1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dạy học chương nhiệt học vật lý 6 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

99 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

27 Chương 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “NHIỆT HỌC” - VẬT LÝ 6 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐỨC VƯỢNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn: Tổ chức dạy học chương “Nhiệt học” - Vật lý 6 với sự hỗ

trợ của công nghệ thông tin được thực hiện từ tháng 08 năm 2017 đến tháng

08 năm 2019

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và tài liệu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Thái nguyên, tháng 09 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Oanh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đặc biệt là các thầy cô giáo khoa Vật lý và tổ Phương pháp

đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý Thầy, Cô giáo tổ Toán - Lý, trường THCS Trạm Lộ đã tạo điện kiện trong thời gian thực nghiệm

và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn:

TS Trần Đức Vượng, người đã tận tâm giúp đỡ, chỉ dẫn nhiệt tình, tháo gỡ những vướng mắc, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thái nguyên, tháng 04 năm 2019

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Oanh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của đề tài luận văn 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VẬT LÝ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 5

1.1 Tính tích cực nhận thức của học sinh 5

1.1.1 Tính tích cực nhận thức 5

1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức 6

1.2 Dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí 8

1.2.1 Khái niệm 8

1.2.2 Quy trình thực hiện 8

1.2.3 Ưu, nhược điểm 9

1.3 Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong dạy học 10

1.3.1 Khái niệm về công nghệ thông tin 10

1.3.2 Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học 10

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và trong

dạy học vật lý nói riêng 12

1.4 Sử dụng video clip trong dạy học 13

1.4.1 Khái niệm 13

1.4.2 Đặc điểm của video clip trong dạy học 14

1.4.3 Vai trò của video clip trong dạy học Vật lí 17

1.5 Phần mềm dạy học 19

1.5.1 Khái niệm 19

1.5.2 Phân loại 20

1.5.3 Những tác dụng của phần mềm dạy học vật lý 20

1.6 Đặc điểm nhận thức của học sinh cấp THCS 21

1.7 Thực trạng của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý ở trường THCS 22

1.7.1 Điều tra 22

1.7.2 Kết quả điều tra 22

1.7.3 Nguyên nhân và giải pháp 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

Chương 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “NHIỆT HỌC” - VẬT LÝ 6 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 28

2.1 Đặc điểm chương “Nhiệt học” trong chương trình vật lý THCS và trong chương trình Vật lí lớp 6 28

2.1.1 Vị trí, nội dung chương “Nhiệt học” trong chương trình vật lý THCS và trong chương trình Vật lí lớp 6 28

2.1.2 Cấu trúc của chương “Nhiệt học” Vật lí 6 28

2.1.3 Sơ đồ cấu trúc của chương “Nhiệt học” - Vật lí 6 28

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1.4 Chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh cần đạt được sau khi

học xong chương “Nhiệt học” 29

2.1.5 Một số video clip để dạy chương “Nhiệt học” ở trường THCS 31

2.2 Một số định hướng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh 32

2.2.1 Định hướng sử dụng video clip 32

2.2.2 Sử dụng video clip trong dạy học 34

2.2.2 Định hướng sử dụng phần mềm dạy học 36

2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong chương “Nhiệt học”-Vật lý 6 theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh 39

2.3.1 Đề xuất quy trình soạn thảo tiến trình dạy học chương “Nhiệt học”-Vật lý 6 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 39

2.3.2 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong chương Nhiệt học 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 58

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 58

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 58

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 59

3.2.1 Đối tượng 59

3.2.2 Nội dung 59

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 60

3.3.1 Phân tích định tính dựa trên việc theo dõi hoạt động của học sinh trong giờ học 61

3.3.2 Phân tích kết quả định lượng dựa trên kết quả bài kiểm tra 62

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.4 Đánh giá thực nghiệm sư phạm 62

3.4.1 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 62

3.4.2 Kết quả và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm: 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Kiến nghị 74

HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 75

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình sử dụng PPDH tích cực và PTDH mới 23

Bảng 1.2 Bảng khảo sát thực trạng học tập của HS với môn Vật lí 24

Bảng 1.3 Bảng khảo sát khả năng nhận thức, mức độ tích cực của HS 24

Bảng 3.1 Bảng số liệu HS nhóm ĐC và nhóm TN 60

Bảng 3.2 Thống kê các biểu hiện của tính tích cực, tự lực của HS 64

Bảng 3.3 Bảng phân bố tần suất điểm kiểm tra 66

Bảng 3.4 Xếp loại điểm kiểm tra 66

Bảng 3.5 Bảng phân bố tần suất 67

Bảng 3.6 Bảng lũy tích hội tụ 67

Bảng 3.7 Bảng tổng hợp các tham số thống kế 68

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ khái quát của tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu dạy

học phát hiện và giải quyết vấn đề 9

Hình 1.2 Sơ đồ hiệu quả sử dụng của các loại phương tiện dạy học 17

Hình 3.1 Biểu đồ xếp loại điểm kiểm tra 66

Hình 3.2 Đồ thị phân bố tần suất 67

Hình 3.3 Đồ thị lũy tích hội tụ 68

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại của chúng ta sự bùng nổ công nghệ thông tin đã tác động đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội loài người Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức

Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu, trong đó có lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo Trong giáo dục đào tạo công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong những năm gần đây và các trường đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập

Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học Xem công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học và hiện tại giáo dục đang có xu hướng chuyển biến mạnh mẽ từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội cần thiết phải cải cách giáo dục nói chung cũng như cải cách cấp trung học phổ thông mà việc đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ quan trọng Định hướng quan trọng trong đổi

mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo đặc biệt

là những năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông.

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng gắn với sử dụng các phương tiện dạy học học hiện đại, với các phần mềm dạy học là hướng đi mới vì qua đây giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập, hình thành các năng lực chuyên biệt, đặc biệt phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức và ứng dụng vào thực tiễn

Cách học, cách ghi nhớ kiến thức vào bộ não nếu chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm và sự kiện nổi bật trong tài liệu, hoặc không biết cách liên kết các kiến thức có liên quan với nhau thì không có hứng thú trong việc học và không thể vận dụng trong cuộc sống và đáp ứng yêu cầu xã hội

Dạy học vật lý gắn với một hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách

kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự

tư duy tích cực, có thể vẽ trên giấy, bảng… hoặc có thể thiết kế trên powerpoint

hoặc phần mềm Imindmap

Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, thì phương tiện dạy học đóng một vai trò hết sức quan trọng Sử dụng phương tiện dạy học không chỉ giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập mà còn hướng vào việc hình thành cho học sinh kỹ năng sử dụng các phương tiện học tập và hoạt động thực tiễn Đối với môn Vật lý là một môn khoa học chủ yếu là thực nghiệm, các khái niệm vật

lí, các định luật vật lí, các thuyết vật lí, các ứng dụng kĩ thuật của vật lí đều phải gắn với thí nghiệm vì vậy việc tăng cường sử dụng thí nghiệm trong dạy học là vấn đề then chốt của việc đổi mới PPDH

Nhưng trong thực tế, các thiết bị thí nghiệm cung cấp trong chương trình giảng dạy ở các cấp học vẫn còn hạn chế Do vậy, chất lượng của việc giảng dạy và sự tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ bị ảnh hưởng rất là lớn Để khắc phục khó khăn ấy, hiện nay ở các trường học đã yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, đó là sử dụng video clip thí nghiệm

mô phỏng, và video clip thí nghiệm thực để thay thế thí nghiệm thực

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chính vì những lý do trên nên tôi lựa chọn đề tài “TỔ CHỨC DẠY

HỌC CHƯƠNG “NHIỆT HỌC” - VẬT LÝ 6 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN” làm luận văn cao học là có căn cứ và phù hợp

với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Vận dụng công nghệ thông tin vào tổ chức dạy học chương “Nhiệt Vật lý 6 nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh

học”-3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Hoạt động dạy và học vật lý của giáo viên và học sinh

trong trường THCS

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng công nghệ thông tin để hỗ

trợ giảng dạy học một số kiến thức chương “Nhiệt học”-Vật lý 6 ở một số trường THCS tỉnh Bắc Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức dạy học một số kiến thức chương "Nhiệt học"-Vật lý 6 theo phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với việc hỗ trợ của công nghệ thông tin trong dạy học Vật lí thì sẽ phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh THCS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển sáng tạo của học sinh

- Điều tra thực trạng của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý ở trường THCS và trong dạy học vật lý 6

- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa và xây dựng sơ đồ cấu trúc logic chương “Nhiệt học”-Vật lý 6

- Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương

“Nhiệt học” - Vật lý 6 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

- Thực nghiệm sư phạm ở trường THCS

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê toán học

7 Đóng góp của đề tài luận văn

- Về mặt lí luận: Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

- Về mặt nghiên cứu ứng dụng: Đề xuất một quy trình về sử dụng công nghệ thông tin để phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Vật lý với sự hỗ

trợ của công nghệ thông tin

Chương 2: Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Nhiệt

học” - Vật lý 6 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VẬT LÝ

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Tính tích cực nhận thức của học sinh

1.1.1 Tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS Theo giáo sư Trần Bá Hoành 9 “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt

động của HS, đặc trưng bởi khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”

Tính TCNT bao gồm: Sự lựa chọn đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo

nó Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức

và hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập trung chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc…

 Các mức độ về tính tích cực nhận thức

Có thể phân chia tính TCNT làm ba mức độ:

Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ thấp của tính tích cực, chủ yếu là

dựa vào trí nhớ để tái hiện những điều đã nhận thức được

Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao

hơn Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lý, định luật…vào giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đưa ra những phương án khác nhau, nhờ đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển

Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích

cực Nó được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏi khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị Tính tích cực sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tiềm năng sáng tạo của cá nhân Nó biểu thị khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phương pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới Như vậy tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc trưng của một con người [22]

1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức

Trong học tập, HS chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được tư duy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của HS Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy đồng thời được phát triển

Để phát hiện xem HS có tích cực hoạt động nhận thức không ta có thể dựa vào các dấu hiệu: [11]

 Dấu hiệu bên ngoài (qua hành vi, thái độ, hứng thú):

- Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng

Các em hay đặt những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn

về những đối tượng mà các em đang tiếp xúc Những câu hỏi dạng: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Tại sao? Như thế nào? Do đâu mà có? Những thắc mắc các em đưa ra biểu hiện sự tích cực tìm kiếm, lòng ham hiểu biết, trí tò mò đang khuấy động các em Học tập thụ động, không hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng sẽ không có phản ứng nếu câu hỏi không được trả lời

- Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm

- Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của

bạn và thích tham gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú

Thông qua quan sát, thầy giáo có thể xác định được những biểu hiện cảm xúc, hứng thú nhận thức như niềm vui sướng, sự hài lòng khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là những thành công trong học tập…

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Dấu hiệu bên trong có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi:

- Học sinh có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không?

- Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…)

- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?

- Có thường xuyên hỏi thầy cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, tổ không?

 Dấu hiệu bên trong (sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự

phát triển tư duy, ý chí và xúc cảm…):

Những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin đủ lớn và phải qua một quá trình xử lí thông tin mới thấy được, cụ thể là:

- Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác

tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức

- Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới

- Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát

- Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình

- Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất

- Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực,

cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu báo hết giờ

Những câu hỏi mà thông qua đó có thể thấy được biểu hiện tích cực hoạt động nhận thức của học sinh qua dấu hiệu bên trong:

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?

- Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?

- Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp…năng lực tư duy nói chung không?

- Có thể hiện sự sáng tạo trong học tập không?

 Kết quả học tập

Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục,

tự giác mới có kết quả học tập tốt

Dấu hiệu này có thể cụ thể hóa qua các câu hỏi sau:

- Học sinh có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?

- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?

- Có vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế không?

- Có phát triển tính năng động sáng tạo không?

- Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không?

1.2 Dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí

1.2.1 Khái niệm

- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy đã có

từ lâu, và hiện đang là xu hướng dạy học mới ở Việt Nam và các nước khác

- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học (PPDH) mà GV đặt ra những tình huống có vấn đề, giáo viên điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sang tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó nắm được kiến thức mới lẫn phương pháp đi tới kiến thức đó, đồng thời phát triển năng lực tư duy sang tạo và hình thành thế giới quan khoa học

1.2.2 Quy trình thực hiện

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là kiểu dạy học dạy HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, không những tạo nhu cầu, hứng thú học tập, giúp HS chiếm lĩnh được kiến thức, mà còn phát triển

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

được năng lực sáng tạo của HS Chúng tôi sử dụng sơ đồ tiến trình xây dựng

kiến thức theo kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Vật lí của

như sau:

Hình 1.1: Sơ đồ khái quát của tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu dạy

học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.2.3 Ưu, nhược điểm

- Ưu điểm:

+ Góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có HS sẽ xem xét, đánh giá thấy được vấn đề cần giải quyết

+ Phát triển được khả năng tìm tòi xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Trong khi phát hiện và GQVĐ, HS sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách GQVĐ tốt nhất

+ Thông qua việc GQVĐ, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Nhược điểm:

+ Đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực

sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và GQVĐ

+ Đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với phương pháp thông thường

1.3 Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong dạy học

1.3.1 Khái niệm về công nghệ thông tin

Công nghệ Thông tin (CNTT), (tiếng Anh: Information Technology hay

là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin

Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa

trong nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin

là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"

Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong

bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết,

Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)."

1.3.2 Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Công nghệ thông tin (CNTT) xuất hiện khá lâu trên thế giới và dần dần

du nhập vào Việt Nam không lâu sau đó Những năm 90 trong tiến trình toàn cầu hóa, CNTT đã có những sự đóng góp tích cực cho các hoạt động sản xuất

từ đó khẳng định được vị trí, vai trò của mình và một sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ đánh dấu sự phát triển của ngành CNTT ở Việt Nam đó là vào năm

1997 chúng ta đã thực hiện việc kết nối Internet vào mạng toàn cầu, mở ra một thời kỳ mới của CNTT Trong thời đại ngày nay, thời kỳ bùng nổ của CNTT

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhất là trong lúc cả thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT là một cụm từ quá quen thuộc với tấc cả mọi người và nó xuất hiện trong tấc cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội CNTT được xem như một cuộc cách mạng trong xã hội loài người ngoài cuộc cách mạng công nghiệp CNTT mang lại một nhóm các công cụ tri thức hữu ích và hiệu quả cho hoạt động sản xuất cho con người CNTT xuất hiện đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của con người, mở ra một cánh của mới, những sự sáng tạo mới cho đời sống xã hội con người CNTT đã được xác định là một trong bốn trụ cột của kinh tế tri thức, giữ vai trò nền tảng, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước

Việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động sản xuất nói chung là hết sức cần thiết và lĩnh vực giáo dục nói riêng luôn là một tấc yếu, là điều kiện cho sự đổi mới, sự phát triển, đảm bảo cho nguồn lực chất lượng cao cho quá trinh hội nhập Thực tế, CNTT đã đi vào lĩnh vực giáo dục như một quy luật tự nhiên, với mục đích phát triển toàn diện nền giáo dục, CNTT đã phần nào khẳng định được hiệu quả đối với hoạt động quản lý giáo dục, hoạt động dạy và học, là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục CNTT là phương tiện hữu hiệu góp phần xây dựng "xã hội học tập" Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn

nhân lực cho lĩnh vực đó Điều này đã được khẳng định trong một số phát biểu

chính thức thuộc nghị quyết trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bộ Giáo dục và đào tạo cũng như của một số bài nghiên cứu khác Để định hướng

và khuyến khích ứng dụng CNTT vào các hoạt động dạy học thì ngày 06 tháng

10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ký quyết Quyết định số

246/2005/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt

Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020" và Bộ Giáo dục và đào tạo

cũng đã chỉ rõ: "Việc hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy bằng ứng dụng

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

CNTT phải được thực hiện một cách hợp lý, tránh lạm dụng, tránh bệnh hình thức chỉ ứng dụng CNTT tại một số giờ giảng trong cuộc thi, trong khi không

Đối với dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông, công nghệ thông tin góp phần nâng cao tiềm lực của người giáo viên bằng cách cung cấp cho họ những phương tiện làm việc hiện đại (như mạng Internet, các loại từ điển điện

tử, các sách điện tử, thư điện tử, thí nghiệm mô phỏng,…); Góp phần đổi mới cách dạy và cách học, đổi mới phương pháp dạy học

Một số vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học môn Vật lí

 Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng

 Làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học

 Giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có

độ tin cậy )

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

 Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao

Việc sử dụng CNTT trong dạy học Vật lí là hết sức cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc tăng cường sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học Vật lí là một hướng đi đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông Về mặt nguyên tắc, chỉ có thể thâu tóm đầy đủ chức năng của phương tiện dạy học trong dạy học Vật lí nếu xem xét việc sử dụng phương tiện dạy học trên nhiều quan điểm khác nhau, nhưng dù xét theo quan điểm nào đi nữa, chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học cũng vẫn là tạo điều kiện cho HS nắm vững một cách chính xác, sâu sắc các kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo và hình thành nhân cách cho HS

Một trong những ứng dụng của CNTT trong dạy học đó là chúng ta sử dụng các phần mềm dạy học (powerpoint, video clip, Buzan’s iMindmap…) kết hợp với dạy học lý thuyết Đây là một giải pháp có lợi ích quan trọng trong việc giảng dạy của giáo viên, đồng thời giúp học sinh có hứng thú trong học tập

và tiếp thu kiến thức nhanh chóng, sâu sắc

Công nghệ thông tin trong dạy học

1.4 Sử dụng video clip trong dạy học

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bên cạnh phần cứng, video còn có các phần mềm được xây dựng trên các nguyên lí sư phạm, tâm lí học, khoa học kĩ thuật để cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức nhất định Đó là các băng video Băng video ghi lại đồng thời các hình ảnh và âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong thiên

nhiên, đời sống xã hội… và được đầu máy video phát lại qua màn hình [23]

Theo Brophy, Video clip là một đoạn phim ngắn, và nó là một loại hình

đa phương tiện kết hợp nghe nhìn, được trích từ một bộ phim, một bài hát, hay một đoạn phim ghi lại một quá trình, một sự kiện Clip là một chữ tiếng Anh

có nghĩa là “trích” một nội dung nào đó để giới thiệu tắt về nội dung đó, có nghĩa là cắt giảm chỉ lấy các yếu tố cốt lõi có tính đại diện Các video clip thường được dùng trong quảng cáo hay giới thiệu một nội dung mới Các video clip được sản xuất bằng việc sử dụng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến và một

số hiệu ứng đặc biệt kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa hình ảnh, âm thanh

và văn bản để thu hút người xem và giúp người xem dễ dàng nắm bắt được cốt lõi nội dung của đoạn phim mà video clip đó đại diện

Phim TN (video clip TN) có thể hiểu là một video clip ghi lại các hiện tượng vật lí diễn ra trong thực tế, nó được ghi hình lại và được trình diễn trong tiết học Thông thường, đây là những hiện tượng không thể tiến hành trong phạm vi trường học, nhưng nó có thể quan sát trong thực tế cuộc sống

Không giống như phim dạy học,video clip giúp GV chủ động hơn trong việc lựa chọn nội dung thông tin cần truyền đạt và thời điểm sử dụng

1.4.2 Đặc điểm của video clip trong dạy học

Các công trình nghiên cứu về tâm lí học nhận thức thông qua hoạt động giáo dục - đào tạo trên phạm vi toàn thế giới đã khẳng định vai trò to lớn của các phương tiện dạy học trong việc nâng cao hiệu quả dạy học vật lí Để lĩnh hội tri thức phải có sự tương quan hợp lí giữa lời nói của GV với các phương tiện trực quan Phương tiện trực quan hình thành những biểu tượng cụ thể trong

kí ức của HS Các khái niệm được hình thành trên cơ sở các biểu tượng [23]

Do vậy để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong quá trình học tập có hiệu

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quả thì GV phải sử dụng các phương tiện trực quan Một trong những biện pháp để nâng cao tính tích cực nhận thức của HS là phải bổ sung vào nội dung bài học những kiến thức mới có tính thực tiễn, gần gũi với đời sống sinh hoạt, với thực tiễn để tạo hứng thú, kích thích tính tự lập, tính kiên trì sáng tạo của trẻ Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các phương tiện dạy học hiện đại Thông qua máy vi tính, video clip trở thành một trong những biện pháp để khai thác các phương tiện hiện đại một cách có hiệu quả Vì vậy, dựa trên các cơ sở tâm lí học dạy học có thể khẳng định việc sử dụng video clip vào dạy học sẽ mang lại hiệu quả tốt

Thứ nhất, video clip giúp tạo động cơ học tập tích cực đối với HS Những hình ảnh sinh động phối hợp nhuần nhuyễn với âm thanh, màu sắc, văn bản, bản đồ, tác động tích cực vào các giác quan của HS làm nâng cao tính trực quan trong giờ học, tạo cơ sở cho việc phát triễn các năng lực tư duy của

HS như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, và góp phần rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho HS

Thứ hai, các hình ảnh gắn liền với thực tiễn đời sống, sinh hoạt của HS

sẽ giúp kích thích hứng thú, gây sự chú ý cao độ vào đối tượng cần nghiên cứu, hình thành ở họ sự tò mò khám phá tri thức, do vậy tạo được tình huống học tập tích cực, làm xuất hiện nhu cầu tiếp thu tri thức của HS, thoả mãn nhu cầu hiểu biết và sự say mê học tập của họ [23] Từ những cơ sở trên cho phép khẳng định vai trò và tác dụng của các phương tiện trực quan trong việc kích thích hứng thú nhận thức, tạo cơ sở cho nhu cầu nhận thức xuất hiện và động lực của quá trình nhận thức được duy trì và phát triển Do đó làm cho người học đạt được kết quả cao trong việc chiếm lĩnh tri thức lẫn hình thành năng lực tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành

Có 3 hình thái cơ bản thông qua việc mọi người nắm bắt thông tin: nghe, nhìn, và cảm xúc Sự kết hợp 3 hình thái này với việc HS xử lý thông tin sẽ phát sinh ra 3 phong cách học cơ bản: không gian nhìn, chuỗi nghe và xúc giác của cơ thể Với người học thuộc về không gian nhìn sẽ nắm bắt thông tin mới

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

qua sự hình dung toàn bộ khái niệm và trong suy nghĩ, tưởng tượng của họ là những hình ảnh không gian Trái lại những người học theo phương pháp chuỗi nghe thì từ những móc xích của những gì nghe được họ nghĩ ra từng từ, và xử

lý theo cách nghe của mình và nói chung hiểu theo tiến trình từng bước, từng chuỗi Cuối cùng là những HS học theo xúc giác thì họ nắm bắt thông tin qua

sự tiếp xúc cơ thể và cảm xúc, và họ sẽ tiếp thu tốt trong sự minh hoạ hoặc ứng dụng nhiều hơn là những giải thích bằng lời nói Thông qua ba hình thái học tập ở trên cho thấy, âm thanh, hình ảnh đều có tác dụng tốt trong việc nhận thức của HS, mỗi một hình thái học tập đều dựa vào một kênh thông tin cơ bản đặc thù của nó

Việc học tập với video clip trong đó bao gồm hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, hình ảnh kết hợp với âm thanh sẽ làm tăng khả năng ghi nhớ và chất lượng của việc ghi nhớ các kiến thức trong đầu HS cũng bền vững hơn Năm 1971 Piavio đã làm các thí nghiệm để nghiên cứu khả năng ghi nhớ của HS và rút ra kết luận rằng khi HS học tập với tranh vẽ thì khả năng ghi nhớ sau 5 phút, hoặc sau một tuần là cao hơn so với khi học tập không có các tranh vẽ hoặc học tập với các biểu tượng trừu tượng Kết quả của ông được tóm tắt như bảng sau [23]

Khả năng nhớ sau 5 phút

Khả năng nhớ sau 1 tuần

Các công trình nghiên cứu của Treichler (1976) về tác động của các giác quan đối với các khả năng tiếp thu và ghi nhớ kiến thức của HS đã rút ra kết luận: vị giác quyết định 1%, xúc giác 1,5%, khứu giác 3,5%, thính giác 11%,

và thị giác là 83% Ông cũng đã chỉ ra ảnh hưởng của các hoạt động cá nhân đối với việc ghi nhớ của HS như sau: 10% thông qua đọc, 20% thông qua nghe, 30% thông qua nhìn, 50% thông qua nghe và nhìn, 70% thông qua nói và nhìn, 90% thông qua nhìn và làm việc (thực hành) Khi học tập với video clip thì HS

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phải thực hiện nhiều thao tác: nghe, nhìn, đọc, và làm việc do vậy khả năng lĩnh hội và ghi nhớ kiến thức của HS sẽ được nâng cao

1.4.3 Vai trò của video clip trong dạy học Vật lí

Với những tính năng ưu việt, video clip có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói riêng, biểu hiện ở các mặt sau:

- Video clip giúp học sinh nắm vững kiến thức và ghi nhớ kiến thức lâu bền

Khác với những phương tiện dạy học khác, video clip có khả năng trình bày nội dung bài học bằng hình thức hình ảnh kết hợp với âm thanh theo một trình tự liên kết hữu cơ Toàn bộ nội dung bài học được truyền tải một cách sinh động qua hiệu ứng âm thanh tạo cho học sinh hứng thú học tập Không những thế, học sinh còn hiểu được toàn bộ quá trình phát sinh và phát triển của các sự vật hiện tượng

Tỉ lệ tiếp nhận kiến thức từ ngoài vào bộ não con người qua nghe và nhìn

là lớn nhất, chiếm 94% Người ta cũng tổng kết được mức độ ghi nhớ kiến thức bằng các con đường cảm giác khác Thính giác và thị giác chiếm tới 50%

Hiện nay, video clip được đánh giá khá cao trong dạy học vật lí nói riêng

và trong các bộ môn khác nói chung được nêu trong sơ đồ sau:

Hình 1.2 Sơ đồ hiệu quả sử dụng của các loại phương tiện dạy học

LỜI BẢNG PHẤN

SLIDE PHIM VÒNG HÌNH CHIẾU QUA ĐẦU PHIM ẢNH VIDEO

ĐA PHƯƠNG TIỆN (MULTINEDIA) MẠNG LAN, INTERNET

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Video clip giúp học sinh quan sát các hiện tượng và quá trình Vật lí một cách toàn diện

Nhờ video clip, học sinh có thể quan sát gián tiếp được những đối tượng, hiện tượng Vật lí không thể quan sát được do kích thước quá nhỏ hoặc quá lớn, học sinh có thể tiếp cận được với những đối tượng, hiện tượng phân bố ở những nơi rất xa Nhờ kỹ thuật quay của video clip, học sinh có thể quan sát được cả những hiện tượng, quá trình diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm, không kịp quan sát trong thực tế Đồng thời, nhờ khả năng lưu giữ, video clip còn giúp cho học sinh thấy được những hình ảnh và âm thanh vượt thời gian và không gian

Với tính năng kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh dưới hình thức chuyển động, video clip góp phần hình thành và nâng cao khả năng quan sát, tự nghiên cứu cho học sinh

- Video clip với hình ảnh sinh động, hấp dẫn có thể thay thế tranh ảnh và

mô hình, thay thế các cuộc tham quan, dã ngoại về vật lý

- Nâng cao hiệu suất dạy học và phát huy tác dụng của mọi hình thức dạy học

Với thời lượng nhất định, video clip trình bày nội dung kiến thức một cách tối ưu thông qua những hình ảnh, với các cảnh thật người thật, các biểu bảng, sơ

đồ, bản đồ, chữ viết, những tiếng động thật kết hợp với âm thanh và lời thuyết minh sống động sẽ giúp nhịp độ giới thiệu đề tài được gia tăng Từ đó, giáo viên

có thêm nhiều thời gian tổ chức các hoạt động nhận thức khác cho học sinh

Video clip còn kèm theo những lời thuyết minh, giải thích, bình luận hướng sự tập trung chú ý của học sinh vào những vấn đề trọng tâm của nội dung bài học, do đó, video clip có thể phát huy tác dụng trong nhiều hình thức

và nhiều phương pháp dạy học khác nhau như hình thức dạy học cá nhân, hình thức học nhóm, hình thức học cả lớp Video clip không chỉ được sử dụng trong các giờ học mà còn được sử dụng trong các giờ dạy thực hành hay các giờ ôn tập khi học sinh chưa nắm vững đầy đủ nội dung của bài hoặc vắng mặt không tham dự được giờ giảng đó Hay sử dụng video clip để kiểm tra kiến thức của

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

học sinh bằng việc ngắt tiếng thuyết minh Sau đó, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh trả lời

Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, các tri thức Vật lí là kết quả sự khái quát hoá thực nghiệm các hiện tượng, các quá trình diễn ra trong thực tiễn đời sống Vì vậy, việc sử dụng video clip trong dạy học Vật lí là rất phong phú

và có thể đem lại hiệu quả cao Thông qua việc quan sát hình ảnh, các đoạn video clip mô tả các hiện tượng, các thí nghiệm, HS có thể phát hiện và hiểu rõ bản chất vấn đề của các hiện tượng trong tự nhiên mà các em có thể không quan sát được hoặc quan sát không rõ nét bằng mắt thường

Trong dạy học Vật lí,sử dụng các video clip góp phần làm phong phú thêm nguồn phương tiện để GV tổ chức quá trình dạy học Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều dạng clip đã góp phần thay đổi hình thức tổ chức của bài lên lớp, thay đổi hoạt động của thầy và trò trong quá trình tổ chức dạy học: GV không mất thời gian cung cấp kiến thức mà kiến thức chứa đựng trong video clip, do

đó, tăng cường thời gian hướng dẫn, tổ chức HS học tập; HS không chép bài dạy của GV mà tăng cường hoạt động tìm tòi, thảo luận Chính vì vậy, sử dụng video clip trong dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học của người GV và phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong học tập của HS

1.5 Phần mềm dạy học

1.5.1 Khái niệm

- Hiện nay đã có khá nhiều khái niệm về phần mềm dạy học xong nhìn

chung các khái niệm về phần mềm dạy học được hiểu như sau:

- Các phần mềm ứng dụng chuyên dùng cho việc dạy và học bằng máy vi tính gọi là PMDH

- Vậy PMDH là phần mềm tin học có chứa các chương trình được lập trình cho máy vi tính để hỗ trợ quá trình dạy và học theo các mục tiêu đã định sẵn

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.5.2 Phân loại

- Theo tôi hiểu thì tùy thuộc vào từng môn học cụ thể, các ứng dụng khác nhau trong hoạt động dạy và học mà các nhà cung cấp có thể xây dựng các PMDH tương ứng để phục vụ cho việc dạy và học

Có thể chia PMDH thành hai loại với các mục đích dạy - học khác nhau:

- Phần mềm tự học: Có thể là các website, ứng dụng online, offline hoặc tool offline Có thể nói sự phát triển của những phần mềm này mang lại điều kiện vô cùng tốt cho người học

- Phần mềm hỗ trợ dạy học: Là chương trình được lập trình và cài đặt vào máy tính để người dùng điều khiển phần cứng hoạt động nhằm khai thác các chức năng của máy tính và xử lí cơ sở dữ liệu Khối lượng thông tin chọn lọc, phong phú, có chất lượng cao, có thể được tra cứu, lựa chọn, sao chép, in

ấn, thay đổi hiển thị một cách nhanh chóng, dễ dàng theo ý muốn của người sử dụng, vì vậy tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của giáo viên

1.5.3 Những tác dụng của phần mềm dạy học vật lý

- PMDH cho phép mô phỏng, minh họa nhiều quá trình, hiện tượng vật

lý trong thực tế mà chúng ta không thể quan sát trực tiếp được trong điều kiện vốn có của nhà trường, không thể hoặc khó có thể thực hiện nhờ các phương tiện khác

- PMDH có thể biểu thị thông tin rất đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau như dạng văn bản, đồ thị, bản đồ, các thí nghiệm mô phỏng, một đoạn phim giúp thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu kiến thức và tạo hứng thú học tập cho HS

- PMDH có khả năng lưu trữ lớn, truy xuất nhanh các tài liệu dạy và học Giúp cho GV có thể lặp đi lặp lại nhiều lần kiến thức nào đó mà HS chưa hiểu chỉ bằng những thao tác đơn giản trên máy tính, giúp giáo viên mô phỏng khái niệm, định luật, đại lượng vật lý và hiện tượng vật lý, quá trình xẩy ra hiện tượng vật lý một cách trực quan, đầy đủ và chính xác, đi sâu vào các các cơ

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chế, bản chất bên trong (lược bớt được các yếu tố không cần thiết) mà các phương tiện trực quan khó có thể thực hiện được

- PMDH giúp nâng cao cường độ dạy và học, tiết kiệm thời gian trong việc hình thành một đơn vị kiến thức nào đó

- PMDH giúp HS tự tìm tòi kiến thức mới, tự ôn luyện theo nội dung tùy chọn, theo những mức độ kiến thức khác nhau tùy thuộc vào năng lực của HS

- PMDH có kiểm tra, đánh giá giúp HS tự kiểm tra trong môi trường hoàn toàn không nhầm lẫn, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực

- PMDH có khả năng phản hồi nhanh chóng, sửa chữa tức thời và tự so sánh, cho phép HS biết kết quả ngay khi hoàn thành bài kiểm tra một cách chính xác, khách quan Giúp GV nắm bắt được khả năng cũng như sự tiến bộ của HS để kịp thời khích kệ, động viên

1.6 Đặc điểm nhận thức của học sinh cấp THCS

- Khả năng chú ý: Lứa tuổi này là lứa tuổi giao thoa giữa thiếu niên và thanh niên, sự chú ý tập trung của các em vào một vấn đề nào là không cao, các

em rất dễ bị phân tán, mất tập trung Nếu như không gây được sự hứng thú, không làm cho các em tích cực hoạt động học tập thì dẫn đến các em sẽ không

chú ý, và lơ là bài học

- Khả năng nhớ: Ở lứa tuổi này trí nhớ thay đổi về chất Trí nhớ dần dần mang tính chất của những quá trình được điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức Học sinh THCS có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ, các

em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại Khi ghi nhớ các em đã biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hoá, phân loại Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn, các em không muốn thuộc lòng mà muốn tái hiện bằng lời nói

- Khả năng tư duy:

Hoạt động tư duy của học sinh THCS có những biến đổi cơ bản:

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Nhưng thành phần của

tư duy hình tượng cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức

+ Ở tuổi thiếu niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các

em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm của mình để minh họa kiến thức

1.7 Thực trạng của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lý

ở trường THCS

1.7.1 Điều tra

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh THCS qua tổ chức dạy học các kiến thức về “Nhiệt học” - Vật lý 6 với sự hỗ trợ của CNTT Do đó, để rõ hơn về việc sử dụng các PTDH này ở cấp THCS, chúng tôi điều tra, thăm dò ý kiến của các GV và HS ở trường THCS Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

1.7.2 Kết quả điều tra

 Về cơ sở vật chất của trường THCS Trạm Lộ

Trường có 12 lớp học, trên 492 học sinh thuộc 4 khối lớp

Đội ngũ cán bộ, giáo viên: có 28 thầy cô giáo

 Về tổ chức hoạt động dạy học và sử dụng PTDH:

- Điểm chung: Ngoài việc sử dụng các PTDH truyền thống GV đã kết hợp sử dụng các PTDH hiện đại, dạy học theo phương pháp phát huy tính TCNT và năng lực sáng tạo cho HS

- Điểm yếu: Đa số GV đã có tuổi nghề cao nên việc sử dụng các PTDH hiện đại cũng chỉ dừng ở mức độ nhất định, chưa đem lại hiệu quả thật sự

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trong các tiết học giáo viên rất ít sử dụng các thiết bị thí nghiệm, rất ít dùng các thiết bị hiện đại, các PMDH và BĐTD trong dạy học Vật lí

- Trong các tiết học giáo viên rất ít sử dụng các thiết bị thí nghiệm, rất ít dùng các thiết bị hiện đại, các PMDH và BĐTD trong dạy học Vật lí

- Các thiết bị ứng dụng CNTT còn chưa nhiều

Về phía giáo viên

Để tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học trong dạy học Vật lí nói chung và trong quá trình dạy học chương

“Nhiệt học” (Vật lí 6) nói riêng, tôi đã tiến hành trao đổi, phát phiếu điều tra cho 5 GV dạy môn Vật lí thuộc trường THCS Trạm Lộ mà ta khảo sát.(xem phụ lục phiếu điều tra)

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA Bảng 1.1: Tình hình sử dụng PPDH tích cực và PTDH mới

Nhận xét: Đa số GV sử dụng các PTDH truyền thống, đã có đổi mới

PPDH Trong các tiết học GV rất ít sử dụng các thiết bị thí nghiệm, rất ít dùng các thiết bị hiện đại, các PMDH và BĐTD trong dạy học Vật lí nên không rèn luyện được thao tác, kĩ năng sử dụng dẫn đến tính hiệu quả không cao

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Về đối tượng người học (học sinh)

Chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp với học sinh để tìm hiểu tâm sinh lý học sinh và phát phiếu điều tra cho 80 HS của 2 lớp thuộc trường THCS Trạm Lộ Qua đây, thấy hứng thú và tính tích cực học tập của HS các lớp học Kết quả thu được:

- Hứng thú của HS

Bảng 1.2 Bảng khảo sát thực trạng học tập của HS với môn Vật lí

Cách học môn Vật lí Hứng thú học Vật lí Thời gian học Vật lí

Theo

Bình thường Không

Thường xuyên

Trước khi thi

và KT

Không học

Đôi khi Không Có

Không thường xuyên

- Chủ yếu HS mới chỉ có thói quen học vở ghi, SGK, tìm tòi kiến thức

trong các tài liệu tham khảo chưa nhiều Phần lớn HS vẫn học theo kiểu đối phó (Khi có giờ Vật lí hoặc khi kiểm tra mới học)

- Trong giờ học đa số HS chưa hang hái phát biểu, chưa tích cực xây dựng bài, ngại phát biểu ý kiến của mình nên kết quả học tập chưa cao

Như vậy qua kết quả điều tra có thể thấy phần lớn HS vẫn chưa thực sự hứng thú với môn Vật lí, chưa có cách học khoa học, hiệu quả

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.7.3 Nguyên nhân và giải pháp

1.7.3.1 Về phía giáo viên

Nguyên nhân:

- Đa số đội ngũ GV có tuổi nghề cao nên còn giữ lối phương pháp cũ,

trong khi đó để đưa CNTT vào giảng dạy cần có sự đầu tư về thời gian, về kiến thức, về kĩ năng, kĩ xảo, về cơ sở vật chất Vì vậy mà việc đưa CNTT còn rất ít

và kĩ năng sử dụng còn yếu

- Để một giờ học đạt hiệu quả, phát huy được tính TCNT và năng lực sáng tạo của HS thì cần đảm bảo cả về cơ sở vật chất và PTDH Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn khó khăn, thiếu thốn, chủ yếu vẫn

do bản thân GV tự tìm tòi, chuẩn bị

- Nhà trường còn chưa đẩy mạnh trong việc thực hiện đổi mới PPDH

- Chế độ kiểm tra, thi cử chưa sát sao, chưa đánh giá thực chất được năng lực của HS, vì thế chưa kích thích được khả năng tư duy, ý thức học tập của HS

* Để khắc phục những hạn chế trên theo tôi cần những giải pháp sau:

- Thường xuyên đưa các PTDH hiện đại vào trong giảng dạy, để nâng

cao hiệu quả, chất lượng bài giảng đồng thời rèn luyện được kĩ năng sử dụng, tạo cho bản thân thói quen dạy học mới

- Chú ý đầu tư cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc dạy - học của GV và HS

- Để phát huy được tính TCNT và năng lực sáng tạo của HS cần sử sụng kết hợp PTDH một cách hợp lí, tránh lạm dụng

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Tổng hợp kiến thức bằng BĐTD để HS dễ nắm bắt, kích thích hứng thú học tập

- Có phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp, phản ánh thực chất năng lực của HS, từ đó xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp với từng đối tượng

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, chúng tôi đã hoàn thành được nhiệm vụ của đề tài đặt

ra, trình bày một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp sử dụng CNTT nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của HS Cụ thể là:

- Phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về nhận thức, động cơ nhận thức, những biểu hiện của tính TCNT và các biện pháp phát huy tính TCNT của HS trong dạy học Vật lý

- Làm rõ được khái niệm năng lực sáng tạo

- Làm rõ được khái niệm, bản chất, quy trình thực hiện, ưu, nhược điểm dạy học GQVĐ trong dạy học vật lý

- Làm rõ được khái niệm, đặc điểm, vai trò của video clip trong dạy học vật lý

- Làm rõ được khái niệm PMDH, phân loại và tác dụng của PMDH trong dạy học môn Vật Lý

- Đánh giá được thực trạng của việc sử dụng CNTT trong dạy - học ở trường THCS trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Từ cơ sở trên, chúng tôi xin đề xuất các phương án xây dựng tiến trình dạy phần kiến thức về “Nhiệt học” cho học sinh THCS sẽ được trình bày ở chương II dưới đây

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG

“NHIỆT HỌC” - VẬT LÝ 6 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC VÀ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

2.1 Đặc điểm chương “Nhiệt học” trong chương trình vật lý THCS và trong chương trình Vật lí lớp 6

2.1.1 Vị trí, nội dung chương “Nhiệt học” trong chương trình vật lý THCS

và trong chương trình Vật lí lớp 6

Chương “Nhiệt học’’ nằm ở chương II, trong tổng số 2chương của Vật lí 6

2.1.2 Cấu trúc của chương “Nhiệt học” Vật lí 6

Trong chương trình SGK Vật lý 6 chương II - “Nhiệt học” được đề cập đến các nội dung sau:

2.1.3 Sơ đồ cấu trúc của chương “Nhiệt học” - Vật lí 6

Căn cứ vào nội dung chương trình và sự phân bố kiến thức trong SGK,

có thể xây dựng sơ đồ cấu trúc của chương này như sau:

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1.4 Chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh cần đạt được sau khi học xong chương “Nhiệt học”

Kiến thức:

1 HS cần nắm được:

- Thể tích, chiều dài của vật rắn tăng khi nóng lên, giảm khi lạnh đi

- Thể tích của một chất lỏng, khí tăng khi nóng lên, giảm khi lạnh đi

2 Các chất rắn khác nhau nở vì nhiệt khác nhau

3 Các chất lỏng khác nhau dãn nở vì nhiệt khác nhau

4 HS nhận biết được cấu tạo và công dụng của các loại nhiệt kế

5 HS biết cách chuyển đổi nhiệt độ từ nhiệt giai này sang nhiệt độ tương ứng của nhiệt giai kia

6 Nêu được ví dụ về các vật khi nở vì nhiệt, nếu bị ngăn cản thì gây ra lực lớn

7 Nhận biết được đông đặc là quá trình ngược của nóng chảy và những đặc điểm của quá trình này

Ngày đăng: 18/03/2020, 16:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w