1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN một số giải pháp, biện pháp để giảm tỉ lệ học sinh yếu, kém môn toán

25 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A . PHẦN MỞ ĐẦUI – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:1. Lý do khách quan. Nhiều năm qua, chất lượng giáo dục THCS trong cả nước nói chung và TP Buôn Ma Thuột nói riêng ngày càng tăng, đặc biệt chất lượng học sinh mũi nhọn tiến bộ vượt bậc, có tính bền vững. Song bên cạnh đóvẫn còn một bộ phận học sinh xếp loại học lực yếu, kém. Trong đó tỉ lệ học sinh yếu, kém trong bộ môn toán khá cao. Năm học 20122013, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng là: “Cần chú trọng xây dựng kế hoạch và thực hiện tốt công tác phụ đạo, bồi dưỡng để giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém”. Bởi vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở THCS thì một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là cần tìm ra các giải pháp nhằm giảm tỉ lệ học sinh yếu kém. Bản thân tôi là một giáo viên dạy toán, để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của ngành và của trường, đồng thời giúp bản thân khắc phục những hạn chế của bản thân, nâng cao chất lượng bộ môn toán do mình phụ trách, tôi rất quan tâm đến chủ đề này.2. Lý do chủ quan. Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng các em học sinh lớp 8 trường tôi đầu vào phần lớn các em thuộc đối tượng là học sinh trung bình , yếu và học sinh dân tộc nên không làm được các bài toán cơ bản. Bởi các em chưa nhận thấy được tầm quan trọng của các kiến thức mới, chưa biết vận dụng kiến thức để giải các bài tập cơ bản. Xuất phát từ tình hình đó, qua những năm giảng dạy và học hỏi ở đồng nghiệp, tôi rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân để có thể truyền dạy cho các em những kiến thức cơ bản nhằm giải quyết được vấn đề khó khăn nêu trên . Chính vì vậy tôi mới chọn đề tài “Một số giải pháp, biện pháp để giảm tỉ lệ học sinh yếu, kém môn toán”II – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Giúp giáo viên hiểu được các phương pháp phát triển tư duy cho học sinh khi giải một số bài toán cơ bản. Giúp học sinh phát triển tư duy khi giải một số bài tập cơ bản Qua sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phương pháp giảng dạy phân môn và khảo sát thực tế để tìm ra cách giải quyết vấn đề nêu trên.III – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨUĐề tài được áp dụng cho học sinh lớp 8 là các đối tượng học yếu, trung bình và học sinh dân tộc được thực hiện trong các giờ luyện tập, ôn tập, ôn thi.IV – PHẠM VI NGHIÊN CỨUHọc sinh lớp 8 trường THCS Phạm Hồng Thái và các tài liệu tham khảo;V – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨUSau khi được phân công giảng dạy bộ môn toán 8, tình trạng học tập của các em đa phần là tính toán chưa thạo số nguyên, quy ñoàng maãu hai phaân soá ñôn giaûn chöa bieát quy ñoàng…..; nhút nhát, hơi khó gần, trong số đó học sinh đa phần là yếu, kém. Mặt khác thì không được gia đình quan tâm trong việc tự học tập ở nhà, phó mặc việc học tập và rèn luyện của con em mình cho thầy, cô giáo và nhà trường. Vấn đề học tập chỉ có sự đóng góp duy nhất từ người thầy.Khó khăn bước đầu là làm như thế nào để giúp các em tính toán tốt hơn mà vẫn có thể tiếp thu kiến thức mới. Đòi hỏi với các em không nên lớn quá, chỉ cần các em phát triển tư duy và kĩ năng làm được bài tập đơn giản trong sách giáo khoa, một ít bài tập mở rộng đơn giản trong sách bài tập.VI – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Khảo sát kết quả học tập của các em học sinh; Dự các giờ dạy của các giáo viên cùng bộ môn ở các khối lớp; Nắm bắt tình hình chất lượng dạy và học môn toán ở các lớp trong trường; Trực tiếp giảng dạy, hội giảng, dự giờ thăm lớp; Trao đổi, rút kinh nghiệm với đồng nghiệp trong trường và trường bạn Tổ chức chuyên đề dạy thực nghiệm trên các đối tượng học sinh cần nghiên cứu như trên của khối lớp 8.VII – THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Từ đầu năm học 2012 – 2013 đến tháng 12 năm 2013 B PHẦN NỘI DUNGI – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. Những năm gần đây, tình hình học yếu môn Toán của đối tượng học sinh trung bình và học sinh dân tộc trong trường chiếm tỉ lệ khá cao. Đa phần các em đói tượng này cảm thấy chán nản khi học môn toán bởi nhiều lý do khác nhau. Đây là vấn đề mà hầu như các giáo viên giảng dạy bộ môn Toán đều quan tâm và trăn trở làm thế nào để chất lượng môn học được nâng lên và làm thế nào để các em yêu thích môn học này. Chúng ta đã biết môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, để học tốt bộ môn này đòi hỏi các em không những chăm học mà cần phải biết tư duy sáng tạo.Đa số các em là con em gia đình lao động bình thường và nghèo, một số học sinh dân tộc các buôn gần trường trên địa bàn phường Tân Lợi, Thắng Lợi và xã Cưe Bua. Do cuộc sống khó khăn nên đa số phụ huynh bươn chải kiếm sống nên việc kèm cặp, sự qua tâm việc học có phần hạn chế. Một số em vừa đi học vừa phải kiếm sống nên vốn thời gian học bài của các em ở nhà đã ít nay càng ít hơn. Bên cạnh đó các em học sinh dân tộc ngoài đi học còn phải lên nương rẫy giúp đỡ gia đình. Do kinh tế gia đình khó khăn nên nguồn tài liệu, sách vở tham khảo giúp các em trong công việc học tập cũng còn nhiều hạn hẹp. Thầy cô, bạn bè ở xa nên có những vấn đề khó khăn trong việc học, như chưa hiểu bài, chưa nắm rõ cách giải các em không biết hỏi ai. Vốn đã học yếu nay lại càng học yếu hơn. IITHỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VÀ CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN TRONG TRƯỜNG THCS Sau nhiều năm dạy học tại trường THCS Phạm Hồng Thái, tôi thấy học sinh rất hạn chế trong kỹ năng tiếp thuc kiến thức môn toán, chất lượng đạt hàng năm chỉ từ 50 đến đến 68%. Kết quả khảo sát cụ thể như sau:LớpTổng sốGiỏiKháTrung bìnhYếuKém85005202050%10%40%40%10% Học sinh đến lớp ít thuộc bài cũ và ít làm bài tập về nhà. Trong giờ học trên lớp học sinh còn thụ động, ít tham gia các hoạt động lĩnh hội kiến thức. Chất lượng môn Toán 8 của học sinh ở đối tượng này những năm học trước chưa cao, dẫn đến các môn học khác cũng có chất lượng thấp. Kiến thức môn Toán ở các lớp dưới học sinh bị hổng nhiều. Từ thực tế, nhiều năm nay tôi đã đầu tư khá nhiều vào nghiên cứu các biện pháp để hạn chế tối đa học sinh yếu kém của bộ môn, khi thực hiện và kiểm nghiệm có một số thuận lợi và khó khăn 1. Thuận lợi, khó khăn:1.1. Thuận lợi.Thứ nhất, Bản thân được nhà trường đã cho đi tập huấn chuyên đề phương pháp dạy học tích cực, sau khi được trang bị kiến thức về phương pháp dạy học tích cực, tôi đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào quá trình soạn bài và lên lớp.Thứ hai, Nhiều năm nay nhà trường có xu hướng phân hóa đối tượng học sinh nên có nhiều thuận lợi để giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp cho từng đối tượng học sinh.Thứ ba,cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường ngày càng đáp ứng được nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Ngoài những phương tiện dạy học truyền thống, nhà trường trang bị các phương tiện dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng (máy vi tính, projecto, bảng ghim, tài liệu phát tay, …).Có thể nói, những thuận lợi trên đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh nhà trường.1.2. Khó khăn. Một số giáo viên lớp dưới chưa mạnh dạn, chưa có biện pháp cụ thể thích hợp cho đối tượng này. Do thời gian của tiết dạy có hạn, học sinh yếu kém ở trong một lớp có nhiều đối tượng khác nhau trình độ khác nhau, không đồng đều. Do đó việc quan tâm kèm cặp, phương pháp phù hợp cho đối tượng này của giáo viên còn hạn chế. Phần lớn các em là lười học, chưa hiểu rõ được tầm quan trọng của việc học đối với thực tế cuộc sống. Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số các nhu cầu giải trí: Xem ti vi, chơi điện tử....Ngày càng nhiều làm cho một số em chưa ý thức bị cuốn vào đó. Những HS học yếu, mất kiến thức cơ bản thì càng học càng thấy khó, ngày càng chán nản, mỗi giờ lên lớp trong tâm trạng âu lo vì sợ thầy cô gọi kiểm tra bài cũ. Hiện tượng trốn tiết, bỏ học một phần cũng xuất phát từ đây. Lại cũng có không ít HS ham chơi, nhác học. Đáng thương hơn, cũng có cả những trường hợp do phải Phụ giúp cha mẹ mưu sinh mà các em sa sút việc học Chương trình, SGK vẫn còn quá tải, có quá nhiều kiến thức được tích hợp vào bài dạy. GV thiếu sáng tạo, giảng dạy chưa phù hợp kiến thức cho từng đối tượng HS, nhất là khi củng cố, dặn dò cuối 1 tiết dạy (GV chỉ dặn dò chung chung, không thể hiện trọng tâm, không phân hóa đối tượng). 2. Thành công, hạn chế2.1. Thành công. Qua thực hiện các giải pháp của đề tài tôi đã thu được một số thành công bước đầu đó là: Giúp học sinh hiểu được, môn Toán học có sự liên quan mật thiết, kết cấu chặt chẽ với nhau. Chúng sắp xếp theo một trình tự có logic từ đầu đến cuối, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và sát với thực tế, gần gũi với đời sống. Do đặc thù của môn Toán nên mỗi bước suy diễn phải chỉ ra căn cứ cụ thể đòi hỏi học sinh phải nắm vững cái trước để có cơ sở suy diễn vấn đề sau. Giải một bài toán, tiếp thu một kiến thức mới tức là học sinh đã trải qua các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa. Quá trình đó đã rèn luyện khả năng phát triển tư duy trí tuệ ở học sinh. Phải nói môn Toán là môn học đòi hỏi học sinh phải hoạt động, chịu khó suy nghĩ nhiều. Qua môn Toán đã rèn luyện cho các em những đức tính: Cần cù, chịu khó, cẩn thận, tỉ mỉ, thận trọng, chính xác, suy luận chặt chẽ … có phương pháp làm việc khoa học, sắp xếp thứ tự hợp lý để giải quyết vấn đề. Đó là đặc trưng nổi bật của môn Toán trong nhà trường.2.2. Hạn chế. Do thói quen thụ động trong quá trình dạy và học. Đã từ lâu, học sinh nghe giảng và chép bài một cách thụ động đã thành thói quen nên thay đổi cần một quá trình.

Trang 2

Năm học 2012-2013, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáodục nhằm nâng cao chất lượng là: “Cần chú trọng xây dựng kế hoạch và thựchiện tốt công tác phụ đạo, bồi dưỡng để giảm dần tỷ lệ học sinh yếu kém” Bởi vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở THCS thì một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng đó là cần tìm ra các giải pháp nhằm giảm tỉ lệ học sinh yếukém.

Bản thân tôi là một giáo viên dạy toán, để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm củangành và của trường, đồng thời giúp bản thân khắc phục những hạn chế của bảnthân, nâng cao chất lượng bộ môn toán do mình phụ trách, tôi rất quan tâm đếnchủ đề này

2 Lý do chủ quan.

Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng các em học sinh lớp 8 trườngtôi đầu vào phần lớn các em thuộc đối tượng là học sinh trung bình , yếu và họcsinh dân tộc nên không làm được các bài toán cơ bản Bởi các em chưa nhậnthấy được tầm quan trọng của các kiến thức mới, chưa biết vận dụng kiến thức

để giải các bài tập cơ bản Xuất phát từ tình hình đó, qua những năm giảng dạy

và học hỏi ở đồng nghiệp, tôi rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân để cóthể truyền dạy cho các em những kiến thức cơ bản nhằm giải quyết được vấn đề

khó khăn nêu trên Chính vì vậy tôi mới chọn đề tài “Một số giải pháp, biện pháp để giảm tỉ lệ học sinh yếu, kém môn toán”

II – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

* Giúp giáo viên hiểu được các phương pháp phát triển tư duy cho học sinhkhi giải một số bài toán cơ bản

* Giúp học sinh phát triển tư duy khi giải một số bài tập cơ bản

* Qua sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phương pháp giảng dạy phân môn

và khảo sát thực tế để tìm ra cách giải quyết vấn đề nêu trên

Trang 3

III – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đề tài được áp dụng cho học sinh lớp 8 là các đối tượng học yếu, trungbình và học sinh dân tộc được thực hiện trong các giờ luyện tập, ơn tập, ơn thi

IV – PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Học sinh lớp 8 trường THCS Phạm Hồng Thái và các tài liệu tham khảo;

V – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Sau khi được phân cơng giảng dạy bộ mơn tốn 8, tình trạng học tập của các em

đa phần là tính tốn chưa thạo số nguyên, quy đồng mẫu hai phân số đơn giản chưa biết quy đồng… ; nhút nhát, hơi khĩ gần, trong

số đĩ học sinh đa phần là yếu, kém Mặt khác thì khơng được gia đình quan tâm trong việc tự học tập ở nhà, phĩ mặc việc học tập và rèn luyện của con em mình cho thầy, cơ giáo và nhà trường Vấn đề học tập chỉ cĩ sự đĩng gĩp duy nhất từ người thầy

Khĩ khăn bước đầu là làm như thế nào để giúp các em tính tốn tốt hơn

mà vẫn cĩ thể tiếp thu kiến thức mới Địi hỏi với các em khơng nên lớn quá, chỉcần các em phát triển tư duy và kĩ năng làm được bài tập đơn giản trong sáchgiáo khoa, một ít bài tập mở rộng đơn giản trong sách bài tập

VI – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Khảo sát kết quả học tập của các em học sinh;

- Dự các giờ dạy của các giáo viên cùng bộ mơn ở các khối lớp;

- Nắm bắt tình hình chất lượng dạy và học mơn tốn ở các lớp trong trường;

- Trực tiếp giảng dạy, hội giảng, dự giờ thăm lớp;

- Trao đổi, rút kinh nghiệm với đồng nghiệp trong trường và trường bạn

- Tổ chức chuyên đề dạy thực nghiệm trên các đối tượng học sinh cần nghiên cứu như trên của khối lớp 8

VII – THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Từ đầu năm học 2012 – 2013 đến tháng 12 năm 2013

Trang 4

B- PHẦN NỘI DUNG

I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

- Những năm gần đây, tình hình học yếu môn Toán của đối tượng học sinhtrung bình và học sinh dân tộc trong trường chiếm tỉ lệ khá cao Đa phần các emđói tượng này cảm thấy chán nản khi học môn toán bởi nhiều lý do khác nhau.Đây là vấn đề mà hầu như các giáo viên giảng dạy bộ môn Toán đều quan tâm

và trăn trở làm thế nào để chất lượng môn học được nâng lên và làm thế nào đểcác em yêu thích môn học này

- Chúng ta đã biết môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, để học tốt bộmôn này đòi hỏi các em không những chăm học mà cần phải biết tư duy sángtạo.Đa số các em là con em gia đình lao động bình thường và nghèo, một số họcsinh dân tộc các buôn gần trường trên địa bàn phường Tân Lợi, Thắng Lợi và xãCưe Bua Do cuộc sống khó khăn nên đa số phụ huynh bươn chải kiếm sống nênviệc kèm cặp, sự qua tâm việc học có phần hạn chế Một số em vừa đi học vừaphải kiếm sống nên vốn thời gian học bài của các em ở nhà đã ít nay càng ít hơn.Bên cạnh đó các em học sinh dân tộc ngoài đi học còn phải lên nương rẫy giúp

đỡ gia đình Do kinh tế gia đình khó khăn nên nguồn tài liệu, sách vở tham khảogiúp các em trong công việc học tập cũng còn nhiều hạn hẹp Thầy cô, bạn bè ở

xa nên có những vấn đề khó khăn trong việc học, như chưa hiểu bài, chưa nắm

rõ cách giải các em không biết hỏi ai Vốn đã học yếu nay lại càng học yếu hơn

II/THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VÀ CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN TRONG TRƯỜNG THCS

Sau nhiều năm dạy học tại trường THCS Phạm Hồng Thái, tôi thấy họcsinh rất hạn chế trong kỹ năng tiếp thuc kiến thức môn toán, chất lượng đạt hàngnăm chỉ từ 50 đến đến 68% Kết quả khảo sát cụ thể như sau:

- Học sinh đến lớp ít thuộc bài cũ và ít làm bài tập về nhà

- Trong giờ học trên lớp học sinh còn thụ động, ít tham gia các hoạt động lĩnhhội kiến thức

Trang 5

- Chất lượng môn Toán 8 của học sinh ở đối tượng này những năm học trướcchưa cao, dẫn đến các môn học khác cũng có chất lượng thấp.

- Kiến thức môn Toán ở các lớp dưới học sinh bị hổng nhiều

Từ thực tế, nhiều năm nay tôi đã đầu tư khá nhiều vào nghiên cứu các biệnpháp để hạn chế tối đa học sinh yếu kém của bộ môn, khi thực hiện và kiểmnghiệm có một số thuận lợi và khó khăn

1 Thuận lợi, khó khăn:

1.1 Thuận lợi.

Thứ nhất, Bản thân được nhà trường đã cho đi tập huấn chuyên đề phương pháp

dạy học tích cực, sau khi được trang bị kiến thức về phương pháp dạy học tíchcực, tôi đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào quá trình soạn bài và lênlớp

Thứ hai, Nhiều năm nay nhà trường có xu hướng phân hóa đối tượng học sinh

nên có nhiều thuận lợi để giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học phù hợpcho từng đối tượng học sinh

Thứ ba,cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường ngày càng đáp ứng được

nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh Ngoài những phương tiện dạy họctruyền thống, nhà trường trang bị các phương tiện dạy học mới nhằm nâng caochất lượng cho bài giảng (máy vi tính, projecto, bảng ghim, tài liệu phát tay, …)

Có thể nói, những thuận lợi trên đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chấtlượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh nhà trường

- Phần lớn các em là lười học, chưa hiểu rõ được tầm quan trọng của việc họcđối với thực tế cuộc sống

- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số các nhu cầu giải trí:Xem ti vi, chơi điện tử Ngày càng nhiều làm cho một số em chưa ý thức bịcuốn vào đó

- Những HS học yếu, mất kiến thức cơ bản thì càng học càng thấy khó, ngàycàng chán nản, mỗi giờ lên lớp trong tâm trạng âu lo vì sợ thầy cô gọi kiểm tra

Trang 6

bài cũ Hiện tượng trốn tiết, bỏ học một phần cũng xuất phát từ đây Lại cũng cókhông ít HS ham chơi, nhác học Đáng thương hơn, cũng có cả những trườnghợp do phải

Phụ giúp cha mẹ mưu sinh mà các em sa sút việc học

- Chương trình, SGK vẫn còn quá tải, có quá nhiều kiến thức được tích hợp vàobài dạy GV thiếu sáng tạo, giảng dạy chưa phù hợp kiến thức cho từng đốitượng HS, nhất là khi củng cố, dặn dò cuối 1 tiết dạy (GV chỉ dặn dò chungchung, không thể hiện trọng tâm, không phân hóa đối tượng)

2.2 Hạn chế.

- Do thói quen thụ động trong quá trình dạy và học Đã từ lâu, học sinh nghe

giảng và chép bài một cách thụ động đã thành thói quen nên thay đổi cần mộtquá trình

- Sĩ số học sinh trong lớp khá đông, mỗi lớp có từ 45 đến 50 học sinh Với số

lượng như vậy, việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực cũng phần nào bịhạn chế

Trang 7

- Một số học sinh dân tộc có trình độ không đồng đều, tiếp thu hạn chế, nhất là

sự hợp tác với giáo viên là không có Nên sẽ có cảm giác e ngại khi cho học sinhthảo luận nhóm

III- GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Hình thành, phát triển tư duy là nền móng học tốt môn Toán có đủ điều kiệnthuận lợi để học tốt các môn học khác

Các năm nhà trường phân công giảng dạy toán khối 8 THCS tôi nhận thấyrằng:

- Học sinh gặp nhiều khó khăn khi giải một bài toán, cho dù đó là những bài toánđơn giản và tương tự như một bài toán mà giáo viên đã chữa cho học sinh tạilớp

- Phần lớn không nhớ kiến thức cũ đã học các bài trước, nếu có nhớ kiến thức cũthì các em không thể vận dụng kiến thức đó vào trong bài tập;

- Vì lý do đó, tôi cần phải cho các em cách, phương pháp vận dụng vào việcgiải bài tập; cụ thể qua các câu hỏi gợi ý giải bài tập ( từ câu dễ đến câu khó ) ,giải bài tập đơn giản trước rồi mới giải bài tập khó khăn phức tạp hơn , cho họcsinh làm các bài tập có liên hệ thực tế , bài Toán về nhà Toán học , hoặc các bàithơ vể công thức Toán vv Để gây chú ý hứng thú học môn Toán ngay trongcác tiết học trên lớp Sau đây là những giải pháp cụ thể nhằm giảm tỉ lệ họcsinh yếu kém bộ môn toán mà tôi đã thực hiện

1 Đối với giáo viên

1.1 Nhiệm vụ

Quá trình dạy học môn toán phải nhằm mục đích đào tạo con người mà xãhội cần Vì vậy mục tiêu chung của giáo dục THCS thể hiện ở các mặt

- Làm cho HS nắm vững toán phổ thông, cơ bản, thiết thực…

- Có kỹ năng thực hành giải toán…

- Hình thành cho HS những phẩm chất đạo đức và năng lực cần thiết

Trang 8

Dạy toán không chỉ nhằm cung cấp cho HS một số kiến thức toán mà dạycho HS phải biết tính toán Ngoài kiến thức còn có phương pháp, kĩ năng, pháttriển các năng lực trí tuệ và hình thành ở HS các phẩm chất đạo đức;

1.2.Công việc cụ thể

- Đề xuất nhà trường tách riêng các đối tượng này thành một lớp

- Đề xuất chọn giáo viên có năng lực và kinh nghiệm để giảng dạy đối tượng này

- Chọn phương pháp phù hợp, chỉ dạy những kiến thức cơ bản nhất, theo chuẩn kiến thức mà bộ GD và Đào Tạo đã ban hành

- Ngôn ngữ trong lời giảng cần hết sức rõ ràng, dễ hiểu, kiến thức ghi trên bảng ngắn gọn xúc tích dễ hiểu, dễ nhớ

- Rút ngắn khoảng cách giữa thầy và trò để các em thoải mái trao đổi những vấn đề còn thắc mắc của mình

- Hướng dẫn kĩ năng giải cơ bản, đơn giản, dễ hiểu

- Chỉ yêu cầu giải các bài toán cơ bản, đơn giản nhất

- Đôn đốc, động viên, tăng cường kiểm tra việc học bài, làm bài ở nhà củacác em

- Khuyến khích học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài, vận dụng kiếnthúc mới vào việc giải bài toán cơ bản trên lớp Động viên khen thưởng kịp thời

để khuyến khích các em dần yêu thích bộ môn

- Rèn kĩ năng tính toán cẩn thận, chính xác, vẽ hình, tư duy vấn đề có logic

- Giáo dục học sinh các đức tính: ham học hỏi, chăm ngoan, phấn đấu để cóthành tích trong học tập tốt nhất

2 Đối với học sinh

Giáo viên phải giúp học sinh xây dựng được cho bản thân kế hoạch học tại lớp

- Đặc thù của môn toán là cần có một nền tản kiến thức từ cơ bản đến nângcao Các kiến thực kết hợp chặt chẽ, có hệ thống logic và phải có phương pháp

Trang 9

vân dụng kiến thức; kết hợp với kiến thực đã học thì các em phải sáng tạo, tìm ranhiều các bước giải, phương pháp giải khác nhau, để tìm ra lời giải của mộtbài toán.

- Để học tốt các em phải chuẩn bị bài, học thuộc các kiến thức của bài cũvới trình độ khả năng của mình

- Thực hiện các bài tập giáo viên cho trên lớp, đầu tư suy nghĩ, tư duy cáccâu hỏi của giáo viên

- Tập trung nghe giảng, hăng hái phát biểu, để hiểu rõ được trọng tâm củabài học

- Rèn luyện tính kiên trì, nhẫn nại khi đầu tư suy nghĩ và giải bài tập, rènluyện kỹ năng giải toán từ các bài toán đơn giản cho đến các bài cao hơn

3 Các biện pháp dạy học để hạn chế tỉ lệ học sinh yếu kém môn toán.

3.1 Biện pháp hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó phù hợp cho từng đối tượng học sinh, đặc biệt đối với học sinh yếu.

Ví du 1ï: Phân tích đa thức thành nhân tử

Bài tập : Phân tích đa thức 14x2 y – 21xy2 + 28x2y2 thành nhân tử

Nhằm đưa về dạng: A.B + A.C + A.D = A.(B + C + D)

Giáo viên gợi ý:

- Tìm nhân tử chung của các hệ số 14, 21, 28 trong các hạng tử trên? (Học sinh trả lời là: 7, vì ƯCLN(14, 21, 28 ) = 7 )

- Tìm nhân tử chung của các biến x2 y, xy2, x2y2 ? (Học sinh trả lời là

xy )

- Nhân tử chung của các hạng tử trong đa thức đã cho là 7xy

Giải : 14x2 y – 21xy2 + 28x2y2 = 7xy.2x – 7xy.3y + 7xy.4xy

= 7xy.(2x – 3y + 4xy)

Bài tập: Phân tích đa thức 10x(x – y) – 8y(y – x) thành nhân tử SGK-tr19)

(BT-39e)-Giáo viên gợi ý:

- Tìm nhân tử chung của các hệ số 10 vàø 8 ? (Học sinh trả lời là: 2)

- Tìm nhân tử chung của x(x – y) và y(y – x) ?

(Học sinh trả lời là: (x – y) hoặc (y – x) )

- Hãy thực hiện đổi dấu tích 10x(x – y) hoặc tích – 8y(y – x) để cónhân tử chung (y – x) hoặc (x – y)?

Cách 1: Đổi dấu tích – 8y(y – x) = 8y(x – y)

Trang 10

Cách 2: Đổi dấu tích 10x(x – y) = –10x(y – x) (Học sinh tự giải)

Bài tập ï: Phân tích đa thức: x4 – 9x3 + x2 -9x thành nhân tử

Câu hỏi gợi mở:

GV : Đa thức trên các hạng tử có nhân tử chung nào ?

Câu hỏi khó hơn:

GV: Ngoài cách nhóm trên ta còn có cách nhóm khác như thế nào? Để phân

tích đa thức trong ngoặc thành nhân tử?

HS : Học sinh trả lời cách hai

Qua ví dụ trên, giáo viên củng cố cho học sinh:

Cách tìm nhân tử chung của các hạng tử (tìm nhân tử chung của các hệ số

và nhân tử chung của các biến, mỗi biến chung lấy số mũ nhỏ nhất)

Quy tắc đổi dấu và cách đổi dấu của các nhân tử trong một tích

GV cần có các câu gợi ý cho các bài tập tương đối khó theo trình tự, giúphọc sinh giải quyết dần nội dung bài toán

3.2 Biện pháp cố gắng tìm ra lỗ hổng kiến thức và giúp các em bù chỗ hổng hoặc các sai lầm thường gặp trong bài toán

Bài tập: Phân tích đa thức (x + y)2 – (x– y)2 thành nhân tử (BT- tr6)

28a)-SBT-Gợi ý: Đa thức trên có dạng hằng đẳng thức nào? (HS: có dạng A2 – B2 )

Lời giải sai: (x + y)2 – (x– y)2 = (x + y – x – y)(x + y + x – y) (thiếu dấu

ngoặc)

= 0.(2x) = 0 (Kết quả sai)

Sai lầm của học sinh ở đây là: Thực hiện thiếu dấu ngoặc

Lời giải đúng: (x + y)2 – (x– y)2 = [(x + y) – (x – y)].[(x + y) + (x – y)]

= (x + y – x + y)(x + y + x – y) = 2y.2x = 4xy

Bài tập: Phân tích đa thức x2 – 2x – 4y2 – 4y thành nhân tử

Lời giải sai : x2 – 2x – 4y2 – 4y = (x2 – 4y2 ) – (2x – 4y ) (đặt dấu sai)

= (x + 2y)(x – 2y) – 2(x – 2y) (sai từ trên)

Trang 11

= (x – 2y)(x + 2y – 2) (kết quả

dấu sai)

Sai lầm của học sinh ở đây là:

Nhóm x2 – 2x – 4y2 – 4y = (x2 – 4y2 ) – (2x – 4y ) (đặt dấu sai ở ngoặc thứ

hai)

Lời giải đúng: x2 – 2x – 4y2 – 4y = (x2 – 4y2 ) + (– 2x – 4y )

= (x + 2y)(x – 2y) – 2(x + 2y) = (x + 2y)(x – 2y – 2)

Qua các ví dụ trên, giáo viên lưu ý cho học sinh:

- Quy tắc bỏ dấu ngoặc, lấy dấu ngoặc và quy tắc dấu

- Phép biến đổi, kĩ năng nhận dạng hằng đẳng thức hiệu hai bình phương,bình phương của một hiệu

- Cách nhóm các hạng tử và đặt dấu trừ “ – ” hoặc dấu cộng “ + ” ở trướcdấu ngoặc, phải kiểm tra lại cách đặt dấu khi thực hiện nhóm

Trong phương pháp nhóm thường dẫn đến sự sai dấu, vì vậy học sinh cần chú ý cách nhóm và kiểm tra lại kết quả sau khi nhóm

Ví duï 2: Phân thức đại số

Bài tập: Một học sinh rút gọn phân thức: 7 7 7

7

x x

+ =

GV : Hỏi em rút gọn như thế nào được kết quả trên

HS: Em rút gọn 7x ở tử thức với 7x ở mẫu thức nên được kết quả 7

Trong tình huống này GV thấy sự sai lầm của học sinh là đã chia số hạng cho thừa số, giáo viên cần sữa sai cho học sinh ngay

- Giáo viên cho học sinh nhận xét về tử thức có phân tích thành nhân tử được không Học sinh sẽ phân tích được 7x + 7 = 7(x + 1)

Trang 12

Vớ dụ 2: Giải bài toỏn bằng cỏch lập phương trỡnh

* Về kiến thức: Một trong những phơng pháp hớng dẫn học sinhgiải bài toán trên là dựa vào quy tắc chung Nội dung của quytắc gồm các bớc:

- Bớc 1: Lập phơng trình (hệ phơng trình)

+ Chọn ẩn, xác định điều kiện cho ẩn

+ Dùng ẩn số và các số liệu đã biết để biểu thị các

số liệu có liên quan, dẫn giải các bộ phận thành phơng trình(hệ phơng trình)

- Bớc 2: Giải phơng trình (hệ phơng trình)

- Bớc 3: Nhận định kết quả, thử lại, trả lời Mặc dù có quytắc trên song trong quá trình hớng dẫn giải bài toán này cầncho học sinh vận dụng theo những biện pháp sau:

3.3 Biện phỏp sử dụng lời giải khụng phạm sai lầm và khụng cú sai sút nhỏ:

Để học sinh không mắc sai lầm này ngời giáo viên phảilàm cho học sinh hiểu đề toán và trong quá trình giải không

có sai sót về kiến thức, kỹ năng tính Giáo viên phải rèn cho họcsinh có thói quen đặt điều kiện cho ẩn và đối chiếu với điềukiện của ẩn xem có thích hợp không?

Bài tập: Mẫu của một phân số gấp 4 lần tử số của nó Nếu

Ngày đăng: 18/03/2020, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w