡng thờ thần của Vạn: 54

CHƯƠNG III: 57

VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ 57

Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 57

I DI SẢN VĂN HÓA KIẾN TRÚC 57

1 Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng sinh hoạt cộng đồng: 57

1.1- KIẾN TRÚC ĐÌNH LÀNG: 57

1.2: CHÙA: 59

2 Hệ thống nhà ở trên đảo Lý Sơn: 60

2.2 Nhà Rường: 62

2.3 Nhà đắp (nhà lá mái): 63

Một số kiến trúc tiêu biểu ở huyện đảo Lý Sơn: 65

CHÙA HANG 65

DINH THỜ THIÊN Y A NA 68

VĂN TẾ THIÊN YANA: 71

ÂM LINH TỰ 72

LĂNG CỒN TỰ 74

LĂNG CỒN TỰ 74

ĐÌNH LÀNG VÀ NHÀ THỜ TIỀN HIỀN XÃ LÝ HẢI 75

a- Đình hạ (tiền đường): 76

b Đình trung (chánh điện): 78

c- Đình thượng (hậu cung): 79

d- Nhà Tiền hiền: 80

e- Miếu thờ thành hoàng: 80

Trang 4

II/ PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 80

1 Phong tục trong những ngày Tết Nguyên Đán: 80

1.1.Dựng nêu: 81

1.2 Cúng gia tiên: 81

1.3 Tổ chức lễ tế đình, lăng: 81

1.4 Rước Sắc Thần: 81

1.5 Xông nhà: 82

1.6 Kiêng cử: 82

1.7 Thăm tết: 82

2 - Phong tục gắn liền với sản xuất nông nghiệp: 82

2.1 Lễ động thổ: 82

2.2 Lễ cúng thần nông: 83

2.3 Lễ cúng chúa đất ( Chúa Ngu Man Nương ) 83

2.4 Lễ cầu mùa: (Lễ kỳ phước) 83

2.5 Lễ Hạ Điền: 84

2.6 Lễ Thượng Điền: 84

2.6 Lễ tống ôn: 84

3 Phong tục gắn với nghề khai thác biển: 84

3.1 Lễ “ra mắt”cuả Vạn 84

3.2 Lễ xuống nghề của Vạn: 84

3.3 Lễ lên nghề: 85

3.4 Kiêng cử: 85

4 Phong tục liên quan đến chu kỳ đời người: 85

4.1 Sinh đẻ 85

4.2 Hôn nhân: 86

4.3 Tang ma 88

2/ TÍN NGƯỠNG 89

2.1 Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên: 89

2.2 Tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông 91

2.3 Khao thế lính Hoàng Sa 94

2.4 Các tôn giáo tín ngưỡng khác: 96

3/ LỄ HỘI: 97

3.1 Tết Nguyên Đán: 97

3.2 Tết thanh minh 99

3.3 Tết Đoan Ngọ 99

3.4 Hội Đình 99

III VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẢO LÝ SƠN 103

1 Môi trường hình thành và phát triển: 103

2 Đôi nét về thể loại và vài đặc điểm: 105

PHONG CÁCH ẨM THỰC Ở ĐẢO LÝ SƠN 110

CÁC CÂY THUỐC VÀ MÓN ĂN BỔ DƯỠNG TRÊN ĐẢO 112

CHƯƠNG IV: 114

KINH TẾ TRUYỀN THỐNG CỦA 114

CƯ DÂN ĐẢO LÝ SƠN 114

1 Kinh tế nông nghiệp 114

II Kinh tế biển : 116

1 Các phương tiện đánh bắt cá: 116

2/ Nghề đánh bắt cá: 116

3/ Các loại hải sản: 117

4/ Phân công lao động: 118

7/ Nghề câu khơi: 118

4

Trang 5

III Kinh tế thủ công nghiệp 119

1/ Nghề đan lưới gai: 119

2/ Nghề đóng ghe bầu: 120

CHƯƠNG 5: 122

ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 122

VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ Ở HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 122

I CƠ SỞ LÝ LUẬN : 122

II/ Định hướng bảo tồn văn hóa vật thể: 123

1/ Thực trạng : 123

2/ Các giải pháp bảo tồn : 125

III/- Định hướng bảo tồn văn hóa phi vật thể 126

1) Thực trạng vốn văn hóa phi vật thể hiện nay ở huyện Lý Sơn: 126

2)- Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị vốn văn hóa phi vật thể ở huyện Lý Sơn: 127

PHẦN KẾT LUẬN 131

Phụ lục 1 133

III/ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH: 141

IV/ CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI KHÁC: 143

TRUYỆN KỂ DÂN GIAN LÝ SƠN 146

SỰ TÍCH CHÙA HANG 146

ĐÁNH GIẶC TÀU Ô 147

Chuyện kể về: 148

CÁC VỊ TIÊN HIỀN Ở ĐẢO LÝ SƠN 148

1 Tiền Hiền khai khẩn 148

2/ Chuyện Phế Truất mỗi làng một ông Tiền Hiền: 148

NÀNG ROI 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

MỤC LỤC 152

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý Sơn là hải đảo nằm cách đất liền khoảng 25 hải lý về phía đông bắc Trongquá khứ, Lý Sơn là hòn đảo yên bình ít bị ảnh hưởng của chiến tranh, do vậy vớiđiều kiện thuận lợi này các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồntương đối nguyên vẹn Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiệnnay, cần phải tiến hành nghiên cứu bảo tồn và định hướng phát triển văn hóa vậtthể và phi vật thể trên đảo theo đúng chủ trương Nghị quyết TW 5 đề ra về bảotồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc

Thực tiễn đã cho thấy văn hóa là nền tảng và động lực thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội, ngược lại xã hội có kinh tế phát triển thì các giá trị di sản vănhóa truyền thống của dân tộc càng được chú trọng nghiên cứu và bảo tồn Huyệnđảo Lý Sơn tuy có diện tích nhỏ hẹp nhưng chứa đựng một kho tàng văn hóaViệt vô cùng phong phú và đa dạng Trong tương lai không xa khu công nghiệpDung Quất phát triển thịnh vượng sẽ là điều kiện tốt cho sự vươn lên về các mặtkinh tế - xã hội của huyện đảo Lý Sơn Vì vậy yêu cầu đặt ra ngay từ bây giờcần thiết phải có các chương trình nghiên cứu, các dự án phục vụ cho chiến lượcphát triển của huyện đảo trong sự phát triển chung của tỉnh Quảng Ngãi Được

sự quan tâm và đầu tư kinh phí để nghiên cứu của UBND tỉnh Quảng Ngãi; sựphối hợp giữa Sở KH-CN & MT và UBND huyện Lý Sơn; cùng với sự nỗ lựccủa các nhà nghiên cứu trong tỉnh và các giáo sư đầu ngành ở các viện nghiên

cứu; đề tài “Nghiên cứu, bảo tồn và định hướng phát triển văn hoá vật thể và

phi vật thể ở huyện Lý Sơn” được triển khai và thực hiện trong 2 năm 1999-2000

và đã thu được những kết quả khả quan về khoa học

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung làm rõ 3 mục tiêu sau:

+ Tổng quan địa lý tự nhiên, hành chính và lịch sử hình thành huyện đảo LýSơn

+ Nghiên cứu hệ thống văn hóa vật thể và phi vật thể ở huyện đảo

+ Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ởhuyện đảo Lý Sơn

Kết quả nghiên cứu: Đề tài hoàn thành đem lại một số đóng góp trong nghiêncứu khoa học và trong thực tiễn như sau:

Trong phương diện khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài đem lại những tưliệu và nhận thức mới về văn hóa vật thể và phi vật thể ở huyện đảo Lý Sơn; vềcác giá trị văn hóa truyền thống cũng như các yếu tố địa lý, con người của huyệnđảo; đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần hình thành địa chíhuyện đảo Lý Sơn

Trong chiến lược phát triển kinh tế của huyện Lý Sơn, kết qủa nghiên cứu của

đề tài có ý nghĩa góp phần xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa huyện đảo dựa trên nền tảng chiến lược văn hóa - con người Đồng thời, các

6

Trang 7

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của huyện đảo Lý Sơn sau khi nghiên cứuhoàn thành và công bố sẽ đem lại lợi ích trực tiếp cho các dự án bảo tồn và chocác hoạt động văn hóa du lịch Trong tương lai vấn đề du lịch văn hóa, du lịchsinh thái sẽ là thế mạnh trong phát triển kinh tế của huyện đảo Lý Sơn.

Trong sự định hướng phát trển văn hóa - xã hội của huyện Lý Sơn, kết quảnghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp cho ngành văn hóa sử dụng để thực hiệncác dự án bảo tồn di sản văn hóa trên huyện đảo; đồng thời còn giúp cho các cơquan quản lý xây dựng những vấn đề giữ gìn củng cố các giá trị đạo đức truyềnthống, phục hồi những định chế tốt đẹp của làng xã cổ truyền nhằm mục đích ổnđịnh đời sống sinh hoạt xã hội trên huyện đảo

Giới hạn và các phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài:

Giới hạn:

- Đề tài thực hiện khảo sát trên phạm vi huyện đảo Lý Sơn

- Đề tài nghiên cứu một số bộ phận cấu thành văn hóa vật thể và phi vật thể ởhuyện đảo như các di tích di vật khảo cổ, các kiến trúc dân gian, các món ăntruyền thống, hoạt động kinh tế truyền thống, phong tục tập quán, lễ hội tínngưỡng và văn học dân gian; đề tài không đi vào lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữhoặc âm nhạc dân gian Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến vị thế địa lý, lịch sử củahuyện đảo Lý Sơn, cùng các giải pháp định hướng bảo tồn các di sản văn hóacủa huyện đảo

Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài thực hiện nghiên cứu trên cơ sở một số phương pháp sau:

- Phương pháp điền dã khảo cổ học

- Phương pháp Monographie, khảo sát môt tả các lễ hội, phong tục, tínngưỡng, truyện kể ca dao cùng các kiến trúc dân gian, phong cách ẩm thực

- Phương pháp đo vẽ đồ họa kiến trúc, chụp ảnh miêu tả minh họa

- Phương pháp phân tích và tổng hợp để chỉnh lý, chọn lọc, hệ thống hóa tưliệu, biên soạn hoàn chỉnh công trình

Kết quả nghiên cứu của đề tài:

Chương I: Đề tài nêu rõ các ưu thế của đảo Lý Sơn về vị thế địa lý thuận lợi

để phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa và về chiến lược quân sự bảo vệ vùng đấtliền và lãnh hải của Việt Nam Đồng thời trong chương này chúng tôi đã nêu rõ

sự đa dạng về động thực vật, đặc biệt là nguồn hải sản biển của huyện đảo LýSơn Ngoài ra đề tài còn nêu cụ thể về sự thay đổi hành chính của huyện đảo LýSơn từ thời Nguyễn thế kỷ XVII cho đến ngày nay Đề tài còn đề cập về ĐộiHoàng Sa thời Nguyễn trong lịch sử bảo vệ chủ quyền hải đảo của Việt Nam Chương II: Đề tài nghiên cứu đã làm rõ về thời kỳ tiền sơ sử của đảo Lý Sơn,

đó là giai đoạn văn minh văn hóa Sa Huỳnh và Champa đã thành tạo và pháttriển, đến nay khảo cổ học đã phát hiện và nghiên cứu nhiều di vật di tích có giá

Trang 8

trị lịch sử Vấn đề này đã chứng minh đảo Lý Sơn đã xuất hiện con người và sựhình thành văn minh từ rất sớm cách nay khoảng 3000 năm

Đề tài còn đi sâu vào nghiên cứu sự xác lập văn hóa Việt trên đảo Lý Sơn màđiểm khởi đầu từ thế kỷ XVI - XVII Văn hóa Việt trên đảo có những nét đặctrưng riêng là sự hội nhập của văn hóa bản địa mang tính chất biển - hải đảo vàvăn hóa Việt của vùng đồng bằng Bắc bộ mang tính chất nông nghiệp rất đặctrưng Sự hội nhập này đã tạo nên sự đa dạng trong các thiết chế tự quản củaLàng - Vạn; đồng thời tạo nên sự phong phú trong tín ngưỡng dân gian với ýthức tâm linh đa thần mà đặc trưng rõ nhất đó là tín ngưỡng thờ Nữ thần củaLàng và tín ngưỡng thờ cá Ông Nam Hải của Vạn

Chương III: Trong chương này đề tài đi sâu phân loại và mô tả cụ thể về cácvăn hóa vật thể: Kiến trúc dân gian gồm kiến trúc tín ngưỡng thờ phụng và kiếntrúc dân dụng nhà ở; các sản vật và món ăn truyền thống của cư dân trên đảo.Trong hai đề mục nghiên cứu này đề tài đã nêu các đặc trưng về sự đa dạngtrong kiến trúc dân gian nhà ở gồm nhà đất, nhà rường, nhà lá mái (nhà đắp) vàkiến trúc tín ngưỡng gồm đình, chùa trong hang đá, dinh, miểu, lăng thờ cá Ông.Món ăn truyền thống của cư dân ở đảo Lý Sơn có nét đặc trưng khác với đất liền

do điều kiện hải đảo phong phú về các loại hải sản nên các món ăn truyền thốngthiên về các sản vật biển

Về văn hóa phi vật thể đề tài đã đi vào các vấn đề về phong tục tập quán lễhội, tín ngưỡng và văn học dân gian nói chung Phong tục, tập quán, lễ hội tínngưỡng của cư dân đảo Lý Sơn mang nặng sự bảo lưu các giá trị truyền thống.Đặc điểm chung là các văn hóa vật thể và phi vật thể bắt nguồn trên hai loại hìnhkinh tế cơ bản là nông nghiệp và khai thác biển, được bảo lưu nguyên vẹn,không nơi nào khác có thể so sánh được Các điển trình nghi lễ tế tự tuân theoqui định của thọ mai gia lễ có khi giữ nguyên, cũng có khi giản lược Các tínngưỡng dân gian với đặc trưng thờ nữ thần và thờ cá Ông Nam Hải Các tínngưỡng dân gian gắn liền với sản xuất nông nghiệp và khai thác biển với nhiều

lễ tế gắn với chu kỳ sản xuất thu hoạch cho nên đã tạo sự đa dạng phong phú đặcsắc trong các tín ngưỡng dân gian của vùng đảo Lý Sơn Về văn học dân giancủa Lý Sơn có sự du nhập từ bên ngoài trong quá trình di dân từ xưa và trongquá trình giao lưu buôn bán với vùng đất liền cho nên một số câu ca dao, truyềnthuyết có nét giống với đất liền theo tính nguyên bản và sự dị biệt trên mô típchung Ngoài ra một số truyện kể và ca dao ở Lý Sơn cũng bắt nguồn từ quátrình lao động sản xuất, trong các mối quan hệ của các cá nhân trong cộng đồng

và trong sự chống giặc Tàu Ô bảo vệ đảo của người dân Lý Sơn

Chương IV: Đề tài đi vào nghiên cứu kinh tế truyền thống của cư dânđảo Lý Sơn trên ba loại hình cơ bản: Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu, kinh tếngư nghiệp khai thác biển và kinh tế nghề thủ công truyền thống Trong sự phântích nghiên cứu đã nêu bật về sự ứng xử thích hợp của người dân Lý Sơn trongmôi trường hải đảo Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu đóng vai trò chủ đạo,song song người dân Lý Sơn còn bổ sung nguồn gạo từ đất liền vốn không cótrên đảo Đồng thời với thế mạnh khai thác biển ngư dân Lý Sơn đã thu nhập lợi

8

Trang 9

tức đáng kể về nguồn lợi thủy sản dồi dào phong phú Ngoài ra với nghề đóngghe bầu và đan lưới truyền thống của ngư dân đã cung cấp đầy đủ về phươngtiện và ngư cụ để đánh bắt cá Với thế mạnh về số lượng ghe bầu khá lớn đã tạođiều kiện cho cư dân đảo Lý Sơn vươn ra biển đông để giao lưu buôn bán vớicác trung tâm cảng thị ở đất liền nằm dọc theo các cửa sông biển

Chương V: Trong chương này đề tài đi vào các nghiên cứu và đề ra các giảipháp bảo tồn và phát triển văn hóa vật thể và phi vật thể trên đảo Lý Sơn Cácđịnh hướng phát triển và giải pháp bảo tồn dựa trên những chủ trương của Đảng

và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc Trongchương này đề tài nêu các giải pháp phát triển và bảo tồn văn hóa Lý Sơn trướcđiều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của huyện đảo, những giải phápnày được phát triển thành các dự án cụ thể

Trang 10

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, HÀNH CHÍNH VÀ

LỊCH SỬ CỦA HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN

1 Địa lý tự nhiên, hành chính của huyện đảo Lý Sơn:

Huyện đảo Lý Sơn ở về phía Đơng Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, nằm giữa biểnĐơng, cách bờ biển khoảng 25 hải lý, gồm 01 đảo lớn Cù lao Ré và 01 đảo Bécách nhau 1,67 hải lý Tọa độ địa lý của đảo Lý Sơn trong khoảng 15032'14" đến

15038'14" vĩ độ Bắc và 109005'04" đến 109014'12" kinh Đơng Huyện đảo Lý Sơn

cĩ diện tích 9,97km2, dân số 18.521 người, mật độ dân số 1.858 người/km2 (*),gồm 02 xã Lý hải và Lý Vĩnh (Diện tích xã Lý Hải: 5,09 km2, Lý Vĩnh: 4,88

km2), dân số tập trung ở xã Lý Vĩnh là 2.236 người/km2, xã Lý Hải thấp hơn1.495 người/km2

Huyện đảo Lý Sơn chịu tác động chung của khí hậu nhiệt đới giĩ mùa, cĩ 2mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khơ Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2năm sau, tập trung khoảng 71% lượng mưa cả năm, cĩ năm như năm 1999lượng mưa đạt cao nhất 4.254,9 mm, gấp đơi so với lượng mưa của các nămtrước đĩ, mùa khơ từ tháng 3 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng giĩ Tây Nam nĩng vàkhơ Tuy nhiên ở Lý Sơn số lượng giờ nắng cao, trung bình từ 2.300 giờ đến2.600 giờ Nhiệt độ trung bình 26,40C Sự chênh lệch nhiệt độ trong các năm khácao như năm 1999 nhiệt độ cao nhất ở tháng 8 là 29,90C, nhưng ở tháng 12 nhiệt

độ thấp xuống là 22,20C Nhìn chung khí hậu ở đảo Lý Sơn ấm áp vào mùa đơng

và mát mẻ vào mùa hè Tổng lượng bức xạ trên 2000 cal/năm Độ ẩm khơng khítrung bình 85%

Địa hình của khu vực vùng dân cư và canh tác ở phía nam đảo cĩ độ cao 20

-30 dốc từ 8 - 150 được dân chúng khai thác trồng hành, tỏi

Hệ thống núi trên đảo gồm 5 ngọn núi trải dài ở bờ biển phía Bắc tựa như bứctrường thành che chắn giĩ mùa Đơng Bắc lạnh lẽo vào mùa đơng cho dân cưsống ở phía nam đảo Đĩ là các núi: Thái Lới, Giếng Tiền, Hịn Vung, Hịn Sỏi,Hịn Tai, trong đĩ cao nhất là núi Thái Lới 169m Năm ngọn núi này là núi lửa

đã tắt Một số núi cịn lại miệng hình lịng chảo như núi Giếng Tiền, Thái Lới.Vết tích nham thạch phun trào từ núi lửa hiện nay cịn vương vãi ở núi Thái Lới,Hịn Tai, khu vực phía Tây và bờ biển phía Đơng đảo

Đất đai là tài nguyên quan trọng của huyện đảo Lý Sơn, trong thời gian quanguồn tài nguyên này đã thu hút khoảng 62% lao động của huyện và nuơi sốnggần 50% số dân huyện đảo

*(*)- Theo số liệu thống kê năm 1999 Trích trong "Niên giám

thống kê năm 1999 huyện Lý Sơn - Cục thống kê Quảng Ngãi Tháng 7/2000

10

Trang 11

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện đảo là 800ha, trong đĩ đất nơng nghiệpchiếm diện tích 400ha, đất lâm nghiệp 182ha, đất chưa sử dụng 218ha(*) Đấtnơng nghiệp trên huyện đảo được sử dụng canh tác theo hai dạng: Cây hoa màuhàng năm 383ha bao gồm trồng hành, tỏi, rau, đậu, bắp và cây ăn quả chiếmdiện tích 17ha Diện tích đất lâm nghiệp chủ yếu là rừng trồng chiếm 182ha.Rừng tự nhiên trên huyện đảo đến nay khơng cịn nhưng thời phong kiến trướcđây rừng tự nhiên ở Lý Sơn cĩ diện tích lớn, phân bố ở các núi và thềm chânnúi Thời bấy giờ, đảo Lý Sơn cĩ những khu rừng như rừng Cây Minh, rừngTruơng, rừng Nhợ, rừng Cây Gạo, rừng Bà Bút, rừng Phật Để bảo vệ rừng tựnhiên, trong hương ước của hai làng An Vĩnh và An Hải xưa đã quy định lệ làng

về việc phạt vạ bằng tiền và đĩng gơng những người tự ý chặt phá rừng cây ởcác núi Hịn Sỏi, Giếng Tiền, Thái Lới, nên các rừng cây ở Lý Sơn được bảo vệrất tốt Từ năm 1945 trở đi, hương ước bị bãi bỏ, rừng bị chặt phá, đến nay ở LýSơn khơng cịn rừng tự nhiên nữa Hiện nay, huyện đảo Lý Sơn đang phát triểndiện tích rừng trồng phủ xanh đồi trọc với kết quả tương đối khả quan

Đất đai thổ nhưỡng ở đảo Lý Sơn chủ yếu cĩ hai loại:

- Đất cát biển cĩ diện tích 110ha, chiếm 10% diện tích tự nhiên, phần lớn tậptrung ở phía Tây của đảo lớn Đến nay đại bộ phận diện tích đất cát biển đã được

sử dụng làm khu dân cư và cải tạo để sản xuất nơng nghiệp

- Đất nâu đỏ trên đá Bazan: Chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện đảovới 877ha (bằng 83% diện tích tự nhiên) Cĩ khoảng 680ha đất nâu đỏ trên đáBazan cĩ tầng dày trên 1m và độ dốc dưới 80 Đất Bazan màu mỡ, hàm lượng cácchất dinh dưỡng cho cây trồng từ trung bình trở lên, thích hợp với nhiều loạicâycơng nghiệp và cây trồng khác, đây là nguồn tài nguyên quan trọng của huyệnđảo

Bãi cát bằng ven biển cĩ diện tích khoảng 42ha, chiếm 4% diện tích đất tựnhiên, phân bố viền quanh đảo và tiếp giáp mặt nước biển Tuy nhiên hiện nay,diện tích đất cát biển tự nhiên đã thu hẹp và biến mất do nhu cầu trồng hành, tỏingười dân đã khai thác cạn kiệt Cĩ thể nĩi thời gian qua việc sử dụng đất ởhuyện đảo Lý Sơn chưa thật hợp lý Chẳng hạn, diện tích đất dành cho nghĩa địakhá lớn và phân tán, diện tích vườn tạp khá nhiều, đặc biệt do nhu cầu trồnghành, tỏi đã khiến cho người dân phải đào sâu dưới lịng đất để lấy cát hoặc khaithác cát ven biển gây ảnh hưởng xấu đến mơi trường sinh thái, bờ biển bị sạt lở,thu hẹp dần diện tích của đảo

Trên đảo Lý Sơn trước đây vào thời tiền sơ sử, hẳn đã cĩ nhiều lồi thú rừng

vì trong các cuộc khai quật tại đảo Lý Sơn các nhà khảo cổ học đã tìm thấy khánhiều răng nanh, xương của lồi lợn rừng và một số xương của các lồi thúkhác Điều này chứng tỏ xưa kia trên đảo Lý Sơn tồn tại các vùng rừng rậm, cácsuối nước ngọt cĩ nhiều lồi thú hoang dã sinh sống Trong Tồn tập Thiên Nam( (*) Theo số liệu thống kê năm 1999 Trích trong "Niên giám

thống kê năm 1999 huyện Lý Sơn - Cục thống kê Quảng Ngãi Tháng 7/2000

Trang 12

tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá soạn vào giữa thế kỷ XVII đã chép khá rõ là trên núi

ở đảo có nhiều sản mộc Nhưng hiện nay tìm kiếm những cây thân mộc tự nhiêntrên núi quả là điều khó khăn Hiếm hoi còn sót lại một vài loại cây hiện diện từrất sớm ở các vùng đồi núi của đảo, đó là cây: Bàng biển, dân gian gọi là câyPhong Ba, tên La Tinh là Terminalia catappa Cây to cao từ 5 - 7m, nhánh mọcngang thành tầng, thân cây u nần, lá trở đỏ khi khô, quả nhân cứng, chín màuvàng, nướng ăn có vị béo Đây là loại cây có bộ rễ phát triển chống chọi đượcsóng gió, bão táp để tồn tại nên có tên là Phong Ba Có một loại cây đặc biệtkhác thuộc họ dứa dại tên La Tinh là Pandanaceac, tên dân gian gọi là cây XácMáu Loại cây này mọc hoang dã trên vùng đồi núi, thân xốp lá dài, không cógai, bộ rễ phát triển mạnh bám đất vững chãi, chống chọi được với khô hạn, bãotáp và có tuổi thọ cao Dân gian gọi là cây Xác Máu bởi vì nhựa thân có màu đỏnhư máu, nhựa cây dùng để sơn quét ghe, làm chặt các chốt nêm của ghe, ngoài

ra nhựa cây còn dùng để nhuộm lưới, dân làng còn lấy nhựa cây đem các nơibán Lá cây Xác Máu rất bền chắc dùng xe cuộn làm dây cột buồm trên các ghebầu Tại một số đảo của vùng đảo ở Thái Bình Dương người dân dùng nhựa câyxác Máu nấu sôi để quét trên đồ gốm Trên đảo Lý Sơn còn có các loại cây như:

Mù u (Calophyllum Inophyllum), cây keo (chăm biên), cây dừa, cây phi lao Thảm thực vật bên dưới có họ Bìm Bìm (Convolulaceae) họ Hòa Bản như cỏ chông (Spinìex littercus), cỏ cạ tử (Sporobolus Virginicus) và nhiều loại thảo dược chữa bệnh như:Ngũ trâu (cây tù tà), Hắc Sửu (bìm bìm hột), Nghĩa Sâm (cây sâm núi), Bạch Tật Lê (cây Ma vương) Hoài Sơn (củ mài)

Hiện nay, trên đảo Lý Sơn có hai dòng suối cạn chỉ có nước vào mùa mưa đó

là suối Chình ở xã Lý Hải và suối Ốc ở xã Lý Vĩnh Suối Chình bắt nguồn từthềm chân núi Thái Lới, chảy về phía Nam và phía Bắc đảo Lý Sơn Suối Ốc bắtnguồn từ chân núi Hòn Sỏi và Giếng Tiền chảy về phía Nam đảo Đây là haidòng suối chính trên đảo, hẳn xưa kia suối luôn có nước ngọt nên cư dân thờitiền sử đã sinh sống dọc ven suối và để lại các dấu tích văn hóa cho đến hiệnnay

Trên đảo có một trữ lượng nước ngầm phong phú, người dân đào giếng, khaithác làm nước uống và dùng vào việc tưới cho hành, tỏi bằng máy bơm Nguyênnhân có được hệ nước ngầm này có thể do kết cấu tầng đất Bazan thấm nước,giữ ẩm rất tốt và tầng đất cát của đảo là nền cát trắng nên nguồn nước nhờ đóthông qua mưa đã được bảo quản rất tốt, cung cấp thường xuyên không bao giờcạn cho nhu cầu sinh sống của cư dân trên đảo Tuy nhiên, hiện nay do nhu cầutrồng hành, tỏi, dân chúng đào lấy đi tầng cát trắng vốn là tầng đất cát lọc và giữnước, việc làm này có thể sẽ dẫn đến sự cạn kiệt và nhiễm mặn của nguồn nướcngọt quý giá trên đảo

Đảo Lý Sơn gồm một đảo lớn và một đảo bé được bao bọc bởi biển cả mênhmông nên huyện đảo có điều kiện khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên phongphú của biển hơn so với các huyện khác của tỉnh Quảng Ngãi Đây là lợi thếphát triển mạnh của đảo Trong sự kiến tạo địa chất ở hàng triệu năm trước đãđưa lại hệ quả bậc thềm chân đảo chìm sâu trong lòng biển tạo nên các rạng đá

12

Trang 13

ngầm với nhiều hang hốc cùng với hệ san hô trải dài ở phía Bắc và Đông đảo lànơi sinh sống lý tưởng cho các loài thủy tộc Ngoài ra, xung quanh đảo có cácdòng hải lưu chảy từ Tây sang Đông đem lại nguồn phù du phong phú, là thức

ăn lý tưởng cho các loài cá Có thể vì dòng hải lưu này mà trước kia đảo Lý Sơn

có nhiều cá voi do theo dòng nước ăn phù du, nên dạt vào bờ và mắc cạn, chết,dân biển tôn xưng là cá Ông nên lập nhiều lăng để an táng và thờ phụng

Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu biển và Trường Đại học Thủy sản NhaTrang, khu hệ cá của vùng biển miền Trung có thành phần đa dạng với khoảng

600 loài, trong đó các loài có giá trị kinh tế cao và trữ lượng lớn như mực, cáthu, cá ngừ, cá bánh đường, vích, hải sâm, rong biển, san hô và các loại ốcbiển Thực tế trong những thập niên gần đây, ngư dân Lý Sơn khai thác bằngnhiều loại ngư cụ và hủy hoại môi sinh bằng thuốc nổ khiến cho nguồn thủy sản

bị cạn kiệt Tuy nhiên, khoảng thập niên đầu thế kỷ XX trở về trước vùng biển

Lý Sơn có nguồn thủy sản rất phong phú Hương ước làng có quy định về sựđánh bắt cá trích: Từ tháng 7 đến tháng 11 hàng năm, đàn cá trích dạt vào cácvùng gò ở phía Nam đảo, dân làng vây bắt, việc khai thác đánh bắt cá trích dolàng quản lý Lùi lại thời gian ở tiền sơ sử, vùng bờ biển Lý Sơn là thiên đườngcủa các loài thủy tộc Con người thời tiền sử đã dùng lưới vây bắt cá, thu nhặtcác loại ốc ở bãi gành xung quanh đảo và bắt các loại nhuyễn thể khác như mực,vích Các nhà khảo cổ tìm thấy tầng cư trú của cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ởXóm Ốc ken đặc vỏ ốc với bề dày khoảng 1m Qua nghiên cứu và thống kê theotên dân gian các loại ốc do cư dân thời tiền sử ở Lý Sơn đã ăn như: Ốc Đụn,Hoa, Cừ, Nhảy, Cay, Tai tượng, Bàn tay, Điều này chứng tỏ vùng biển Lý Sơnxưa kia rất dồi dào, phong phú các loại thủy sản Như vậy vấn đề đang được báođộng hiện nay là một số chủng loại thủy sản có nguy cơ bị diệt vong, nguồn lợibiển dần cạn kiệt do việc khai thác bừa bãi, thiếu quy hoạch, bảo vệ và đặc biệt

là khai thác cá bằng cách đánh thuốc nổ sẽ dẫn đến hủy diệt nguồn thủy sản venbờ

Theo các tài liệu điều tra quy hoạch ở Lý Sơn thì nơi đây có tiềm năng lớntrong nuôi trồng thủy sản, như ở vùng triều xã Lý Hải giáp hòn Mù Cu diện tíchkhoảng 50 ha, kín gió, nồng độ muối 7.300, nhiệt độ nước 26 - 300C Nước triềucao nhất 2,5m, thấp nhất 1,2m, nền đáy là cát lẫn đá sỏi, san hô, diện tích 250

ha, với điều kiện thủy lý, thủy hóa lý tưởng khả năng tạo thành hồ nuôi các loạicua biển, tôm hùm, cá mú rất thuận lợi

Trong quá khứ kinh tế của huyện đảo Lý Sơn chưa đóng vai trò nổi bật trongtổng thể kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi, nhưng trong tương lai với vị thế địa lý hảiđảo ven bờ nằm trên con đường biển giao lưu giữa khu vực kinh tế trọng điểmmiền Trung với nước ngoài, cách khu công nghiệp Dung Quất 25 hải lý(37,5km) sẽ là động lực tạo nên những ưu thế phát triển lớn của huyện đảo LýSơn Trong truyền thống, đảo Lý Sơn là nơi phát triển mạnh về nghề cá và hiệnnay trong chương trình phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi đảo Lý Sơn đượcxác định là một trong những trung tâm nghề cá lớn của tỉnh

Trang 14

Vị trí địa lý của huyện đảo Lý Sơn có một vai trò quan trọng trong quốcphòng đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải của quốc gia Từ đảo Lý Sơn cóthể quan sát và khống chế cả vùng biển của miền Trung, đồng thời Lý Sơn làchốt tiền tiêu nằm án ngữ một trong những con đường quan trọng vươn ra biểnĐông từ cảng Dung Quất và khu kinh tế mở Chu Lai.

Như vậy, với vị thế địa lý thuận lợi cùng điều kiện tự nhiên sinh thái biểnphong phú đa dạng, kinh tế nông nghiệp phát triển chuyên canh, tiềm năng dulịch vô cùng to lớn, hiển nhiên trong thế kỷ XXI, huyện đảo Lý Sơn sẽ có nhữngthành tựu nổi bật và phát triển mạnh nếu như việc hoạch định tổng thể sự pháttriển kinh tế, xã hội theo hướng kinh tế mở rộng theo chủ trương của Đảng vàNhà nước ta, thiết lập và tăng cường các mối quan hệ để huy động tối đa cácnguồn hỗ trợ để cùng với nội lực của huyện đẩy nhanh và vững chắc quá trìnhphát triển, mặt khác đảm nhận vững vàng vị trí quốc phòng chiến lược củahuyện đảo

2 Lịch sử hình thành đảo Lý Sơn :

Có thể vài chục triệu năm trước đây, đảo Lý Sơn được hình thành do sự kiếntạo địa chấn với sự phun trào nham thạch của núi lửa Hiện nay trên Đảo có 5hòn núi đều là núi lửa đã phun trào: Núi Thái Lới, núi Giếng Tiền, Hòn Vung,Hòn Tai, Hòn Sỏi Sự tắt đi của núi lửa đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên

kỳ thú như: Giếng Tiền, Thái Lới, Chùa Hang, Hang Câu, Hang Cò Núi lửa đãtrải trên bề mặt Đảo ở phía Nam một lớp đất Bazan màu mỡ tươi tốt thích hợpcho cây trồng, đồng thời còn tạo nên những rạng đá ngầm là điều kiện tốt chocác loài thủy tộc sinh sống

Hiện nay theo kết quả khai quật nghiên cứu khảo cổ học đã cho biết cách đâykhoảng 3000 năm, cư dân thời tiền sử thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã cư trú trênĐảo Lý Sơn Họ sống quần cư dọc theo hai dòng suối nước ngọt cổ đó là suối

Ốc và suối Chình (nay đã bị bồi lấp) kinh tế chủ yếu của họ là khai thác biển,món ăn truyền thống là sò ốc và cá Họ đã để lại trong khu cư trú một lớp vỏ ốc

có chiều dày khoảng trên 1,5 m Đồng thời cư dân cổ xóm Ốc còn canh tác nôngnghiệp phản ánh qua các di vật cuốc đá, rìu đá, chày nghiền, bàn nghiền tìmthấy trong tầng cư trú đã chứng minh điều đó Cư dân văn hóa Sa Huỳnh đảo LýSơn đã tiếp thu các yếu tố văn hóa bên ngoài theo bình diện không gian và thờigian với văn hóa tiền Sa Huỳnh Long Thạnh, Bình Châu giai đoạn sớm và vănhóa Hán ở giai đoạn muộn để thành tạo nên dạng văn hóa hải đảo đặc sắc

Kế tục văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa Chămpa phát triển từ những thế kỷ đầucông nguyên Cư dân Chămpa sinh sống trên đảo bằng kinh tế khai thác biển vàtrồng rau củ, cây hoa màu của dân Chămpa đã để lại một số di tích như miếuCon Bò, Chùa Hang, dinh Bà Trời (Thiên Ya Na), các giếng vuông

Cư dân Việt đến khai khẩn làng mạc trên đảo vào khoảng cuối thế kỷ XVI,đầu thế kỷ XVII Họ là những ngư dân vùng An Hải, Sa Kỳ của huyện Bình Sơngồm 15 ông tiền hiền của 15 dòng họ lớn di cư ra đảo phân chia khu vực cư trú ởphía đông và phía tây đảo Lý Sơn Có 7 vị Tiền hiền gồm các dòng họ: Phạm

14

Trang 15

Khắc, Phạm Quang, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Đặng, đã đến khai phávùng phía tây đảo Lý Sơn để lập nên xã Lý Vĩnh mà trước đây thời Nguyễn gọi

là phường An Vĩnh 8 vị Tiền hiền gồm các dòng họ: Nguyễn, Dương, Trương,Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê đã đến khai phá một vùng đất rộng lớnphì nhiêu ở thềm phía Nam núi Thái Lới lập nên xã Lý Hải mà trước đây thờiNguyễn gọi là phường An Hải Trong buổi đầu ấy, người Việt trong công cuộckhai phá lập làng gặp không ít khó khăn về thời tiết khí hậu và nạn giặc Tàu Ô.Đến nay, một số di tích còn lưu lại đã phản ánh sự chống chọi kiên cường vớigiặc Tàu Ô để bảo vệ đảo của người dân Lý Sơn: đó là miếu Nàng Roi, chùaHang, sự tích đánh giặc Tàu Ô của ông Nguyễn Văn Tuất Thường để phòngngừa giặc Tàu Ô mỗi gia đình đều có một hầm bí mật chôn giấu của cải ở trênnúi, mục đích khi giặc Tàu Ô đến cướp phá chúng không lấy đi được những gìcủa người dân ở đây Ngoài ra những nhà giàu có đã lập nên những nhà lá máigồm ba lớp cửa bàn khoa cùng rầm thượng rầm hạ để cất giấu của cải

Người Việt đảo Lý Sơn đã xác lập một nền tảng văn hóa vững chãi với thiếtchế làng xã bền chặt dựa trên một hương ước được mọi thành viên trong làngthống nhất xây dựng và thực hiện rất có hiệu quả Thực tế sự xác lập văn hóaViệt trên đảo Lý Sơn không sớm lắm xong rõ ràng nó đã phát triển vững chãi vàbám rễ bền chặt phát triển đa dạng phong phú đậm đà bản sắc Văn hóa Việt đảo

Lý Sơn thành tạo từ hai nguồn hợp cơ bản là văn hóa Việt vùng đồng bằng Bắc

bộ và văn hóa Biển - Hải đảo của miền Trung; rộng hơn đó là sự dung hợp giữahai yếu tố văn hóa Nam Á và văn hóa Nam Đảo (Malayopolynesiens) cùng pháttriển song song, giao thoa và bổ sung, quyện chặt thành một văn hóa truyềnthống của đảo Mỗi dạng thức văn hóa đều xuất phát từ nền kinh tế truyền thốngtương hỗ, đó là kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu và kinh tế biển khai thác hảisản Kinh tế nông nghiệp trồng hoa màu được thiết lập quần cư theo mô hìnhLàng, đứng đầu là ông Cả Làng, nơi sinh hoạt cộng đồng và tế tự là Đình làng.Kinh tế khai thác biển được thiết lập trên cơ sở tổ chức Vạn, đứng đầu là ChủVạn, nơi sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng là các Lăng Vạn Đảo Lý Sơn cóhai làng là An Vĩnh và An Hải; hai Vạn là Vĩnh Thạnh và An Phú

Như vậy có thể phác họa mô hình như sau:

Trang 16

Ghi chú: Mối quan hệ trực tiếp

Có sự tham gia

Tham gia trực tiếp

Đảo Lý Sơn có tên gọi nguyên gốc là Cù Lao Ré Chữ Cù Lao được Việt hóa

từ chữ Pulau của ngôn ngữ Malayo-Polynésien do người Chàm gọi, có nghĩa làđảo Do vậy các đảo ven bờ của duyên hải Việt Nam đều gọi là Cù Lao chẳnghạn như Cù Lao Chàm Cù Lao Ré, Cù Lao Xanh, Cù Lao Thu Người phápphiên âm chữ Pulau thành Poulo và gọi Cù Lao Ré là Poulo canton

Thư tịch Trung Hoa chép về đảo Lý Sơn với tên gọi là Ngoại La Sơn Trongtài liệu Doanh Nhai Thắng Lãm của Mã Hoan đời Minh chép về cuộc đi sứ củaTrịnh Hòa xuống vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư Trong đoạn viết về sự trở

về Bắc Kinh của đoàn quân này như sau: “Ngày 13/6/1433 lại đến Chiêm Thành(Qui Nhơn) nghỉ ở đó cho tới ngày 17/ 6/1433 lại lên đường và đến ngày19/6/1433 đã đến Wai Lo Shan (Ngoại La Sơn) tức Cù Lao Ré Đây là tư liệuthư tịch của Trung Hoa sớm nhất viết liên quan đến đảo Lý Sơn

Văn hóa Việt Lý Sơn

Trang 17

Sau cuộc bình Chiêm Thành năm 1471 của Vua Lê Thánh Tông, ranh giới ĐạiViệt được mở rộng đến núi Thạch Bi (Phú Yên); những chi tiết thâu lượm được

về đất Phương Nam trong cuộc chinh chiến đã giúp cho những người sau soạnthành bản đồ Đến nay, tài liệu bản đồ sớm nhất về vùng đất Phương Nam đượcbiết đến là bản đồ trong Toản tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư của một nhosinh là Đỗ Bá, có thể tài liệu này được viết trong khoảng thời gian năm 1630 đến

1653, gồm có 4 quyển Trong quyển 1 có một bản đồ vẽ vùng phủ Quảng Nghĩa

và phủ Thăng Hoa trong đó đã gọi Cù Lao Ré là Du Trường Sơn; Đỗ Bá đã cẩnthận ghi chú cụ thể địa điểm đảo ở ngoài cửa Sa Kỳ (Quảng Nghĩa) nguyên văn:

“ Sa Kỳ hải môn ngoại hữu nhất sơn, sơn thượng đa sản mộc, danh DuTrường, hữu tuần ” có nghĩa: Ở phía ngoài cửa biển Sa Kỳ có một núi, trên núi

có nhiều sản mộc, tên là núi Du Trường, có đặt quan Tuần sát Trên bản đồ Đỗ

Bá vẽ vị trí của Du Trường Sơn nằm phía ngoài cửa Đại và cửa Tiểu của sôngTrà Khúc và sông Vệ - đó là đảo Lý Sơn hiện nay

Trong tài liệu Etude sur un portulan AnNamte du Xve siecle, H.Dumoutier vẽlại bản đồ này gọi đảo Lý Sơn là Hải Du Trường Sơn (xem phụ lục bản đồ) Thời các Chuá Nguyễn đảo Lý Sơn gọi là Cù Lao Ré gồm hai phường An Hải

và An Vĩnh Đến thời Gia Long (1808), đặt Cù Lao Ré là tổng Lý Sơn, gồm hai

xã An Vĩnh và An Hải trực thuộc phủ Bình Sơn

Thời thuộc Pháp năm 1931 đổi Tổng Lý Sơn thành đồn Lý Sơn trực thuộcTuần Vũ Quảng Ngãi và phường An Vĩnh đổi thành xã Vĩnh Long và phường

An Hải đổi thành xã Hải Yến, đồng thời thiết lập đồn Bang Tá để cai trị ĐồnBang Tá có 12 lính trang bị như lính Khố Xanh được quyền bắt người, bảo vệ bộmáy cai trị

Sau khi Cách Mạng tháng 8 năm 1945, đảo Lý Sơn gọi là tổng Trần Thành,đổi tên xã Hải Yến thành xã Dương Sạ, giữ nguyên xã Vĩnh Long Năm 1946,UBHC tỉnh Quảng Ngãi đổi tên tổng Trần Thành thành xã Lý Sơn, đổi xãDương Sạ thành thôn Hải Yến, xã Vĩnh Long thành thôn Vĩnh Long Năm 1951thực dân Pháp chiếm đóng đảo Lý Sơn, sáp nhập đảo Lý Sơn vào địa giới hànhchính của thị xã Đà Nẵng Từ năm 1954 - 1975 chính quyền Sài Gòn đặt đảo LýSơn làm 2 xã là Bình Vĩnh và Bình Yến (An Vĩnh đổi thành Bình Vĩnh, An Hảiđổi thành Bình Yến) thuộc quận Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi

Sau năm 1975, đảo Lý Sơn vẫn bao gồm hai xã là Bình Vĩnh và Bình Yếnthuộc huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi Ngày 01/01/1993 huyện đảo Lý Sơnthành lập theo quyết định 337 của Thủ Tướng chính phủ, gồm 2 xã Lý Vĩnh và

xã Lý Hải (Bình Vĩnh gọi là Lý Vĩnh, Bình Yến gọi là Lý Hải) Hiện nay xã LýVĩnh gồm 3 thôn là thôn Đông và thôn Tây và thôn Bắc (tức Hòn Bé), xã Lý Hảigồm có 5 thôn gọi là thôn Đồng Hộ, thôn Đông, thôn Trung Hòa, thôn TrungYên, thôn Tây

Lịch sử đảo Lý Sơn còn gắn liền với các khối cộng đồng cư dân đã sinh sốngkhác và giữ đảo từ hàng nghìn năm trở lại đây

Trang 18

Ba lớp cư dân Sa Huỳnh - Chăm pa - Việt đã gắn bó chặt chẽ với sự hìnhthành và phát triển của đảo Lý Sơn, họ đã bảo vệ chủ quyền đảo và để lại nhiều

di sản văn hóa vô cùng giá trị đến nay vẫn được bảo tồn và phát huy mà chúngtôi sẽ trình bày cụ thể ở các chương sau

Lịch sử đảo Lý Sơn gắn liền với quá trình bảo vệ chủ quyền của Việt Namtrên đảo Hoàng Sa Đời chúa Nguyễn đã phiên đặt định kỳ hàng năm những ngưdân trên đảo Lý Sơn đi thuyền ra khơi đến đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Hoàng Sa)dân gian gọi là Bãi Cát Vàng để khai thác sản vật, thâu lượm hàng hóa đem vềnộp cho triều đình Theo “Toàn tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” của Đỗ Báviết ở thế kỷ XVII, họ Nguyễn (Chúa Nguyễn - NV) mỗi năm vào tháng cuốimùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàngbạc, tiền, súng đạn Phủ biên Tạp Lục của Lê Qúy Đôn năm 1776 đã ghi chép cụthể hơn về việc chúa Nguyễn phiên đặt những tráng dân ở Lý Sơn lập thành độiHoàng Sa, định kỳ hàng năm đến đảo Hoàng Sa khai thác sản vật và hàng hóa.Nguyên văn chữ Hán được dịch như sau: “Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lậpđội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh (Lý Sơn - ND) sung vào, hàngnăm luân phiên, lấy tháng giêng nhận chỉ thị sai dịch ra đó, mỗi người trong độiHoàng Sa được cấp phát 6 tháng lương, họ chèo 5 chiếc thuyền ra ngoài biển, bangày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa, ở lại tha hồ bắt chim, cá để làm đồ ăn Họlượm được những vật trôi dạt như: Kiếm, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng,thiếc khối, chì đen, ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, hải sâm, các loại ốc đẹp Đến kỳtháng 8, thuyền trở về vào cửa Yêu Môn (cửa Thuận An) rồi tới thành Phú Xuântrình nộp các vật hạng đã lượm nhặt được, người ta cân, định hạng các sản vậtrồi mới cho đội này bán riêng những con ốc đẹp, hải sâm, đồi mồi cùng nhiềuvật biển khác Sau đó lãnh văn bằng trở về Những vật hạng lượm được ngoàibiển có khi nhiều, khi ít không nhất định, cũng có lần họ ra đi rồi trở về không.Tôi (Lê Qúy Đôn - ND) từng tra khảo sổ biên của các đội thuyền Đức Hầungày trước như sau:

Năm Nhâm Ngọ (tức năm 1702) đội Hoàng Sa lượm đươc bạc 30 thoi

Năm Giáp Thân (1704) lượm được thiếc 5.100 cân

Năm Aát Dậu (1705) lượm được bạc 126 thoi

Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Qúy Tỵ (1713) tức là trong khoảng 5năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy cân đồi mồi và hải sâm Cũng có lần

họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng HọNguyễn có thiết lập thêm đội quân Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, lấyngười thôn Tứ Chính (ở gần biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người ởCảnh Dương (sát cửa biển Ròn) “Đội Bắc Hải chèo thuyền ra cù lao Côn Lôn ởgiữa Bắc Hải, hoặc đến xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm lượm nhặtnhững hạng đại một, hải ba, đồn ngư, lực quý ngư hải sâm

Nhà nước sai chức các đội Hoàng Sa kiếm lãnh quản đốc đội Bắc Hải này, vìchẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật, còn như vàng bạc và các của cải quýbáu khác thì ít khi họ tìm được” (Phủ biên tạp lục, quyển 2 từ tờ 82b - 85a)

18

Trang 19

Trong Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn năm 1822

ở quyển 10 đã chép về sự bảo vệ chủ quyền trên đảo Hoàng Sa của đội Hoàng

Sa ở Lý Sơn như sau: “Hồi quốc sơ (đời chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa gồm

70 người lấy dân xã An vĩnh (Lý Sơn - ND) sung vào, hàng năm cứ tháng 3 cưỡithuyền ra đảo, 3 ngày đêm thì tới nơi, thu lượm hóa vật đến tháng 8 trở về nộp.Lại có đội Bắc Hải mộ dân thôn Từ Chính, Bình Cố hoặc xã Cảnh Dương sungvào, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải thu lượm hoá vật,cũng do đội Hoàng Sa cai quản luôn” (Đại Nam thực tiền biên, 9.10)

Trong Đại Nam thực lục chính biên khắc in năm 1848 có chép: “Tháng giêng,năm Ất Hợi (1815) sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng

Sa xem xét đo đạc thủy trình ” ) Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, 9.52)

“Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816) Vua ra lệnh cho thủy quân vàđội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình” (Đại Namthực lục chính biên đệ nhất ký, 9.52)

Đến thời Minh Mạng, triều Nguyễn có lực lượng thủy quân khá hùng mạnhnên thay thế đội Hoàng Sa cai quản vùng biển Hoàng Sa và các đảo ven bờ củaViệt Nam Đội Hoàng Sa không còn thấy ghi trong sử sách nữa Theo Đại Namnhất thống chí, đội Hoàng Sa được tái lập ở đầu triều Gia Long, đến cuối triềuGia Long đội Hoàng Sa bị bãi bỏ (ĐNNTC, 9.6) Triều đình nhà Nguyễn đã giảithể đội Hoàng Sa vì lực lượng thủy quân Việt Nam đã vươn ra biển Đông để bảo

vệ chủ quyền Việt Nam trên đảo Hoàng Sa Như năm Minh Mạng thứ 16 (1835)

đã sai quan thuyền đem gạch đá ra đảo để xây dựng chùa (ĐNNTC, 9.6)

Như vậy từ thời các chúa Nguyễn đến thời Gia Long, đội Hoàng Sa trong 3thế kỷ XVII, XVII, XIX đã làm nhiệm vụ lịch sử thật đặc biệt là khai thác hảivật cùng hàng hóa trên đảo Hoàng Sa, góp phần khẳng định chủ quyền của ViệtNam trên đảo Hoàng Sa

Các chúa Nguyễn và triều Nguyễn Gia Long tuyển lính Hoàng Sa theo cáchkhoán cho mỗi dòng họ, gia đình một số lượng người đi lính tương ứng theonguyên tắc để người con trưởng ở nhà lo việc tế tự còn các con thứ trong giađình và dòng họ phải đi lính Hoàng Sa, mỗi năm một lần luân phiên nhau.Những người lính Hoàng Sa được triều đình chúa Nguyễn ưu đãi một số khoảnnhư sau: miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền qua đồn tuần, qua

đò (Lê Qúy Đôn - Phủ biên tạp lục, 9.2) Đến thời Gia Long, những người đilính Hoàng Sa ngoài việc miễn sưu thuế, họ còn được miễn thuế nông nghiệp Ở

Lý Sơn, thuế nông nghiệp được tính trên dầu phộng, thời Gia Long một ngườitrong một năm phải nộp 1 nồi ba cho nhà nước, ngòai ra còn nộp thêm 3 gáodừa đầy, trong đó 1 gáo cho đình làng để thắp đèn và 2 gáo nộp cho chính quyềnphong kiến địa phương để cho việc trả lương bổng

Lính Hoàng Sa khi ra đi đem theo lương thực, nước uống trong 6 tháng (t2 t8) Ngoài ra mỗi người được cấp phát cho 1 chiếc chiếu và 3 sợi mây dài, mụcđích nếu chết thì lấy chiếu bó xác đem về đất liền chôn hoặc thả xuống biển choxác trôi về đảo

Trang 20

Người đứng đầu chỉ huy đội Hoàng Sa gọi là cai đội Theo phủ biên tạp lục,cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải hoạt động trên vùng biển phíanam Do vậy cai đội của đội Hoàng Sa và Bắc hải là người mưu lược, có tài đibiển, có vai trò quan trọng đối với triều đình Đảo Lý Sơn có hai vị cai đội nổitiếng đó là cai đội Võ Văn Khiết dưới thời các chúa Nguyễn trải 2 đời Vua chỉhuy đội Hoàng Sa và Bắc Hải, lập nhiều công trạng được Vua Gia Long sắcphong Thượng Đẳng Thần Hiện miếu thờ ở xã Lý Vĩnh gọi là miếu Ông Thắm.Cai đội Phạm Quang Ảnh, lãnh đội Hoàng Sa dưới triều Gia Long, lập nhiềucông trạng, khi chết được Vua ban sắc phong tặng Thượng Đẳng Thần, hiện nay

mộ ông ở khu vực đối diện UBND huyện Lý Sơn

Các nhân vật Phạm Quang Ảnh, Võ Văn Khiết và đội Hoàng Sa đã đi vàolịch sử bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa Hai ông là vị nhânthần thường được ghi trong các văn tế của đình miếu ở Lý Sơn

Những người lính Hoàng Sa đi ra quần đảo Hoàng Sa bằng những phươngtiện ghe bầu mảnh mai nhỏ nhoi trước giông bão nên luôn gặp rủi ro, có khi họvĩnh viễn nằm lại trong lòng đại dương và thực tế từ lâu trên đảo đã có nhữngcâu ca phản ảnh điều đó

Mãn mùa tu hú kêu thanh

Cá Chuồn đã vãn sao anh chưa về.

Hoặc:

Hoàng Sa đi có về không Lệnh Vua sai phải quyết lòng ra đi.

Hiện nay Âm Linh Tự là nơi thờ chung của những người đi lính Hoàng Sa bị

tử nạn trên biển Theo ghi chép trong phổ ý gia phả của các dòng họ có người đilính Hoàng Sa thì đã có rất nhiều người lính ra đi không trở lại Do vậy để chongười lính yên tâm ra đi, chính quyền phong kiến thời các chúa Nguyễn và triều

Nguyễn Gia Long đã thực hiện lễ Khao thế lính Hoàng Sa trước khi những

người lính lên thuyền ra đảo Hoàng Sa Nguyên nhân lễ Khao thế lính Hoàng Sa

có truyền thuyết dân gian cho rằng: Oan hồn của những người lính đã chết trênbiển hiển linh đòi triều đình phải cúng thế lính Trong lễ tế Khao thế lính Hoàng

Sa người ta làm một chiếc ghe bầu giả, đáy ghe làm bằng bè chuối, thân ghe sửdụng tre để làm khung sau đó cắt giấy điều dán kín Về hình thức đây là chiếcghe bầu hoàn chỉnh có nhiều khoang, buồng lái, cột buồm, dây buồm, mũi vàđuôi ghe Trên chiếc ghe này, người ta cắm một lá cờ ngũ hành làm bằng giấyđiều và 5 lá cờ đuôi nheo theo 5 màu; ở phần khoang lái người ta cắt giấy bốnhình nhân (trước kia hình nhân độn rơm) đặt ở bốn góc của chiếc ghe Trong lễ

tế chiếc ghe bầu giả được đặt bên tả cỗ bàn cúng, hai bên có trống chiêng và haihàng cờ ngũ hành đuôi nheo Tất cả lễ cúng diễn ra ở sân trước nhà Diễn trìnhcủa lễ như sau: Đầu tiên vị trưởng tộc cáo tế tổ tiên ở trong nhà, sau đó bái lạy

cỗ bàn cúng ngoài sân Khởi đầu của lễ Khao thế, thầy phù thủy đọc văn tế, tiếpđến ông tộc trường đọc văn tế cúng Trong buổi lễ có nhạc bát âm xướng tấu và

có sự hiện diện của các vị chức sắc trong làng Kết thúc lễ tế là lễ rước ghe bầu

20

Trang 21

tế lính Hoàng Sa ra nơi bến ghe Tại đây sau khi thầy phù thủy vái tạ tứ phương,chiếc ghe được đem thả xuống nước, một người dân chài dìu ghe ra khơi để choghe trôi về biển Đông Như vậy có nghĩa là sinh mạng và tàu thuyền của nhữngngười lính trong đội Hoàng Sa đã được hiến tế cho thần linh và những ngườilính Hoàng Sa yên tâm ra đi.

Trang 22

CHƯƠNG II ĐẢO LÝ SƠN TRONG THỜI TIỀN SỬ

VÀ SỰ XÁC LẬP VĂN HĨA VIỆT

I/ THỜI TIỀN SƠ SỬ TRÊN ĐẢO LÝ SƠN

1 Lịch sử nghiên cứu:

Các thư tịch dưới triều Lê, Nguyễn của Việt Nam khi đề cập đến sự hìnhthành cư dân trên đảo Lý Sơn thì hầu như chỉ nĩi đến sự khai cứ lập làng của cácdịng họ người Việt đến đảo Lý Sơn về cư dân của các văn hĩa trước đĩ khơngthấy các tài liệu trên nhắc đến

Đầu thế kỷ 20, trong tài liệu: Inventaire descriptif des monument Camse L,

An Nam., H.Parmentier - một nhà khảo cổ học người Pháp đề cập đến địa điểmchùa Hang, ơng cho rằng đây là ngơi đền của Champa, bởi trong nội thất chùaHang cĩ đặt rất nhiều tượng thần trên các bệ thấp bằng đá sa thạch Ngồi di tíchchùa Hang H.Parmentier khơng đề cập đến bất cứ một địa điểm văn hĩa tiền sơ

sử nào khác trên đảo Lý Sơn

Năm 1979 và năm 1990 cĩ hai đợt khảo sát của các cán bộ Viện sử học, ViệnHán Nơm và Trường đại học quốc gia Hà Nội tại đảo Lý Sơn Mục tiêu của cáccuộc khảo sát nghiên cứu này nhằm tìm hiểu sự định cư các dịng họ trên đảo vàcác vấn đề liên quan đến đội Hồng Sa thời Nguyễn để khẳng định chủ quyềncủa Việt Nam ở hai đảo Hồng Sa và Trường Sa Mặc dù, cĩ sự quan tâm đếndấu tích của các cư dân thời tiền sơ sử từng sống trên đảo Lý Sơn song đồnkhơng tìm thấy Năm 1996 cuộc khảo sát và đào thám sát của cán bộ nghiên cứukhảo cổ của Bảo tàng Sở VHTT tỉnh Quảng Ngãi thực hiện đã phát hiện lớp cưtrú của cư dân tiền sử thuộc văn hĩa Sa Huỳnh Hố thám sát thực hiện ở khu vựcXĩm Ốc xã Lý Vĩnh huyện đảo Lý Sơn đã cho thấy tầng văn hĩa của lớp cư trúcó chiều dày khoảng 1m60, chứa đựng phong phú các di vật văn hĩa cùng sựxuất hiện của ba mộ chum Mộ chum ở lớp văn hĩa muộn là Chum Hán chứađựng bên trong các đồ tùy táng như nồi gốm Bình Châu, hủ gốm Hán và daogăm sắt Mộ chum kiểu dạng nồi gốm nằm ở lớp văn hĩa sớm trong tầng cát vơsinh, bên trong chum cĩ các đồ tùy táng: Chân đế gốm và một ít mảnh xương trẻ

em cải táng Chum dạng nồi này mang phong cách nồi gốm Long Thạnh - giaiđoạn sớm của văn hĩa Sa Huỳnh

Sự phát hiện và cơng bố kết quả thám sát và nghiên cứu, về văn hĩa SaHuỳnh trên đảo Lý Sơn của Đồn Ngọc Khơi ở Hội nghị khảo cổ học năm 1996

đã thực sự hấp dẫn và thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước vànước ngồi Năm 1997 Viện khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tổng hợp SởVHTT Quảng Ngãi tiến hành khai quật di chỉ Xĩm Ốc, nhằm làm rõ nguồn gốc

22

Trang 23

cư trú, lịch sử hình thành văn hóa văn minh của cư dân thời tiền sơ sử ở trên đảo

Lý Sơn

Cuộc khai quật năm 1997 có hố đào diện tích 60m2 tìm thấy tầng văn hóa dàytrên 1m6 chứa đựng hàng trăm di vật của người tiền sử đã từng sử dụng sinhsống bao gồm các loại đồ gốm, đồ xương, vỏ ốc, kim loại, đá Đặc biệt trong

hố khai quật tìm thấy mộ song táng còn nguyên di cốt và đồ tùy táng Niên đạiphóng xạ C14 địa điểm Xóm Ốc của đợt khai quật năm 1997 có khả năng nhầmlẫn do công tác lấy mẫu tại hiện trường Do vậy các nhà khoa học chỉ biết đếnkhung niên đại Xóm Ốc qua phương pháp loại hình học, văn hóa Sa Huỳnh Xóm

Ốc có nguồn gốc từ các di tích tiền Sa Huỳnh Long Thạnh, Bình Châu phát triểnđến giai đoạn muộn ở đầu công nguyên tồn tại cách nay khoảng 2500 năm Tiếp đến những cuộc khảo sát và thám sát năm 1998 của Viện khảo cổ họcViệt Nam tại địa điểm Suối Chình ở xã Lý Hải, mục đích để kiểm tra sự mở rộng

cư trú của cư dân tiền sơ sử trên đảo Lý Sơn và sự chuyển tiếp giữa VHSH lênvăn hóa Champa trên phương diện về gốm Tại di tích Suối Chình đã phát hiệnkhu cư trú của cư dân VHSH và cư dân Champa

Trong hai năm 1999 và 2000 với sự hổ trợ kinh phí của đề tài chúng tôi đã vàđang triển khai một số hố thám sát khảo cổ học trên đảo Lý Sơn để bổ sung tưliệu và hoàn chỉnh bức tranh tổng thể về nền văn minh thời xa xưa trong thời đạikim khí của người tiền sử đã từng tồn tại trên đảo Lý Sơn mà dạng văn hóa vậtchất của nó được giới chuyên môn gọi là văn hóa Sa Huỳnh hải đảo

2 Văn hóa tiền sơ sử trên đảo Lý Sơn:

2.1- Dạng văn hóa vật chất của cư dân Sa Huỳnh hải đảo:

Trong hai cuộc thám sát 1996 và khai quật 1997 đã thu được khoảng vài trămhiện vật nguyên từ chất liệu đá, kim loại, đồ gốm, đồ xương, đồ thủy tinh và hơn40.000 mảnh gốm cổ đã phản ánh đời sống sinh hoạt đa dạng và phong phú của

cư dân văn hóa Sa Huỳnh trên đảo Lý Sơn

Đồ gốm nguyên tìm thấy gồm các loại chum, nồi, hủ, bát Chum gốm có chứcnăng là quan tài của người chết bên trong đặt các đồ tùy táng và ở một vài chum

có chứa hài cốt trẻ em được cải táng

Chum táng ở đặc điểm Xóm Ốc có ba kiểu loại khác nhau, loại hình chumgiai đoạn sớm phát hiện trong 2 hố thám sát năm 1996 tìm thấy 2 chiếc nằmtrong lớp cát trắng sinh thổ ở độ sâu khoảng từ 1,15m - 1,60m Dạng chum này

có thể gọi là mộ nồi, nó có đường kính bụng từ 25cm - 35cm, cao trung bìnhkhoảng 20cm, da chum màu đen xám và xám mốc, toàn thân trang trí văn thừng,xương gốm thô đen, miệng bẻ loe, có chiếc còn dấu vết của sự ghè miệng, cácchum đựng đầy cát bên trong, một chiếc có đồ tùy táng là chân đế gốm và một ítxương trẻ em được cải táng gồm xương hàm, xương đùi, xương chi và xươngtrán

Kiểu chum táng dạng mộ nồi tìm thấy ở lớp sát sinh thổ của di tích Xóm Ốc

Trang 24

táng hài cốt trẻ em trong Chum ở Xóm Ốc giống với Mỹ Tường (Thuận Hải)được các nhà khảo cổ học tìm thấy trước đó (Phạm Đức Mạnh 1985), thông quakiểu loại hình mộ nồi này chúng ta thấy rõ ràng ở giai đoạn sớm Xóm Ốc đã cómối liên hệ trực tiếp với di tích tiền Sa Huỳnh Long Thạnh

Loại hình chum giai đoạn giữa tìm thấy 1 chiếc trong hố khai quật 1997 thuộc

mộ táng số 5 (Phạm Thị Ninh, Đoàn Ngọc Khôi, 1999) Chum nằm ở độ sâu 1mđược chôn đứng bị ghè ở phần miệng, bên trên có nắp đậy bằng bát bồng Chum

có dạng là nồi gốm lớn, bụng phình đường kính khoảng 37,5, đáy tròn vai hơixuôi ngang gãy góc, miệng loe toàn thân tô hồng hoàng và trang trí văn thừng,quanh vai miết láng và tô 1 băng chì (graphite) xương gốm dày hơi cứng Chiếcchum dạng mộ nồi này có phong cách hoàn toàn giống với kiểu nồi gốm BìnhChâu Trong mộ nồi có xương trẻ em cải táng và kèm theo 13 hạt chuỗi làm từ

vỏ ốc hoa được ghe thủng ở phần lưng Rõ ràng dạng mộ nồi ở lớp giữa trongtầng cư trú của di chỉ Xóm Ốc giống với kiểu nồi gốm của văn hóa tiền SaHuỳnh, Bình Châu Ngoài ra cùng với sự bổ sung thêm tư liệu về gốm, công cụcuốc đá Bình Châu trong tầng cư trú của di chỉ Xóm Ốc đã cho thấy rằng vănhóa Sa Huỳnh Xóm Ốc trong sự phát triển của nó văn hóa tiền Sa Huỳnh, BìnhChâu đã đóng vai trò là động lực quan trọng trong quá trình thành tạo và pháttriển

Lớp văn hóa muộn hơn thuoôc giai đoạn đỉnh cao sắt sớm, văn hóa Sa Huỳnh

ở Xóm Ốc đã có sự tiếp xúc mạnh mẽ đối với văn hóa Hán Các nhà khảo cổ đãtìm thấy 6.839 mảnh gốm văn ô vuông mang phong cách Hán phân bố ở độ sâu

từ 0,30 - 0,60m và xen lẫn với gốm Champa và đồ sành sứ Đồng thời trong hốkhai quật 1996, các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở độ sâu 0,75m của lớp văn hóamuộn đã xuất hiện loại hình chum Hán, Chum có dạng nồi đáy bằng bụng phình.Toàn thân trang trí văn in hình kỷ hà, miệng được đậy kín bởi 1 nồi gốm Bêntrong chum có đồ tùy táng: Nồi gốm, dao găm sắt và hũ gốm Đây là loại ChumHán điển hình của vùng Hoa Nam (Trung Quốc)

Ngoài kiểu mộ quan tài là chum, nồi gốm cư dân Sa Huỳnh Xóm Ốc còn cókiểu mộ song táng tìm thấy trong hoâ khai quật năm 1997 với các đặc điểm sau:

Di hài được chôn trong huyệt đất hình chữ nhật, đặt theo hướng bắc - nam chếchtây, bên trên và xung quanh có kè đá và vỏ sò, ốc biển lớn Trước khi đặt thi hàixuống, người cổ Xóm Ốc đã rải một lớp cát vàng mỏng lên nền sinh thổ cáttrắng, rồi phủ lên trên một lớp mảnh gốm Quan sát trên hiện trường di cốt đượcchôn theo tư thế nằm thẳng, đầu đặt theo hướng mộ, mặt quay hướng Nam Dicốt này phần sọ bị vỡ mất một phần đỉnh nhưng phần mặt và hàm răng còn khánguyên vẹn, phần chi tay còn tương đối nguyên nhưng bị mất phần chân Mặc

dù, di cốt không còn đầy đủ nhưng dựa vào những yếu tố thể hiện giới tính như:Mỏm chũm và u chỏm người lớn, xương hàm trên và xương hàm dưới thô,xương đòn lớn, hệ số nanh trên Nguyễn Lân Cường đã xác định đây là di cốtnam giới khoảng 50-60 tuổi Đặc biệt di cốt này có hiện tượng thiếu răng và càrăng (Nguyễn Lân Cường 1998) Nằm so le với di cốt của người đàn ông là một

di cốt khác lớn hơn, hộp sọ và các xương chi đều lớn và dài Di cốt được chôn

24

Trang 25

theo tư thế nằm nghiêng chân co theo cùng hướng với di cốt Nam Di cốt này có

sọ thanh thoát, mõm chũm bé, ụ chẩm ngoài nhỏ, góc xương hàm dưới nhám, cơnhai không phát triển mạnh, hố chậu lớn Nguyễn Lân Cường đã tiến hành đođạc nghiên cứu các yếu tố biểu hiện giới tính trên và dựa vào độ gắn liền củađường khớp sọ, diện khớp xương mu và độ mòn của răng đã xác định di cốt làmột thiếu nữ khoảng 20-25 tuổi Để xác định loại hình chủng tộc, Nguyễn LânCường đã tiến hành so sánh, đối chiếu 12 đặc điểm, chỉ số của hộp sọ của di cốt

nữ với các chỉ số trung bình khác (X) của các sọ nữ ở LuoBoWan (Quảng Tây,Trung Quốc), người cổ Đông Sơn, người Việt và Tây Úc hiện đại Sau khi tínhtoán theo công thức của F.Heincke, ông cho rằng có nhiều khả năng sọ nữ Xóm

Ốc gần gũi với các sọ nữ người Việt, LuoBoWan và khác xa với các sọ nữ Tây

Úc Các kích thước của xương hàm dưới và răng của di cốt nữ Xóm Ốc cũngchứng minh di cốt này gần gũi với những đại diện Mongoloid (Nguyễn LânCường 1998) Có thể nói đây là một ngôi mộ khá hoàn chỉnh lần đầu tiên pháthiện thấy trong di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi

Những hiện vật chôn theo trong mộ cũng rất phong phú, chứng tỏ chủ nhâncủa mộ táng đóù có một địa vị quan trọng trong cộng đồng thị tộc Kiểu tùytáng trong ngôi mộ này như sau: chân đi cốt nữ có đặt nồi gốm to, phần chân co

có úp một đĩa mâm bồng lớn Dọc theo thân hai thi hài về phía bên phải có thôntheo đĩa mâm bồng, bình con tiện và nồi gốm nhỏ Những đồ gốm này đều códáng vai gãy mang phong cách gốm Bình Châu, được trang trí màu đỏ và màuđen ánh chì, kết hợp với những mô típ hoa văn khắc vạch tinh xảo Trên ngựctrái của thi hài người phụ nữ đặt một vỏ ốc biển to có vân hoa màu hồng rất đẹp,nhân dân địa phương gọi loại ốc này là ốc Đụn (tên khoa học là Textus (Rochia)maximus) Ở vị trí tai trái có một mảnh gốm văn thừng ô trám to, đặc biệt trênkhuỷu tay trái có một mũi tên đồng dạng Bình Châu, có lẽ là biểu tượng choquyền uy

Nghiên cứu hai di cốt và kiểu chôn cất huyệt đất của hai mộ táng trong hốkhai quật đã cho thấy rằng đây là mộ táng của chủ nhân di chỉ Xóm Ốc là cư dâncủa văn hóa Sa Huỳnh, ở giai đoạn văn hóa Bình Châu

Trong hố khai quật năm 1997 đã tìm thấy số lượng lớn hiện vật, có thể phânchia từng nhóm theo chất liệu như sau: Hiện vật đá bao gồm 8 chiếc cuốc đá và

2 rìu đá cộng với 2 cuốc đá, 1 bên đá và 1 hạch đá tìm thấy trong hố thám sátnăm 1996 đã nâng số công cụ đá được phát hiện và nghiên cứu là 14 chiếc.Ngoài ra còn có 59 hiện vật đá khác như chày nghiền, bàn nghiền, bàn mái, hòn

kê, bàn nghiền được tìm thấy trong tầng cư trú

Hiện vật xương có 225 kim xương và mũi nhọn xương tìm thấy trong lớp cưtrú của cư dân cổ Xóm Ốc trong đó có 110 chiếc kim xương được chế tác từxương hom cá theo phương thức dùi thủng lổ đế chuôi xương, lợi dụng mũinhọn sắc bén ở đầu xương để làm kim khâu vá và khâu lưới Các kim khâu một

số được sử dụng nhiều lần mòn vẹt đầu Mũi nhọn xương được chế tác theo cáchchẻ đôi xương ngạnh của cá Ngoài ra trong hố khai quật còn tìm thấy hiện vậtbằng đồng thau như mũi tên, hiện vật bằng sắt như dao găm, kiếm sắt; hiện vật

Trang 26

thủy tinh như hạt chuỗi hình bầu dục, khuyên tai ba nấu nhọn màu xanh diệplục

Đặc biệt trong hố khai quật tìm thấy các công cụ sản xuất và đồ trang sứcđược chế tác từ vỏ ốc biển ,nguồn nguyên liệu phong phú tại chổ, đây là điểmrất đặc trưng của cư dân cổ Xóm Ốc

Tổng số hiện vật bằng vỏ ốc, vảy ốc, vỏ sò thu được từ tầng văn hóa và cáccụm đá kè là 94 tiêu bản, bao gồm công cụ ghè đẽo bằng ốc tai tượng(Tridacna), công cụ nạo bằng vảy ốc Mặt trăng (Turbo), vỏ sò, vỏ trai biển vàmảnh vòng làm từ vỏ sò, lõi vòng bằng ốc tai tượng Những công cụ này hiệndiện suốt từ trên xuống dưới của tầng văn hóa nhưng tập trung nhất vẫn là ở lớp

4 (60-80cm) bên cạnh những đồ gốm Sa Hùynh dạng Bình Châu

Công cụ ghè đẽo Tridacna được tạo từ mảnh vỏ sò lớn, mặt ngoài có nhữngnếp sóng như múi tôn, được xếp vào họ trai khổng lồ, tên khoa học là Tridacna

sp

Trong địa tầng hố khai quật Xóm Ốc đã tìm thấy 32.320 mảnh gốm mang đặctrưng văn hóa Sa Huỳnh, được phân loại theo màu sắc, chất liệu, loại hình vàhoa văn Dựa vào màu sắc áo và xương gốm có thể phân chất liệu gốm thành baloại: Gốm màu vàng xám, gốm màu đỏ gạch non và gốm màu đen Gốm tô màuchủ yếu tô trên loại gốm màu vàng xám với ba loại màu khác nhau là màu đỏ,màu đen ánh chì và màu đen láng bóng Màu đỏ và màu đen láng bóng thườnghay dược tô trước khi nung tạo lớp áo màu hoặc thành băng kết hợp với nhữngbăng tỏ đen ánh chì sau khi nung

Loại hình đồ gốm ở di chỉ Xóm Ốc phổ biến là các loại nồi, bình con tiện, đĩamâm bồng, bát bồng với nhiều kiểu dáng miệng và chân đế khác nhau, songchủ yếu vẫn là ba loại hình miệng loe, miệng đứng, miệng cúp Loại hình nồimiệng loe đáy tròn chiếm số lượng lớn, loại hình đồ gốm có chân đế như bìnhcon tiện, đĩa mâm bồng, bát có số lượng ít hơn Trong tổng số 32.320 mảnh gốm

Sa Huỳnh thu được trong hố khai quật, chúng tôi thống kê được 3.284 mảnhmiệng và 11 mảnh chân đế bát, bình và mâm bồng Trong đó kiểu miệng loechiếm tỷ lệ áp đảo 93,18% (3060 mảnh) tổng số mảnh miệng, ngoài ra còn cókiểu miệng đứng và miệng cúp

Hoa văn gốm có di chỉ Xóm Ốc có hai loại: Hoa văn kỹ thuật và hoa văntrang trí Hoa văn kỹ thuật nhằm tạo nên độ bền chắc của bề mặt đồ gốm, đó làloại văn được tạo nên bởi phương pháp đập và phương pháp chải Văn đập cóhai kiểu loại: đập quấn dây xe lỏng và đập khắc rãnh Bằng phương pháp bànđập có quấn dây, người cổ Xóm Ốc đã tạo ra một loại văn thừng tết lỏng, có loạithô, loại vừa, loại mịn Văn đập khắc vạch tạo nên những đường nổi song song,bước sóng ngắn dồn dập, những rãnh văn được khắc sẵn vào bàn đập, phươngpháp tạo văn cùng giống như cách tạo văn thừng Với những chiếc que có mộthay nhiều răng, người cổ Xóm Ốc đã tạo nên những mô típ khắc vạch khuôngnhạc, sóng nước, nửa đường cong, hình ngọn lửa, những băng hình tam giác lộnđầu giống như văn trang trí trên một loại hình "lọ hoa" Long Thạnh Bên cạnh

26

Trang 27

các mô típ hoa văn in bằng mép và lưng vỏ sò, còn có văn ấn bằng đầu móng tayhay đầu que, văn in cuống rạ và in chạm zích zắc Người cổ Xóm Ốc đã sử dụngmàu đỏ, màu đen ánh chì và trên một vài chân đế, mâm bồng có hiện tượng tômàu đỏ, làm nền cho các họa tiết trang trí cùng đường song song ngắn màutrắng để làm tăng tính thẩm mỹ cho đồ gốm.

Thống kê phân loại hoa văn trên đồ gốm Xóm ốc, có thể nhận thấy hoa văn kỹthuật có số lượng lớn hơn hoa văn trang trí, nhưng điều đó không có nghĩa làngười cổ Xóm Ốc kém trình độ thẩm mỹ Hãy thử quan sát rất riêng một loạihình văn khắc vạch hình sông nước với bước đường sóng ngắn nối nhau trãi dàigợi lên sự êm đềm, xen kẽ những khuông nhạc tạo điểm nghỉ cho mắt nhìn,nhưng cũng có những mô típ văn sóng dồn, bước sóng ngắn, trên bôi nhẹ ánhchì tạo nhịp điệu của sóng chuẩn bị cho những đợt sóng bạc đầu Bên cạnh đócòn có những văn khắc vạch đơn tạo hình ngọn lửa đang cháy và những đườngcong hở kết hợp với văn in vỏ sò Toàn bộ những nét hoa văn đó chính là thểhiện sự tài hoa lãng mạn của người cổ Lý Sơn và đó cũng chính là nét riêngtruyền thống của cư dân cổ Sa Huỳnh

Cùng với những đồ gốm nguyên và mảnh gốm, chúng tôi còn tìm được trong

hố khai quật 1 dọi xe chỉ và 2 hạt chuỗi bằng đất nung Chắc chắn cư dân cổXóm Ốc đã biết đến việc xe sợi dệt vải

Ngoài ra trong hố khai quật tìm thấy 6.839 mảnh gốm phong cách in ô vuôngHán và 2.770 mảnh gốm Sa Huỳnh - Chăm, trong đó đồ gốm mang phong cách

Sa Huỳnh - Champa có mặt từ buổi đầu của giai đoạn muộn Gốm mang phongcách Hán xuất hiện sớm hơn một chút Còn gốm Sa Huỳnh đã xuất hiện từ đầu

và giữ vai trò chủ đạo trong tầng văn hóa Trong quá trình phân loại thống kêgốm khó có thể phân biệt rạch ròi gốm Sa Huỳnh muộn với gốm Chàm sớm.Thực tế không thể có sự phân biệt và định dạng gốm Chăm, mà chủ yếu là dựatrên tiêu chí về kỹ thuật, có khác chăng là gốm mỏng và cứng hơn Nên chúngtôi sử dụng thuật ngữ Sa Huỳnh - Chăm để chỉ loại gốm này Gốm văn in ôvuông với đường nét rõ ràng nhưng chưa sắc cạnh, thường có màu đỏ gạch non

và màu ghi xám, xương gốm mịn, ít pha chất "phụ gia" hơn gốm Sa Huỳnh và

độ nung thấp hơn gốm Hán điển hình, chúng tôi gọi đây là gốm mang phongcách Hán sự có mặt của gốm mang phong cách Hán và gốm Champa ở lớp trêntrong tầng văn hóa đã chứng tỏ có sự chuyển biến từ nền văn hóa Sa Huỳnh đếnnền văn hóa Champa mà yếu tố văn hóa Hán chỉ mang ý nghĩa chất "xúc tác"thúc đẩy nhanh sự chuyển biến đó

Kết quả điều tra khảo sát và khai quật di chỉ Xóm Ốc trên đảo Lý Sơn (QuảngNgãi) đã cho phép chúng ta nhận biết được di tích Xóm Ốc là một di chỉ cư trúxen lẫn mộ táng của cư dân văn hóa Sa Huỳnh Với một tầng văn hóa dày từ110cm đến 150cm, chỉ tính riêng trong hố khai quật 60m2 đã thu được hơn mộtchục chiếc nồi gốm, bình con tiện, bát đĩa mâm bồng cùng với hàng chục nghìnmảnh gốm bị vỡ từ những đồ đựng nguyên Trong tầng văn hóa đồ gốm mangđặc trưng văn hóa Sa Huỳnh giữ vai trò chủ đạo, xuyên suốt nhưng có diễn biến

từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn Ở giai đoạn sớm (độ sâu từ 80cm trở

Trang 28

xuống) đoă gốm mang phong cách gốm Long Thạnh như loại bình nồi miệng loe

cổ ngắn đáy trịn - văn thừng tết lỏng, loại hình bình cổ cao cĩ trang trí nhữngbăng hình tam giác song hành đối đỉnh và những họa tiết trang trí đẹp trên gốmbằng thủ pháp miết láng, khắc vạch, in ấn mép sị hay ống trịn hình cọng rạ.Bên cạnh loại hình và hoa văn gốm mang phong cách Long Thạnh, trên một vài

đồ gốm ở giai đoạn sớm đã cĩ hoa văn in ấn chấm kiểu zich zăc giống hoa văntrên gốm ở di chỉ Bích Đầm, thuộc giai đoạn muộn của văn hĩa Xĩm Cồn Đồgốm mang phong cách Long Thạnh thường cĩ độ dày, mỏng trung bình, màutrang trí chủ yếu là màu đỏ tươi và đỏ nâu, màu đen bĩng và đen ánh chì Songhành với kiểu gốm Long Thạnh, dường như muộn hơn một chút là những kiểudáng đồ gốm vai gãy đát chọn vát nhọn, cũng với những mơ típ nữa đường congđặc trưng của đồ gốm Bình Châu Hoa văn trang trí bằng thủ pháp khắc vạch, in

ấn nét vẽ những đường song song ngắn bằng một loại bột mịn màu trắng Mặcdầu xuất hiện sau đồ gốm kiểu Long Thạnh, nhưng đồ gốm kiểu Bình Châu lạitồn tại lâu dài với số lượng lớn hơn Cùng với những loại hình đồ gốm nêu trên

là những di vật đặc trưng kèm theo Tại di chỉ Xĩm Ốc đã phát hiện dược hơnmột chục chiếc cuốc và rìu đá cĩ hình dáng gần gũi với những chiếc cuốc, rìu đácủa Bình Châu Long Thạnh Đặc biệt gắn với đồ gốm kiểu Bình Châu là phươngthức chơn huyệt đất và mũi tên dẹt cĩ cánh chuơi ngắn bằng đồng Nhưng phổbiến hơn vẫn là cơng cụ ghè đão làm từ vỏ trai tai tương (Tridacna) và cơng cụnạo làm bằng nắp đậy ốc Mặt trăng (Turbo) Những cơng cụ này cĩ gần mộttrăm tiêu bản, cùng với hơn hai trăm mũi nhọn và kim xương được chế tác từxương xá và xương động vật rất gần gũi với những cơng cụ trong văn hĩa XĩmCồn Đặc biệt tích tụ văn hĩa của cư dân cổ Xĩm Ốc cũng cĩ quan hệ chặt chẽvới phương thức sống của cư dân cổ Xĩm Cồn (Khánh Hịa) Người Xĩm Ốc cĩnền kinh tế cơ bản: Hái lượm ốc sị và đánh bắt cá bằng lưới Thống kê trongmột lớp đất 20cm ở độ sâu 60cm - 80cm của hố khai quật đã cĩ 483 đốt xươngsống cá và 101 hàm răng cá, cùng với gần hai triệu vỏ ốc, vỏ sị Điều đĩ mộtmặt nĩi lên thiên nhiên ưu đãi con người, mặt khác chứng tỏ người cổ Xĩm Ốctrên đảo Lý Sơn đã biết định hướng phương thức sống là khai thác biển ven bờ

và đi khơi xa bờ

Như vậy, với những dữ liệu khảo cổ học thu được ở giai đoạn sớm của di chỉXĩm Ốc đã cĩ hai yếu tố văn hĩa cấu thành nền văn hĩa Sa Huỳnh Xĩm Ốc đĩlà: Yếu tố Long Thạnh và yếu tố Bình Châu Và xa hơn cĩ sự ảnh hưởng của vănhĩa Xĩm Cồn với loại cơng cụ và đồ trang sức vỏ ốc ở Mỹ Tường (Thuận Hải)với kiểu mộ chum táng hài cốt trẻ em, đồ tùy táng là hạt chuỗi vỏ ốc hoa Yếu tốLong Thạnh cĩ mặt từ lớp sớm nhất của di tích Xĩm ốc, đĩng vai trị là cộinguồn động lực thành tạo nên VHSH ở Xĩm Ốc Muộn hơn một chút, hiện diện

kế sau trong tầng văn hĩa của Xĩm Ốc là yếu tố Bình Châu Sự hiện diện xuyênsuốt của yếu tố Bình Châu chứng tỏ Bình Châu là khâu nối giữa Sa Huỳnh sớm

và Sa Huỳnh cổ điển như cĩ người quan niệm (Ngơ Sĩ Hồng 1987), hay nĩiđúng hơn là thơng qua những bằng chứng khảo cổ học thu được ở di chỉ Xĩm

Ốc cĩ thể nhận thấy được Bình Châu là một giai đoạn chuyển tiếp từ Tiền SaHuỳnh đến Sa Huỳnh.Yếu tố Bình Châu khơng phải chỉ nổi trội ở di chỉ Xĩm

28

Trang 29

ốc, mà dường như xuất hiện phổ biến ở nhiều di tích thuộc nhiều vùng khácnhau ở khu vực ven biển Nam Trung Bộ, góp phần rất lớn vào sự hình thành vănhóa Sa Huỳnh cổ điển Trong giai đoạn muộn của di chỉ Xóm Ốc, bên cạnh gốm

Sa Huỳnh muộn đã xuất hiện gốm Champa sớm, cùng với gốm văn in ô vuôngphong cách Hán Như trên đã trình bày, gốm Sa Huỳnh muộn ở đây vẫn mangphong cách Bình Châu nhưng cứng và thô hơn, màu sắc tô kém rực rỡ hơn phủnhận sự xuất hiện của nhân tố văn hóa Champa ngay từ đầu giai đoạn muộn và

sự tác động của yếu tố văn hóa Hán đến cư dân Sa Huỳnh muộn ở di chỉ Xóm

Ốc cùng với hai niên đại cacbon phóng xạ cho phép đoán định khung niên đạicủa di chỉ này nằm trong khoảng ngót 3000 năm đến thế kỷ I sau Công nguyên Những bằng chứng đó một lần nữa khẳng định cư dân văn hóa Sa Huỳnh ởXóm Ốc là cư dân bản địa, có trình độ phát triển cao và văn minh Họ đã sốngtrong môi trường biển và biết ứng xử thích hợp trong điều kiện không gian biển,hải đảo, tiếp biến nhuần nhị các yếu tố văn hóa từ bên ngoài để phát triển mạnh

mẽ các yếu tố nội sinh bên trong Đồng thời trong hoạt động sống họ đã biếtthay đổi của phương thức khai thác biển, săn bắt hái lượm từ ven bờ chuyển ra

xa bờ tương ứng theo sự tăng tiến của số dân Sự ứng xử thích hợp trong khônggian biển và hải đảo đã đem lại kết quả là cư dân văn hóa Sa Huỳnh ở Xóm Ốc

đã bảo tồn cộng đồng và phát triển lâu dài từ trước đến những thế kỷ đầu Côngnguyên trên vùng đảo Lý Sơn Chính phương thức sống và thế ứng xử trướcbiển của người cổ Xóm Ốc đã tạo lập nên một đặc trưng riêng mang sắc thái loạihình văn hóa biển của văn hóa Sa Huỳnh

Các cuộc thám sát và khai quật khảo cổ học trên đảo Lý Sơn từ hai địa điểmXóm Ốc và Suối Chình đã mở ra (hay nói đúng hơn) làm tăng thêm sức hút củamột hướng nghiên cứu mới - hướng biển trong nghiên cứu bản sắc văn hóa SaHuỳnh mà những sắc màu chính của nó là sự tổng hợp của 3 yếu tố văn hóa: Núi

- Đồng bằng - Biển Bên cạnh yếu tố đồng bằng với nghề nông trồng lúa nước là

cơ tầng của nền văn hóa Sa Huỳnh thì sắc thái Biển của văn hóa này (qua tài liệumới ở Xóm Ốc) cũng rất đậm đà nổi trội, hòa quyện nhuần nhuyễn vào các yếu

tố khác và cũng được tôn lên rạng rỡ

Cuộc đào ở Xóm Ốc và Suối Chình đã cho thấy: Cách đây khoảng chừng

3000 năm đã có những nhóm cư dân cổ đã từng sống lâu dài hàng ngàn năm trêncác đảo ngoài khơi dọc duyên hải nước ta để lại các di tích văn hóa có các dạngvăn hóa khác nhau, song đều mang sắc thái văn hóa Biển rất rõ và giữa chúngcũng có quan hệ chặt chẽ với nhau được thể hiện ra trên các di tồn vật chất màngày nay chúng ta gặp thấy như các công cụ và đồ trang súc bằng vỏ nhuyễn thể

có hình dáng, chức năng và cách chế tạo giống nhau được tìm thấy rải rác từ ThổChu (huyện đảo Phú Quốc) qua Hòn Cau (Vũng Tàu Côn Đảo), Bích Đầm(Khánh Hòa) đến Lý Sơn (Quảng Ngãi) và xa hơn nữa về phía Bắc mà chúng tachưa có điều kiện phát hiện ra

Các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở đảo Lý Sơn đã phản ánh nguồn gốc thành tạovăn hóa này là hợp tuyến, trong đó một nguồn hợp quan trọng của văn hóa Sa

Trang 30

Huỳnh là tuyến từ biển vào (nói một cách chặt cheõ hơn đó là sự tham gia củanhóm di tích phân bố trên các đảo ven bờ)

Các cư dân tiền sử trên đảo Lý Sơn đã sinh sống lâu đời, bám trụ lâu dài, vớichiến lược kiếm sống của họ là khai thác hải sản và tận dụng biển khơi như mộtphương tiện qua lại trong suốt quan hệ giao lưu văn hóa rộng rãi của họ

Mối quan hệ gắn bó với đất liền được thể hiện qua việc sử dụng những công

cụ sản xuất như cuốc đá, vũ khí như mũi tên đồng phần cánh tô hồng hoànghoặc tô chì kết hợp với các đồ án văn khắc vạch hình học rất sinh động trênnhững sản phẩm đồ gốm

Các tài liệu của cuộc đào thám sát và khai quật VHSH ở đảo Lý Sơn còn nóilên mối quan hệ xa hơn, rộng hơn của người cổ Xóm Ốc và người Sa Huỳnh nóichung, mà nét nổi là với văn hóa Hán - Một trung tâm văn minh cổ đại củaphương đông, mối quan hệ đó được truyền đến qua các văn hóa dương đạiduyên hải Hoa Nam Bằng chứng chắc chắn rõ ràng về mối quan hệ thoángđãng, rộng mở đó là những đồng tiền ngũ thù thời Hán, những mảnh gốm và nồitáng trang trí hoa văn in kỷ hà - đặc trưng của gốm vùng Quảng Đông thời đạikim khí.

Niên đại tuyệt đối của VHSH Xóm Ốc được biết qua hai mẫu than xét nghiệmphóng xạ C14 109cm (hố đất đen) Mẫu thứ hai được lấy ở độ sâu 80cm, nằmgần vết tích bếp, đá kè, xương rộng động vật, gốm Sa Huỳnh nhưng cũng rất gần

vị trí của Tiền Đồng Ngũ Thủ (Đông Hán) Những mẫu than này được phòng xétnghiệm của Trường Đại học Quốc gia Canberra (Úc) phân tích niên đại C14, kếtquả phân tích niên đại C14 như sau:

- Mẫu 1: 97XOHIL6a1 (109cm): 1910 ± 60BP

- Mẫu 2:: 97XOHIL5d1 (80cm): 1900 ± 60BP

Hai niên đại C14 trên chỉ có tính chất tham khảo, về phương pháp phân tíchloại hình học đã cho phép chúng ta nhận thức giai đoạn văn hoá di chỉ Xóm Ốctồn tại trong khoảng 3000 năm cách ngày nay

2 Văn hóa Chămpa trên đảo Lý Sơn:

Tại độ sâu trên 1m trong hố khai quật Suối Chình năm 2000, các nhà khảo cổhọc đã tìm thấy hai chiếc bình gốm dạng hình trứng đặt nằm nghiêng, 1 cái cònnguyên và 1 chiếc bị vỡ mất từ trước đó Loại đồ gốm này thuật ngữ chuyênmôn gọi là “bình hình trứng”, trước đó có người gọi là “bình đáy nhọn”, thực rahai cụm từ cũng chỉ nhằm vào một ý chỉ tính chất tròn nhọn ở đáy của loại bìnhnày Loại đồ gốm bình hình trứng là đặc trưng của giai đoạn tiền Chăm ở di tíchTrà Kiệu, nó tồn tại trước và sau Công Nguyên khoảng một hai thế kỷ Sự xuấthiện của loại bình hình trứng khiến các nhà khoa học suy nghĩ đến một giai đoạntiền Chăm kế tiếp sau giai đoạn Sa Huỳnh sơ kỳ đồ sắt trên đảo Lý Sơn Tuynhiên các nhà khoa học vẫn còn khá nhiều thời gian để xem xét các yếu tố địatầng cư trú thông qua sự chuyển biến về gốm và nhiều yếu tố cơ bản khác để

30

Trang 31

nhận diện có sự chuyển tiếp từ giai đoạn Sa Huỳnh muộn có phát triển tuần tựlên giai đoạn tiền Chăm hay không?

Khảo cổ học trên mặt đất đã cho thấy sự hiện diện di các tích Champa trênđảo Lý Sơn khá ít ởi, một số đã hòa nhập vào Văn hóa Việt trở thành đối tượngquan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân ở đảo Các di tích Vănhóa Champa trên đảo gồm Chùa Hang, đền thờ Thiên y a na và các giếng Chămtrên đảo

Cư dân Champa trên đảo sống quần tụ thành các làng xóm nhỏ ở phía Đông

và Tây đảo, kinh tế chủ yếu của họ là khai thác biển đánh bắt cá và bắt các loạinhuyễn thể hải sản ở ven đảo Dấu ấn còn lại những làng cổ của cư dân Chămpa

là các giếng nước Dân gian gọi là giếng Bộng, xuất hiện rải rác ở Đông và Tâyđảo Đó là giếng ở xóm Trung Yên, nằm trước mặt dinh Thần Yana, cách miếuCon Bò khoảng 100m Giếng này khi xưa có miệng hình vuông sau đó dânchúng trong làng tu sửa thành hình tròn Đáy giếng có lát gỗ, nước mạch nhiều,ngọt và trong, cung cấp nước ăn uống cho dân chúng trong xóm và bộ đội ởdoanh trại gần đó Giếng Xó La nằm ở thôn Đông Lý Vĩnh phía chân thềm củanúi Hòn Vung Giếng được dân gian tương truyền là giếng của Vua Gia Longđào, tuy nhiên theo khảo sát nghiên cứu của chúng tôi đây là giếng của cư dânChămpa Căn cứ vào tên gọi “Xó La” là từ cổ không có trong tiếng Việt, mà cóthể phiên âm từ một từ gốc nào đó thuộc ngôn ngữ Malayopolynesions (giốngnhư từ “Cù lao” phiên âm của từ “Poulo” trong ngôn ngữ Malaypolynesions cónghĩa là đảo) Giếng Xó La xưa kia có lát gỗở đáy giếng, thành giếng xây bằngcác loại San hô chết Đến giai đoạn hiện nay giếng Xó La đã được xây dựnghoàn toàn mới Giếng Xó La cách biển chừng 3m song không bị nhiễm mặn,giếng có mạch ngầm rất lớn, trong và ngọt, đặc điểm này của giếng rất giốnggiếng Chàm ở vùng Thạnh Đức (Đức Phổ) và một số nơi ở Quảng Nam Tên gọigiếng Gia Long ra đời có thể lúc kinh thành Huế bị quân Tây Sơn chiếm,Nguyễn Ánh dong thuyền theo đường biển chạy về phương Nam, đã ghé lại CùLao Ré và sử dụng nước giếng này Hiện nay giếng Xó La cung cấp lượng nướcthường xuyên cho dân chúng vào muà hè khô hạn Đợt khảo sát năm 1997,chúng tôi chứng kiến một vài người gánh nước giếng Xó La đem bán cho nhữnggia đình ở xa không có điều kiện lấy nước Giếng Xó La nằm ở vị trí vũng eophía Nam đảo là vùng nước lặng để có thể neo đậu thuyền bè, do vậy thuyềnbuồm của đường mậu dịch trên biển xưa kia có thể neo đậu tại bến nước này đểlấy nước ngọt Ngoài ra ở Lý Sơn còn một số giếng Bộng khác nằm ở phía xã

Lý Vĩnh và Lý Hải

Giếng của cư dân Chămpa ở Quảng Ngãi có đặc trưng là giếng xây dựng bằng

đá, có dạng hình vuông, đáy giếng lát gỗ qúy, không mục nát dùng để làm chomạch nước trở nên trong và tốt, cư dân Chămpa có kỹ thuật đào giếng đạt trình

độ rất cao, dựa vào địa hình, địa vật mà họ đoán định mạch nước ngầm rất chínhxác Chính vì vậy các giếng Chàm không bao giờ cạn trong mùa hè, hoặc không

bị nhiễm mặn khi đào sát nước biển Thưc tế một làng chỉ có từ một đến hai

Trang 32

giếng Như vậy từ loại hình giếng có thể thấy rằng làng xóm của cư dânChampa qui tụ trên đảo khá đông.

Trong sinh hoạt tín ngưỡng, cư dân Champa trên đảo theo Hindu giáo, di tíchcòn lại là đền Con Bo (còn gọi là miếu Bà Lồi ), đền Thiên Yana và chùa Hang.Đền Con Bò là gọi theo tên dân gian trong vùng vì ở ngôi đền này còn lại con

bò đeo lục lạc nằm trên bệ đá (hiện nay đã mất) Có thể đó là bò thần NanDinvật cưỡi của thần Vishnu nên có thể ngôi đền này thờ thần Vishnu Ngôi đềnnằm dưới tán cây si cổ thụ thuộc xóm Trung Yên, xã Lý Hải, vị trí cách đềnThiên Yana 200m về hướng nam Hiện nay ngôi đền chỉ là phế tích, còn lại vài

bệ thờ bằng đá xanh được đẽo vuông vắn, không tìm thấy dấu tích tượng thờ.Ngôi đền này có qui mô nhỏ diện tích khoảng 400m2 xây dựng bằng đá san hôtheo kỹ thuật chồng xếp Thuở xưa ngôi đền thờ này là nơi hành lễ của cư dânChampa theo Hindu giáo sinh sống trên đảo

Địa điểm chùa Hang nằm ở bờ biển phía bắc đảo Lý Sơn, đây là hang đá tựnhiên nằm ở dưới chân núi Thái Lới, mặt hang quay ra biển Trong tài liệu

“Inventaire descriptif des monument Cams de L’AnNam” (Danh mục khảo tảcác ngôi đền Chàm ở An Nam), H.Parmentier đã đề cập đến địa điểm chùaHang Theo H Parmentier trong lòng hang đá có các bệ đá đặt các tượng đáChampa Tài liệu này xuất bản năm 1924 tại Paris và H.Parmentier liệt chùaHang là một điểm di tích trong hệ thống các đền chàm ở miền Trung Việt Nam.Đến thập niên 60, 70 vẫn còn có nhiều người thấy các tượng đá này song hiệnnay đã không còn nữa Như vậy, chùa Hang trước đó là một ngôi đền Champa,đến thế kỷ 17 trở đi người Việt đã tiếp thu nó để ẩn trú khi có giặc Tàu Ô đến vàlập nên 1 ngôi chùa thờ Phật Truyền thuyết dân gian ở Lý Sơn nói về ông TrầnCông Châu, Trần Công Tiềm tu tập tại chùa Hang (1) có thể lấy nón làm thuyền

để đi hay “rấm đậu thành binh” Hình ảnh này giống như những thiền sư tu theoMật Tông hoặc rất gần gũi với các tu sĩ Ấn Độ giáo tu luyện đơn độc mà “Chỉ cóthần linh và thú dữ mới dám sống một mình (Kinh Upanishad) Thực tế kiểu tuluyện này của các vị tu sĩ Champa theo Ấn giáo rất được ngợi ca và điều đó đãthể hiện trên đài thờ của tháp Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VIII-IX) Hiện nay bài vị cácông Trần Công Châu, Trần Công Tiềm thờ trong chùa Hang Như vậy dựa trên

tư liệu của H.Parmentier và di tích còn lại thì chùa Hang vốn trước đó là mộtngôi đền Champa trong hang đá

Dấu tích đến nay vẫn còn đó là các bệ đá xanh vuông vắn dùng để đặt cáctượng thờ còn lưu lại trong hang Thập niên giữa thế kỷ 20, hang đá được cácnhà sư của phái Phật giáo Việt Nam thống nhất tu tập sửa sang trở thành mộtngôi chùa và đặt tên là Thiên Khổng Thạch Tự (chùa đá trời xây) Tên chùađược khắc cùng với biểu tượng Phật Sơ Sinh trên vách đá mặt tiền của hang.Các hàng rào thấp, trụ biểu ở cửa hang, tượng phật Tam Thế trong chính điệncũng được lập nên trong thời gian này Trong dân gian gắn liền hai từ “hang” và

“chùa” và tên gọi chùa Hang được ra đời từ đó

1()- Chúng tôi đề cập cụ thể ở phần khảo tả nghiên cứu về chùa Hang ở phần sau.

32

Trang 33

Tại Lý Sơn có hai dinh thờ Thiên Yana tại thôn Đông xã Lý Vĩnh và thônTrung Yên xã Lý Hải “Thiên Yana” được phiên âm từ Pô I Nưnaga là vị thần xứ

sở của Champa.Hiện nay còn lại ngôi tháp lớn thờ phụng tại Nha Trang (KhánhHòa) gọi là tháp Pônaga Trước đây trên đảo, cư dân Champa cũng có thể đã cóngôi đền thờ Pô I Nưnaga nhưng hiện nay không tìm thấy dấu tích Khi nghiêncứu dinh Thiên Yana ở Lý Hải, chúng tôi nghi ngờ rằng có thể cư dân Việt đãtiếp thu lối thờ phụng nữ thần Champa Hiện tượng thờ Thiên Yana của ngườiViệt rất phổ biến ở miền Trung Tại Lý Sơn người Việt nhằm thể hiện lòng kínhngưỡng vị nữ thần họ đã xây dựng nên kiến trúc qui mô để thờ phụng nhằm cầumong sự bình an và thịnh vượng

II- SỰ XÁC LẬP VĂN HÓA VIỆT TRÊN ĐẢO LÝ SƠN:

- Lớp di dân vào năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào Nam xây dựng thế lực cát

cứ, bình định mở mang vùng đất phương Nam

Đây là 3 cuộc di dân chính do Nhà nước tổ chức, ngoài ra hẳn đã có nhữngcuộc di cư tự do của nông dân miền bắc ở thời Trần hay thời loạn lạc Nam Bắctriều Đặc biệt theo như Lịch triều hiến chương Loại chí, năm 1474 chính quyềnnhà Lê quyết định lấy vùng hoang địa ở phủ Thăng Hoa và phủ Tư Nghĩa làmnơi đày các tội đồ

Theo như Quảng Ngãi tỉnh chí, thì quá trình khai phá của người Việt trênvùng đất mới ở thời Lê theo chính sách “ngụ binh ư nông” quan binh dẫn vợ contheo; sau khi dẹp giặc xong thì ở lại làm nhà cửa khai khẩn đất hoang lập doanhđiền Hiện nay sự quần cư của từng dòng họ theo đơn vị làng hoặc từng nhóm ởnông thôn là dấu vết còn lại của thời kỳ khẩn hoang sôi động của người Việt ởQuảng Ngãi

Như vậy sự di dân của người Việt đến khẩn hoang vùng đất Quảng Ngãi giaiđoạn thế kỷ XIV-XVII gồm hai dạng:

- Dân di cư là nông dân “có tính mạo nguy hiểm lìa quê hương đất tổ màquyết đem thân gửi nơi rừng rậm”, đi di dân tự do hoặc theo sự kêu gọi của nhànước và di dân là quan binh “đã từng trải đầu tên mũi đạn, tắm gội gian nan”,hai loại di dân này “chịu cực khổ đem chí kinh doanh mở rộng ruộng đất, đắp aođầm, phát rừng rú làm nhà cửa tụ tập thành làng” (Quảng Ngãi tỉnh chí, trang31) Thực sự đến thời các chúa Nguyễn ở thế kỷ XVII nông nghiệp Quảng Ngãi

đã phát triển thịnh vượng Đại Nam Chính Biên liệt truyện có chép thời bấy giờ

Trang 34

ở Quảng Ngãi đã có 2 nơi được gọi là tiểu Đồng Nai đó là làng Phú Xuân ở BìnhSơn và làng Phú Khương ở Chương Nghĩa.

Thực tế công cuộc khẩn hoang ở Quảng Ngãi vào cuối thế kỷ 16 sang đầu thế

kỷ XVII đã đi vào ổn định, dải đất hẹp ven biển miền Trung này không còn chỗcho người đến sau và do vậy có những lớp di dân tiếp tục từ Quảng Ngãi tiếnsâu hơn vào vùng đất phía Nam để khai phá Đồng thời cũng trong thời gian nàymột bộ phận người Việt đã đi ghe ra chiếm lĩnh khai khẩn đảo Lý Sơn.Theo tàiliệu gia phả cả các dòng họ trên đảo thì đã có 15 vị tiền hiền của các dòng họ, từhai làng An Hải và An Vĩnh (vùng cửa Sa Kỳ thuộc phủ Bình Sơn) đã đi thuyền

ra đảo khai khẩn lập làng Trong “Non nước xứ Quảng” của Phạm Trung Việt đãnêu thời điểm khai khẩn của người Việt trên đảo Lý Sơn là 1604, dưới triều vua

Lê Kính Tông (1600-1619)

Người Việt khai khẩn đảo Lý Sơn lập nên 2 làng, đó là An Vĩnh và An Hải, vềmặt hành chính thời các chúa Nguyễn gọi là phường, cách gọi này tồn tại chođến thời triều Nguyễn Làng An Vĩnh tập trung 7 dòng họ khai khẩn gồm: PhạmKhắc, Phạm Quang, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Võ Xuân, Đặng: được gọi là 7 vị tiềnhiền Tuy nhiên sau này vì lý do nào đó ở đình làng đã không có ngôi vị tiềnhiền của họ Đặng Làng An Hải nằm ở phía đông đảo là nơi khai khẩn lập làngcủa các dòng họ Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, NguyễnVăn, Lê Sau đó cũng như An Vĩnh, làng An Hải không có ngôi vị tiền hiền của

họ Lê, đến nay đình làng Lý Hải chỉ còn thờ thất tộc tiền hiền

Thời các Chuá Nguyễn đã đặt chính quyền phong kiến địa phương gồm Lýtrưởng và Ngũ hương để cai quản và thu thuế, sưu dịch Song song tồn tại vớichính quyền phong kiến có thiết chế tự quản của làng được cơ cấu theo mô hìnhlàng cổ truyền của vùng đồng bằng Bắc bộ Làng người Việt trên đảo Lý Sơnbao gồm hai dạng làng nông nghiệp và làng chài gọi là Vạn, hai thiết chế tựquản truyền thống này tồn tại song song theo hai nền tảng kinh tế: Kinh tế nôngnghiệp trồng hoa màu và kinh tế ngư nghiệp khai thác biển Mặc dù không gian

Lý Sơn là biển đảo song làng nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo Truyềnthống đó vẫn tồn tại cho đến hiện nay, theo số liệu điều tra mới đây có đến 85%dân số làm nông nghiệp là chính Chính từ nguyên do đó vai trò của ông Cả,người đứng đầu trong làng nông nghiệp vượt trội hẳn so với vai trò chủ Vạn,người đứng đầu làng chài Vạn phụ thuộc vào làng; vị trí chủ vạn thấp kém hơn

vị trí chủ làng Chính quyền phong kiến địa phương, Lý trưởng và Ngũ hươngphải tham gia cùng ông Cả làng trong việc tế tự thần linh ở đình làng Vai tròthần quyền của ông Cả làng vô cùng lớn và quan trọng, ở đó Cả làng đứng vị tríchủ tế, Lý trưởng và Hương bộ đứng ở vị trí bồi tế Đồng thời trong việc đảmbảo sự ổn định trật tự trong làng, phân xử những vụ tranh chấp thưa kiện, chínhquyền phối hợp cùng ông Cả làng để xử Qua nghiên cứu hai làng Lý Vĩnh và

Lý Hải (xưa gọi là phường An Vĩnh và phường An Hải), chúng tôi nhận thấythiết chế cộng đồng làng được tổ chức và phân công theo mô hình sau (Bảng 1)

34

Trang 35

CHỨC VỤ TẾ TỰ Ý NGHĨA

Cả Làng

+ Tế tự ở đình làng+ Tế ở Đền Hội đồng+ Tế ở Đền Thần Nông+ Tế ở Đền Sơn Thần

+ Cầu mùa, cầu an cholàng

Chủ xóm + Tế tự ở dinh + Cầu mùa, cầu an

Chủ Lân

(Chòm)

+ Tế tự ở Miếu+ Tế tự ở Nghĩa Từ

+ Cầu mùa, cầu an

Tộc trưởng

Các tộc tiền hiền

+ Tế tiền hiền ở đình+ Tế tự ở nhà thờ

+ Tri Ân tổ tiên, cầu an

Ngoài ra mỗi làng có một thầy phù thủy có ấn chú bùa phép, cúng tế âm binhbắt quyết trừ tà.Vai trò của thầy phù thủy khá quan trọng đảm trách trừ tà chocác gia đình và làng xóm cùng các vạn chài Phù thuỷ là nghề cha truyền connối

Trong làng có một vài người được cử ra làm trùm giáp, thủ khoán cho làng vàcho xóm Làng có trích ruộng đất công cho các chức vụ này, đồng thời cho phéphưởng các lợi tức từ nguồn lợi biển, chẳng hạn nguồn lợi cá trích

Cả làng là người đứng đầu trong một làng, đóng vai trò chính trong tế tự củalàng, đồng thời là người đứng ra phân xử các vụ việc trong làng trên cơ sởhương ước Cả làng là người rất được dân làng kính trọng, thường gọi là “ÔngCả” Cả làng là chức vụ do dân làng đề cử, nhiệm kỳ 4 năm Người được chọnlàm Cả làng, thường là: “Gia tư sở hữu, bút toán sở thông” như câu truyềnmiệng của dân gian, có nghĩa là người làm Cả làng phải có nhà cửa tài sản, làngười có học Tiêu chuẩn để chọn Cả làng bao gồm 3 điểm căn bản

+ Cả làng phải là người trước đó đã làm hương chức trong làng Trường hợpnày thường rơi vào các vị lý trưởng và ngũ hương có uy tín sau khi thôi việcNhà nước được dân làng bầu chọn làm Cả làng

+ Cả làng là người có tài sản giàu có, nhà cửa to lớn rộng rãi Tiêu chuẩn nàyhoàn toàn không mang tính thực dụng hoặc trọng người giàu có của dân làng màbắt nguồn từ hai lý do:

- Các đạo sắc của làng được bảo quản ở nhà cả làng, cuối năm các đạo sắcthần được rước đưa về đình làng để tế lễ, gọi là lễ rước sắc thần Kết thúc Tếtnguyên đán, đạo sắc được rước từ đình làng đưa về lại nhà Cả làng, gọi là lễ ansắc thần Do đó nhà của Cả làng phải là nhà đắp kiên cố tránh được hỏa hoạnnhằm bảo quản tốt cho các đạo sắc

- Các ngày lễ tết, lý trưởng và ngũ hương đến nhà Cả làng để lạy sắc thần, dovậy cả làng phải có tiệc rượu tiếp đãi Thực tế nếu người có kinh tế không đủtiềm lực thì khó có thể kham nổi chức vị Cả làng

+ Cả làng là người thông thạo chữ Hán, giàu kinh nghiệm hiểu rộng biếtnhiều nhằm để giải quyết tốt công việc tế tự và các công việc chung khác củalàng

Trang 36

Thực tế chức Cả làng chẳng đem lại quyền lợi gì cho người giữ chức vị đó,duy nhất điều ông Cả làng mong đạt đến là được mọi người trong làng kínhtrọng, đến khi chết được vinh dự đưa ma trong tiếng trống chầu Trong làng vinh

dự đưa ma có trống chầu chỉ có ở chức vị: Cả làng, chủ xóm, chủ lân.Mọi thànhviên khác trong làng kể cả Lý Trưởng, Ngũ hương cũng không có được vinh dự

đó Đây là vinh dự lớn vì vậy dân gian có câu “Ăn cơm không rau như nhà giàu

chết không trống”.

Vai trò thần quyền của chức vụ Cả làng thực sự vô cùng lớn lao, ông ta làngười đại diện cho tất cả mọi ý muốn khát vọng của dân làng Cả làng đóng vaitrò trung gian giữa dân làng và thần linh là vị chủ tế trong mọi cuộc lễ tế Cảlàng cầu khẩn với thần linh đem lại mưa thuận gió hòa, cho dân làng được mùa,trong làng không xảy ra tai ương dịch bệnh

Trong chu kỳ một năm, Cả làng đứng ra chủ trì nhiều nghi lễ:

Tối mùng 3 tết nguyên đán, vào khoảng đầu giờ Hợi, ông Cả cùng các vị tâncựu hương chức và các vị chủ xóm tề tựu ở đình làng làm lễ tế động thổ Lễ vậtdâng hiến cho thần gồm có trầu cau và gà Trong nghi lễ cúng động thổ, ông Cảlàng làm chủ tế, Lý trưởng và Hương Bộ làm bồi tế, điển nghi xướng lễ và điển

lễ đọc văn tế Sau lễ cúng dâng thần, ông Cả làng hỏi thầy phù thủy hướng đạilợi, may mắn và ông Cả xúc đất bỏ về hướng thầy phù thủy chỉ dẫn Chẳng hạnthầy phù thủy cho biết trong năm tới hướng đại lợi là đông tây thì ông Cả làngxúc đất từ bên đông đổ qua bên tây; đại lợi là nam bắc thì xúc đất từ phía nam

đổ về phía bắc

Đến sáng mồng 4 tết, ông Cả làng cùng các vị Lý Hương làm lễ cáo thần ởtrong đình và rước thần sắc để vào trong Long đình, sau đó khiêng ra nhà trò.Nhà trò xây dựng ở phía trước đình mục đích cho thần ở chứng kiến sự vui chơitrong ba ngày tết của dân làng Giữa nhà trò đặt Long đình, hai bên nhà trò cắm

cờ ngũ hành Ông Cả làng quỳ bên ngoài nhà trò dâng hương cúng thần, trong lễ

có điển nghi đọc văn tế

Sau nghi lễ cung nghinh thần ở nhà trò, dân làng khởi sự vui chơi các hội hènhư: Đua ghe, Sới vật, dồi bóng Trong các trò chơi hội hè này, vai trò của ông

Cả làng thật sự quan trọng, là vị trọng tài phân xử thắng thua hoặc phạt vạnhững người có hành động xúc phạm thần linh Ông Cả làng xem xét kỹ lưỡngdiễn biến của các trò chơi để phán xử Ví như trong lễ hội đua ghe; các ghe bơitrước khi đua phải quay hướng chầu vào nhà trò nếu như vi phạm bị xem nhưxúc phạm thần linh Tất cả các ghe đua phải so đều nhau đợi tiếng trống của ông

Cả làng gióng lên mới quay đầu ngược lại và bơi, nếu ghe bơi sớm hơn tiếng

36

Trang 37

trống thì sẽ xem như là thua Trong trò chơi Sới Vật, ông Cả làng hướng dẫn chocác đô vật làm lễ bái các vị tiền hiền ở bên trong đình, sau đó ông Cả đóng vaitrò là trọng tài trong cuộc đấu vật Mỗi đô vật đại diện cho mỗi xóm và ngườiquyết định thắng thua là cả làng Trò chơi cuối cùng của ngày tết là hội “dồibóng” diễn ra vào ngày mồng 7 Trong lễ hội này ông Cả làng tập trung các traitráng trong làng đến bến ghe của làng Bắt đầu trò chơi, ông Cả cầm quả bóngném xuống nước, trai làng bơi lội tranh nhau ai tranh được coi như phần sốngười đó sẽ gặp may mắn trong năm.

Kết thúc ngày lễ tết ở đình là lễ cúng tạ thần, Chủ tế: ông Cả làng, Bồi tế: Lýtrưởng và Phó lý Lễ vật là một con heo lớn Mục đíchn lễ cúng là tạ thần và đãidân bơi Kết thúc những ngày hội vui vẻ, dân làng tin tưởng vào năm mới với

sự khởi đầu tốt đẹp Các đạo sắc phong thần ở đình làng được rước đưa về lạinhà ông Cả làng

Trong các lễ tế khác của làng ở đình như: Thượng Nguyên (15/1), Tam HoàngNgũ Đế ( Gia Long phục nghiệp) (2/5), Trung Nguyên (15/7), Kỳ Yên (1/8), HạNguyên (15/10) đều do ông Cả làng làm chủ tế

Ông Cả làng còn thực hiện việc dàn xếp các vụ tranh chấp, các vụ việc phạmhương ước trong làng, bởi ông Cả làng là người được dân làng kính nể, tôntrọng và giao phó cho công việc này Tuy nhiên để giải quyết vụ việc, ông Cảlàng phải phối hợp với máy Lý hương và dựa trên cơ sở hương ước của làng

2 Chủ xóm:

Dưới làng là xóm, mỗi làng từ 2 đến 4 xóm Đứng đầu xóm là chủ xóm, đượcdân làng kính nể, ông ta được dân trong xóm tín nhiệm bầu lên nhiệm kỳ 4 năm.Tiêu chuẩn chủ xóm là người trước đó đã làm thư ký trong xóm ,có hiểu biếtchữ nghĩa, có đức độ và giàu kinh nghiệm Việc biết chữ là quan trọng bởi chủxóm phụ trách việc tế tự ở dinh của xóm, viết các văn tế cúng, đồng thời giúpdân chúng trong xóm viết các đơn bằng chữ Hán hoặc Nôm (xưa kia)

3 Chủ Lân:

Dưới xóm là Lân còn gọi là “Chòm”

Lân hay Chòm là danh từ dùng để chư một nhóm khoảng 40 hộ gia đình tựgiác liên kết nhau thành một chòm Mỗi lân hay chòm có một đền miếu riêng đểthờ Phụng sự việc tế tự là Chụ lân, ông ta được bầu theo chế độ dân cử, 4 nămmột lần tiêu chuẩn bầu chọn chủ lân trước đó đã làm thủ quỹ trong dân, có uy tín

Trang 38

mời dự cúng tế Thương bổn: lo vấn đề thư ký, hương dịch: lo phẩm vật tế tựcùng với chấp sự.

- Giúp việc tế tự ở xóm làng cùng chủ xóm gồm:

Tri ấp, chấp sự, trùm giáp và thủ bổn Tri ấp tướng ở vị trí bồi tế cùng chủxóm, giám sát lễ vật cúng thần Chấp sự làm nhiệm vụ mua sắm lễ vật Trùm vàgiáp là hai người có nhiệm vụ đi mời dự cúng tế và làm các thứ vặt vãnh khác.Thủ bổn làm nhiệm vụ thủ quỹ, ghi chép thu chi tiền bạc

- Giúp việc tế tự cho chủ lân (chùm) về cơ cấu cũng giống như ở xóm Thực

tế ở trong làng có 3 người làm việc có quyền lợi đất đai làng cho ai, đó là: Trùm,Giáp, Thủ khoản (Xeo)

Trùm và Giáp là người làm các việc linh tinh trong làng Nhiệm vụ của Trùm

là mời cúng bưng nước vào dịp tế tự ở làng và xóm Nhiệm vụ của giáp là gõ

mỏ, đi loa tuyên truyền thông báo trong làng và nấu nướng khi cúng tế ở làng vàxóm Để trả công, làng cắt đặt công cho Trùm và giáp mỗi người diện tích 1 sào10

Thủ khoán là người giữ gìn bảo vệ rừng, bắt giữ những người xâm phạm chặtphá Thủ khoán cũng được làng trả công bằngviệc trích cắt đất cho canh tác xeo:

là người bảo vệ nguồn cá trích khi chúng vào bờ ở các vũng bồi ven biển, đồngthời bắt giữ những người tự ý đánh bắt cá trích trước khi làng cho phép và đánhbắt các loại cá lớn ở ven bờ Khi phát hiện cá trích về, ông Xeo có nhiệm vụtheo dõi đàn cá báo cho ông cả làng biết để định thời gian đánh bắt Quyền lợi

mà làng dành cho người làm xeo là khỏi phải phân chia nguồn lợi cá cho làng

mà bản thân chài bắt được

Tộc họ: Khi người việt đến khai phá vùng đảo Cù Lao Ré họ cư trú theo khu

vực riêng của mỗi dòng họ Đến nay dấu vết tàn dư này vẫn còn tồn tại, thậm chí

có thể dễ dàng khoanh các khu vực cư trú riêng của mỗi dòng họ trên bản đồ.Thực tế ở đất liền cũng có sự cư trú này nhưng hiện nay đã dần phai nhạt không

có sự phân biệt rõ ràng như ở trên đảo Mỗi dòng họ có một chi phái riêng; đứngđầu tộc họ là tộc trưởng Các dòng họ đều có nhà thờ riêng; thậm chí có khu mộnghiã địa riêng đựơc chôn chung trong nghiã địa của làng Các gia tộc hàng nămvào tháng 3 tổ chức lễ cúng việc lề Lễ tế cúng này như giỗ họ ở đất liền Concháu trong họ tề tựu về làm lễ cúng ông bà tổ tiên, ôn lại truyền thống gia tộc,tăng cường mối tình tương thân đoàn kết Nhìn chung các dòng họ ở Lý Sơn cưtrú theo mô hình công xã láng giềng, với nhiều dòng cư trú trong một làng Giatộc và gia đình là nơi bảo lưu truyền thống, các giá trị đạo đức và văn hoá; tronggiai đoạn hiện nay cần phải gìn giữ vàphát huy các mặt tích cực và tốt đẹp.(Xem bảng 2 & 3)

38

Trang 39

Do chủ xĩm tế tự

Lân Đơng Thạnh thờ Thiên Yana Chủ Lân tế

Lân Thái Hịa Thờ bà Chúa Ngũ Hành Chủ Lân tế

Xĩm Trung Hịa (Ghe lân) Dinh bà Thủy Long Chủ xĩm tế tự

Xĩm Trung Yên (Ghe Qui) Dinh bà chúa Ngọc (Thiên Y A Na) Chủ xĩm tế tự

Tộc họ Tơn trưởng

tế tự ở nhà thờ tộc

Gia đình các thành viên

-nt-

-nt nt-

-nt-Lân Đơng Hải

- Thờ Cá Ơng Nam Hải

- Chủ nhân và chủ vạn đồng tế

-nt-Xĩm Tây (Ghe phụng Dinh Tam Tịa (Thái giám bạch mã, chủ xĩm tế tự)

Lân chủ Thơ Chủ Lân tế tự ở miếu chủ Thơ (Thành Hồng)

Trang 40

Lân ghe lân Lân Vĩnh Hòa – Xóm Ốc Chủ Lân tế thiên Y A Na, Hồng Nương và bà chúa Ngũ Hành (Tế Chính)

-nt-thành viên

XÓM TÂY

Lân ghe Quy Lân Vĩnh Lợi Chủ Lân tế ở Âm linh

tự Tế: chúa chưởng, Hòa ôn, Tam vị thần tiên, cô hiền

Lân Vĩnh Thành Chủ Lân thờ thành Hoàng ông Võ Văn Khiết + Bạch nữ thái giám + thổ địa

40

Ngày đăng: 19/03/2020, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w