1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài phát biểu sâu sắc về WTO của Giảng Viên ĐH QGHN

40 3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Phát Biểu Sâu Sắc Về WTO Của Giảng Viên ĐH QGHN
Tác giả Phạm Văn Kim
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Thể loại tọa đàm
Năm xuất bản 1995
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 430 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi Viêt Nam gia nhập WTO, những cơ hội, thách thức có thể có.

Trang 1

Tọa đàm :“WTO – cơ hội, thách thức và

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO-World Trade

Organization ), được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ

chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)

GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2 trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, mà điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiếtcác lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn

chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc.

Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch,

mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn

Trang 2

việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên

Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được

Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000

ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948.

Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu

về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ Hiệp uruguay (1986- 1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập chung xây dựng các Hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề

về hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại,

về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại

đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp.

Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Marốc), kết thúc Hiệp định uruguay, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế

tục và phát triển sự nghiệp của GATT Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc

và đi vào hoạt động từ 1/1/1995

Trang 3

Chức năng

WTO có các chức năng sau:

 Quản lý việc thực hiện các hiệp ước của WTO

 Diễn đàn đàm phán về thương mại

 Giải quyết các tranh chấp về thương mại

 Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia

 Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát

là nó khuyến khích nỗ lực tìm ra một quyết định khả dĩ nhất được tất cả các thành viên chấp nhận Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực để có được một quyết định đồng thuận Đồng thời, nó dẫn đến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối với những vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiều khó khăn.

Trên thực tế, đàm phán của WTO diễn ra không phải qua sự nhất trí của tất cả các thành viên, mà qua một quá trình đàm phán không chính thức giữa những nhóm nước Những cuộc đàm phán như vậy thường được gọi là "đàm phán trong

phòng Xanh" (tiếng Anh: "Green Room" negotiations), lấy theo

màu của phòng làm việc của Tổng giám đốc WTO tại

Geneva , Thụy Sỹ Chúng còn được gọi là "Hội nghị Bộ

trưởng thu hẹp" (Mini-Ministerials) khi chúng diễn ra ở các

nước khác Quá trình này thường bị nhiều nước đang phát triển chỉ trích vì họ hoàn toàn phải đứng ngoài các cuộc đàm phán như vậy.

Trang 4

Richard Steinberg ( 2002 ) lập luận rằng mặc dù mô hình đồng thuận của WTO đem lại vị thế đàm phán ban đầu dựa trên nền tảng luật lệ, các vòng đàm phán thương mại kết thúc thông qua vị thế đàm phán dựa trên nền tảng sức mạnh có lợi cho

Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ , và có thể không đem đến sự cải thiện Pareto Thất bại nổi tiếng nhất và cũng gần đây nhất trong việc đạt được một sự đồng thuận là tại các Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ở Seattle ( 1999 ) và Cancún ( 2003 ) do một số nước đang phát triển không chấp thuận các đề xuất được đưa ra.

WTO bắt đầu tiến hành vòng đàm phán hiện tại, Vòng đàm phán Doha , tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 4 diễn ra tại Doha ,

Qatar vào tháng 11 năm 2001 Các cuộc đàm phán diễn ra căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm phán vẫn đang tiếp diễn qua suốt Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 tại

Cancún , Mexico vào năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ

6 tại Hồng Kông từ ngày 13 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12

năm 2005

Giải quyết tranh chấp

Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc áp dụng quy định của WTO Không giống như các tổ chức quốc tế khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các

quyết định của mình thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên không tuân thủ theo phán quyết của WTO Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác đã vi phạm quy định của WTO

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải

Trang 5

quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 chuyên gia trong lĩnh vực

thương mại liên quan Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của của các bên và soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của ban hội thẩm Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung phán

quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lên Cơ quan phúc thẩm Cơ quan này sẽ xem xét đơn

khiếu nại và có phán quyết liên quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình Phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải quyết Tranh chấp Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng Giải quyết Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên

quan).

Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa" (trừng phạt thương mại) Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng được áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu Ngược lại, ý

nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh

tế mạnh hơn, chẳng hạn như trong tranh chấp mang mã số DS

267 về trợ cấp bông trái phép của Hoa Kỳ.

Cơ cấu tổ chức

Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy ban của WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp và các ủy ban đặc thù.

Trang 6

Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng

Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một lần Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng đồng châu Âu ) Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO.

Cấp thứ hai: Đại Hội đồng

Công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại Hội đồng, Hội đồng Giải quyết Tranh chấp và Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại Tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.

1 Đại Hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO

tại Geneva, được nhóm họp thường xuyên Đại Hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất

cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO

2 Hội đồng Giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để xem

xét và phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương)

3 Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại được nhóm

họp để thực hiện việc rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thương mại

Trang 7

Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đối với những thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.

Cấp thứ ba: Các Hội đồng Thương mại

Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng Có ba Hội đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại Mội hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng Cũng tương

tự như Đại Hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất

cả các nước thành viên WTO Bên cạnh ba hội đồng này còn

có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản lý khác Đáng chú ý là trong số này có Nhóm Công tác về việc Gia nhập chịu trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO.

1 Hội đồng Thương mại Hàng hóa chịu trách nhiệm đối

với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa

2 Hội đồng Thương mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với

các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ

3 Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ

liên quan đến Thương mại chịu trách nhiệm đối với các

hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại

(TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ

Trang 8

Cấp thứ tư: Các Ủy ban và Cơ quan

Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt.

1 Dưới Hội đồng Thương mại Hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm công tác, và 1 ủy ban đặc thù

2 Dưới Hội đồng Thương mại Dịch vụ là 2 ủy ban, 2 nhóm công tác, và 2 ủy ban đặc thù

3 Dưới Hội đồng Giải quyết Tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm

Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha , WTO đã thành lập Ủy ban Đàm phán Thương mại trực thuộc Đại Hội đồng để thức đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.

Các nguyên tắc

Không phân biệt đối xử:

1 Đãi ngộ quốc gia: Không được đối xử với hàng hóa

và dịch vụ nước ngoài cũng như những người kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức độ đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tương tự trong nước

2 Đãi ngộ tối huệ quốc : Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO

Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán

Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: Các quy

định và quy chế thương mại phải được công bố công khai

và thực hiện một cách ổn định

Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: Giành những

thuận lợi và ưu đãi hơn cho các thành viên là các quốc gia đang pháp triển trong khuôn khổ các chế định của WTO

Trang 9

Các hiệp định

Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc

Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại

Marrakesh , Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994 Bốn phụ lục đó bao gồm các hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên, các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn

đề không đạt được đồng thuận tại diễn đàn chung Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê

chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận

tự nguyện Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO:

 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994

(GATT 1994)

 Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)

 Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS)

 Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến

Thương mại (TRIMS)

 Hiệp định về Nông nghiệp (AoA)

 Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC)

 Hiệp định về Chống bán Phá giá

 Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp

 Hiệp định về Tự vệ

 Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu

 Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS)

 Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại

(TBT)

 Hiệp định về Định giá Hải quan

 Hiệp định về Kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển

 Hiệp định về Xuất xứ Hàng hóa (ROO)

Trang 10

 Thỏa thuận về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp

Thànhviên

Đến ngày 7 tháng 11 năm 2006, WTO có 150 thành viên

Việt Nam [1] là thành viên mới nhất của WTO

Trang 11

1995

 Ả Rập Saudi - 11 tháng 12

2005

Trang 14

Quốc hội Việt Nam sẽ xem xét, thảo luận việc Việt Nam gia nhập WTO 30 ngày sau khi WTO nhận được quyết định phê chuẩn của Quốc hội Việt Nam, VN sẽ trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức này

Ph

ầ n 2 C

ơ h ộ i và nh ữ ng thách th ứ c c ủ a Vi ệ t nam khi gia nh ậ p

WTO và hành đ ộng của chúng ta

Trước hết phải trả lời câu hỏi VN gia nhập WTO

để làm gì?

Trang 15

Vào làm chi?

Một nước muốn phát triển thì phải gia tăng mức sản xuất về hàng hóa

và dịch vụ để ai cũng có công ăn việc làm, đồng lương khấm khá, cómua có sắm, có để dành cho con cháu

Muốn vậy phải trao đổi hàng hóa và dịch vụ của mình với các nướckhác; mua nguyên liệu của họ, bán sản phẩm của mình hay ngược lại.Nếu khi mình phải mua bán như thế mà bị 1, 2 nước nào đó ách lại; chỉcho hàng mình nhập vào họ theo hạn ngạch, hay phải có giấy phép khinhập khi xuất, hay đánh thuế quan cao (các biện pháp bảo hộ mậudịch) thì việc thương mại sẽ bị kẹt

WTO hiện có 149 nước hội viên, họ mua bán với nhau theo các nguyêntắc tối huệ quốc, đối xử quốc gia mà mình cứ đứng ngoài thì sẽ bị bỏrơi về mặc kinh tế và phát triển Do vậy khi nền kinh tế của quốc giaphát triển đến mức nào đó thì phải gia nhập để được chơi chung

Phải làm gì?

Là hội viên của WTO, chính phủ ta phải 2 việc: tiếp tục các chính sáchkinh tế mà dù có là thành viên hay không vẫn phải làm; xin gọi là chínhsách cơ bản: thứ nữa, phải thực hiện một số công tác mới trong tư cáchhội viên của WTO; đó là chính sách đáp ứng Hai công tác này hỗ trợnhau, cái sau thúc đẩy cái trước và cái trước tạo điều kiện cho cái sau

Doanh nghiệp làm chi?

Dùng hình ảnh biển ở Vũng Tàu để chỉ 149 nước trong WTO, VN ta làsông Sài Gòn và DN là các loại thuyền bè đi lại trên sông Sài Gòn Cácdoanh nghiệp của ta đang làm ăn thì chính phủ ta khai rộng bờ và đàosông sâu, theo yêu cầu của WTO, khiến nước từ biển ùa vào; sông hòavới biển Trong tình cảnh này, các DN thấy bị “sóng đánh” từ 4 phía:

- Do việc chính phủ tạo dẹp bớt rào cản, thị trường bớt rào cản, một môitrường kinh doanh cạnh tranh mở ra cho mọi DN; hàng hóa và dịch vụ

từ các nước ngoài ùa vào và doanh nhân thấy hàng hóa của mình bịcạnh tranh khốc liệt, liên tục gỉam giá, tăng mức chiết khấu, kéo dàikhuyến mãi mà bán mãi chưa hết, thu tiền về khó hơn trước Đó là tácđộng của cạnh tranh

- Do việc các nước khác mở cửa thị trường của họ cho mình, mức thuếquan thấp, bỏ hạn ngạch cho hàng của mình bán sang bên đó; lấyngoại tệ về; thu lời lãi để tái đầu tư mở rộng Tác động gia tăng xuấtkhẩu

Trang 16

- Do chuyện đầu tư nước ngoài bây giờ không còn phải trả tiền thuê đấtcao hơn, tiền trả cho điện nước cũng không khác gì với giá dành cho

DN trong nước nên DN thấy có các DN của người nước ngoài xuấthiện, biến mình thành nhà cung cấp hay mua hàng của họ, hay hàngcủa họ cạnh tranh với hàng mình Tác động của sự sầm uất

- Cuối cùng, một ngày nào đó trong mội trường cạnh tranh và bình đẳngbỗng thấy nhãn hiệu hàng hóa của mình đã đăng ký bị người khác bắtchước hay bỗng nhiên thấy hàng mình đang bán bị quản lý thị trườngách lại vì có ai thưa mình vi phạm nhãn hiệu hàng hóa của họ hay bắtchước kiểu dáng của họ Tác động về tăm tiếng

Trong từng tác động một DN sẽ phải hành động khác nhau Tuy nhiên,điểm đáng lưu ý sau khi gia nhập WTO là bây giờ các DN phải đóng vaitrò chính; chính quyền chỉ hỗ trợ ; không thể bao biện hay quản lý nhưtrước

Còn DN phải tự chống chỏi và chính quyền chỉ còn - và bị luật WTObuộc - đứng ngoài việc đi lại của các con tàu Nhiệm vụ của chínhquyền bây giờ là giữ cho lòng sông sâu, giữ cho bờ sông rộng; tạo choluồn gió thổi trên cả dòng sông; nghĩa là bảo đảm cho môi trường kinhdoanh phân minh, bình đẳng cho tất cả tàu thuyền Hoàn cảnh kinh tếmới của chúng ta là như thế Gia nhập WTO có ý nghĩa như vậy

Căng thẳng trong đàm phán

Thứ trưởng Lương Văn Tự cho biết, đàm phán gia nhập WTO, mộttrong những nguyên tắc khó khăn nhất chúng ta phải vượt qua là đểcác nước hiểu thực tế VN và công nhận VN là nước đang phát triển ởtrình độ thấp và nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi

Nhưng có một nghịch lý là mặc dầu VN có mức thu nhập bình quân đầungười chưa đầy 1.000 USD/năm và theo quy định của WTO nhữngnước kém phát triển là nước có thu nhập dưới 1.000 USD song VNkhông được xếp vào nước kém phát triển vì Liên hợp quốc công nhận

VN là nước đang phát triển (khi xem xét có cộng thêm các tiêu chí về y

tế, văn hóa, giáo dục) Về kinh tế thu nhập chúng ta thấp vì vậy chúng

ta phải thương lượng để được công nhận ở trình độ thấp

Cuối cùng chúng ta cũng được công nhận là một nước đang phát triển

ở trình độ thấp, đang trong quá trình chuyển đổi Điều này rất quantrọng vì chúng ta đã được WTO chấp thuận một thời gian chuyển đổikhi thực hiện một số cam kết WTO trong vấn đề thuế TTĐB, trợ cấp phinông nghiệp, quyền kinh doanh

Trang 17

Chúng ta đã thương lượng được nguyên tắc cơ bản nhưng khi vào đàmphán song phương với các nước, trên từng vấn đề cụ thể, VN vẫn vấpphải những yêu cầu ban đầu rất cao của đối tác do sự đánh giá cao và

tỏ ra cảnh giác với năng lực cạnh tranh của hàng hoá VN khi gia nhậpWTO

Ông Tự cho biết, VN chúng ta là một nước đất chật người đông, khiđàm phán với Australia thì thấy một hộ của họ có đến 200ha còn bìnhquân đất canh tác VN chỉ có 0,3 ha/hộ Tuy nhiên, điều khiến các đốitác lưu ý là VN lại có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu được xếphạng trên thế giới Ðây là một sự thật! Gạo chúng ta có lúc xếp thứ 2,

có lúc thứ 3 thế giới; cà phê đứng thứ 2 thế giới, tiêu số 1 thế giới, điều

số 2 thế giới, chè chúng ta có sản lượng đứng thứ 8 thế giới, hải sản,thủy sản cũng được xếp thứ 8, 9 thế giới Ðây là trường hợp rất đặcbiệt

Cho nên, trong đàm phán song phương, nhiều nước Mỹ la-tinh yêu cầuđàm phán là vì nguyên nhân này Lý lẽ của họ cho rằng, VN có mặthàng nông sản tràn ngập thị trường thế giới, làm cho các nước Mỹ la-tinh gặp khó khăn, nhất là cà phê

Về các mặt hàng thịt bò, thịt lợn là điều chúng ta lo lắng chăn nuôiđơn lẻ, chưa có theo hình thức trang trại và đây cũng chính là một nộidung đàm phán căng thẳng và khó khăn nhất là với những đối tác cónền chăn nuôi xuất khẩu thịt bò lớn

Đàm phán Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand họ đưa ra đều yêucầu giảm thuế tới 0-5% Chúng ta không đồng ý với lý lẽ bò VN phầnlớn là "bò cóc", mỗi hộ nuôi 5-10 con, năng suất thấp, sức cạnh tranhkhông cao Giống bò của Việt Nam phần lớn phải nhập khẩu, phần trợcấp của Nhà nước trong lĩnh vực này hầu như không có

Ông Tự kể, đàm phán căng thẳng ngay cả đàm phán với Hoa Kỳ vấn đềcuối cùng là đàm phán về thịt bò và thịt lợn, thuế nông nghiệp và đếnlúc thì chúng tôi cũng nói thẳng, mức 0-5% đàn bò cóc VN chết, khôngtồn tại Chúng tôi gia nhập WTO muốn để ổn định, phát triển, mở cửa,nhưng mức độ phải phù hợp với VN chứ không phải mở theo bất cứđiều kiện nào Cuối cùng, các nước cũng thấy được khó khăn của VN

và cũng phải chấp nhận, đi đến mức giảm đến 4-5% so với mức thuếhiện hành

Không có đối tác nào, vấn đề nào là đơn giản

Trang 18

28 đối tác yêu cầu đàm phán song phương là một con số khá đông, mộtkhối lượng công việc đồ sộ cần phải hoàn tất hơn thế đàm phán songphương là những cuộc đàm phán căng thẳng.

Thứ trưởng Lương Văn Tự cho biết nhiều đối tác yêu cầu đàm phánsong phương vì họ cho rằng Việt Nam là một thị trường tương lai hứahẹn, vì Việt Nam có số dân đông thứ 13 thế giới, lao động hơn 40 triệungười, lao động trẻ hơn 30 triệu người VN có vị trí thuận lợi cả trên bộ,trên biển, hàng không, là điều kiện cho phát triển thương mại sau này

Thực tế là thương mại VN những năm qua tăng liên tục nhưng tổng kimngạch xuất, nhập khẩu chưa phải là lớn lắm, xuất khẩu năm 2005 mớikhoảng hơn 30 tỷ USD Các nước cũng đồng ý với thực tế này nhưngnếu nhìn vào tương lai thì nhiều nước đòi hỏi được đàm phán

Khi chúng ta đàm phán với Trung Quốc, giữa VN - Trung Quốc đã cóHiệp định tự do thương mại trong ASEAN, nên cũng có tư tưởng đơngiản và thậm chí không cần đàm phán nữa, nhưng với Trung Quốc vẫnphải đàm phán 10 phiên, rất nhiều phiên căng thẳng, đàm phán suốtđêm

Trong đó nhiều vấn đề căng về mở du lịch, ngân hàng phụ, mở vận tảiđường bộ Đàm phán khá căng thẳng, chúng ta phải dựa vào các quyđịnh WTO để thương lượng Chúng ta thấy về vấn đề đường bộ, trongWTO chưa phát triển, hầu như chưa nước nào cam kết nên đề nghị bỏ,ngân hàng phụ thì chúng ta chấp nhận ngân hàng 100% vốn nướcngoài nhưng không thể mở theo kiểu đó được Cuối cùng, Trung Quốccũng chấp nhận

Ðặc biệt, trong quá trình đàm phán sau này với Hoa Kỳ là rất căngthẳng Hoa Kỳ và EU là các đối tác lớn nhất trong WTO cả về hàng hóa

và dịch vụ Những đối tác này đàm phán không phải vì lợi ích của Hoa

Kỳ và EU mà vì lợi ích của cả Tổ chức Thương mại thế giới, nên yêucầu đàm phán rộng hơn, sâu và đa dạng hơn Ðàm phán như vậy rấtphức tạp

Chúng ta cho rằng xong đàm phán song phương (BTA) thì sẽ gần xongviệc gia nhập WTO nhưng trên thực chất, có một số vấn đề rất lớn chưagiải quyết được, như hàng dệt may Việt Nam còn hạn ngạch Mặt khácchúng ta vẫn còn bị luật Jackson Vanik hằng năm Quốc hội Hoa Kỳ giahạn một lần về cơ chế thương mại và chúng ta chưa được hưởng quychế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR)

Đàm phán với Mỹ phiên cuối cùng là căng thẳng nhất, kéo dài 4 ngày 3đêm để giải quyết nốt những vấn đề còn vướng mắc trong đó vấn đề

Trang 19

dệt may và trợ cấp dệt may là căng thẳng nhất Hai bên đã mất 2 đêm

để thảo luận mới đi đến được thống nhất; bên cạnh đó thuế ô tô - phụtùng và thuế xe máy cũng rất căng thẳng

Chỉ riêng Nghị định 55 về vấn đề dệt may cũng là cả một câu chuyệncăng thẳng Khi những người dịch lại cho các cơ quan nước ngoài,phiên dịch không chuẩn Trong Quyết định số 55, chúng ta nói hỗ trợcác doanh nghiệp để sản xuất hàng dệt và may để xuất khẩu Nhưng,

từ hỗ trợ không có nghĩa là cho không nhưng nhiều người dịch làsubsidize - cho không; dẫn đến có sự hiểu lầm Khi đàm phán với Hoa

Kỳ, phía họ nói VN trợ cấp bốn tỷ USD cho ngành dệt may Ðiều đókhông phải Khi chúng ta chứng minh đầy đủ số liệu, đoàn Hoa Kỳ mớicho là đúng VN chỉ ưu đãi về lãi suất, trong thời gian qua chỉ có nămtriệu USD, như vậy không phải lớn Nhưng, để thực hiện đàm phán vớiHoa Kỳ, VN đã bỏ Quyết định 55

Tổng kết lại, đàm phán gia nhập WTO của VN trải qua 11 năm với hơn

200 cuộc đàm phán Trong đó đàm phán đa phương có 14 phiên Đàmphán đa phương là để chúng ta minh bạch hóa các chính sách và điđến cam kết các chính sách kinh tế vĩ mô và cho đến nay, cơ bản chúng

ta chấp nhận các hiệp định của WTO khi chúng ta gia nhập

Đàm phán song phương có 28 đối tác; nước nhanh nhất có 3 phiên,nước chậm nhất kéo dài đến 13 phiên Theo Thứ trưởng Lương Văn

Tự, đây là số lượng nhiều nhất trong đàm phán VN với các tổ chứcquốc tế Trước đây, đàm phán với ASEAN chúng ta mất hai năm, Hiệpđịnh thương mại VN - Hoa Kỳ chúng ta mất bốn năm

Toàn văn cam kết WTO

Quốc hội sẽ phê chuẩn văn kiện gia nhập WTO vào ngày 27 đến

28-11-2006 Sau khi Quốc hội phê chuẩn, chúng ta sẽ thông báo cho WTO và

30 ngày sau VN sẽ chính thức trở thành thành viên WTO và các camkết của ta bắt đầu có hiệu lực

Theo kết quả đàm phán, về cam kết đa phương, VN đồng ý tuân thủtoàn bộ các hiệp định và quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thờiđiểm gia nhập Tuy nhiên do nước ta đang phát triển ở trình độ thấp lạiđang trong quá trình chuyển đổi nên ta yêu cầu và được WTO chấpnhận cho hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết

có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyềnkinh doanh

Cụ thể, VN chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm(không muộn hơn 31-12-2018) Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu ta

Trang 20

chứng minh được với đối tác nào là kinh tế VN hoàn toàn hoạt độngtheo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ “phi thịtrường” đối với ta Chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụkiện chống bán phá giá

Các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đốivới hàng xuất khẩu nước ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường Những cam kết về thương mại

Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạchdệt may đối với ta khi vào WTO, riêng trường hợp ta vi phạm quy địnhWTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể cóbiện pháp trả đũa nhất định Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ khôngđược áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của ta

Về trợ cấp phi nông nghiệp, ta đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp

bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địahóa Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấptrước ngày gia nhập WTO, ta được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm,trừ ngành dệt may

Về trợ cấp nông nghiệp, ta cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩuđối với nông sản từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên ta bảo lưu quyềnđược hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang pháttriển trong lĩnh vực này Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắtgiảm nhìn chung ta duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sảnlượng Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữavào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm

Có thể nói, trong nhiều năm tới, ngân sách của nước ta cũng chưa đủsức để hỗ trợ cho nông nghiệp ở mức này Các loại trợ cấp mang tínhchất khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp đượcWTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế

Về quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất nhập khẩu hàng hóa, tuânthủ quy định WTO, ta đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoàiđược quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như người Việt Nam kể từ khi gianhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nướcnhư: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí và một sốmặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyểnđổi như gạo và dược phẩm

Ta đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không cóhiện diện tại VN được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Ngày đăng: 25/10/2012, 14:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 - Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số nhóm mặt hàng  chính -  bài phát biểu sâu sắc về WTO của Giảng Viên ĐH QGHN
Bảng 2 Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số nhóm mặt hàng chính (Trang 25)
Bảng 3 - Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành Hiệp   định   tự   do   hoá   theo -  bài phát biểu sâu sắc về WTO của Giảng Viên ĐH QGHN
Bảng 3 Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành Hiệp định tự do hoá theo (Trang 27)
Bảng 3 dưới đây sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam kết theo các  Hiệp định tự do hoá theo ngành của Việt Nam trong WTO. -  bài phát biểu sâu sắc về WTO của Giảng Viên ĐH QGHN
Bảng 3 dưới đây sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam kết theo các Hiệp định tự do hoá theo ngành của Việt Nam trong WTO (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w