Tuy nhiên CàMau hiện nay vẫn còn là một tỉnh nghèo và còn nhiều khó khăn, trong đó 2khâu hạn chế nhất của tỉnh là kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực; dẫnđến nhiều phát sinh nhi
Trang 1SỞ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU
BÁO CÁO QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020
CÀ MAU, THÁNG 12 NĂM 2010
Trang 2MỤC LỤC
Phần thứ nhất: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ
XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN
1.1 Khả năng phát huy các yếu tố tự nhiên của tỉnh 6 1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh 18 1.3 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh Cà Mau đến năm 2010 tác động đến ngành lao
động thương binh xã hội tỉnh
22 Phần thứ hai: THỰC TRẠNG NGÀNH LAO ĐỘNG THƯƠNG
2.1 Thực trạng về dân số và lao động của tỉnh 27 2.2 Nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động 31
2.7 Thực trạng các công trình ghi công liệt sỹ 42
Phần thứ 3: PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH LAO
ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH ĐẾN NĂM 2020 48
3.2 Quy hoạch phân bố sử dụng lao động hợp lý theo ngành theo ngành 50
3.3 Tổ chức thực hiện toàn diện các chính sách đối với người
3.4 Đẩy mạnh chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo
gắn liền với chính sách bảo trợ an sinh xã hội.
61
Trang 3QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà Mau là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tựnhiên 5.331,64 km2, bằng 13,13% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long vàbằng 1,58% diện tích cả nước Tỉnh được tổ chức thành 9 đơn vị hành chính cấphuyện (gồm 8 huyện và thành phố Cà Mau) Dân số trung bình năm 2008 củatỉnh là 1.261.971 người, bằng 1,5% dân số cả nước Theo kết quả tổng điều tradân số, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số toàn tỉnh Cà Mau là1.206.980 người
Cà Mau là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế, nhất là về nông nghiệp,công nghiệp chế biến và dịch vụ Những năm gần đây nền kinh tế của tỉnh cóbước phát triển khá cao, bình quân đạt trên 10%/năm; GDP bình quân đầungười năm 2008 đạt khoảng 900 USD; năm 2009 đạt 1030 USD; cơ cấu kinh tếtiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch
vụ, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm còn dưới 41% Các lĩnh vực văn hóa, xãhội có nhiều tiến bộ, công tác quốc phòng an ninh được bảo đảm Tuy nhiên CàMau hiện nay vẫn còn là một tỉnh nghèo và còn nhiều khó khăn, trong đó 2khâu hạn chế nhất của tỉnh là kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực; dẫnđến nhiều phát sinh nhiều vấn đề nội tại cần giải quyết về lao động, việc làm vàđào tạo nghề của tỉnh như tỷ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm còn cao(nhất là lao động nữ), chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, không theo kịp quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (tỷ lệ lao động các ngành khu vực I còn trên60%), năng suất lao động xã hội còn thấp, nhất là năng suất lao động ở nôngthôn (năng suất lao động nông nghiệp năm 2008 chỉ đạt khoảng 714 USD/laođộng/năm, ngành thủy sản đạt khoảng 920 USD/người/năm)Năm 2009: năngsuất lao động xã hội đạt 31,98 triệu đồng, trong đó năng suất lao động nông lâmnghiệp thủy sản đạt 19,3 triệu đồng; lao động xã hội phần lớn là lao động phổthông, tỷ lệ lao động kỹ thuật còn rất thấp là những cản trở cho chuyển dịch cơcấu lao động và khả năng tham gia thị trường lao động quốc tế
Cà Mau cũng là vùng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.Trên địa bàn tỉnh hiện có 88.715 ngườithuộc các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi người có công, trong đó cóhơn 16 ngàn người thuộc diện thương binh, hơn 17 ngàn liệt sỹ và 37 800 ngườihoạt động kháng chiến được hưởng trợ cấp một lần Bình quân cứ 100 ngườidân có 7 người hưởng chính sách ưu tiên
Từ sau giải phóng 1975 đến nay, đảng bộ, chính quyền các cấp và nhândân trong tỉnh đã có nhiều cố gắng thực hiện công tác quy tập, tìm kiếm mộ liệt
sỹ, xây dựng nâng cấp nghĩa trang, tượng đài, bia ghi tên liệt sỹ, thực hiện đền
ơn đáp nghĩa… nhưng cũng còn nhiều việc phải làm
3
Trang 4Do vị trí địa lý: là tỉnh ở tận cùng cực Nam tổ quốc, địa hình bị chia cắt bởisông rạch chằng chịt, giao thông đường bộ chưa phát triển; giao lưu kinh tế, đilại khó khăn, trình độ dân chí còn thấp Số đối tượng người già cô đơn, trẻ mồcôi, người tàn tật… còn khá đông gần 30.000 người Công tác giảm nghèo, tuyđạt kết quả nhất định song chưa bền vững, tỷ lệ nghèo còn cao Một bộ phậndân cư ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, cầnquan tâm giải quyết.
Để góp phần thực hiện phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau như mục tiêuquy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 đã xác định: GDPtăng bình quân hàng năm 13,7-14%, hình thành và phát triển cơ cấu kinh tếcông nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp, giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp cònkhoảng 20%, GDP bình quân đầu người khoảng 3.000 USD, tỷ lệ lao động nôngnghiệp giảm còn 35-40% , đòi hỏi cần nghiên cứu xây dựng quy hoạch tổng thểphát triển ngành Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020,trong đó tập trung vào các vấn đề: lao động việc làm, đào tạo nghề, công trìnhghi công liệt sỹ
Căn cứ chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau (tại Công văn số1980/UBND-KT ngày 04/6/2009) và theo yêu cầu của Sở Lao động Thươngbinh và xã hội tỉnh Cà Mau, Công ty cổ phần Tư vấn phát triển Hà Phương xâydựng Đề cương nghiên cứu xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Laođộng, thương binh và xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020
PHẠM VI NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH
Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy địnhchức năng quản lý nhà nước của ngành Lao động-Thương binh và Xã hội baogồm nhiều lĩnh vực như: việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công,bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ chămsóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội Tuy nhiên từ cách đặtvấn đề ở phần mở đầu và trong khuôn khổ một quy hoạch tổng thể ngành cấptỉnh, nên phạm vi của quy hoạch này chỉ tập trung vào những nội dung chủ yếugồm: lao động việc làm, đào tạo nghề và công trình ghi công liệt sỹ
Nội dung quy hoạch tập trung phân tích đánh giá về nguồn lao động củatỉnh (số lượng, chất lượng), thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm,phân tích đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động, hiện trạngmạng lưới và hoạt động đào tạo nghề của tỉnh; các mục tiêu, giải pháp để giảiquyết việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động của tỉnh (tập trung vào cácmục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo dạy nghề,giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng năng suất lao động); các nhóm giải phápthực hiện, trong đó tập trung vào đào tạo nghề (dạy nghề) cho lao động; thựctrạng và quy hoạch về các công trình ghi công liệt sỹ
Trang 5Xã hội hoá công tác chăm sóc nâng cao đời sống người có công với nước,xoá đói giảm nghèo và bảo trợ xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Lao động, thương binh và xã hội tỉnh
Cà Mau đến năm 2020 cần đảm bảo phù hợp với đặc thù của tỉnh ven biển
- Báo cáo Quy hoạch sẽ được Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh CàMau lấy ý kiến của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trước khi trình Chủtịch UBND tỉnh Cà Mau phê duyệt
CĂN CỨ LẬP QUY HOẠCH
1 Các văn bản về công tác quy hoạch kinh tế - xã hội:
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về công táclập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006
- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày11/01/2008 của Chính phủ;
- Công văn số 1980/UBND-KT ngày 04/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Cà Mau về việc điều chỉnh, lập mới quy hoạch phát triển các ngành và quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành phố Cà Mau
2 Các văn bản quản lý kinh tế xã hội:
- Luật Lao động;
- Luật Dạy nghề ngày 29/11/2006;
- Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Ủy banThường vụ Quốc hội về ưu đãi người có công với cách mạng
- Nghị định số 16/2007/NĐ-CP ngày 26/01/2007 của Chính phủ quy định
về tìm kiếm về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, quản lý mộ, nghĩa trang, đàitưởng niệm, bia ghi tên liệt sỹ
- Nghị định số 70/2009/NĐ-CP ngày 21/8/2009 của Chính phủ quy địnhtrách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề
5
Trang 6- Quyết định số 163/2008/QĐ-TTg ngày 11/12/2008 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh CàMau đến năm 2020;
- Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ qui địnhchính sách trợ giúp đối với các đối tượng bảo trợ xã hội
- Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ qui định
về điều kiện, thủ tục thành lập tổ chức hoạt động và giải thể các cơ sở bảo trợ xãhội
- Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ qui định
bổ sung về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Trang 7Phần thứ nhất KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH LAO ĐỘNG THƯƠNG
+ Phía bắc của tỉnh tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu;
+ Phía Đông và phía Nam tiếp giáp với Biển Đông;
+ Phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan
Diện tích phần đất liền của tỉnh là 5.329,6 km2; bằng 13,13% diện tíchvùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước
Tỉnh được phân chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện: gồm thànhphố Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, PhúTân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển
Về địa lý kinh tế trong đất liền, tỉnh Cà Mau nằm trong tiểu vùng Cà Mau –Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang, là 1 trong 4 tiểu vùng kinh tế của đồng bằngsông Cửu Long, là địa bàn đang được quy hoạch xây dựng thành vùng kinh tếđộng lực của đồng bằng sông Cửu Long (đô thị trung tâm Cần Thơ, trung tâmđiện lực Ô Môn; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Kiên Giang, côngnghiệp tàu thủy, công nghiệp chế biến thủy sản, cụm khí điện đạm Cà Mau, dulịch sinh thái Hà Tiên, Phú Quốc, Châu Đốc, rừng ngập Cà Mau…)
Trong mối quan hệ của vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Cà Mau làđiểm đến của một số tuyến quốc lộ và tuyến đường thủy quan trọng như:
+ Quốc lộ 1 A từ TP Hồ Chí Minh – Bạc Liêu – Cà Mau – Năm Căn (sẽđược nối dài đến Đất Mũi);
+ Quốc lộ 63 (Cà Mau – Kiên Giang);
+ Tuyến đường Quản lộ - Phụng Hiệp
+ Tuyến đường thủy Cà Mau – Thành phố Hồ Chí Minh
Trong mối quan hệ của khu vực, với Dự án tiểu vùng MêKông mở rộng vàquy hoạch kinh tế vùng vịnh Thái Lan thì tỉnh Cà Mau được xác định nằm tronghành lang phát triển phía nam (BangKok- Phnompenh – Hà Tiên- Cà Mau),
7
Trang 8đồng thời Năm Căn được xác định là điểm đến của tuyến hành lang kinh tế này.
Ở trong nước, đây cũng là tuyến đường Hồ Chí Minh giai đoạn II được nối dàiđến Đất Mũi Cà Mau
Như vậy, trong mối liên kết vùng, từ tỉnh Cà Mau sẽ hình thành 2 hướngliên kết phát triển chính là Cà Mau – Cần Thơ và Cà Mau – Kiên Giang + AnGiang
Cà Mau là tỉnh ở cực Nam của Tổ quốc, Mũi Cà Mau (mốc tọa độ số 0) làđịa danh có ý nghĩa kinh tế chính trị, có ý nghĩa thiêng liêng đối với nhân dân cảnước, có khả năng phát triển du lịch tham quan gắn với du lịch sinh thái
Trong vùng biển Tây Nam, Cà Mau có chiều dài bờ biển 254 km và thuộchành lang kinh tế ven biển phía Đông (từ Bạc Liêu – Gành Hào – Cà Mau –Năm Căn), có vị trí ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á, nhất là trongvùng Vịnh Thái Lan, là những khu vực có trữ lượng dầu khí lớn, có tiềm năng
du lịch sinh thái và du lịch biển đảo
Như vậy, về vị trí địa lý kinh tế của tỉnh có lợi thế so sánh so với một sốtỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long; nếu được khai thác, phát huyđúng mức thì các lợi thế về vị trí địa lý kinh tế của tỉnh là một thế mạnh quantrọng Tuy nhiên hiện nay, mức phát huy còn hạn chế, mới chủ yếu là khai tháccác điều kiện tại chỗ như phát triển khai thác chế biến thủy hải sản, triển khai
Dự án cụm khí điện đạm Cà Mau, triển khai một số dự án du lịch sinh thái, màchưa phát huy được yếu tố liên kết vùng do kết cấu hạ tầng kết nối chưa đồngbộ
Bên cạnh những lợi thế so sánh như trên thì vị trí địa lý kinh tế của tỉnh CàMau cũng có những yếu tố hạn chế cần được lưu ý, đó là:
+ Cà Mau là điểm cuối của các tuyến quốc lộ, các hành lang phát triển làmcho các hướng, tuyến phát triển của tỉnh Cà Mau không cân xứng về 2 phía(không như các tỉnh nằm trên trục quốc lộ hay tuyến hành lang phát triển), dẫnđến hạn chế khả năng khai thác các nguồn lực như thu hút các dự án BOT xâydựng cầu đường, các dịch vụ phục vụ khách vãng lai…)
+ Ba mặt tiếp giáp biển là lợi thế cho kinh tế biển, nhưng tỉnh Cà Mau cũng
có nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quốc phòng an ninh, phòng thủ ven biển,phòng chống thiên tai, có nguy cơ tác động xấu về môi trường (nước biển dâng,
sự cố tràn dầu…)
+ Cách xa các trung tâm kinh tế lớn của cả nước (như TP Hồ Chí Minh,Cần Thơ), là tỉnh vùng sâu vùng xa Phần lớn địa bàn tỉnh Cà Mau thuộc danhmục địa bàn đặc biệt khó khăn (trừ thành phố Cà Mau là địa bàn khó khăn), kết
Trang 9cấu hạ tầng yếu kém là những yếu tố không thuận lợi cho thu hút đầu tư, lựachọn nhà đầu tư, giữ chân và thu hút nguồn lao động có trình độ cao Đồng thời,
do thuộc danh mục địa bàn đặc biệt khó khăn nên nguồn thu ngân sách hiện tại
và cả trong thời kỳ quy hoạch vẫn tăng chậm, do thực hiện chính sách ưu đãi địabàn về thuế cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp; nên trong một số năm trướcmắt tỉnh Cà Mau vẫn chưa tự cân đối được thu – chi ngân sách, nguồn vốn ngânsách đầu tư kết cấu hạ tầng vẫn còn khó khăn
1.1.2- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
a.Khí hậu, thủy văn:
Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng khí hậu của vùng đồng bằng sôngCửu Long, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao (nhiệt
độ trung bình 26,50C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 4khoảng 27,6 0C; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng Giêng khoảng 250C),tạo điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản
Nét đặc trưng là khí hậu phân mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Về cơ bản, khí hậu ôn hoà, ít khắc nghiệt hơn các vùng khác, thuận lợi chosản xuất nông nghiệp, thủy sản; có khả năng tận dụng thời gian lao động quanhnăm không bị gián đoạn do thời tiết gây nên
Về thủy văn, địa bàn tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủytriều biển Đông (bán nhật triều không đều) và của Vịnh Thái Lan (nhật triềukhông đều) Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, từ 3-3,5 m vào ngày triềucường; trong khi triều Vịnh Thái Lan thấp hơn, trung bình từ 0,5 – 1m
Do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông rabiển, nên toàn bộ diện tích đất liền của tỉnh đều bị nhiễm mặn và chế độ truyềntriều rất phức tạp Từ khi chuyển đổi sản xuất sang nuôi tôm, nhiều cống đậpđược mở thông, làm cho quá trình truyền triều càng sâu vào đất liền Chế độthủy triều đã được người dân tận dụng trong đời sống, sản xuất như giao thông
đi lại theo con nước, lấy nước và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm…Nhưng do chế độ truyền triều không đều của Biển Đông và Vịnh Thái Lan đãhình thành một số vùng giáp nước, là những khó khăn cho giải pháp thủy lợiphục vụ sản xuất
Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù
sa lớn làm nhanh bồi lắng ở các sông, kênh thủy lợi, việc nạo vét kênh mương
9
Trang 10thủy lợi là rất tốn kém, phải đầu tư thường xuyên, nhất là ở một số cửa sông lớntrong tỉnh như Cái Đôi Vàm, Khánh Hội, Sông Đốc… Ngoài ra, trong mùa khô(mùa gió chướng) nước biển dâng cao, gây tình trạng tràn mặn, ảnh hưởng đếnsản xuất và đời sống, vì vậy công tác ngăn mặn chống tràn là việc phải làmhàng năm của địa phương
Do ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, nên dự án thủy lợi ngọt hoá vùngbán đảo Cà Mau nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng gặp nhiều khó khăn, đòihỏi sự đầu tư và vận hành đồng bộ các công trình thủy lợi trong vùng và liêntỉnh (như dự án Xẻo Rô, hệ thống cống tuyến Quản lộ - Phụng Hiệp, cống dưới
đê biển Tây, âu thuyền Tắc Thủ…)
b.Địa hình
Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không cónúi đá (ngoài biển cũng chỉ có một số cụm đảo gần bờ), cao trình phổ biến từ0,5-1m so với mặt nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặc sông – biển hỗnhợp có địa hình cao hơn; các khu vực trầm tích biển – đầm lầy hoặc đầm lầy cóđịa hình thấp hơn (trung bình và thấp trũng) chiếm tới 89% Như vậy về mặtđịa hình, nếu giữ nguyên độ cao tự nhiên chỉ phù hợp cho các loại cây chịu ngậpnước như rừng ngập mặn, rừng tràm, lúa nước, nuôi thủy sản Việc trồng cây ăntrái, xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình dân dụng, khu dân cư đòi hỏiphải chi phí tôn cao mặt bằng rất lớn
Bên cạnh đó, địa hình của tỉnh còn bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sôngrạch chằng chịt, có nhiều sông rạch là lợi thế về giao thông đường thủy, nhưng
là hạn chế rất lớn đối với phát triển giao thông đường bộ, phát sinh nhiều cầucống, là một trong những nguyên nhân chính làm giao thông đường bộ của tỉnhchậm phát triển Đồng thời phần lớn diện tích của tỉnh thuộc dạng đất ngậpnước ven biển, nền đất yếu nên việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng vàxây dựng dân dụng rất tốn kém do yêu cầu xử lý nền móng phức tạp; tính ổnđịnh của các công trình xây dựng bị hạn chế, thường bị lún nền Đây cũng lànhững trở ngại cho chương trình phát triển đô thị của tỉnh (hạn chế khả năngphát triển khu đô thị cao tầng, tốn kém nhiều trong đầu tư xây dựng hạ tầng đôthị…)
c.Tài nguyên đất
Theo tài liệu điều tra đánh giá tài nguyên đất tỉnh Cà Mau của Phân việnQuy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Miền Nam: đất ở tỉnh Cà Mau được hìnhthành trên các trầm tích trẻ, tuổi holocene, trong đó: 34% diện tích tự nhiên của
Trang 11tỉnh được tạo thành do trầm tích sông hoặc sông biển hỗn hợp; 12% là trầm tíchsông – đầm lầy; 13% trầm tích biển – đầm lầy; 36% là trầm tích biển và 2% làtrầm tích đầm lầy
Vì vậy trên 50% đất đai của tỉnh là đất phèn đến phèn nặng Nhìn chungđất đai của tỉnh là đất trẻ, mới được khai phá sử dụng, có độ phì trung bình khá,hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng do bị nhiễm phèn mặn nên đối với sản xuấtnông nghiệp, đa số đất của tỉnh Cà Mau được xếp vào loại “đất có hạn chế” vớinhững mức độ khác nhau
Từ khi được tái lập (năm 1997) đến nay tỉnh Cà Mau đã có sự biến độngkhá lớn trong sử dụng đất:
+ Đất nông nghiệp: từ cuối năm 2000 tỉnh Cà Mau đã chuyển đổi trên 150nghìn ha từ đất trồng lúa, đất vườn sang nuôi thủy sản, làm diện tích mặt nướcnuôi thủy sản tăng cao, nhiều diện tích ven sông, đầm phá cũng được bao bờnuôi tôm Vì vậy tổng diện tích đất nông nghiệp tăng 22.299 ha so với năm
1997, chiếm 69,7% diện tích tự nhiên, trong đó riêng mặt nước nuôi thủy sản đãtăng từ 107.937 ha năm 1997 lên 227.908 ha (chưa kể diện tích nuôi kết hợptrong rừng)
+ Đất lâm nghiệp có rừng có tăng nhưng chậm, trong 9 năm tăng lênkhoảng 10.000 ha (kể cả rừng bãi bồi, khoanh nuôi tái sinh), nhưng do khai tháchàng năm nên diện tích có rừng hiện tại chỉ còn 96.065,6 ha (tương đương năm1997)
+ Đất chuyên dùng đã tăng thêm 5.960 ha, đất ở tăng thêm 1.386 ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng và đất sông rạch đã giảm khoảng 26.000 ha,riêng đất bằng chưa sử dụng chỉ còn khoảng 10.760 ha, chiếm 2% so với diệntích tự nhiên (trong khi toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long còn khoảng 1,3%)
Sự biến động sử dụng đất của tỉnh nhìn một cách tổng thể là theo địnhhướng quy hoạch, kế hoạch được duyệt, góp phần phát triển kinh tế xã hội vàđời sống dân sinh Nhưng thực tế sử dụng đất giai đoạn qua cho thấy tính tựphát, chưa tuân thủ quy hoạch; cụ thể vùng phía Bắc tỉnh Cà Mau quy hoạch sảnxuất cây con hệ nước ngọt, nhưng hiện nay diện tích nuôi tôm nước lợ trongvùng này rất lớn, tình trạng nông dân tự phát đưa nước mặn vào vùng quy hoạchtrồng lúa vẫn diễn ra Nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chuyên dùng và đất ởtrên địa bàn tỉnh ngày càng tăng, nhất là đất xây dựng công nghiệp, khu đô thịdân cư, xây dựng giao thông Tuy nhiên, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất trong giai đoạn 2001-2005 chưa đạt kế hoạch dự kiến; cụ thể trong
5 năm toàn tỉnh đã chuyển 3.822 ha đất các loại thành đất chuyên dùng và đất ở,chỉ đạt 52,49% so với kế hoạch sử dụng đất được Thủ tướng Chính phủ phê
11
Trang 12duyệt; trong đó: chuyển vào đất chuyên dùng được 2.431,1 ha, đạt 43,22% kếhoạch được duyệt, chuyển vào đất ở được 1.391 ha, đạt 84% kế hoạch đượcduyệt Nguyên nhân chủ yếu do một số dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, các khucông nghiệp, khu đô thị mới triển khai chậm; làm ảnh hưởng đến kết quả thựchiện kế hoạch sử dụng đất, hạn chế hiệu quả sử dụng đất Một số dự án đã công
bố quy hoạch hoặc đã thu hồi đất nhưng chưa triển khai được dự án, dẫn đếnlãng phí đất đai
d.Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Cho đến nay, tỉnh Cà Mau chưa có nguồn nước ngọt đưa
từ nơi khác về bổ sung (dự kiến đưa ngọt từ Sông Hậu về Cà Mau đã khôngthực hiện được) Nguồn nước mặt của tỉnh Cà Mau chủ yếu là nguồn nước mưa
và nguồn nước đưa từ biển vào, chứa trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênhthủy lợi, trong rừng ngập mặn, rừng tràm và các ruộng nuôi thủy sản Theovùng quy hoạch sản xuất, nguồn nước mặt ở tỉnh Cà Mau đã có sự phân chiakhá rõ:
+ Nguồn nước mặt phục vụ sản xuất cây con là nước ngọt chủ yếu còn lại
ở khu vực rừng tràm U Minh hạ, vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc huyệnTrần Văn Thời và huyện Thới Bình, vùng mía nguyên liệu của huyện ThớiBình Đây là nguồn nước mưa được giữ tại chỗ, là nguồn nước chủ yếu phục vụcho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và một phần cho sinh hoạt, nhờ đó có một
số diện tích có thể sản xuất lúa 2 vụ, rau màu thực phẩm, cây công nghiệp Diệntích vùng này trong những năm qua ngày càng bị thu hẹp
+ Nguồn nước mặt là nước lợ, nước mặn, đây là nguồn nước được đưa vào
từ biển, hoặc được pha trộn với nguồn nước mưa Trong mùa khô, độ mặn nướcsông và nước trong các ruộng tôm tăng cao, trung bình từ 20-30%o, trong một
số vùng đầm nuôi tôm độ mặn có thể lên đến 40%o Thường ở những vùng cửasông nước có độ mặn cao hơn, càng vào sâu trong nội đồng độ mặn càng giảm.Trong mùa mưa độ mặn giảm nhanh (cả nước sông và trong các ruộng tôm),một số vùng có điều kiện rửa mặn, giữ ngọt tốt có thể luân canh sản xuất một vụlúa trên đất nuôi tôm trong mùa mưa
Tài nguyên đất kết hợp với nguồn nước mặn, nước lợ là tiềm năng lớn đểphát triển nuôi trồng thủy sản trong nội đồng Diện tích nuôi tôm nước lợ (kể cảnuôi kết hợp dưới tán rừng ngập mặn) của tỉnh năm 2005 đã lên đến trên 248nghìn ha, chiếm 27,2% diện tích nuôi tôm nước lợ, nước mặn toàn vùng đồngbằng sông Cửu Long Ngoài ra, ở vùng ven biển, vùng biển của tỉnh Cà Mau cótiềm năng lớn để nuôi thủy hải sản
Trang 13Nguồn nước ngầm: Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Bản đồ địa chấtMiền Nam, nước ngầm ở tỉnh Cà Mau có trữ lượng lớn, chất lượng đảm bảo chosinh hoạt và sản xuất công nghiệp
Tổng trữ lượng tiềm năng khai thác nước ngầm của tỉnh Cà Mau khoảng 6triệu m3/ngày, trong đó của tầng I là 0,64 triệu m3/ngày, tầng II là 1,2 triệu m3,tầng III là 1,53 triệu m3, tầng IV là 1 triệu m3, tầng V là 0,9 triệu m3, tầng VI là0,75 triệu m3m Hiện nay nước ngầm ở tỉnh đang khai thác chủ yếu ở tầng II vàtầng III và tầng IV (đối với giếng nước lẻ của hộ dân chủ yếu khai thác ở tầng II
và tầng III) Ngoài các giếng nước công nghiệp tại thành phố Cà Mau, các thịtrấn huyện lỵ, các nhà máy, lượng giếng nước khoan của các hộ dân là rất lớn,hiện lên đến trên 26.000 giếng Sản lượng nước hiện đang khai thác chiếmkhoảng 1/30 trữ lượng tiềm năng khai thác Riêng tại thành phố Cà Mau sảnlượng nước khai thác bằng 1/12 trữ lượng nước tiềm năng khai thác, tại các thịtrấn huyện lỵ lượng nước khai thác mới bằng 1/24 đến 1/60 trữ lượng tiềm năngkhai thác
Dự báo đến năm 2020, áp lực khai thác sử dụng nguồn nước ngầm là rấtlớn, sản lượng cấp nước toàn tỉnh phải đạt khoảng 152.000m3/ngày, trong đóriêng khai thác tại thành phố Cà Mau và các thị trấn, các khu công nghiệp lêntới trên 100.000m3/ngày Nếu quá trình khai thác nước ngầm không được quyhoạch hợp lý sẽ dẫn đến phá vỡ cân bằng tự nhiên giữa các tầng nước, có thểnước mặn ở tầng I sẽ thấm xuyên xuống các tầng dưới gây ô nhiễm nguồn nướcngầm Đồng thời nếu khai thác nước không đúng quy hoạch các tầng nước thì
có thể ảnh hưởng đến nền móng các công trình xây dựng
đ.Tài nguyên rừng
Theo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, năm 2006 tỉnh Cà Mau códiện tích đất rừng là 108025 ha, bằng 36,9% diện tích đất rừng vùng đồng bằngsông Cửu Long; bao gồm diện tích có rừng là 96350,3 ha, diện tích chưa córừng là 11.674,7 ha; trong đó: Đất rừng đặc dụng là 17830,7 ha (diện tích córừng là 17551,7 ha), đất rừng phòng hộ là 26132,6 ha (diện tích có rừng là25151,6 ha) và đất rừng sản xuất là 64061,7ha (diện tích có rừng là 53647 ha).Rừng ở tỉnh Cà Mau bao gồm rừng ngập mặn ven biển (tập trung ở cáchuyện Ngọc Hiển, Năm Căn, Đầm Dơi, Phú Tân) và rừng tràm ngập úng phèn(tập trung ở huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình)
Đây là 2 hệ sinh thái rừng đặc thù ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cótính đa dạng sinh học cao; đặc biệt rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm UMinh hạ có vai trò cân bằng sinh thái vùng ven biển, điều hoà khí hậu và phòng
13
Trang 14hộ ven biển Ngoài ra, trên cụm đảo Hòn Khoai và Hòn Chuối có 583 ha rừngcây gỗ quý.
Tuy nhiên, giá trị thuần kinh tế của rừng Cà Mau không cao, nhất là rừngtràm do trữ lượng thấp, sản phẩm gỗ tràm khó tiêu thụ, nguy cơ cháy rừng rấtcao Tổng trữ lượng rừng Cà Mau đạt khoảng 2,2 triệu m3, trong đó trữ lượngrừng tràm khoảng 1,44 triệu m3 và trữ lượng rừng ngập mặn khoảng 770.000 m3.
e.Tài nguyên biển:
Cà Mau là một trong số 28 tỉnh ven biển của cả nước và là tỉnh có 3 mặttiếp giáp với biển Có 6/9 huyện thành phố (trừ thành phố Cà Mau, huyện ThớiBình, huyện Cái Nước) và 22/101 xã phường thị trấn của tỉnh tiếp giáp với biển;59,8% dân số của tỉnh đang sinh sống tại các huyện ven biển, riêng ở các xã, thịtrấn ven biển chiếm 25% dân số toàn tỉnh Biển đã và sẽ tạo ra vị thế phát triểncho tỉnh Cà Mau thông qua các lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch, công nghiệp
cơ khí và chế biến, vận tải biển và đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng an ninhvùng biển Nhiều hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh đang và sẽ có mối quan hệchặt chẽ với việc khai thác, bảo vệ tài nguyên biển
Biển Cà Mau nằm trong vùng biển Tây Nam Bộ, đây là vùng biển kéo dài
từ vùng biển tỉnh Tiền Giang đến Hà Tiên tỉnh Kiên Giang (gồm các tỉnh TiềnGiang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang); trongvùng biển có 156 đảo lớn nhỏ thuộc 5 quần đảo và các đảo lẻ Đây là vùng biểntiếp giáp với nhiều nước như Campuchia, Thái Lan, Maylaysia, Singapore,Indonesia nên vùng biển này có vai trò cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Longlưu thông với các nước trong khu vực và có ý nghĩa quan trọng đối với pháttriển kinh tế đất nước Riêng tỉnh Cà Mau có đường bờ biển dài 254 km (không
kể bờ 3 cụm đảo), bằng 34,46% chiều dài bờ biển của toàn vùng biển Tây Nam
Bộ và bằng 7,8% chiều dài bờ biển của cả nước
Vùng biển Cà Mau là vùng biển nông và là vùng biển bồi, điều kiện khítượng thủy văn thường ổn định hơn các vùng biển khác, thuận lợi cho các hoạtđộng kinh tế biển Dọc theo bờ biển, có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển (gồm cáccửa: Hương Mai, Khánh Hội, Đá Bạc, Sông Đốc, Cái Đôi Vàm, Bảy Háp, ÔngTrang, Rạch Tàu, Bồ Đề, Rạch Gốc, Hố Gùi, Gành Hào…) đã hình thành cáccụm kinh tế ven biển, các làng cá có khá đông dân cư sinh sống
Trong vùng Biển Cà Mau có 3 cụm đảo gần bờ là cụm đảo Hòn Khoai(diện tích 577 ha, đỉnh cao nhất 318m), cụm đảo Hòn Chuối (diện tích 14,5 ha,đỉnh cao nhất 165 m) và cụm đảo Hòn Đá Bạc (diện tích 6,3 ha, đỉnh cao nhất24m) Đặc biệt cụm đảo Hòn Khoai có khả năng phát triển du lịch, dịch vụ kinh
tế biển và có vị trí quan trọng về bảo vệ an ninh quốc phòng do có vị trí án ngữ
Trang 15ở cửa vịnh Thái Lan, nằm ở giữa vùng biển Đông và Vịnh Thái Lan Trong cụmđảo Hòn Khoai có hòn Đá Lẻ (toạ độ 80 22’8’’N, 104052’4’’E) là một trongnhững điểm chuẩn để tính đường cơ sở trên biển của nước ta (điểm A2).
- Vị thế chiến lược của biển: hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giớiđều là những nước có biển và nền kinh tế biển mạnh Tiến ra xa biển và pháttriển kinh tế biển là chiến lược ưu tiên, là cơ hội thách thức của nhiều quốc gia
có biển Thế kỷ XXI được Liên Hiệp quốc ghi nhận là thế kỷ của đại dương,phát triển bền vững biển và vùng ven biển là mục tiêu và là những thách thứcđối với cả thế giới Các quốc gia có biển trên thế giới đã và đang xúc tiến xâydựng chiến lược, kế hoạch hành động khai thác vùng biển một cách hợp lý Đốivới vùng biển của nước ta nói chung và vùng biển Tây Nam Bộ nói riêng có vịtrí địa lý và chính trị hết sức trọng yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triểnkinh tế và an ninh quốc phòng “Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêuchiến lược xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Việt Nam” và “vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế
và an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển, là cửa mở của cả nước đểđẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khai thác tối đa các lợithế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực
để phát triển mạnh về kinh tế- xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của tổquốc”
- Đa dạng về hệ sinh thái: Vùng biển Tây Nam Bộ nói chung và vùng biển
Cà Mau nói riêng là vùng biển có nguồn tài nguyên và hệ sinh thái đa dạng,phong phú Các hệ sinh thái biển và ven biển có giá trị quan trọng như điều hoàkhí hậu, là nơi cư trú, sinh đẻ và ươm nuôi nhiều loài thủy sinh, nhiều hệ sinhthái có năng suất sinh học cao như rừng ngập ven biển, vùng bãi bồi ven biển,vùng cửa sông… Vùng ven biển của tỉnh Cà Mau thuộc loại giàu tiềm năng bảotồn như vùng bãi bồi, các khu rừng đặc dụng, vườn quốc gia Mũi Cà Mau
Trong hệ sinh thái ven biển của tỉnh Cà Mau, có vườn quốc gia Mũi CàMau (thuộc địa bàn huyện Ngọc Hiển và huyện Năm Căn)với diện tích 41.861ha; đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên (hệ sinh thái cửa sông, ven biển)
có giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường Đây làmột trong những địa điểm quan trọng thuộc chương trình quốc gia về bảo tồn đadạng sinh học của Việt Nam Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có giá trị bảo tồnnguồn gen quý hiếm (22 loài thực vật ngập mặn, 13 loài thú, 74 loài chim, 17loài bò sát và 133 loài động vật phiêu sinh)
15
Trang 16- Nguồn lợi thủy hải sản: vùng biển Cà Mau là một trong 4 ngư trườngtrọng điểm của cả nước, có trữ lượng thủy hải sản lớn và đa dạng về loài, cónhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm biển, mực, một số loại cá có giá trị như
cá thu, cá mú, cá chim… Ngoài khai thác đánh bắt thủy hải sản, lợi thế vùngbiển đã tạo cho tỉnh Cà Mau là tỉnh có diện tích nuôi thủy sản nước lợ, nướcmặn lớn nhất nước; mặt nước vùng bãi triều ven biển, ven đảo cũng là tiềmnăng lớn để phát triển nuôi thủy hải sản Vùng biển Cà Mau có thể giải quyếtviệc làm cho hàng chục ngàn lao động làm nghề khai thác hải sản, là cơ sở đểphát triển các ngành công nghiệp cơ khí đóng mới sửa chữa tàu thuyền, côngnghiệp chế biến xuất khẩu, các dịch vụ phục vụ khai thác thủy hải sản…
Tài nguyên biển là rất to lớn, nhưng cũng đã và đang xuất hiện nhiều tháchthức đối với tài nguyên, môi trường vùng biển và ven biển, đó là:
+ Tình trạng khai thác tài nguyên biển quá mức và lãng phí, khai thác ven
bờ quá nhiều đã được cảnh báo từ lâu nhưng chưa được giải quyết có hiệu quả,
số phương tiện làm nghề khai thác gây sát hại nguồn lợi hải sản lớn; chưa coitrọng lợi ích và nguồn thu nhập lâu dài
+ Chất lượng môi trường biển và vùng ven bờ tiếp tục bị suy giảm khánhanh, tình trạng ô nhiễm do nguồn nước thải sản xuất và sinh hoạt không được
xử lý đổ trực tiếp ra sông, biển; vùng cửa sông, ven biển bị ô nhiễm dầu do cóquá nhiều phương tiện thủy hoạt động, nhiều cơ sở kinh doanh xăng dầu ở vensông…
+ Tính đa dạng sinh học bị suy giảm, diện tích rừng ngập mặn ven biểngiảm nhiều so với 20- 30 năm trước, tình trạng khai thác trái phép vùng bãi bồivẫn rất phức tạp
ở lô PM3-CAA; đang thăm dò và thẩm lượng, chuẩn bị khai thác các lô 46, 50,51; đã phát hiện và đang khoan thăm dò ở lô B Đây là nguồn tài nguyên quýcủa đất nước, là điều kiện để phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông CửuLong nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng (cụm dự án Khí điện đạm Cà Mau,khu công nghiệp Khánh An…)
Trang 17- Cát ven biển: từ cửa Bồ Đề đến Mũi Cà Mau dài 36 km (ở huyện NgọcHiển) có bãi cát nằm sát ven biển với bề rộng bãi cát khoảng 1km Đây là bãicát có trữ lượng không lớn, cát mịn và lẫn nhiều chất mùn bã, không có ý nghĩakhai thác công nghiệp lớn; mục đích chủ yếu là để phát triển du lịch bãi cát venbiển (bãi Khai Long) Tuy nhiên cũng cần tiếp tục khảo sát để có thể khai thác ởnhững địa điểm phù hợp phục vụ nhu cầu cát san lấp xây dựng
- Than bùn: Vùng than bùn U Minh hạ của tỉnh Cà Mau là một trongnhững vùng chứa than bùn lớn nhất Việt Nam, tập trung chủ yếu ở khu vựcvườn quốc gia U Minh hạ (bao gồm rừng đặc dụng Vồ Dơi, Lâm ngư trường UMinh 3) và một phần của Lâm ngư trường U Minh 1; tổng diện tích có chứathan bùn còn lại (sau các vụ cháy rừng lớn năm 1982 và năm 2002) là 5.640 ha.Đây là đầm than rộng, khá đồng nhất về điều kiện hình thành cũng như về chấttạo than nên chất lượng than bùn U Minh hạ ổn định, có thể sử dụng sản xuấtchất đốt, phân hữu cơ vi sinh và acid Humic, than hoạt tính Do bị cháy nhiềulần, trữ lượng than bùn đã giảm nghiêm trọng, hiện còn khoảng 14,1 triệu tấn(giảm gần 12 lần so với năm 1976), trong đó trữ lượng đã thăm dò là 4,8 triệutấn Nguồn tài nguyên này cần sớm được nghiên cứu khai thác sử dụng hợp lý
i.Tài nguyên du lịch:
- Du lịch sinh thái: Với diện tích rừng ngập mặn và rừng tràm rộng lớn(145 ngàn ha), có 2 vườn quốc gia: Mũi Cà Mau và U Minh hạ; có các vườnchim tự nhiên là những điều kiện để tỉnh Cà Mau phát triển du lịch sinh thái.Hiện nay, du lịch rừng ngập mặn Cà Mau đang được đầu tư theo dự án du lịchchuyên đề quốc gia Nhờ đó, sản phẩm du lịch sinh thái của tỉnh Cà Mau ít bịtrùng lặp với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu làsinh thái miệt vườn)
17
Trang 18- Du lịch biển: Với chiều dài bờ biển 254 km, có một số bãi cát ven bờ (GiáLồng Đèn, Khai Long), có cồn bồi lắng cửa sông, các cụm đảo gần bờ HònKhoai, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc là tiềm năng để khai thác du lịch biển đảo.
- Du lịch lịch sử nhân văn: Ở tỉnh Cà Mau có một số khu di tích lịch sửnhư Hồng Anh thư quán, đình Tân Hưng, khu căn cứ Lung Lá Nhà Thể, căn cứXẻo Đước, khu chứng tích tội ác Mỹ ngụy Hải Yến – Bình Hưng Đây là nhữngcông trình văn hoá du lịch, đang được đầu tư tôn tạo Nghệ thuật đờn ca tài tử,
kể chuyện Bác Ba Phi, lễ hội nghinh ông, hoạt động mua bán chợ nổi trênsông… là những yếu tố có thể khai thác trong hoạt động du lịch
Tuy nhiên, các tài nguyên du lịch của tỉnh hiện chủ yếu còn ở dạng tiềmnăng, để sớm khai thác có hiệu quả đòi hỏi phải đẩy nhanh đầu tư kết cấu hạtầng, nhất là giao thông đường bộ, các doanh nghiệp cần có những ý tưởng mới
về các sản phẩm du lịch, mô hình kinh doanh du lịch
1.1.3 Đánh giá chung những tác động của điều kiện tự nhiên đến dân
số và lao động tỉnh Cà Mau.
Các yếu tố thuận lợi.
- Điều kiện khí hậu của tỉnh là yếu tố thuận lợi cho việc sử dụng lao độngtrên địa bàn, thể hiện ở độ chiếu sáng cao cho phép sử dụng lao động nhiềutrong nông nghiệp, điều kiện thời tiết cho phép sản xuất quanh năm quay vòngđất nhanh
- Tài nguyên đất rất phong phú, đặc biệt là đất nông nghiệp tạo điều kiệnphát triển nông nghiệp (mật độ dân số thưa thớt có điều kiện sản xuất quy môlớn)
- Tài nguyên biển phong phú, có nhiều cửa sông lớn thuận tiện cho dân cưphát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
1.2.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU
I-2.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Trong giai đoạn 1996-2005, kinh tế tỉnh Cà Mau tăng trưởng khá nhanh.Quy mô tổng giá trị tăng thêm trên địa bàn tỉnh (GDP) năm 2005 gấp 2,5 lần so
Trang 19với năm 1995 (đạt khoảng 7.716 tỷ đồng so với 3.092 tỷ đồng của năm 1995 –giá so sánh năm 1994), tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1996-2005 là 9,57%.Trong đó giai đoạn 1996-2000 tăng bình quân hàng năm 8% và giai đoạn 2001-
2005 tăng bình quân hàng năm 11,18%
Thời kỳ 2006 – 2010, Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lầnthứ XIII đặt ra mục tiêu tăng trưởng bình quân đạt từ 12-12,5%,GDP bình quânđầu người năm 2010 đạt 950 USD Theo kế hoạch trong quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội ẩinh Cà Mau đến năm 2020, tăng trưởng bình quânthời kỳ 2006- 2010 đạt 13%, GDP năm 2010 đạt gần 14 400 tỷ đồng Thực tếtrong những năm gần đây nhịp độ tăng trưởng hàng năm đều đạt 11- 12% Các khu vực kinh tế đều có mức tăng trưởng khá cao, nhất là khu vực côngnghiệp xây dựng và dịch vụ, cụ thể như sau:
Thời kỳ 2006- 2010 ngư – nông – lâm nghiệp đạt nhịp độ tăng trưởng6,5%, công nghiệp và xây dựng đạt 19% ,Dịch vụ đạt 17%
Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh cũng như các lĩnh vực tronggiai đoạn 2006-2010 đều cao hơn giai đoạn 2000 – 2005, các lĩnh vực côngnghiệp xây dựng và dịch vụ tăng nhanh hơn giai đoạn trước, cho thấy kinh tếtỉnh trong 10 năm qua tăng trưởng khá bền vững, đó là kết quả của quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp, xâydựng kết cấu hạ tầng và các ngành dịch vụ; là kết quả của quá trình chuyển đổi
cơ cấu sản xuất ngư nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
Như vậy, kinh tế tỉnh Cà Mau có bước phát triển nhanh, có vị trí quantrọng trong nền kinh tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có sự đóng gópngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế của vùng
19
Tăng trưởng kinh tế (%)
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20
1996-2000 2001-2005 1996-2005 Toàn nền kinh tế Nông, lâm, ngư nghiệp Công nghiệp-XD Dịch vụ
Trang 201.2.2 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
a- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Tỷ trọng khu vực nông ngư lâm nghiệp trong GDP đã giảm từ 68,24% năm
1995 xuống 59,26% vào năm 2000 và 52,46% vào năm 2005 Đặc biệt năm
2006 là năm đầu tiên tỷ trọng các ngành khu vực I đã giảm xuống ở mức dưới50% nhờ sự triển khai xây dựng dự án cụm Khí điện đạm Cà Mau (còn48,12%) Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng tăng từ 16,68% năm 1995 lên20,49% năm 2000 và 24,21% năm 2005 Tương tự, tỷ trọng các ngành khu vựcdịch vụ cũng tăng từ 15,05% lên 20,24% và 23,33%
Thời kỳ 2006- 2010 cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển hướng tích cực, tỷ trọngnông ngư lâm nghiệp tiếp tục giảm trong khi công nghiệp và dịch vụ tiếp tụctăng Năm 2010 tỷ trọng GDP Nông – Lâm – Ngư nghiệp còn khoảng 39,3%,công nghiệp và xây dựng tăng lên 35,5%, Dịch vụ là 25,2%
Biểu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau 2000 -2010 (%)
Ngư nông lâm nghiệp 59.26 52.46 51,45 39.3 Công nghiệp, xây dựng 20.49 24,21 24,05 35.5
b- Thành phần kinh tế: có sự chuyển dịch, góp phần huy động tiềm năng
nguồn lực của các thành phần kinh tế cho phát triển, tạo động lực trong sản xuấtkinh doanh, tăng tính chủ động và năng động của các doanh nghiệp:
Kinh tế nhà nước (doanh nghiệp có vốn nhà nước) tiếp tục được sắp xếp,đổi mới theo đề án được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, năm 2005 tỷ trọngkinh tế nhà nước chiếm 21,53% GDP (kinh tế quốc doanh của cả nước chiếm38,45) Đến cuối năm 2006, toàn tỉnh đã sắp xếp 27 doanh nghiệp nhà nước và
6 bộ phận trực thuộc doanh nghiệp, trong đó: Cổ phần hóa 19 DN và 2 bộ phậntrực thuộc doanh nghiệp; giải thể, sáp nhập, bán cho người lao động, chuyểnthành Công ty TNHH 1 thành viên: 8 doanh nghiệp; đang thực hiện cổ phần hoá
3 doanh nghiệp; hiện chỉ còn lại 3 doanh nghiệp nhà nước tiếp tục nắm giữ100% vốn nhà nước là Công ty Xổ số kiến thiết, Công ty Cấp thoát nước vàcông trình đô thị, Nhà máy đường Thới Bình; ngoài ra còn một số công ty Lâmnghiệp Trong số các doanh nghiệp đã sắp xếp, nhà nước tham gia 44,27% vốn
Phần lớn các doanh nghiệp sau khi sắp xếp, cổ phần hoá đều phát huyđược vai trò tích cực chủ động, sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao hơn,tình hình tài chính được cải thiện, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước nhiềuhơn; thu nhập của người lao động tăng so với trước, một số doanh nghiệp tăngtrên 80%, tỷ suất lợi nhuận trên vốn tăng 4 lần… đã góp phần nâng cao sứccạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 21Kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ) nhất là kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển nhanh với nhiều hình thức đa dạng, góp phần quan trọng vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kinh tế dân doanh năm 2005 chiếm 78,2% GDP Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh thành lập ngày càng nhiều, nhiều doanh nghiệp đã mở rộng quy mô sản xuất, phát triển ngành nghề, giải quyết nhiều việc làm, một số doanh nghiệp chế biến thủy sản ngoài quốc doanh đã đứng đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu thủy sản Tổng số doanh nghiệp của tỉnh thành lập từ năm 2000 đến cuối năm 2006 là 2.360 doanh nghiệp; số doanh nghiệp đang hoạt động là 2.200 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 4.000 tỷ đồng; bao gồm 1794 doanh nghiệp
tư nhân, 314 Công ty TNHH, 4 Công ty TNHH 1 thành viên và 86 công ty cổ phần tổng số DN hiện nay trên địa bàn tỉnh là 3.659 DN, tổng vốn đăng ký 10.894 tỷ đồng (trong đó DNTN là 2.531 DN, Công ty TNHH 715 Công ty, Công ty TNHH1TV 250, Công ty cổ phần 163).
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn rất nhỏ bé, hiện toàn tỉnh chỉ có 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp chứng nhận đầu tư, mức đóng góp vào nền kinh tế không đáng kể, khoảng 0,3% GDP (không kể một số người Việt Nam định cư
ở nước ngoài đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp trong nước) Hiện nay là 5 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 10,125 triệu USD
c- Chuyển dịch cơ cấu lao động: Do lực lượng lao động của tỉnh Cà Mau
hiện chủ yếu là lao động phổ thông, đồng thời ngành nghề nông thôn chậm pháttriển nên việc chuyển đổi cơ cấu lao động của tỉnh khá chậm Tỷ lệ số lao độnglàm việc trong các ngành ngư nông lâm nghiệp hàng năm có giảm nhưng hiệnvẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động của tỉnh Năm 2005, tỷ lệ lao độngcác ngành khu vực I giảm còn 68,14%; tỷ lệ lao động các ngành công nghiệp,xây dựng chiếm 11,77%, lao động dịch vụ chiếm 20,09% Như vậy cơ cấu sửdụng lao động của tỉnh chưa tiến bộ, phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế củamột tỉnh nông nghiệp (tỷ lệ lao động nông nghiệp của vùng đồng bằng sôngCửu Long là 59,7% và bình quân cả nước là 56,7%) Riêng ở nông thôn, tỷ lệlao động công nghiệp và dịch vụ còn rất thấp; theo số liệu kết quả tổng điều tranông thôn, nông nghiệp và thủy sản cuối năm 2006 có tới 180.263 hộ/211.709
hộ chủ yếu làm các ngành nông lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 85,14%; số hộlàm công nghiệp, xây dựng là 4.194 hộ, chiếm 2%; còn lại số hộ làm các ngànhdịch vụ là 12,86%
1.3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐẾN NĂM 2020, TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH
1.3.1- QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
Trên cơ sở đánh giá dự báo các yếu tố, điều kiện phát triển, thực trạng pháttriển, những cơ hội và thách thức; quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Cà Mau trong thời kỳ quy hoạch đến năm 2020 như sau:
21
Trang 221- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 2006-2020 bảo đảm nguyên tắc phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long; tập trung đ ầu t ư phát triển mạnh về kinh tế biển gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường vùng biển.
2- Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; vừa phát triển những ngành sản xuất và dịch vụ mà tỉnh có tiềm năng lợi thế, vừa phát triển những ngành sản xuất và dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng cao để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
3- Phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở phát huy nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, vừa huy động tối đa các nguồn lực tại chỗ đi đôi với thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài, nhất là vốn đầu tư và khoa học công nghệ, tăng cường sự liên kết phát triển giữa các địa phương.
4- Phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
5- Phát triển kinh tế phải gắn với ổn định chính trị, đảm bảo trật tự xã hội, nâng cao dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân; gắn với củng cố tăng cường quốc phòng, an ninh; củng cố kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của
hệ thống chính trị và xây dựng nền hành chính vững mạnh.
1.3.2.- MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
Mục tiêu tổng quát.
Tiếp tục phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, nâng cao hiệu quả
và tính bền vững của sự phát triển, tăng cường xây dựng hệ thống kết cấu hạtầng; phấn đấu đến năm 2020 xây dựng Cà Mau trở thành một tỉnh có kinh tế -
xã hội phát triển, là tỉnh mạnh về kinh tế biển, đóng góp tích cực vào sự pháttriển và là địa bàn trọng điểm về quốc phòng an ninh của vùng Đồng bằng sôngCửu Long và cả nước; đến năm 2015 hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp –dịch vụ - nông nghiệp và tiếp tục củng cố vững chắc trong những năm tiếp theo;cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhân dân
Mục tiêu cụ thể
Trang 23- Khai thác, phát huy tối đa các nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh, bềnvững có hiệu quả, có sức cạnh tranh cao; duy trì và đẩy nhanh hơn nữa về tốc độtăng trưởng kinh tế (cao hơn mức tăng trưởng bình quân của vùng đồng bằngsông Cửu Long) để bù đắp lại yếu tố xuất phát điểm thấp của tỉnh, rút ngắnkhoảng cách phát triển, sớm đạt mức thu nhập bình quân đầu người của cảnước; tiếp tục tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu; từng bước tăng tỷ lệ động viêntài chính một cách hợp lý, phấn đấu sau năm 2015 tỉnh Cà Mau tự cân đối đượcchi ngân sách.
- Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng côngnghiệp và dịch vụ trên cơ sở duy trì ổn định phát triển nông nghiệp, đẩy mạnhtăng trưởng công nghiệp và dịch vụ; đến năm 2015 hình thành cơ cấu kinh tếCông nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp và tiếp tục chuyển dịch trong giai đoạntiếp theo
- Giải quyết đồng bộ các vấn đề xã hội, môi trường; giảm thấp tỷ lệ hộnghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp; từng bước cải thiện và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực của tỉnh; giải quyết cơ bản những vấn đề môi trường cấp bách
- Đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu các tệnạn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông, thực hiện có kết quả chương trình đấutranh phòng chống tham nhũng lãng phí
1.3.3 Các chỉ tiêu phát triển
Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng trên cơ sở Phương án
2 với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển, rút ngắn tiến tới đạt ngang với mức
độ phát triển của đất nước (về GDP bình quân đầu người), nhằm đẩy nhanh tốc
độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sớm hình thành cơ cấu kinh tế Công nghiệp –Dịch vụ - Nông nghiệp, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Các chỉ tiêu kinh tế:
- Phấn đấu giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo giá so sánh 1994năm 2010 đạt khoảng 14.600 tỷ đồng, tốc độ tăng GDP bình quân trong giaiđoạn 2006-2010 là 13,3% GDP năm 2020 đạt khoảng 53.200 tỷ đồng, gấp 3,7lần so với dự kiến năm 2010; tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm giai đoạn
2011 – 2015 là 13,7%; giai đoạn 2016-2020 là 14,2%
- Quy mô GDP năm 2010 đạt khoảng 24.200 tỷ đồng (giá thời điểm năm2005), năm 2015 đạt khoảng 52.500 tỷ đồng và năm 2020 đạt khoảng 71.649 tỷđồng GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 19,70 triệu đồng (tươngđương khoảng 1.100 USD); năm 2015 là 36,0 triệu đồng (khoảng 1.800 USD);năm 2020 là 60,0 triệu đồng (khoảng 3.000 USD)
23
Trang 24- Tỷ lệ huy động tài chính năm 2010 khoảng 9% (1800 tỷ đồng); năm 2015
là 12% (khoảng 4.500 tỷ đồng) và năm 2020 là 15% (10.700 tỷ đồng)
- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP dự kiến:
2010 2015 2020
+ Ngư nông lâm nghiệp: 39,30% 29,0% 19,67%
+ Công nghiệp và xây dựng: 35,5% 38,0% 43,47%
- Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt khoảng 720 triệu USD, năm 2015 đạt1,4 -1,5 tỷ USD và năm 2020 đạt khoảng 1,8 – 2 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩubình quân đầu người năm 2010 đạt 750 USD, năm 2015 đạt khoảng 980- 1.000USD, năm 2020 đạt khoảng 1.200 – 1.300 USD
- Tổng đầu tư xã hội trong 15 năm (2006-2020) khoảng 212 tỷ đồng (theogiá năm 2005), tương đương khoảng 13 tỷ USD, chiếm khoảng 38% GDP
- Năm 2020 có 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã
- Năm 2010 có 90% số hộ dân được sử dụng điện, năm 2020 đảm bảo toàn
bộ các hộ dân được sử dụng điện
- Mật độ máy điện thoại/100 dân năm 2010 đạt khoảng 35-40 máy (có 12,5máy cố định); đến năm 2020 đạt khoảng 50 – 55 máy/100 dân (có 20 máy cốđịnh)
Các chỉ tiêu về xã hội
- Quy mô dân số năm 2010 khoảng 1.224 ngàn người; năm 2015 khoảng1.300 ngàn người; năm 2020 khoảng 1.376 ngàn người Tỷ lệ tăng dân số giảmxuống dưới 1,3% vào năm 2010 và đạt khoảng 1,1% vào năm 2020
- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong toàn tỉnh vào năm2010; có 20% số xã, phường thị trấn đạt phổ cập phổ thông trung học, năm
2015 có 60% và phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dụcphổ thông trung học
- Năm 2010 toàn bộ huyện, thành phố và 50% số xã phường thị trấn hìnhthành được trung tâm văn hoá thể thao; năm 2015 100% số xã phường thị trấnhình thành được trung tâm văn hoá thể thao và tiếp tục nâng cấp mở rộng tronggiai đoạn đến năm 2020
- Năm 2010 có 95% hộ gia đình, 85% số khóm ấp, 55% đơn vị cấp xã và
1-2 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn văn hoá; năm 1-2015 có 85% số khóm ấp, 60-65%
số đơn vị cấp xã và 2-3 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn văn hoá; năm 2020 có
Trang 2585-90% số khóm ấp, 70% số đơn vị cấp xã và 3-4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn vănhoá.
- Hoàn thành chương trình đạt chuẩn quốc gia về y tế xã vào năm 2010trong toàn tỉnh, tiếp tục duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng cho giai đoạnsau 2010
- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (theo cân nặng) xuống 16% vào năm
2010 và giảm xuống còn khoảng 10% vào năm 2020
- Tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo năm 2010 đạt 30%; năm 2020 đạtkhoảng 70%
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp năm 2010 giảm xuống còn khoảng 60% laođộng xã hội; năm 2020 giảm còn khoảng 35 – 40%
- Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 còn dưới 10%; năm 2020 còn khoảng 5% (theochuẩn hộ nghèo giai đoạn 2010-2015)
- Tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố đến năm 2010 đạt khoảng 70%; năm
2020 cơ bản không còn nhà cây lá tạm
Các chỉ tiêu về môi trường
- Tỷ lệ độ che phủ rừng và cây phân tán đạt khoảng 24% vào năm 2010 vàđạt khoảng 28% vào năm 2020
- Năm 2010 có 100% dân số đô thị và 80% dân số nông thôn được sử dụngnước sạch sinh hoạt; đến năm 2020 giải quyết cơ bản về nhu cầu sử dụng nướcsinh hoạt cho nhân dân
- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 80% vào năm 2010 và thu gom toàn bộvào năm 2020 (riêng thành phố Cà Mau đạt khoảng 90% vào năm 2010 và thugom toàn bộ vào năm 2015)
- Đến năm 2010, đảm bảo 100% rác thải y tế được thu gom, xử lý đúng quyđịnh
1.3.4.Những điều rút ra từ đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh tác động đến ngành lao động thương binh xã hội
Thuận tiện
- Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện quan trọng tạo công ăn việc làm chongười lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp Là động lực quan trọng để tỉnh xóa đóigiảm nghèo
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp
và xây dựng là cơ hội để chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp chuyểnsang công nghiệp và dịch vụ
25
Trang 26- Kết cấu hạ tầng trong những năm gần đây đã phát triển nhanh, tạo cơhội nâng cao đời sống dân cư và nâng cao chất lượng nguồn lao động
Khó khăn và thách thức
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
là thách thức lớn đối với lĩnh vực đào tạo nghề Nhu cầu đào tạo ngày càng tăngtrong khi cơ sở chưa được phát triển tương xứng
Đời sống dân cư còn thấp trình độ dân trí chưa cao
Phần thứ hai:
THỰC TRẠNG NGÀNH LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỈNH CÀ MAU 2.1 Thực trạng về dân số và lao động của tỉnh
Dân số điều tra ngày 01/4/2009 là 1.205.108, ước đến 31/12 dân số trungbình năm 2009 là 1.209.325 người, tương tự dự báo dân số trung bình năm 2010
là 1.224.400 người
Bi u 1 Dân s t nh C Mau chia theo gi i tính v khu v cểu 1 Dân số tỉnh Cà Mau chia theo giới tính và khu vực ố tỉnh Cà Mau chia theo giới tính và khu vực ỉnh Cà Mau chia theo giới tính và khu vực à Mau chia theo giới tính và khu vực ới tính và khu vực à Mau chia theo giới tính và khu vực ực
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà mau năm 2008 và kết quả điều tra dân
số năm 2009, dự kiến năm 2010
Trang 27Tỷ lệ tăng dân số trong 10 năm 2000 – 2010 là 1,66%, cao hơn vùng đồngbằng sông Cửu Long và của cả nước (đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn2001-2005 tăng 1,11%, của cả nước là 1,33%)
Biểu 2 Nhịp độ tăng trưởng dân số tỉnh Cà Mau
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau năm 2008 và dự kiến năm 2010.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm đều giảm dần, năm 1996 là 1,99%,đến năm 2005 giảm xuống còn 1,57%, năm 2006 là 0,97%; năm 2007 là 1,4%,năm 2008 là 1,1% Mức giảm nhịp độ tăng trưởng trung bình đạt 0,1%.Tổng tỷsuất sinh đã giảm mạnh và đã gần đạt mức sinh thay thế, hiện còn 2,18 (tổng tỷsuất sinh của vùng đồng bằng sông Cửu Long là 2,2, của cả nước là 2,09) Mật độ dân số trung bình năm 2005 là 229 người/km2 (so với của vùngđồng bằng sông Cửu Long là 435 người/km2 và của cả nước là 256 người/km2).Như vậy mật độ dân số của tỉnh Cà Mau chỉ bằng 52,6% so với mật độ dân sốcủa vùng và bằng 89,5% mật độ dân số cả nước)
Về tăng giảm dân số cơ học, những năm 2000 trở về trước gia tăng dân số
ở tỉnh Cà Mau có một phần do tăng dân số cơ học (tỷ lệ tăng cơ học hàng năm
từ 0,27 – 1,75%o, nhưng từ năm 2001 đến nay tỷ lệ giảm cơ học khá nhiều (năm
2001 giảm 1,85%o, năm 2002 giảm 6,96%o, năm 2005 giảm 0,88%o. Số lượngngười giảm cơ học chủ yếu do sự chuyển dịch lao động đi làm việc tại các khucông nghiệp, làm các ngành dịch vụ ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miềnĐông, một số đi làm việc ở nước ngoài (riêng năm 2006 số lao động đi làm việcngoài tỉnh và ngoài nước đạt khoảng 10.300 người) Tuy vậy hàng năm cũng cómột số người di chuyển đến tỉnh Cà Mau làm ăn nhưng không nhiều (tổng số 4năm khoảng 2000 người) Đa số những người di dân đến tỉnh Cà Mau là người
27
Trang 28nghèo, cư trú tự do làm thuê tại địa bàn các lâm ngư trường, các khu vực venbiển.
Dân số khu vực thành thị tăng từ 196.797 người năm 1996 lên 243.864người năm 2005, năm 2006 là 247.536 người, năm 2007 là 249.643 người, năm
2008 là 255.327 người tỷ lệ tăng bình quân hàng năm 2,49% (so với của vùng
là 4,35%) Tỷ trọng dân số khu vực thành thị đã tăng từ 20% năm 1996 lên20,23% năm 2008, năm 2009 là 20,5%.Như vậy tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh
Cà Mau so với dân số chung thấp hơn so với bình quân toàn vùng đồng bằngsông Cửu Long và cả nước (20,7% và 26,97%), như vậy tốc độ đô thị hoá củatỉnh Cà Mau chậm hơn
Biểu 3 C c u dân s phân theo gi i tính, th nh th ,nông thônơ cấu dân số phân theo giới tính, thành thị ,nông thôn ấu dân số phân theo giới tính, thành thị ,nông thôn ố tỉnh Cà Mau chia theo giới tính và khu vực ới tính và khu vực à Mau chia theo giới tính và khu vực ị ,nông thôn
Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo thành thị,
nông thônNam Nữ Thành thị Nông thôn
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà mau năm 2008 và dự kiến năm 2010
Quy mô, mật độ dân số giữa các huyện trong tỉnh Cà Mau có sự chênh lệchkhá lớn, cụ thể dân số, mật độ dân năm 2008 như sau:
Biểu 4 Mật độ dân số phân theo địa bàn các huyện và thành phố
Trang 29Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà mau năm 2009
Dân số của tỉnh phân bố không đều, mật độ dân số ở các phường, thị trấncao hơn nhiều lần so với các xã, nhất là các xã ven biển Cụ thể năm 2005, mật
độ dân số trung bình khu vực thành thị là 1.794 người/km2, mật độ dân số vùngnông thôn là 188 người/km2, mật độ dân số các xã vùng ven biển chỉ có 146người vì đây là các xã vùng rừng, một số xã có mật độ dân số rất thấp như xãTam Giang Đông huyện Năm Căn bình quân chỉ có 63 người/km2 Riêng 2 thịtrấn ven biển là Sông Đốc và Cái Đôi Vàm có mật độ dân số khá cao (800người/km2)
Việc định cư các hộ dân trong tỉnh Cà Mau (cũng như các tỉnh khác trongvùng đồng bằng sông Cửu Long) chủ yếu ở ven sông rạch, các vàm sông và dọctheo các tuyến đường giao thông; số cụm dân cư định cư tập trung không nhiều.Đây là đặc điểm tập quán ảnh hưởng đến phát triển hạ tầng các khu dân cư, làmhạn chế hiệu quả đầu tư hạ tầng, nhất là đối với các công trình lưới điện sinhhoạt, đường giao thông; một bộ phận khá đông hộ dân làm nhà ven sông, kể cảtrong nội ô thành phố Cà Mau và các thị trấn là nguyên nhân gây ô nhiễm môitrường, cảnh quan đô thị
Đáng chú ý là tình trạng di dân tự do ở tỉnh Cà Mau khá phức tạp, kể cả didân từ các tỉnh khác đến tỉnh Cà Mau (những năm trước) và di dân trong nộitỉnh Địa bàn di dân đến chủ yếu là vùng ven biển, khu vực rừng ngập mặn đểnuôi tôm, vùng cửa sông để buôn bán Toàn tỉnh có trên 4.000 hộ dân đang sinhsống ở vùng ngoài đê biển và trong rừng phòng hộ ven biển; riêng ở ngoàituyến đê biển Tây và các cửa sông hiện có gần 2.300 hộ dân đang cần phải sắpxếp tái định cư vào phía trong để phòng thiên tai có thể xảy ra (sóng thần, bãolốc…)
29
Trang 30Tỷ lệ giới tính trong dân số của tỉnh Cà Mau tương đối cân bằng, tuy nhiên
tỷ lệ dân số là nữ giới đang có xu hướng giảm trong những năm gần đây, từ51,92% năm 1996 xuống còn 50,7% năm 2005 và năm 2006 còn 50,67% Năm
2008 còn 50,05%
Dân số của tỉnh Cà Mau có cơ cấu tương đối trẻ hơn so với toàn vùng đồngbằng sông Cửu Long và cả nước, mặc dù những năm gần đây tỷ lệ sinh đã giảmkhá nhanh; tỷ trọng số người từ 0-17 tuổi chiếm 43,18% dân số Kết quả điềutra dân số năm 2009 tỷ trọng này là 31,6%
Cũng như cả nước và cả vùng, tỉnh Cà Mau có cơ cấu đa dân tộc, trongtỉnh có 20 dân tộc khác nhau, người Kinh chiếm chủ yếu (97,16%), ngườiKhmer chiếm gần 2%, người Hoa chiếm 0,95% Những hộ đồng bào dân tộcKhmer thường định cư ở địa bàn các xã vùng sâu vùng xa, đời sống còn nhiềukhó khăn
2.2 Nguồn lao động và sử dụng lao động.
2.2.1.Nguồn lao động.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2005 là 1098 ngàn người, năm
2010 là 1092 ngàn người, trong đó, lao động trong độ tuổi năm 2005 là 978ngàn người, năm 2010 là 971 ngàn người, lao động đang làm việc trong nềnkinh tế năm 2005 là 621 ngàn người, năm 2009 là 640.902 người; năm 2010 là662,6 ngàn người
Biểu 5.Lao động –việc làm trên địa bàn tỉnh.ng –vi c l m trên ệc làm trên địa bàn tỉnh à Mau chia theo giới tính và khu vực đị ,nông thôna b n t nh.à Mau chia theo giới tính và khu vực ỉnh Cà Mau chia theo giới tính và khu vực
Tỷ lệ tuổi lao động so với dân
Nguồn: Nhà xuất bản lao động và Nhà xuất bản thống kê , Ha Noi 2006 và dự kiến 2010
Qua bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ tuổi từ 15 trở lên so với dân số của tỉnh làrất cao nhưng tỷ lệ việc làm so với dân số là rất thấp, điều này cho thấy lực lượnghọc sinh, người cao tuổi, người thất nghiệp là quá lớn, đây là thách thức lớn đối vớingành lao động thương binh và xã hội Tuy nhiên, tỷ lệ việc làm so với dân số từ 15tuổi trở lên hàng năm đều tăng, điều này cho thấy quá trình giải quyết việc làm củatỉnh đã có nhiều tiến bộ và ngày càng tăng
Biểu 6 Một số chỉ tiêu về nguồn lao động của cả nước
Trang 31Nguồn: xu hướng việc làm Việt Nam 2009- Cục Việc làm Bộ LĐTB& XH
2.2.2.Chất lượng nguồn lao động.
Trình độ học vấn và kỹ thuật nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau tương đốithấp, chưa đạt mức bình quân cả nước Số liệu điều tra 01//7/2005 cho thấy trình
độ lao động của tỉnh còn rất hạn chế: 73,4% mới có trình độ văn hoá tiểu học,18% có trình độ trung học cơ sở, 8,6% có trình độ phổ thông trung học (so vớivùng đồng bằng sông Cửu Long là 11,37%) Như vậy số lao động tốt nghiệpTHCS trở lên chỉ chiếm 26,6% so với của vùng đồng bằng sông Cửu Long là27,7%, của cả nước là 53,8%) Số lao động có trình độ học vấn thấp chủ yếu làngư dân làm nghề khai thác hải sản trên biển; theo số liệu điều tra năm 2004:trong tổng số 18.931 lao động làm nghề khai thác hải sản có tới 3.420 người mùchữ (chiếm 18%), 14.258 người mới học tiểu học (chiếm 75,3%), trình độ trunghọc cơ sở và trung học phổ thông chỉ chiếm 6,7%
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động tỉnh Cà Mau cũng còn thấp, đa
số là lao động phổ thông ( năm 2010 chiếm 70%), số lao động kỹ thuật và đượcđào tạo năm 2005 mới đạt khoảng 18,7% (so với bình quân cả nước là 25%),Năm 2010 đạt 30%, đồng thời chất lượng đào tạo nghề và cơ cấu nghề đào tạocòn hạn chế nên chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng lao động, trong đó số người
có trình độ từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên chỉ đạt trên 6% Đồng thời, laođộng của tỉnh chủ yếu làm nông nghiệp, quen tác phong làm việc tự do, chưa cótác phong sản xuất công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động thấp, hạnchế về ngoại ngữ nên gặp khó khăn về khả năng cạnh tranh trong thị trường laođộng xã hội và phân công lao động xã hội Đây là cản trở lớn trong tiến trìnhcông nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế về lao động
Biểu 7 Cơ cấu lao động qua đào tạo
31
Trang 32Tổng số Chia ra
Cao đẳngtrở lên
Trunghọc,CN kỹthuật
Nguồn Sở lao động, thương binh và xã hội tỉnh Cà Mau
Biểu 8.Trình độ lao động tỉnh Cà Mau so với cả nước
Nguồn Sở lao động, thương binh và xã hội tỉnh Cà Mau
Mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động theo ngành, lĩnh vựcnhưng cơ cấu lao động của tỉnh còn lạc hậu và thể hiện trình độ chưa phát triển;
số lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp chiếm
tỷ trọng cao Theo kết quả điều tra lao động việc làm thời điểm 01/7/2005: laođộng nông lâm thủy sản từ 87% năm 2000 giảm còn 83,68% năm 2005, Năm
2010 giảm còn 64,84%, tương ứng số lao động công nghiệp xây dựng từ 4,4%tăng lên 7,13% năm 2005 và 16,3% (2010), số lao động dịch vụ tăng từ 8,6%lên 9,19% năm 2005 và 18,86% năm 2010 Trong khi đó tỷ lệ lao động nôngnghiệp của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2005 là 59,7%; bình quâncủa cả nước là 56,7%)
Như vậy so với bình quân vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước thìquá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng lao động của tỉnh chậm hơn, tỷ trọng laođộng lĩnh vực nông ngư lâm nghiệp còn cao, nhất là từ khi chuyển đổi cơ cấusản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm đã tăng lên cao hơn so với năm 1996, cụ thểnhư sau:
Trang 33Biểu 9 so sánh cơ cấu sử dụng lao động giữa tỉnh Cà Mau với vùng đồngbằng sông Cửu Long và cả nước (%):
ĐBS CL
Cả nước
NLN 85.07 65.6 87.0 61.5 67.2 68,1 59.7 56.7CN-XD 3.71 10.1 4.40 11.2 12.6 11,8 13.6 17.9
Bảng 10 Năng suất lao động tỉnh Cà Mau theo các lĩnh vực:
n v : USD
Đơ cấu dân số phân theo giới tính, thành thị ,nông thôn ị ,nông thônNăm 1995 Năm 2000 Năm 2005 Tăng BQ %
Công nghiệp, xây dựng 3.341 3.462 7.105 7,84
Xử lý từ nguồn số liệu Thống kê tỉnh Cà Mau.
33
Trang 34Qua phân tích về dân số và nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau cho thấy: mật
độ dân số trung bình thấp hơn toàn vùng và cả nước, nhưng tỷ lệ tăng dân số tựnhiên của tỉnh còn ở mức khá cao, những năm gần đây có hiện tượng giảm dân
số cơ học (lao động đi làm ăn ở nơi khác), dân cư trong tỉnh phân bố không đều,các xã vùng ven biển có mật độ dân cư thấp hơn nhiều so với vùng nội địa; mật
độ dân số khu vực đô thị còn thấp (mới đạt gần 2.000 người/km2) Đến năm
2010, dân số Cà Mau sẽ đạt mức sinh thay thế (tổng tỷ suất sinh là 2,1), tuynhiên vào năm 2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh Cà Mau vẫn còn ở mứccao hơn so với bình quân vùng đồng bằng sông Cửu Long (1,06%) và cả nước(1,14%)
2010 tăng lên 16,3% Lao động dịch vụ năm 2005 là 9,19% năm 2010 tăng lên18,86%
Biểu 11 Tỷ trọng lao động chia theo ngành tỉnh Cà Mau
Ngư-nông –lâm 83,68 79,33 73,1 68,94 68,8 64,84Công nghiệp,xd 7,13 8,63 11,51 14,15 10,0 16,30Dịch vụ 9,19 12,04 15,39 16,91 21,2 18,86
Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020
Như vậy, Cơ cấu lao động chia theo ngành của tỉnh Cà Mau thể hiện nềnkinh tế thuần nông là chính, tỷ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch vụđều thấp so với cả nước ( năm 2007 cả nước 47,8% tỉnh Cà Mau 35,16% )
Biểu 12 Tỷ trọng lao động chia theo ngành của cả nước.
1997 2000 2004 2005 2006 2007
Trang 35Ngư-nông –lâm 65,3 65,3 57,9 56,7 54,7 52,2
Công nghiệp,xd 12,7 12,4 17,4 17,9 18,3 19,2
Dịch vụ 22,0 22,3 24,8 25,4 27,0 28,6
Nguồn: Nguồn: xu hướng việc làm Việt nam 2009- Cục Việc làm Bộ LĐTB& XH
2.2.4 Kết quả giải quyết việc làm.
Hang năm giải quyết việc làm mới cho lao động trên địa bàn tỉnh ngàycàng tăng, từ 26.950 người ( 2005) lên 31.140 người ( năm 2010), cùng với sốlao động có thêm giờ làm tăng lên, góp phần giảm bớt số người thất nghiệp
Biểu 13 Số lao động được tạo việc làm trong năm
Đơn vị: người
Năm Lao động được giải quyết việc làm
Việc làmmới
Thêmviệc làm
Tỷ lệ sửdụngthời gianlao động
Tỷ lệthấtnghiệp
Laođộngqua đàotạo
Tỷ lệ laođộng quađào tạo
Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau năm 2008 và dự báo năm 2010
Tuy nhiên, nguồn nhân lực của tỉnh chưa được sử dụng triệt để Số ngườichưa có việc làm và chưa tham gia làm việc còn khá lớn , đồng thời tỷ lệ sửdụng quỹ thời gian lao động còn thấp, nhất là sau khi chuyển đổi sản xuất từtrồng lúa sang nuôi tôm thì tình trạng thiếu việc làm của phụ nữ nông thôn tănglên khá cao (theo ước tính tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn chỉ đạtkhoảng 60-70%)
Số người thất nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều, theo số liệu điều tracủa Bộ Lao động thương binh và xã hội thì số thất nghiệp của tỉnh hàng nămvẫn còn khoảng 25-26 ngàn người
35