Vì vậy, luận văn “Xây dựng chiến lược xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần đảm bảo an ninh phi truyền thống tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La” với mong muốn làm rõ những vấn đề lý luận và thực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
VŨ HOÀI BẮC
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
NHẰM GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG
Ở HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chương trình thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG ĐÌNH PHI
Hà Nội - 2017
Trang 3CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác
Những kết quản nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công
thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã được các tác giả
đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên
Hà Nội, ngày … tháng … năm …
Tác giả luận văn
VŨ HOÀI BẮC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tập thể các giáo sư, các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo của Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức và chỉ bảo tôi trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Đình Phi, thầy giáo hướng dẫn luận văn của tôi – đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ của mình, giúp định hướng khoa học và luôn động viên khích lệ tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi, giúp tôi tìm kiếm, chuẩn bị và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu thông tin quan trọng cũng như đóng góp cho luận văn của tôi nhiều ý kiến quý báu
Cuối cùng tôi xin đặc biệt cảm ơn những người thân trong gia đình đã quan tâm chia sẻ và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi có thể yên tâm vững lòng hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
VŨ HOÀI BẮC
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC HÌNH VẼ ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 5
1.1 Đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo 5
1.1.1 Khái niệm về đói nghèo 5
1.1.2 Nguyên nhân của đói nghèo 7
1.1.3 Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 9
1.2 An ninh phi truyền thống và vai trò của xóa đói giảm nghèo trong việc đảm bảo an ninh phi truyền thống 12
1.3 Chiến lược xóa đói giảm nghèo 19
1.3.1 Chiến lược 19
1.3.2 Chiến lược xóa đói giảm nghèo 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO TẠI HUYỆN VÂN HỒ SƠN LA 21
2.1 Thực trạng kinh tế- xã hội của huyện Vân Hồ 21
2.1.1 Về kinh tế 22
2.1.2 Về xã hội 23
2.1.3 Về chính trị - an ninh-quốc phòng 24
2.2 Thực trạng đói nghèo ở huyện Vân hồ 24
2.2.1 Vấn đề an ninh lương thực 24
2.2.2 Tình trạng đói nghèo 27
2.2.3 Một số phát hiện khác 29
2.2.4 Kết quả thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo 30
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO NHẰM ĐẢM BẢO AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA 33
3.1 Cơ sở đề xuất chiến lược 33
3.1.1 Điểm mạnh 33
3.1.2 Điểm yếu 34
3.1.3 Cơ hội 35
3.1.4 Thách thức 36
3.1.5 Kết quả phỏng vấn 36
Trang 63.2 Đề xuất chiến lược xóa đói giảm nghèo của huyện Vân Hồ 40
3.2.1 Tầm nhìn 40
3.2.2 Định hướng chiến lược 40
3.2.3 Định hướng giải pháp 41
3.2.4 Chiến lược ưu tiên 43
KẾT LUẬN CHUNG 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 51
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ANPTT An ninh phi truyền thống
2 ANLT An ninh lương thực
3 XĐGN Xóa đói giảm nghèo
4 UNDP Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc
6 IMF Qũy tiền tệ quốc tế
7 FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp quốc
8 MTQG Mục tiêu quốc gia
9 HPI Human Poverty Index
10 MPI Multidimension Poverty Index
11 KTXH Kinh tế xã hội
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Sơn La 21
Hình 2.2: Bản đồ vị trí địa lý huyện Vân Hồ 22
Hình 3.1: Sơ đồ liên hệ các điểm, tuyến Du lịch xung quanh khu vực tới xã Chiềng Yên 35
Hình 3.2: Một số hình ảnh về cảnh quan, con người Vân Hồ 36
Hình 3.3: Trụ cột chiến lược xóa đói giảm nghèo cho huyện Vân Hồ 43
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các nguồn sinh kế của đồng bào dân tộc tại xã Chiềng Yên 25
Biểu đồ 2.2: Sự thuận tiện trong việc tiếp cận lương thực của đồng bào dân tộc 26
Biểu đồ 2.3:: Mức thu nhập của người dân xã Chiềng Yên 27
Biểu đồ 2.4: Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng đói nghèo 28
Biểu đồ 2.5: Điều kiện tiếp cận điện, nước trong sinh hoạt và sản xuất 28
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vân Hồ là một huyện trẻ, được hình thành từ tháng 9/2013 theo sự điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mộc Châu, Sơn La Nơi đây có những điều kiện tự nhiên, địa lý hết sức thuận lợi như diện tích lớn (97.984 ha, tương đương diện tích một tỉnh như Hưng Yên), nằm trên tuyến giao thông Quốc lộ 6 huyết mạch của vùng Tây Bắc, đồng thời là nơi thuộc Sơn La gần Hà Nội nhất với khoảng cách 170km Các điều kiện tự nhiên khác như khí hậu thuận lợi (mát mẻ quanh năm nhờ độ cao 800 – 1000m), nhiều cảnh quan đặc sắc chưa hề được khai thác (rừng thông bản Bó Nhàng, Hua Tạt với diện tích trên 100ha, khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nhạ với diện tích trên 18.000 ha, khu du lịch sinh thái rừng Pa Cốp trên 150ha) tạo cho Vân Hồ lợi thế lớn về du lịch sinh thái, cộng đồng cũng như nông nghiệp chất lượng cao
Tuy nhiên, bên cạnh đó người dân tộc thiểu số trên địa bàn Huyện Vân Hồ đang phải chịu đựng mức sống nghèo khổ suốt nhiều năm Sự nghèo đói đã và vẫn đang tiếp tục là cái vòng luẩn quẩn buộc chặt cuộc sống và ý thức vươn lên của người dân tộc vốn đã thiếu những cơ hội căn bản Đây cũng là căn nguyên trực tiếp của nạn phá rừng trồng ngô, sử dụng tràn lan các loại thuốc diệt cỏ, hóa chất nông nghiệp độc hại, gây tác động nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái nơi đây, vốn là một trong những cảnh quan thiên nhiên đẹp nhất của Việt Nam và khu vực Sự nghèo khó, bế tắc về sinh kế cũng góp phần làm trầm trọng hóa nạn buôn lậu, vận chuyển ma túy, đưa nhiều thanh niên hiền lành, chất phát người dân tộc rơi vào vòng lao lý, tù tội, phá hủy nhiều gia đình, làm băng hoại đạo đức cộng đồng và xã hội Vấn nạn ma túy tại đây gây nên sự tan nát của các gia đình, phá vỡ cộng đồng và ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh của khu vực cũng như cả nước Thực tế đã kéo dài nhiều năm nhưng chưa được giải quyết thành công do thiếu cách tiếp cận thông minh, sáng kiến chiến lược đột phá đòi hỏi sự thấu hiểu địa phương sâu sắc
Vì vậy, luận văn “Xây dựng chiến lược xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần đảm bảo
an ninh phi truyền thống tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La” với mong muốn làm rõ những
vấn đề lý luận và thực tiễn của đói nghèo, an ninh phi truyền thống, từ đó đưa ra đề xuất về chiến lược xóa đói giảm nghèo góp phần giải quyết vấn nạn ma túy và đảm bảo an ninh phi truyền thống cho huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, vấn đề xóa đói giảm nghèo và an ninh phi truyền thống đều là những vấn
đề được nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm Mặc dù cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau, song nhìn chung đều đã phác họa bức tranh tổng thể về vấn
Trang 11đề này Đó đều là những cơ sở cứ liệu, căn cứ quan trọng để tác giả kế thừa và tiếp tục nghiên cứu làm rõ nội dung của luận văn
2.1.Những vấn đề liên quan đến luận văn đã được nghiên cứu
- Xóa đói giảm nghèo
Bài viết “Chiến lược bảo tồn và phương pháp tiếp cận đối với phát triển bền vững và
xóa đói giảm nghèo khu vực miền núi của Nepal” của tiến sĩ Prabhu Budhathoki phân tích
các phương pháp, tiếp cận khác nhau về vấn đề bảo tồn và xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ sinh
kế cho người dân
Bài viết “Phát triển mô hình cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng dựa trên tiềm
năng tri thức bản địa của dân tộc thiểu số” của PGS TS Ngô Quang Sơn, Viện trưởng
viện Dân tộc thiểu số
Bài viết “Sự tham gia của cộng đồng, các nhà tài trợ quốc tế trong công cuộc giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của Gavan McCam, chủ tịch nhóm dân
tộc thiểu số đã khái quát về sự tham gia của cộng đồng các nhà tài trợ trong công cuộc giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số
Tham luận “Phát triển mô hình cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng dựa trên tiềm
năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số” của PGS TS Ngô Quang Sơn đã chỉ ra
thực trạng sinh kế và những tác động của tri thức bản địa vào sự phát triển sinh kế Đồng thời đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế dựa trên tiềm năng tri thức bản địa phong phú của các dân tộc thiểu số
Những đặc điểm thị trường trong sự phát triển kinh kế của các dân tộc thiểu số:” Kinh
nghiệm từ dự án xóa đói giảm nghèo lần hai tại khu vực miền núi phía Bắc” của Nguyễn
Thanh Dương và Nguyễn Thị Minh Nghĩa đã chia sẻ kinh nghiệm trong việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc thông qua các mối liên kết thị trường
Cuốn sách: “Giảm nghèo và Rừng ở Việt Nam” của William D Sunderlin và Huỳnh
Thu Ba đã đưa ra lời giản đáp cho câu hỏi mức độ tài nguyên rừng đã và sẽ đóng góp cho mục đích giảm nghèo ở Việt Nam
- An ninh phi truyền thống
Bài viết “Quan điểm của Việt Nam về một số thách thức an ninh phi truyền thống hiện nay”
của Nguyễn Thị Thúy Hà trình bày về những quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về an ninh phi truyền thống cũng như những giải pháp nhằm ứng phó với nguy cơ này
Bài viết “ Định nghĩa An ninh phi truyền thống và bài học cho Trung Quốc” của
Yizhou Zang đã đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau và làm thế nào để giải quyết những vấn
đề của an ninh phi truyền thống
Trang 12Bài viết “ Các nguy cơ của An ninh truyền thống và An ninh phi truyền thống đối với
các nước Châu Á” của Niklas Swanstrom đã phân tích về các tác động của an ninh truyền
thống và an ninh phi truyền thống
Bài viết “Châu Á trước những thách thức an ninh năng lượng và lương thực” của
Song Phương đã dự báo sự phát triển nóng tại các quốc gia Châu Á đi kèm với nhu cầu về năng lượng và lương thực tăng cao
Bài viết “Tác động của biến đổi khí hậu đến an ninh lương thực quốc gia” của tiến sỹ
Tô Văn Trường bàn về các thách thức đối với vấn đề an ninh lương thực
Bài viết “An ninh phi truyền thống – vấn đề mang tính toàn cầu” của Nguyễn Mạnh
Hưởng đề cập đến những vấn đề như cạn kiệt tài nguyên, biến đối khí hậu, ô nhiễm môi trường, thảm họa thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia… đang đặt ra những yêu cầu bức thiết phải có sự nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế đối phó, vì sự
an nguy của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại
- Chiến lược xóa đói giảm nghèo
Chiến lược xóa đói giảm nghèo quốc gia đã đưa ra các mục tiêu và giải pháp cụ thể giúp tác giả định hình những mục tiêu và giải pháp cho huyện Vân Hồ, Sơn La
Chiến lược xóa đói giảm nghèo của Haiti đề cập tới những giải pháp từ vĩ mô đến vi
mô và đưa ra kế hoạch ngắn, trung, dài hạn cũng như những chương trình hành động cụ thể
để đạt được các mục tiêu xóa đói giảm nghèo
2.2.Những vấn đề tiếp tục được nghiên cứu trong luận văn
Tác giả tập trung vào làm rõ vai trò của xóa đói giảm nghèo trong việc góp phần đảm bảo an ninh phi truyền thống Bên cạnh đó, tác giả đề xuất chiến lược để giải quyết các vấn
đề đói nghèo tại huyện Vân Hồ Đây đều là những điểm mới, được tác giả nghiên cứu và
đề xuất dựa trên kinh nghiệm thực tiễn trong hơn 15 năm làm việc
- Nghiên cứu các khái niệm về xóa đói giảm nghèo, an ninh phi truyền thống
- Nghiên cứu các chương trình, chiến lược xóa đói giảm nghèo
- Nghiên cứu về các ảnh hưởng, tác động của đói nghèo đến an ninh phi truyền thống
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng đói nghèo tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
Trang 134 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân đói nghèo và chiến lược xóa đói giảm nghèo giúp đảm bảo an ninh phi truyền thống tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung : luận văn được giới hạn trong vấn đề xóa đói giảm nghèo và vai trò của xóa
đói giảm nghèo đối với việc đảm bảo an ninh phi truyền thống như thế nào
Thời gian: Luận văn sẽ tập trung xem xét các số liệu trong thời gian từ năm 2014 đến
2016 bởi Vân Hồ là một huyện mới thành lập Tuy nhiên, số liệu chưa có nhiều, và chưa được thống kê một cách đầy đủ và có hệ thống
Không gian: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo nhằm đảm
bảo an ninh phi truyền thống trên phạm vi huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu
- Phương pháp điều tra, thống kê bằng bảng hỏi: Tác giả lựa chọn khảo sát thực tế tại xã Chiềng Yên, một trong những xã nghèo nhất của huyện Vân Hồ Do hạn chế về nguồn lực và thời gian nên số mẫu nhỏ, có thể chưa phản ánh đầy đủ và cũng chưa đủ để khái quát hóa thành bức tranh chung cho toàn bộ Huyện Vân Hồ, nhưng tác giả tin rằng nó cũng đã khái quát được những nét đặc trưng chính của vùng Số lượng mẫu được lựa chọn ở đây là 38 mẫu bao gồm cả phỏng vấn nhóm (2 nhóm, một nhóm 13 nhóm; 1 nhóm 10 người) và phỏng vấn 15 hộ gia đình tại các bản Pà Puộc, Piềng Chà, Phụ Mẫu
I, II, bản Bướt , Suối Mực, Bỗng Hà, Phà Lè và một số cán bộ địa phương Tác giả cũng may mắn được tham gia lễ cấp sắc, một lễ hộ truyền thống của người Dao Các câu hỏi được xoay quanh vấn đề sinh kế, thu nhập, đói nghèo, an ninh lương thực
- Phương pháp thống kê mô tả
- Sử dụng mô hình phân tích SWOT
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cở sở lý luận về đói nghèo và an ninh phi truyền thống
- Chương 2: Thực trạng xóa đói giảm nghèo tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
- Chương 3: Đề xuất chiến lược xóa đói giảm nghèo nhằm đảm bảo an ninh phi truyền thống cho huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG
1.1 Đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo
1.1.1 Khái niệm về đói nghèo
Đói nghèo là một khái niệm đa chiều và rất khó định nghĩa UNDP cho rằng “ Đói
nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc” 1
Theo cách tiếp cận của UNDP thì đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất Sự thiếu thốn vật chất này có thể còn được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống
Đó có thể là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác
Để đánh giá về nghèo khổ đa chiều, UNDP sử dụng chỉ số HPI (Human Poor Index) và chỉ
số nghèo khổ tổng hợp (MPI – Mutidimensional Poverty Index) HPI là chỉ số nhằm cố gắng tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lượng cuộc sống con người vào trong một chỉ số tổng hợp để tiến tới một sự đánh giá tổng hợp về mức độ nghèo khổ của một cộng đồng Chỉ số MPI về cơ bản cũng sử dụng các tiêu chí giống HPI nhưng có hoàn thiện, cụ thể hơn về nội dung và cách tính toán Các yếu tố này bao gồm 10 thành phần tương ứng 3 phương diện: sức khỏe bao gồm hai thành phần suy dinh dưỡng và chết yểu; phương diện giáo dục bao gồm hai thành phần là tình trạng không học hết 5 năm và trẻ em không được đến trường; phương diện chất lượng cuộc sống bao gồm 6 thành phần: tình trạng không được sử dụng điện, nước sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệu đun nấu bẩn và không có phương tiện đi lại tối thiểu
Trong Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – Tấn công nghèo đói năm 2000, WB
cho rằng “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một
khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng mà còn là sự thiếu thốn về giáo dục và y tế” WB cũng chỉ ra người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất
lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó
Hội nghị bàn về nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã đưa ra khái niệm
về đói nghèo như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
1
“Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở Châu Á và Thái Bình Dương” , UNDP, Trung tâm Vùng Châu Á- Thái Bình Dương, Bangkok, Thái Lan, 2012, trang 4
Trang 15thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”
Trên thế giới vấn đề đói nghèo cũng được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: nghèo về văn hóa, nghèo về tri thức, nghèo về kinh tế… Dưới góc độ kinh tế, nghèo cũng được xem xét với các lát cắt khác nhau như: nghèo về lương thực thực phẩm, nghèo về điều kiện sinh hoạt, nghèo trong việc bị hạn chế, tiếp cận với nguồn lực phát triển, nghèo trong việc khó tiếp cận với thị trường
Abapiasen – chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia và sự phát triển cộng đồng
Tóm lại, đói nghèo có thể được hiểu là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của đói nghèo thu nhập Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế Tiếp đến nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào hoàn cảnh đói về thu nhập hoặc sức khỏe Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, quyền lực của người nghèo
Với phát hiện đói nghèo là đa chiều, các khía cạnh đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cho thấy để giải quyết vấn đề đói nghèo cần có một hệ thống các chính sách hoàn chỉnh và đồng bộ và cần hiểu đúng về bản chất và nguyên nhân của đói nghèo
Ở Việt Nam, chuẩn nghèo từ 2006 đến 2010 được áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ –TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho 2006 – 2010, quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:
- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn dưới 200.000 đồng/người/tháng
- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị dưới 260.000 đồng/người/tháng
Tuy nhiên chuẩn nghèo trên chưa đánh giá được đúng thực tế nghèo Chuẩn nghèo này còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới với ngưỡng 1 USD/người/ngày
Do vậy, ngày 30/1/2011 theo đề nghị của Bộ LĐTBXH, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về biệc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 Cho đến nay, Thủ tướng cũng đã ban hành quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 trong đó chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Chuẩn cận nghèo:
Trang 161.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Ngoài ra còn có cả tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: a) Các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh; thông tin; b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hôi cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt;
hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Về việc xác định như thế nào là người nghèo, hiện có nhiều phương pháp khác nhau
Một phương pháp quốc tế để xây dựng các chỉ số nhất quán giữa các năm là so sánh mức chi tiêu hộ gia đình trên đầu người với ngưỡng nghèo Ngưỡng nghèo được định nghĩa là chi phí cho một rổ hàng tiêu dùng thực phẩm và phi thực phẩm cần thiết cho một cuộc sống khỏe mạnh Trong trường hợp Việt Nam, ngưỡng nghèo thông dụng là chi phí cho một rổ hàng hóa cung cấp 2.100 đơn vị calo cho một người trong một ngày Các chỉ số khác thường được sử dụng là nghèo lương thực và chỉ số khoảng cách nghèo Một hộ gia đình được coi là nghèo lương thực khi chi tiêu của hộ đó thấp đến nỗi dù họ có chi tất cả tiền cho việc mua lương thực thì cũng không đủ để có 2.100 đơn vị calo mỗi ngày Bên cạnh đó, là ngay cả các hộ gia đình nghèo nhất thì họ vẫn phải có nhu cầu đối với các khoản chi phí lương thực khác Chỉ số khoảng cách nghèo là “mức chênh lệch” trung bình giữa chi tiêu của những người nghèo và mức chi tiêu tại ngưỡng nghèo Thước đo này được sử dụng để mô tả mức độ nghèo là nông hay sâu
1.1.2 Nguyên nhân của đói nghèo
Nguyên nhân của sự đói nghèo rất đa dạng Tuy nhiên, trên thực tế không có một nguyên nhân nào biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đói nghèo đặc biệt là đói nghèo trên diện rộng,
có tính chất xã hội Nó cũng không phải là nguyên nhân thuần tuý về mặt kinh tế hoặc do thiên tai Ở đây nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là có sự đan xen cả nguyên nhân sâu
xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn kinh tế -xã hội
Lịch sử
Nhiều người trong số những quốc gia nghèo nhất trên thế giới đều là thuộc địa cũ, khu vực
và vùng lãnh thổ nô lệ xuất khẩu từ đó các nguồn lực đã được chiết xuất có hệ thống vì lợi ích của các nước thuộc địa Mặc dù có những ngoại lệ đáng chú ý (Úc, Canada và Mỹ là có lẽ nổi bật nhất), đối với hầu hết các cựu thuộc địa, chủ nghĩa thực dân và các di sản của nó đã giúp tạo ra các điều kiện ngăn chặn nhiều người dân tiếp cận đất đai, vốn, giáo dục và các nguồn lực khác cho phép mọi người để tự nuôi mình đầy đủ Trong các quốc gia, nghèo đói là một trong những di sản của một lịch sử khó khăn liên quan đến cuộc chinh phục
Trang 17 Chiến tranh và bất ổn chính trị
Cả hai yếu tố này thường được gắn liền với lịch sử của chủ nghĩa thực dân, nhưng bất
cứ nguyên nhân của chiến tranh và biến động chính trị, nó là rõ ràng rằng sự an toàn, ổn định và an ninh là rất cần thiết cho sự sống và, ngoài ra, sự thịnh vượng kinh tế và tăng trưởng Nếu không có những điều cơ bản, tài nguyên thiên nhiên không thể được khai thác
cá nhân hay tập thể, và không có số lượng giáo dục, tài năng hay bí quyết công nghệ sẽ cho phép mọi người làm việc và gặt hái những lợi ích của thành quả lao động của họ Tương tự như vậy, pháp luật là cần thiết để bảo vệ quyền lợi, tài sản và các khoản đầu tư, và không
có sự bảo vệ pháp lý, nông dân, những doanh nhân và chủ doanh nghiệp không thể đầu tư một cách an toàn trong nền kinh tế của một quốc gia Đó là một dấu hiệu kể rằng những nước nghèo nhất trên thế giới đã trải qua tất cả các cuộc chiến tranh dân sự và biến động chính trị nghiêm trọng tại một số điểm trong thế kỷ 20, và nhiều người trong số họ có các chính phủ yếu mà không thể hoặc không bảo vệ con người chống lại bạo lực
Nợ công
Nhiều nước nghèo mang vác các khoản nợ lớn do các khoản vay từ các nước giàu và các tổ chức tài chính quốc tế Nước nghèo trả trung bình $ 2,30 trong nợ dịch vụ cho mỗi $ 1 nhận viện trợ cấp Ngoài ra, các chính sách điều chỉnh cơ cấu tổ chức như Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền
tệ Quốc tế thường đòi hỏi các quốc gia nghèo hơn để mở cửa thị trường để kinh doanh bên ngoài
và các nhà đầu tư, do đó làm tăng sự cạnh tranh với các doanh nghiệp địa phương, và nhiều người cho, phá hoại sự phát triển tiềm năng của nền kinh tế địa phương Trong những năm gần đây, kêu gọi giảm nợ và tha thứ đã được tăng lên, các nhà hoạt động thấy điều này quả là một phương tiện quan trọng của việc giảm nghèo Liên Hiệp Quốc cũng đã làm cho nó một ưu tiên
để kiểm tra kinh tế như thế nào các chính sách điều chỉnh cơ cấu có thể được thiết kế để đặt dưới
áp lực về dân số dễ bị tổn thương
Phân biệt đối xử và bất bình đẳng xã hội
Theo Phòng Chính sách Xã hội và Phát triển Liên Hợp Quốc, "Sự bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập và truy cập vào các nguồn lực sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản, cơ hội, thị trường, và các thông tin đã được gia tăng trên toàn thế giới, thường gây ra và làm trầm trọng thêm nghèo" Liên Hiệp Quốc và nhiều các nhóm cứu trợ cũng chỉ ra rằng sự phân
biệt giới tính là một yếu tố quan trọng trong việc tổ chức nhiều phụ nữ và trẻ em trên toàn thế giới trong nghèo đói
Dễ bị tổn thương với các thảm họa tự nhiên
Tại các khu vực của thế giới mà đã ít giàu có, thường xuyên hoặc thỉnh thoảng thiên tai thảm khốc có thể đặt ra một trở ngại đáng kể cho xóa đói giảm nghèo Những ảnh hưởng
Trang 18của lũ lụt ở Bangladesh, hạn hán ở vùng Sừng châu Phi và 2005 trận động đất ở Haiti là tất
cả các ví dụ về những cách mà dễ bị tổn thương do thiên tai có thể chứng minh là một thảm họa đối với phần lớn các nước bị ảnh hưởng Trong mỗi trường hợp này, người đã nghèo khổ trở thành người tị nạn trong quốc gia của họ, mất bất cứ điều gì ít mà họ có, bị buộc phải ra khỏi không gian sống của mình và trở thành gần như hoàn toàn phụ thuộc vào người khác để tồn tại Theo Ngân hàng Thế giới, hai năm sau khi cơn bão Nargis đánh Myanmar trong năm 2008, tải trọng nợ của ngư dân địa phương đã tăng gấp đôi Quần đảo Solomon trải qua một trận động đất và sóng thần năm 2007 và những thiệt hại từ thảm họa tương đương 95 phần trăm của ngân sách quốc gia Nếu không có sự hỗ trợ viện trợ nước ngoài, các chính phủ ở các nước này sẽ không thể đáp ứng nhu cầu của người dân.2
Đây chỉ là năm nguyên nhân của nghèo đói Họ đều là những nguyên nhân bên ngoài và nội bộ; cả nhân tạo và tự nhiên Cũng như không có nguyên nhân duy nhất của nghèo đói, không có giải pháp duy nhất Tuy nhiên, sự hiểu biết cách mà lực lượng phức tạp như thế này tương tác để tạo ra và duy trì các điều kiện nghèo đói toàn cầu lan rộng là một bước quan trọng đầu tiên trong việc xây dựng ứng phó toàn diện và hiệu quả để chống đói nghèo trên thế giới
1.1.3 Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
Chính sách giảm nghèo là những quyết định, quy định của nhà nước nhằm cụ thể hóa các dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo 3
Theo ông Nguyễn Ngọc Sơn, Trường đại học Kinh tế quốc dân, căn cứ vào bản chất đa chiều của đói nghèo, chính sách giảm nghèo được chia làm 4 nhóm: i) nhóm chính sách nhằm tăng thu nhập cho người nghèo; ii) nhóm chính sách nhằm tăng cường các khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo; iii) nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro và nguy cơ dễ bị tổn thường; iv) nhóm chính sách tăng cường tiếng nói cho người nghèo Căn cứ vào 3 trụ cột tấn công đói nghèo của Ngân hàng Thế giới, các chính sách giảm nghèo được phân thành: i) chính sách tạo cơ hội cho người nghèo; ii) nhóm chính sách trao quyền và nhóm chính sách an sinh xã hội
Mục tiêu của chính sách giảm nghèo là hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo thoát nghèo cả dưới góc độ nghèo về vật chất và nghèo con người và nghèo xã hội Các chính sách giảm nghèo đều
Trang 19hướng tới mục tiêu là nâng cao phúc lợi cho người nghèo, tăng cường các khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo từ đó nâng cao vốn con người và tiếng nói của người nghèo Mỗi chính sách cụ thể sẽ có những mục tiêu cụ thể và rõ ràng hơn
Chính sách giảm nghèo được phân loại theo các tiêu chí khác nhau Nếu dựa trên phạm
vi ảnh hưởng của chính sách, chính sách giảm nghèo được phân thành chính sách tác động trực tiếp và gián tiếp đến xóa đói, giảm nghèo Nếu căn cứ vào bản chất đa chiều của đói nghèo thì lại được phân làm 4 nhóm: i) Nhóm chính sách nhằm tăng thu nhập cho người nghèo; ii) nhóm chính sách nhằm tăng cường các khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo; iii) nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro và nguy cơ dễ bị tổn thương và iv) nhóm chính sách tăng cường tiếng nói cho người nghèo Căn cứ vào 3 trụ cột tấn công đói nghèo của Ngân hàng Thế giới các chính sách giảm nghèo được phân thành: i) chính sách tạo cơ hội cho người nghèo; ii) chính sách trao quyền và nhóm chính sách an sinh xã hội
Hệ thống chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo ở Việt Nam hiện đang có: Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) giảm nghèo, chương trình 135 và nghị quyết 30A (gồm cả các chính sách bổ sung các huyện nghèo mới) Chương trình MTQG giảm nghèo đầu tiên giai đoạn 1998 – 2000 (chương trình 133) có 9 dự án Chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005 (chương trình 143) chia lĩnh vực xóa đói giảm nghèo thành các chính sách và dự án Các chính sách gồm: Các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo bao gồm: hỗ trợ về y tế, về giáo dục, chính sách an sinh xã hội, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, trợ giúp đối tượng nghèo về nhà ở, công cụ lao động
và đất sản xuất Các dự án giảm nghèo (được xác định là hỗ trợ trực tiếp để xóa đói giảm nghèo) gồm hai nhóm dự án: (i) Nhóm các dự án xóa đói giảm nghèo chung và (ii) nhóm các dự án xóa đói giảm nghèo cho các xã nghèo (có 25% hộ nghèo trở lên và chưa đủ cơ sở
hạ tầng thiết yếu) không thuộc chương trình 135 Trong đó đối với nhóm (i) bao gồm 3 dự
án và có 5 dự án thuộc nhóm (ii) Chương trình MTQG giảm nghèo 2006 – 2010 chia các chính sách, dự án và hoạt động chủ yếu của chương trình thành ba nhóm: (i) hỗ trợ sản xuất ; (ii) hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội và (iii) nâng cao năng lực và nhận thức Trong đó nhóm (i) gồm 6 chính sách và dự án, nhóm (ii) gồm 4 chính sách, nhóm (iii) có 2 chính sách Sau khi có nghị quyết số 80/NQ –CP ngày 19/5/20011 của chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, đã và đang có những hoạt động
rà soát, đánh giá lại hệ thống các chính sách về giảm nghèo để tránh sự chồng chéo, nâng cao hiệu quả quản lý điều hành Các chính sách được duy trì theo nghị quyết số 80/NQ –
CP gồm các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung và các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc
Trang 20thù Bên cạnh đó, quyết định số 1489/QĐ –TTg của thủ tướng chính phủ ngày 8/10/2012, chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 – 2015 gồm 4 dự án
Đối với hệ thống chính sách dân tộc thiểu số (DTTS) đến năm 2011 Việt Nam có tổng cộng 187 chính sách khác nhau ở cấp Trung ương do Chính phủ và thủ tướng chính phủ ban hành Trong đó số lượng Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ ban hành là 44 văn bản, đề cập gần như toàn diện các vấn đề từ giảm nghèo, y tế, giáo dục, dạy nghề, sản xuất, tín dụng… Riêng với 143 quyết định được thủ tướng chính phủ ban hành, hiện đang còn hiệu lực được phân chia thành hai nhóm chính: (i) nhóm chính sách phát triển kinh tế xã hội theo vùng (46 quyết định); (ii) nhóm chính sách phát triển kinh tế xã hội theo lĩnh vực, theo ngành (97 quyết định) Trong đó, nhiều nhất là nhóm các chính sách về phát triển sản xuất, giao thông vận tải, tín dụng, định cư Tuy nhiên, cũng có sự chồng chéo ở 3 khía cạnh: nội dung, đối tượng thụ hưởng và thời gian thực hiện chính sách trên cùng một địa bàn
Trong cách tiếp cận vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo, phải có sự nhận thức đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xoá đói, giảm nghèo Như chúng ta đã biết, đói nghèo là một hiện tượng mang tính toàn cầu; nó không chỉ tồn tại ở những nước nghèo có thu nhập thấp, mà vẫn có ở ngay trong những nước phát triển Do vậy, xoá đói, giảm nghèo đã được đưa vào chương trình nghị sự của Liên Hiệp quốc Có thể nói, xoá đói, giảm nghèo là chiến lược của các quốc gia, nhưng đối với Việt Nam, nó càng có ý nghĩa đặc biệt vì đó là mục tiêu hàng đầu của con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, giải quyết vấn đề nghèo đói không chỉ dựa vào kinh nghiệm trong nước mà đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận giải quyết một cách khoa học - đó là gắn kết tăng trưởng với giảm nghèo, giảm nghèo đói phải bảo đảm tính toàn diện, công bằng, bền vững và hội nhập
Bên cạnh đó, cần phân tích một cách khách quan và khoa học nguyên nhân của nghèo đói để từ đó có những giải pháp hữu hiệu xoá đói, giảm nghèo Thực tế cho thấy, nghèo đói xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có các nguyên nhân khách quan
từ điều kiện và môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội,…nhưng bên cạnh đó cần chú ý tới các nguyên nhân chủ quan của bản thân người nghèo Ngoài ra cần phải chú ý tới một nguyên nhân vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan đối với đói nghèo; đó chính là sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền các cấp
Một điều quan trọng là, xóa đói, giảm nghèo cần phải thu hút được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp dân cư bởi vì xóa đói, giảm nghèo không phải là vấn đề riêng của người nghèo, hay của Chính phủ, mà là vấn đề chung của cả nước, của toàn xã hội Các
phong trào "Ngày vì người nghèo", các chương trình truyền hình "Những tấm lòng từ
Trang 21thiện", “Nhịp cầu ước mơ” đã thu hút đông đảo sự quan tâm và giúp đỡ của các cá
nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế Do nguồn lực
hỗ trợ từ Trung Ương hạn hẹp, việc bổ sung ngân sách cho chương trình bằng nguồn Ngân sách địa phương và huy động đóng góp của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện chương trình Bên cạnh các hỗ trợ bằng tiền, phải kể đến những đóng góp bằng ngày công lao động và thông qua việc xây dựng các mô hình và kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo Đây thực sự là những đóng góp rất quý báu góp phần thực hiện thành công và hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo
Theo kết quả báo cáo của World Bank, so với các mục tiêu chính sách, các kết quả giảm nghèo từ năm 2005 tới nay đều đạt và vượt mức các mục tiêu đề ra Các chiến lược xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2010 đạt mục tiêu mỗi năm giảm khoảng 1,5% đến 2% tỷ lệ hộ nghèo Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2015 cũng đạt được kết quả tốt Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14.2% năm 2010 xuống 4,25% năm 2015 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015, bình quân giảm 2% Tỷ
lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm từ 58,33% cuối năm 2010 xuống còn 28% năm 2015, bình quân giảm trên 6%/năm 4
1.2 An ninh phi truyền thống và vai trò của xóa đói giảm nghèo trong việc đảm bảo
an ninh phi truyền thống
1.2.1 Định nghĩa về an ninh phi truyền thống
An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới, được xuất hiện sau khi chiến tranh lạnh kết thúc Tại thời điểm đó, an ninh không chỉ được hiểu đơn thuần trên phương diện quân sự, hoặc chỉ mang ý nghĩa là bảo vệ nhà nước và các lợi ích thiết yếu của nó
khỏi bị tấn công bởi các quốc gia khác Khái niệm về an ninh được mở rộng ra theo cách
hiểu đa chiều hơn Những mối đe dọa về quân sự vẫn tồn tại, song bên cạnh đó xuất hiện nhiều yếu tố mới đe dọa đến an ninh quốc gia, an ninh con người như biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, dịch bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất thường, buôn bán người, buôn lậu, buôn ma túy và tội phạm xuyên quốc gia Những mối nguy hiểm này thường có phạm vi xuyên quốc gia, đòi hỏi các biện pháp mang tính toàn diện, đồng bộ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội
Các quốc gia đều nhận thấy rõ mức độ ảnh hưởng của những vấn đề này Do vậy, thuật ngữ ANPTT trở thành thuật ngữ được nhắc đến rất nhiều trong các diễn đàn khu vực quốc tế, hợp tác song phương cũng như đa phương Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm ANPTT
4 Báo cáo Tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Việt Nga, Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Văn Thục, trang 25- 28, UNDP
Trang 22Theo Richard H Ullman cho rằng “An ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là
bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống, bao gồm: khủng bố quốc
tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và an ninh con người”.5
Mely Caballero Anthony định nghĩa “ANPTT là thách thức đối với sự tồn vong và
thịnh vượng của các quốc gia, dân tộc, xuất hiện chủ yếu trong các nguồn phi quân sự, chẳng hạn như thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên biên giới và nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, tình trạng thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy và các hình thức khác của tội phạm xuyên quốc gia” 6
Còn theo Amitav Acharya, an ninh phi truyền thống là “các thách thức đối với sự tồn
vong và chất lượng cuộc sống của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, bệnh dịch, thiên tai, di cư không kiểm soát, thiếu lương thực, buôn người, buôn ma túy và tội phạm có tổ chức”.7
Nhìn chung các định nghĩa đều có đặc điểm chung đó là bao hàm những yếu tố phi quân sự và không chỉ tồn tại trong phạm vi một quốc gia dân tộc và có xu hướng nguy hiểm hơn, gây ảnh hưởng sâu rộng hơn những vấn đề an ninh truyền thống
Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Trong sách
trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 có nêu : “Những vấn đề chưa được giải quyết, liên
quan đến tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên bộ, trên biển cùng những vấn đề về ANPTT khác như buôn bán và vận chuyển trái phép vũ khí, ma túy, cướp biển, tội phạm tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép, suy thoái môi trường, sinh thái… cũng là những mối quan tâm an ninh của Việt Nam” 8 Bên cạnh đó đại hội Đảng XI của
Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Các yếu tố đe dọa ANPTT, tội phạm công nghệ cao tiếp
tục gia tăng Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, bệnh dịch… sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố sẽ vẫn diễn ra gay gắt, các yếu tố đe dạn ANPTT, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, điện tử viễn thông, sinh học, môi trường… còn tiếp tục gia tăng”
Trang 23Trong bài nghiên cứu về “ Quản trị an ninh phi truyển thống đề phát triển bền vững”
của học giả Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam và Hoàng Đình Phi đã đưa ra sự so sánh rất
rõ nét giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Cụ thể như sau:
STT TIÊU
CHÍ
AN NINH TRUYỀN THỐNG (ANTT)
AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (AN PTT)
ĐIỂM CHUNG
ĐIỂM MỚI CỦA AN PTT
1 Khái
niệm
cơ bản
Gắn với an ninh quốc gia
Cách tiếp cận lấy nhà nước làm trung tâm
Gắn với an ninh nhà nước, an ninh con người và an ninh doanh nghiệp
Cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm
Hai bộ phận hợp thành an ninh quốc gia Mối quan
hệ biện chứng
Khái niệm mới phát triển từ khi hội nhập toàn cầu
tiêu
chính
Ổn định và PTBV của nhà nước, chế
độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, lãnh thổ
Ổ định và PTBV của Nhà nước, con người (cộng đồng) và doanh nghiệp
Chính phủ của dân, do dân, vì dân
An ninh là lợi ích chung
Phát triển theo
xu thế hội nhập toàn cầu
Doanh nghiệp
Mối quan hệ biện chứng
Đổi mới nhận thức
4 Công
cụ
chính
Quân đội Công an Dân quân tự vệ
Sức mạnh & nguồn lực NN
Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng
Sức mạnh và nguồn lực DN
Mối quan hệ biện chứng
Thay đổi nhận thức
và thể chế nhà nước do Đảng cầm quyền quyết định
Quốc tế, Khu vực,
NN, Con người (cá nhân – cộng đồng)
Doanh nghiệp
Mối quan hệ biện chứng
Tác động đa chiều, đa cấp độ,
đa lĩnh vực, xuyên biên giới…
Trang 24Các nhà nghiên cứu cũng đã tổng hợp lại và chia làm hai trường phái:
Trường phái thứ nhất quan niệm an ninh phi truyền thống an ninh tổng hợp, bao gồm
an ninh quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường An ninh phi truyền thống không đối lập với an ninh truyền thống mà là mở rộng nội hàm của khái niệm an ninh truyền thống - vốn lấy an ninh quân sự làm trung tâm Căn cứ xuất phát của quan niệm này là
do tính tương đối của an ninh phi truyền thống, một mối đe dọa an ninh phi quân sự có thể chuyển hóa thành xung đột vũ trang, chiến tranh
Trường phái thứ hai quan niệm an ninh phi truyền thống đối lập với an ninh truyền
thống, không bao hàm an ninh quân sự Trường phái thứ hai rõ ràng hơn về mặt ngữ nghĩa, nhưng cũng thừa nhận, các vấn đề an ninh phi truyền thống có thể dẫn tới xung đột, chiến tranh Ở Việt Nam, quan điểm chính thống và quan niệm của hầu hết các học giả theo cách tiếp cận của trường phái thứ hai, tức quan niệm an ninh phi truyền thống
là đối lập với an ninh truyền thống, tức bao gồm các lĩnh vực an ninh ngoài quân sự, phi vũ trang
Theo tác giả, an ninh phi truyền thống là khái niệm nhằm phân biệt với an ninh truyền thống, dùng để chỉ các mối đe dọa phi truyền thống đối với an ninh quốc gia, cuộc sống con người và cộng đồng nhân loại, không xuất phát trực tiếp từ yếu tố quân sự, nảy sinh từ các yếu tố tự nhiên và xã hội, diễn ra và tác động trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thông tin, môi trường… mang tính tổng hợp, xuyên quốc gia và
có tính nguy hiểm cao đe dọa tới độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia
ANPTT nảy sinh từ các yếu tố tự nhiên bao gồm biến đổi khí hậu, bão lũ, cạn kiệt tài nguyên, thảm họa thiên nhiên ; từ các yếu tố xã hội như khủng bố, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia Nó cũng có thể là sự cộng hưởng giữa yếu tố tự nhiên và xã hội do vậy những tác động và mối đe dọa mà nó mang lại cũng mang tính tổng hợp trên mọi lĩnh vực như tài nguyên, kinh tế, xã hội, chính trị, khoa học kỹ thuật, thông tin, văn hóa
1.2.2 Mối đe dọa của an ninh phi truyền thống
Mối đe dọa an ninh phi truyền thống là những thách thức trên mọi lĩnh vực đối với không chỉ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, mà còn đối với vận mệnh sống còn của loài người và môi trường sống trên trái đất Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống tuy không thách thức trực tiếp chủ quyền lãnh thổ quốc gia nhưng uy hiếp và hủy hoại các yếu tố tạo nền tảng cho sinh tồn và phát triển của cá nhân con người, cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc và toàn nhân loại Một số mối đe dọa an ninh phi truyền thống có nguồn gốc nhân tạo, có chủ thể mang tính tổ chức, nhưng đó là các chủ thể ngoài nhà nước; nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống khác lại không có chủ thể rõ ràng, thường phát sinh từ các tác nhân thiên tạo Không ít mối đe dọa đối với
Trang 25con người đã xuất hiện trong lịch sử nhưng do giới hạn của điều kiện bối cảnh nên phạm vi lan tỏa chưa rộng, sức uy hiếp chưa lớn Ngày nay, do tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, của sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ, các mối đe dọa đó có khả năng lan tỏa rộng lớn hơn, sức uy hiếp mạnh hơn, nên được xem là an ninh phi truyền thống Khác với an ninh truyền thống giải quyết chủ yếu bằng biện pháp quân sự, còn biện pháp ngoại giao chỉ đóng vai trò hỗ trợ, thì an ninh phi truyền thống lại chỉ có thể giải quyết bằng biện pháp ngoại giao, hợp tác giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế
Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống quan trọng nhất mà thế giới phải đối mặt hôm nay bao gồm:
1 Những thách thức về môi trường: bao gồm từ ô nhiễm nguồn nước, năng lượng, sự khan hiếm lương thực, các nguy cơ tự nhiên và biến đổi khí hậu
2 Các vấn đề nhân khẩu học bao gồm tăng dân số, di cư bất thường, người tị nạn và vấn đề sức khoẻ
3 Buôn bán ma túy xuyên quốc gia, tội phạm có tổ chức toàn cầu, khủng bố, buôn lậu
và vi phạm bản quyền.9
Theo bà Vũ Tuyết Loan, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mà thế giới phải đối mặt hiện nay được chia thành 3 nhóm: (i) mối đe dọa về bệnh dịch và hiểm hỏa địa chất (sốt xuất huyết, dịch bệnh SARS, HIV/AIDS; động đất, sóng thần, nước lũ; (ii) mối đe dọa với an ninh con người cũng như sự ổn định kinh tế - xã hộ (tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma túy, khủng bố, khủng hoảng tài chính); (iii) mối đe dọa về sự thiếu hụt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, phá hoạt sinh thái Có thể thấy rằng thế giới trong thời gian gần đây liên tiếp phải hứng chịu những hậu quả của sóng thần, động đất gây thiệt hại nặng nề cho nhiều quốc gia Làm thế nào để có sự cảnh báo để làm giảm thiệt hại vẫn đang là thách thức đối với các nhà khoa học Các bệnh dịch truyền nhiễm lan rộng ở nhiều nước là mối đe dọa nghiêm trọng cho sức khỏe của người dân và ảnh hưởng tới tình hình ổn định xã hội Nạn khủng bố cũng đang trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia Các vụ đánh bom liên tiếp nổ ra cho thấy hoạt động khủng bố đang lan rộng trên toàn thế giới gây ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị, tới sự thay đổi trong quan hệ quốc tế Những hoạt động của chủ nghĩa khủng bố đã đặt ra vấn đề cấp thiết phải hợp tác an ninh toàn cầu Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, đe dọa sự ổn định của cộng đồng quốc tế, cản trở tiến trình giải quyết hòa bình Về kinh tế, gây tổn thất nặng nề, phá hoại trật tự kinh tế Về quân sự, chủ nghĩa khủng bố là nguyên nhân dẫn tới các cuộc xung đột vũ trang Tình trạng thiếu
9
Bài phát biểu về „Non traditional Security threats to Bangladesh‟ của Ông Farooq Sobhan, chủ tịch BEI, ngày 10/7/2012, Trang 3
Trang 26hụt tài nguyên cũng là mối đe dọa của sự tranh chấp và nạn cướp biển Ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng nhanh chóng Nạn phá rừng, hạn hán, biến đổi khí hậu, mực nước dâng cao đe dọa đến môi trường sống của người dân trên toàn cầu
Các mối đe dọa ANPTT đang diễn biến ngày càng khó lường với quy mô và tần suất ngày càng gia tăng, tạo ra những hệ quả kinh tế - xã hội sâu rộng Phạm vi tác động của các mối đe doan ANPTT là toàn thế giới, không kể riêng một quốc gia nào Đây là một vấn
đề mang tính thách thức toàn cầu bởi hoạt động của các tội phạm xuyên quốc gia, bệnh dịch, biến đổi khí hậu đã vượt qua lãnh thổ và lợi ích an ninh quốc gia của một nước
1.2.3 Vai trò của xóa đói giảm nghèo đối với việc đảm bảo an ninh phi truyền thống
Một trong những yếu tố quan trọng của an ninh phi truyền thống đó là an ninh lương thực Việc tập trung vào vấn đề xóa đói giảm nghèo, trước hết sẽ giúp người dân đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực
Năm 1996, Tổ chức Nông lương Liên hợp Quốc (FAO) đã đưa ra khái niệm an ninh lương
thực trong chương trình hành động của mình như sau: “An ninh lương thực (ANLT) là trạng
thái mà ở đó tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh
tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn, đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh” 10
Khái niệm này chỉ
ra rằng để đảm bảo được an ninh lương thực cần có các điều kiện sau:
- Sự sẵn có nguồn lương thực
- Sự tiếp cận với nguồn lương thực
- Sự ổn định của nguồn cung lương thực
- Sự an toàn, chất lượng của nguồn cung lương thực
Hiện tại an ninh lương thực ở Việt Nam bao gồm 3 nội dung chính: lương thực có đủ, lương thực được cung cấp và mỗi gia đình có khả năng kinh tế để có lương thực An ninh lương thực là kết quả tổng hợp của sự phối hợp nhiều hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối 11
Xóa đói giảm nghèo sẽ giúp đảm bảo về vấn đề an ninh con người Theo ông Vũ Dương Ninh, an ninh con người bao gồm 7 lĩnh vực là kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, cá nhân, cộng đồng và chính trị Trong cuộc sống, những điều bất an đối với con người bắt nguồn từ những nhân tố tự nhiên (thiên tai) và nhân tố con người (nhân tai) Hai
Trang 27nhân tố đó tác động lẫn nhau trong mối quan hệ nhân – quả của nhau 12 Theo định nghĩa
đó, an ninh con người sẽ có thể bắt nguồn do sự ô nhiễm của môi trường thiên nhiên và ô nhiễm của môi trường xã hội Tình trạng đói nghèo sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường kinh
tế Trên khắp thế giới, con người phải đấu tranh để có thức ăn, chỗ ở, áo mặc, nước sạch và dịch vụ y tế, không nói đến an toàn, an ninh và giáo dục Những kết quả đáng buồn này dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, bệnh tâm thần, tử vong, dịch bệnh, nạn đói, và chiến tranh Ví dụ, 100% người dân Canada có nước sạch để dùng trong khi chỉ có 13% người Afganistan có nước sạch; hoặc như, tính theo bình quân đầu người, lượng protein cung cấp từ chế độ ăn ở Hoa Kỳ là 121 gram nhưng ở Mozambique chỉ là 32 gram Tuổi thọ trung bình của người dân Nhật Bản là 81 trong khi ở Botswana chỉ là 31 tuổi Tình trạng này sẽ gây quan ngại cho các công ty nước ngoài khi tìm địa điểm để kinh doanh Tại các quốc gia có mức đói nghèo cao, cơ chế thị trường có thể không tồn tại, cơ sở hạ tầng của quốc gia rất yếu kém, tội phạm lan tràn và các chính phủ thường bất lực trong việc chỉnh đốn xã hội hay đề ra các chính sách kinh tế đúng đắn Sự phát triển của hoạt động kinh doanh cũng như tiến bộ kinh tế rút cuộc đều phụ thuộc vào xoá đói giảm nghèo.13
Khi nghèo đói, dẫn tới bệnh tật, ốm đau Một cộng đồng có tỷ lệ bệnh tật cao, sự thiếu vắng lao động, năng suất giảm sút sẽ có ít của cải được tạo ra Khi nghèo khó, bần cùng, dễ phát sinh đạo tặc Từ túng thiếu sinh ra trộm cắp và nhất là phá hoại của công Tất cả các hành vi phá rừng, phá núi, xâm phạm các nơi bảo tồn sinh thái, săn bắt trái phép thú quý, đều xuất phát từ nghèo đói Khi nghèo khó, trẻ con thường hay phải nghỉ học Vì bỏ học nên không có công ăn việc làm, từ đó trở thành công cụ cho những băng đảng buôn lậu ma túy Đói nghèo cũng dẫn tới tình trạng nhiều gia đình bán con cái gây ra nhiều cảnh thương tâm
và tạo thêm gánh nặng cho xã hội Nạn buôn bán người gia tăng, gây bất ổn cho xã hội Đây cũng là những vấn đề nan giải mà Việt Nam đang phải đối diện đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía bắc khi nạn phá rừng, buôn lậu ma túy đang ngày càng gia tăng Việc xóa đói giảm nghèo sẽ giúp bà con giải quyết vấn đề sinh kế, nâng cao nhận thức và giảm thiểu nguy cơ phá rừng, buôn bán ma túy Bởi vậy, từ giữa những năm 90, UNDP đã hỗ trợ Chính phủ giải quyết vấn nạn đói nghèo vốn ăn sâu bám rễ trong các vùng dân tộc thiểu số, trợ giúp từ giai đoạn đầu cho Chương trình Xóa đói giảm nghèo (HERP), Chương trình Phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi (SEDEMA) (còn được gọi là Chương trình 135) và Chương trình Mục tiêu quốc gia về giảm nghèo (NTP-PR) UNDP
Trang 28cũng đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban các vấn đề dân tộc thiểu số (CEMA) và Bộ Lao động, thương binh và xã hội (MoLISA) trong công tác xây dựng và thực hiện những chương trình mũi nhọn này, đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong việc điều phối các nguồn tài trợ quốc tế có giá trị để hỗ trợ Chương trình 135 trong giai đoạn 2006-2011 14
1.3 Chiến lược xóa đói giảm nghèo
1.3.1 Chiến lược
Theo Wikipedia, Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó Trong quân sự, chiến lược khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau Nghĩa là cần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng.15
Như vậy một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau:
Xác định chính xác mục tiêu cần đạt
Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu
Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn
Trong ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ của chiến lược là tìm
ra phương thức sử dụng các nguồn lực sao cho nó có thể đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất
Theo Johnson và Scholes “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt
động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức” 16
Theo Michael Porter (1996) Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt
nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau… cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”
14
http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/ourwork/povertyreduction/successstories/poverty_reductio n_story.html
15
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_l%C6%B0%E1%BB%A3c
16
https://sites.google.com/site/dangdinhtram/chien-luoc/tai-sao-lai-can-chien-luoc
Trang 29Theo tác giả, chiến lược là tầm nhìn cộng với hành động Trong quá trình làm việc thực tế, để có được một chiến lược tốt trước hết cần có một tầm nhìn tốt Từ đó mới xác định mục tiêu chiến lược, giải pháp, phương án, chương trình hành động, các sáng kiến và các chỉ tiêu, tiêu chí đo lường cụ thể Cần xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các bên, cá nhân cũng như tổ chức trong việc triển khai các nội dung đó Cuối cùng cần có một
kế hoạch giám sát để có sự điều chỉnh theo nhu cầu của thực tế
1.3.2 Chiến lược xóa đói giảm nghèo
Chiến lược xóa đói giảm nghèo được hiểu là tổng hòa các biện pháp từ vi mô đến vĩ mô để giúp người nghèo thoát nghèo Ở Việt nam hiện nay, chiến lược xóa đói giảm nghèo được chính phủ Việt Nam đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam
Ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược toàn diện
về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo" Đây là chiến lược đầy đủ, chi tiết phù hợp với mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc công bố Trong quá trình xây dựng chiến lược có sự tham gia của chuyên gia các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như IMF, UNDP, WB, tổng hợp thành các mục tiêu phát triển Việt Nam Vấn đề là cụ thể hoá chiến lược bằng các chương trình, dự án được triển khai, được giám sát và đánh giá thường xuyên Các nghiên cứu đã lập được bản đồ phân bố đói nghèo đến từng xã, từng
hộ Việt Nam đã ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu:
1 Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói
2 Đạt phổ cập giáo dục tiểu học
3 Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ
4 Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
5 Tăng cường sức khỏe bà mẹ
6 Phòng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác
7 Đảm bảo bền vững môi trường
8 Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển
Những mục tiêu này mang kết quả trực tiếp và gián tiếp xóa đói giảm nghèo một cách bền vững bởi nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển Một quốc gia khi không giải quyết dứt điểm xóa đói giảm nghèo thì luôn ẩn chứa nguy cơ phát triển không bền vững dẫn đến những hậu quả bất ổn định kinh tế - xã hội Những mục tiêu đó cũng gợi mở những phương thức tác động trực tiếp hay gián tiếp đến việc xóa đói giảm nghèo
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO TẠI HUYỆN VÂN HỒ SƠN LA
2.1 Thực trạng kinh tế- xã hội của huyện Vân Hồ
Huyện Vân Hồ thuộc tỉnh Sơn La, được thành lập theo Nghị quyết số 72/NQ-CP ngày 6-2013 của Chính phủ về chia tách địa giới hành chính huyện Mộc Châu để thành lập huyện Vân Hồ Toàn huyện có diện tích tự nhiên 97.985 ha, gồm 14 xã, có 10 xã đặc biệt khó khăn
10-và 4 xã vùng 2 Dân số của huyện là 55.797 người, gồm 6 dân tộc Mông, Mường, Dao, Thái, Tày, Kinh Về vị trí địa lý: Phía Đông tiếp giáp với huyện Mai Châu (Hoà Bình), phía Tây giáp huyện Mộc Châu, phía Nam giáp với huyện Mường Lát, huyện Quan Hoá (Thanh Hoá) và huyện Sốp Bâu (nước CHDCD Lào), phía Bắc giáp huyện Đà Bắc (Hoà Bình)
Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Sơn La
Trang 31Hình 2.2: Bản đồ vị trí địa lý huyện Vân Hồ
Cơ sở hạ tầng của huyện còn thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt là các xã Mường Tè, Quang Minh, Mường Men Hiện trạng đến năm 2013 có 8/14 xã có đường nhựa đến trung tâm; 80/145 bản có đường ô tô đi được một mùa Toàn huyện còn 40/145 bản chưa có điện lưới Quốc gia Tỷ lệ số hộ dân được dùng nước sạch ước đạt 30% tổng
số hộ
Một số chương trình dự án đã và đang triển khai trên địa bàn huyện: Mô hình cải tạo vườn Quýt; Mô hình canh tác trên đất dốc; Mô hình nuôi cá lồng; Hỗ trợ hợp phần phát triển sản xuất năm 2013 giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn 5 xã như: Chiềng