Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với việc quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn ..... Xuất phát từ yêu cầu c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRỌNG BIÊN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
CẤP HUYỆN TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRỌNG BIÊN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG
Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
CẤP HUYỆN TỈNH BẮC KẠN
Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ PHƯƠNG HOA
THÁI NGUYÊN - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Biên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Lê Thị Phương Hoa,
người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân
em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Biên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ CẤP HUYỆN 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Khái niệm quản lý 11
1.2.3 Tư vấn tâm lý 12
1.2.4 Tư vấn tâm lý học đường 13
1.2.5 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường 13
1.3 Hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 14
1.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 14
Trang 61.3.2 Mục tiêu hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 15 1.3.3 Nội dung tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 16 1.3.4 Hình thức tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 19 1.3.5 Các phương pháp tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 20 1.3.6 Các phương tiện, điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 21 1.3.7 Chủ thể tham gia hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 22 1.3.8 Kỹ năng tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 22 1.3.9 Nguyên tắc cơ bản trong tư vấn tâm lý học đường ởcác trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 24 1.4 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 26 1.4.1 Lập kế hoạch hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 26 1.4.2 Tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 26 1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 27 1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 28 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đườngở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 29 1.5.1 Năng lực, kinh nghiệm quản lý của cán bộ quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện 29
Trang 71.5.2 Năng lực và phẩm chất của đội ngũ tư vấn viên: 29
1.5.3 Học sinh 30
1.5.4 Sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp quản lý, của giáo viên, Đội thiếu niên 32
1.5.5 Sự phối hợp, cộng tác giữa gia đình, nhà trường và xã hội 32
1.5.6 Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ CẤP HUYỆN TỈNH BẮC KẠN 35
2.1 Khái quát về tình hình KT - XH, giáo dục và đào tạo của tỉnh Bắc Kạn 35
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn 35
2.1.2 Đặc điểm giáo dục và đào tạo của tỉnh Bắc Kạn 35
2.1.3 Vài nét về đặc điểm các trường trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 37
2.2 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng 39
2.2.1 Mục đích khảo sát 39
2.2.2 Nội dung khảo sát 39
2.2.3 Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu 39
2.3 Kết quả nghiên cứu 40
2.3.1 Thực trạng hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 40
2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 61
2.4 Đánh giá hiệu quả công tác quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Bắc Kạn 68
2.5 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với việc quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72
Trang 8Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM
LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
CẤP HUYỆN TỈNH BẮC KẠN 73
3.1 Các nguyên tắc của việc xây dựng các biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 74
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 75
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lý học đường 75
3.2.2 Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động tư vấn tâm lý học đường hiệu quả 77
3.2.3 Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên quản sinh và giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý học đường 78
3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các hoạt động tư vấn tâm lý học đường 80
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động tư vấn tâm lý học đường 82
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường phối hợp với các tổ chức, cá nhân liên quan trong hoạt động tư vấn tâm lý học đường 84
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 86
3.4 Khảo nghiệm nhận thức mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 87
3.4.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 87
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp đề xuất 88
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 92
Trang 9KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
1 Kết luận chung 93
1.1 Về lý luận 93
1.2 Về thực trạng 93
1.3 Đề xuất biện pháp quản lý 94
2 Khuyến nghị 94
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 94
2.3 Đối với Ban giám hiệu nhà trường 95
2.4 Đối với đội ngũ giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý học đường 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, GV 37
Bảng 2.2 Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm học sinh năm học 2018 - 2019 38
Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động TVTLHĐ 43
Bảng 2.4 Trang thiết bị, phương tiện hỗ trợ hoạt động TVTLHĐ 45
Bảng 2.5a Nội dung TVTLHĐ tại các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 47
Bảng 2.5b Nội dung TVTLHĐ cho GV 48
Bảng 2.5c: Nội dung tư vấn cho phụ huynh 48
Bảng 2.6: Chủ thể thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường 53
Bảng 2.7 Phương pháp TVTLHĐ 55
Bảng 2.8 Nguyên tắc TVTLHĐ 58
Bảng 2.9 Thực trạng quản lý hoạt động lập kế hoạch TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 61
Bảng 2.10 Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 63
Bảng 2.11 Thực trạng quản lý chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 65
Bảng 2.12 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 67
Bảng 2.13 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 70
Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 88
Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 90
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 2.1: Khó khăn tâm lý thường gặp của học sinh ở các trường phổ thông
dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn 41
Biểu đồ 2.2 Nhận thức về mức độ cần thiết của tư vấn tâm lý học đường 42
Biểu đồ 2.3 Mức độ hài lòng của HS sau khi tư vấn 51
Biểu đồ 2.4 Hình thức TVTLHĐ 52
Biểu đồ 2.5 Kỹ năng tư vấn tâm lý 56
Biểu đồ 2.6: Đánh giá hiệu quả công tác tư vấn học đường 59
Biểu đồ 2.7 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện Tỉnh Bắc Kạn 68
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã khẳng định: “Phát triển GD&ĐT là nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay” [17]
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền giáo dục vẫn tiềm ẩn một số tồn tại xảy ra trong môi trường học đường như: bạo lực học đường, ma túy học đường, sự đảo lộn các mối quan hệ trong trường học, HS chán học, nghiện trò chơi điện tử, có hành vi chống đối, trầm cảm, thậm chí tự tử Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do các em không có ai hỗ trợ, tư vấn, giúp các em giải quyết những vướng mắc một cách kịp thời
Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT “Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho HS trong trường phổ thông với mục đích giúp các em phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp khi gặp những khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện [3]
TVTLHĐ là hình thức trợ giúp tâm lý đắc lực không những cho HS mà còn cho các lực lượng giáo dục khác từ ban giám hiệu, GV, giám thị… Quá trình hoạt động TVTLHĐ giúp HS gặp khó khăn trong các vấn đề tâm lý khác nhau nảy sinh trong học tập, trong hoạt động hướng nghiệp, trong các mối quan hệ (với bạn bè, thầy, cô giáo, người thân…) ở bất kỳ thời điểm nào
Thực tế hiện nay, ở phần lớn các trường học vấn đề trợ giúp tâm lý học đường vẫn chưa được chú trọng Hoạt động trợ giúp tâm lý rất ít được tổ chức ở trường cho nên mỗi khi gặp khó khăn về tâm lý các em chủ yếu tâm sự với bạn bè, một số ít thì tâm sự với cha mẹ hoặc không nói với ai, thậm chí giải quyết sự việc một cách tiêu cực Điều đó cho thấy, các em thật sự cần một người đáng tin cậy và có chuyên môn
Trang 14để chia sẻ tâm sự hoặc trợ giúp các em tìm cách thức giải quyết các vấn đề một cách tốt nhất Một trong những nguyên nhân khiến tâm lý học đường của nước ta chưa phát triển do nhiều trường hợp còn thói quen “chấp nhận” mà không nhờ cậy đến các nhà tâm lý Mặt khác, việc đánh giá vai trò trợ giúp tâm lý học đường cũng chưa được các nhà quản lý giáo dục quan tâm đúng mức Việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác trợ giúp tâm lý học đường chưa được chú trọng Một nguyên nhân khác có thể nhận thấy vẫn còn một số trường chưa nhận thức hết ý nghĩa và tác dụng của hoạt động trợ giúp tâm lý học đường, thậm chí có trường học còn chưa hiểu TVTLHĐ là gì Bên cạnh đó, cũng còn nhiều trường học chưa nắm vững được những đặc trưng riêng của công tác trợ giúp tâm lý khiến HS dù có nhu cầu muốn được lắng nghe ý kiến của các chuyên gia nhưng vẫn ngần ngại
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống,
do đó hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) trải đều khắp các huyện, thị thành HS các trường PTDTNT đều được xét tuyển theo chỉ tiêu phân bổ cho các xã có đồng bào dân tộc thiểu số hoặc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Vì vậy, chất lượng đầu vào HS không đồng đều cộng với đặc điểm chung là HS người dân tộc thiểu số có trình độ nhận thức, khả năng tiếp nhận kiến thức hạn chế… Cũng vì thế nên các em thường rất nhút nhát, thụ động, nhất là thời gian đầu làm quen với cuộc sống xa nhà Các em thường trốn học, bỏ về vì nhớ nhà Không chỉ riêng HS đầu cấp, cuộc sống tự lập, xa gia đình cộng với thiếu ý chí và nhận thức học tập nên nhiều HS lớp 8, lớp 9 vẫn bỏ học giữa chừng hoặc xin chuyển về trường gần nhà Hơn nữa, hiện tượng giao thoa về ngôn ngữ nên nhiều học sinh dân tộc nội trú thường lúng túng khi giải quyết vấn đề Các em thường khó phân biệt giữa cái cơ bản
và cái không cơ bản khi quan sát sự vật hiện tượng Chính điều này khiến các em thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận thức Các em có thể học được cách hành động trong điều kiện này nhưng lại không thể vận dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới Các em dễ từ bỏ ước mơ, động lực học tập không
rõ ràng, không tin vào khả năng của bản thân ngay cả khi các em có thể làm được
Trong những năm qua, tại các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn (HS trung học cơ sở) đã triển khai hoạt động TVTLHĐ nhưng còn bộc lộ một
Trang 15số tồn tại như: quy mô triển khai chưa đồng bộ, ở một số đơn vị hoạt động còn mang tính hình thức, chiếu lệ nên hiệu quả chưa cao Nguyên nhân của những tồn tại này là
do hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn chưa được quan tâm thỏa đáng; cán bộ quản lý và GV thực hiện công tác tư vấn chưa được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, chưa có phương pháp phù hợp để triển khai hoạt động TVTLHĐ; Công tác quản lý hoạt động tư vẫn chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả Hoạt động tư vấn đôi khi còn nặng về hình thức; Hiệu quả tư vấn chưa thể hiện được thực chất của hoạt động này
Xuất phát từ yêu cầu cần phải quản lý hoạt động TVTLHĐ sao cho đạt được
hiệu quả cao nhất, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý
học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn” làm đề
tài luận văn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động TVTLHĐ tại các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TVTLHĐ phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn
4 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua công tác quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn mặc dù đã đạt được một số kết quả song vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động TVTLHĐ trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Nếu đề xuất được một cách đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động TVTLHĐ thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động TVTLHĐ ở các PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn
Trang 165 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý các hoạt động TVTLHĐ ở các trường
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Luận văn được tiến hành khảo sát 117 GV, 33 cán bộ quản lý, 105 phụ huynh
HS, 185 HS thuộc 06 trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn: Trường PTDTNT Ba
Bể, Trường PTDTNT Pác Nặm, Trường PTDTNT Ngân Sơn, Trường PTDTNT Na
Rì, Trường PTDTNT Chợ Đồn, Trường PTDTNT Chợ Mới
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, tổng hợp, so sánh khái quát hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các văn bản chỉ đạo, triển khai của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn và những công trình, sách, tạp chí, luận án, luận văn có liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh khái quát hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các văn bản chỉ đạo, triển khai của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn
và những công trình, sách, tạp chí, luận án, luận văn có liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát;
Tiến hành quan sát các hoạt động TVTLHĐ ở các trường, các hình thức quản
lý hoạt động TVTLHĐ của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài
- Phương pháp đàm thoại;
Trao đổi, trò chuyện, phỏng vấn một số cán bộ quản lý, tư vấn viên, GV phụ trách công tác tư vấn tâm lý HS để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân của thực trạng
Trang 17TVTLHĐ cũng như thực trạng quản lý hoạt động này ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn, đông thời làm sáng tỏ những thông tin thu nhận được từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
Phương pháp này được sử dụng với mục đích khảo sát nhu cầu, nhận thức, sự đánh giá của khách thể điều tra về hoạt động TVTLHĐ cũng như thực trạng quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
Phương pháp này được sử dụng với mục đích tham khảo ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý, các GV có nhiều kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm cũng như tư vấn tâm lý HS về việc xây dựng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn, đồng thời kiểm tra tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Đây là phương pháp được nhà quản lý sử dụng với mục đích đánh giá, tổng kết công tác quản lý hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện tỉnh Bắc Kạn, từ đó nhà quản lý có cơ sở trong việc điều chỉnh các biện pháp quản lý của mình sao cho hiệu quả nhất
7.3 Nhóm Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thống kê
Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu về định tính và định lượng gồm tính %, điểm trung bình
8 Dự kiến cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện tỉnh Bắc Kạn
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ CẤP HUYỆN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nhiều nước trên thế giới, tham vấn (tiếng Anh là Counselling) là một thuật ngữ quen thuộc với người dân, đặc biệt là đối với các cán bộ làm việc trực tiếp (còn gọi là cán bộ thực hành - Practitioner), các nhà đào tạo hay nghiên cứu về lĩnh vực an sinh xã hội (Social Welfare), công tác xã hội (Social Work) hoặc sức khoẻ tâm thần (Mental Health) v.v [10]
Ban đầu, thuật ngữ tư vấn được sử dụng rất phổ biến Sau này, để phân biệt rõ với các hình thức tư vấn pháp luật, tư vấn kinh tế v.v trong một số tài liệu nó được gọi với cái tên cụ thể đó là tư vấn tâm lý
Tuy nhiên, người ta gặp một số khó khăn khi dịch thuật các khái niệm Counseling và Consultation sang tiếng Việt bởi chúng đều được dịch thành tư vấn và ngược lại
Theo các chuyên gia nước ngoài, đây là hai khái niệm khác biệt bởi sự khác nhau về phương pháp tiếp cận: người làm Consultation là cho đối tượng lời khuyên, chỉ bảo cho họ nên làm gì, còn khi thực hiện Counselling người cán bộ bằng mối quan hệ tương tác tích cực giúp đối tượng tự nhận thức và tự lựa chọn giải pháp phù hợp nhất đối với họ
Tại các hội thảo trong nước về tham vấn, phần đông cán bộ tư vấn có kinh nghiệm cũng ghi nhận rằng cách thức trợ giúp hiện nay thiên về khía cạnh tư vấn (Consultation) hơn là Counseling Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ
tư vấn
John L Romano, Mera M Kachgal cho rằng tư vấn tâm lý và tư vấn học
đường đã trở nên khá xa cách nhau mặc dù có chung lịch sử, có các giá trị tương tự,
và thực tế là nhiều chương trình đào tạo cho hai ngành học cùng tồn tại trong cùng một khoa đại học hoặc cao đẳng Tâm lý học tư vấn, với cam kết mạnh mẽ về tâm lý nghề nghiệp, đào tạo và giám sát tư vấn, đa văn hóa, phòng ngừa và nghiên cứu khoa
Trang 19học để gây ảnh hưởng lớn trong doanh nghiệp giáo dục Các mô hình đào tạo cố vấn học đường và cung cấp dịch vụ gần đây đã được phát triển và mang đến nhiều cơ hội hợp tác giữa các nhà tâm lý học tư vấn và cố vấn học đường Một mô hình hợp tác bao gồm các chương trình đào tạo, nghiên cứu, dịch vụ và kích thước tổ chức chuyên nghiệp của các chuyên ngành được mô tả một cách chi tiết Những thách thức có thể cản trở sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa tâm lý tư vấn và tư vấn học đường, cũng như các đề xuất để giải quyết chúng, cũng được thảo luận [32]
Ellen S Amatea Ph.D., Mary Ann Clark, Ph trong nghiên cứu của mình đã sử
dụng một phương pháp lý thuyết có căn cứ để đánh giá các quan niệm về vai trò cố vấn học đường được tổ chức bởi 26 quản trị viên làm việc trong các trường tiểu học, trung học cơ sở hoặc trung học công lập Nghiên cứu được thiết kế để xây dựng sự hiểu biết sâu sắc hơn về cách các nhà quản lý trường học nhận thức về vai trò của cố vấn trường học Trong đó, vai tro của nhân viên tư vấn được nhấn mạnh với các yêu cầu được trang bị cả về kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp để có thể đảm nhận chương trình tư vấn học đường [29]
Allan Wigfield, Susan L Lutz, A Laurel Wagner thảo luận về sự phát triển tâm
lý của HS trong những năm đầu của thanh thiếu niên, tập trung vào nghiên cứu về những thay đổi sinh học, nhận thức, bản thân HS Nghiên cứu cũng thảo luận về sự ảnh hưởng của bạo lực học đường đối với thanh thiếu niên Các nghiên cứu trình bày
về mối quan hệ tích cực giữa GV và HS, và cố vấn và HS có thể dễ dàng chuyển đổi Nghiên cứu được trình bày cho thấy những tác động tích cực của các chương trình tư vấn được thiết kế để giúp HS dễ dàng chuyển sang học trung học cơ sở, cùng với các
đề xuất tái cơ cấu vai trò của các cố vấn trung học để đáp ứng nhu cầu phát triển của thanh thiếu niên sớm [28]
Kenneth W Merrell, Ruth A Ervin, and Gretchen Gimpel Peacock trong cuốn
sách của mình đã trình bày các định nghĩa khác nhau của tâm lý học đường và các lĩnh vực TVTLHĐ; Mô tả Đặc điểm chung của nhà tâm lý học bao gồm các khía cạnh như số lượng và vị trí của các cá nhân làm việc trong lĩnh vực này, các tổ chức chuyên nghiệp và trình độ đào tạo Cuốn sách trình bày tổng hợp các khía cạnh của
Trang 20các cá nhân làm việc trong tâm lý học Những khía cạnh nghề nghiệp cho thấy sự đa dạng, sức mạnh, sáng tạo và thách thức trong nghề [34]
Tác giả Elias Zambrano, Felicia Castro-Villarreal, and Jeremy Sullivan
University of Texas at San Antonio trong công trình School Counselors and School Psychologists: Partners in Collaboration for Student Success Within RTI and CDCGP Frameworks đi sâu nghiên cứu về vai trò ban đầu của cố vấn trường học và nhà tâm lý học trường học là nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần cho học sinh Théo các tác giả này, để công tác hỗ trợ học sinh về sức khỏe tâm thần được tốt, nhà quản lý phải quan tâm đến vai trò của hai đối tượng chính là cố vấn trường học và nhà tâm lý học trường học Họ là những người trực tiếp làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người học và đây là công việc chính của họ ở trường học Họ không phải là giáo viên [30]
Markie Falotico đã thiết kế bộ công cụ để kiểm tra việc sử dụng thời
gian của các nhà tâm lý học ở trường từ đó xác định hoạt động nào đòi hỏi nhiều thời gian nhất Kết quả chỉ ra các nhà tâm lý học ở trường dành phần lớn thời gian của họ để đánh giá và đánh giá lại nhiều hơn là các hoạt động tư vấn
hỗ trợ học sinh Kết quả này cho thấy một số hoạt động trong nhà trường có thể mất một lượng thời gian không tương xứng và thời gian cho hoạt động hỗ trợ tâm lý học sinh ít được nhà trường quan tâm [35]
Có thể thấy rằng các công trình trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của ngành TVTLHĐ cũng như các vấn đề về việc quản lý hoạt động này ở các trường học Các công trình đều nhấn mạnh một nhà trường tốt là ở đó người quản lý phải quan tâm đến vai trò của nhà hỗ trợ tâm lý học đường Nhà quản lý phải cung cấp cho
họ sinh những thông tin về nhà hỗ trợ tâm lý học đường, đây là những người không làm nhiệm vụ dạy học Điều này thể hiện sự khác biệt rõ nét về công tác quản lý hoạt động tư vấn tâm lý giữa nước ngoài và Việt Nam
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Xu hướng nghiên cứu kỹ năng tương tác như những kỹ năng tư vấn cơ bản được phát triển trong giai đoạn về sau là cơ sở để ứng dụng tư vấn trong nhiều lĩnh
Trang 21vực của cuộc sống, trong đó có TVTLHĐ tại các trường PTDTNT Chúng tôi nghiên cứu kỹ năng và quản lý hoạt động TVTLHĐ theo hướng tiếp cận này
Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, chương trình khải đạo học đường đã được triển khai trong các trường học Sau ngày thống nhất đất nước, với sự thay đổi gần như hoàn toàn cách thức tiếp cận của giáo dục, chương trình khải đạo đã không
còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó
Trong những năm trở lại đây, với sự xuất hiện hàng loạt những vấn đề liên quan đến đạo đức, kỷ luật trường học, HS tự tử, áp lực thi cử, những rối loạn tâm lý, quan hệ thầy trò… của các trường học Việt Nam, những nhà giáo dục, tâm lý và cùng những tổ chức và các cơ quan hữu trách đã “giật mình” và bắt đầu đề cập đến việc phải có các hoạt động tư vấn tâm lý trong trường học
Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh và sự tư vấn của Tổ chức UNICEF Văn phòng tư vấn trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tư vấn trong trường học” cũng nhận được sự quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của nhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo các trường học Đầu năm 2006, hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý - giáo dục - thực tiễn và định hướng phát triển”
do Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục Tp HCM cũng đề cập đến vấn đề tư vấn học đường như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ HS và nhà trường trong hoạt động giáo dục Sở Giáo dục và Đào tạo Tp HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn học đường trong thời gian này với sự tham gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và phụ huynh HS [15]
Tác giả Nguyễn Thị Oanh trong chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ
nữ Tp HCM khởi xướng cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo
HS, phụ huynh và các trường học Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học
đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn
quốc [18]
Tác giả Lê Thục Anh trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: Ngày nay, vai
trò của tâm lý học đã được thừa nhận trong việc trợ giúp HS vượt qua những vấn đề
về hành vi và học tập Song thực tế hoạt động trợ giúp tâm lý trong nhà trường chưa
Trang 22trở thành một hoạt động mang tính phổ biến và chuyên nghiệp Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế này là sự thiếu vắng các điều kiện cần thiết để chính thức hóa đội ngũ làm công tác trợ giúp tâm lý trong các nhà trường phổ thông cả về số lượng lẫn chất lượng Bài viết này bàn về sự cần thiết của hoạt động trợ giúp tâm lý cũng như đội ngũ làm công tác này trong các nhà trường phổ thông hiện nay [1]
Tác giả Lý Chủ Hưng, Kiến Văn đã đi sâu phân tích các nội dung về TVTLHĐ
như: Những khó khăn của HS, những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn, những điểm mạnh và điểm yếu của đội ngũ tư vấn viên Công trình tập trung khai thác sâu về đặc điểm tâm lý của HS trê cơ sở đó xác định những khó khăn tâm lý của
HS cần được trợ giúp [13]
Các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ các vấn đề sau: Một số vấn đề lý luận về khó khăn tâm lý của HS THCS; Thực trạng về khó khăn tâm lý của HS THCS trong học tập, trong quan hệ giao tiếp với cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè; Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lý của HS THCS; Các biện pháp khắc phục, hạn chế những khó khăn tâm lý của HS THCS để quá trình hình thành và phát triển nhân cách của các em diễn ra thuận lợi
Bộ GD&ĐT đã có nhiều văn bản chỉ đạo liên quan đến nội dung này; gần đây nhất là Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 "Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho HS trong trường phổ thông" có hiệu lực từ ngày 2/2/2018 [3]
Đến nay, vấn đề TVTLHĐ tại Việt Nam đã trở thành một đề tài nóng bỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em HS, phụ huynh, nhà trường, các nhà tâm lý - giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũng như các tổ chức phi chính phủ Tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật sự được định hình Điều đó đòi hỏi cần phải nghiên cứu, phát triển công tác TVTLHĐ để góp phần xây dựng nền giáo dục phát triển toàn diện, đóng góp tích cực cho đời sống của con người
và sự phồn vinh xã hội
Có thể thấy rằng nghiên cứu về quản lý hoạt động TVTLHĐ là một trong những lĩnh vực được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến các công trình sau:
Tác giả Trương Thị Hằng trong công trình nghiên cứu của mình đã phân tích
là rõ thực trạng quản lý hoạt động TVTLHĐ cho HS THPT Đinh Tiên Hoàng, Ba Đình Tác giả cũng đề xuất 4 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động TVTLHĐ [11]
Trang 23Tác giả Đặng Thị Bích Nga lại tiếp cận ở khía cạnh tham vấn tâm lý Tác giả
cho rằng: Bên cạnh những nội dung quản lí đã thực hiện tốt, việc quản lí HĐTVHĐ của Hiệu trưởng các trường THCS quận 11, TP Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại những hạn chế như: việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐTVHĐ còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa chú trọng đến chuyên ngành của người được tuyển dụng làm công tác TVHĐ, chế độ chính sách cho tham vấn viên và những người làm công tác tham vấn chưa phù hợp, cơ sở vật chất của các phòng tham vấn vẫn chưa được đầu tư đúng mức, chưa thường xuyên chủ động tìm hiểu vấn đề của HS khi xây dựng nội dung tham vấn Những hạn chế trong công tác quản lí HĐTVHĐ chủ yếu là do nhận thức của CBQL các cấp, các ban ngành về HĐTVHĐ vẫn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất dẫn đến việc quản lí còn mang tính chủ quan, thụ động Những hạn chế này
là cơ sở để Hiệu trưởng các trường này đề xuất những biện pháp quản lí hiệu quả [16]
Có thể thấy rằng nghiên cứu về quản lý TVTLHĐ chưa được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, đặc biệt vấn đề hoạt động TVTLHĐ và quản lý hoạt động này ở các trường dân tộc nội trú khu vực miền núi phía bắc vẫn còn là một khoảng trống cần được đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm quản lý
Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa:
“Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;
“Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý” Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển” Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức
là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của
sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững Nói chung, trong “quản” phải
có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau [23]
Trang 24Frederick W.Taylor (1856 - 1915) là một trong những đại biểu xuất sắc của
trường phái quản lý theo khoa học Để trả lời câu hỏi quản lý là gì ông cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điêu bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đa hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Ông đã đưa ra các tư tưởng chính của thuyết quản lý theo khoa học là: Tiêu chuẩn hóa công việc, chuyên môn hóa lao động, cải tạo các hệ quản lý [30]
Để trả lời câu hỏi quản lý là gì thì tác giả Nguyễn Quốc Chi, Nguyễn Thị Mỹ
Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng
các hoạt động(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và kiểm tra”;
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [8]
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù
hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm khai thác và vận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong mệt môi trường luôn biến động
Từ điển Hoàng Phê: “Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề được hỏi, nhưng
không có quyền quyết định” Tham vấn - nói lên sự trợ giúp, nâng đỡ về mặt xã hội, tinh thần cho các thân chủ, có sự cân bằng ngang nhau trong quá trình tương tác giữa thân chủ và người tham vấn [19]
Lý Chủ Hưng, Kiến Văn cho rằng: Tư vấn tâm lý là quá trình dùng phương
pháp và lí luận liên quan đến khoa học tâm lý bằng cách giải tỏa, tư vấn những vấn đề tâm lý của đối tượng được tư vân để hỗ trợ và tăng cường tâm lý phát triển lành mạnh, thúc đẩy phát triển cá tính và phát triển tiềm năng [13]
Như vậy, có thể hiểu: Tư vấn tâm lý là quá trình tư vấn viên vận dụng những
kiến thức, phương pháp và kỹ thuật tâm lý học nhằm hỗ trợ đối tượng được tư vấn
Trang 25nhận ra chính mình, từ đó thay đổi hành vi, thái độ, tự tái lập lại thế cân bằng tâm lý cho bản thân
1.2.4 Tư vấn tâm lý học đường
Tâm lý học trường học (hay còn gọi là tâm lý học học đường) là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng nhằm thực hiện công tác phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp cho trẻ em - thanh thiếu niên trong các lĩnh vực nhận thức, học tập, hành vi, cảm xúc hoặc xã hội ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng; đồng thời tham gia nghiên cứu, xây dựng, phát triển và lượng giá các chương trình này
Bên cạnh việc những kiến thức tâm lý học thường được ứng dụng vào việc đánh giá tâm lý và trị liệu cho các vấn đề về sức khỏe tâm thần, nó còn trực tiếp hỗ trợ cho việc nắm bắt và xử lý những vấn đề thuộc về hành vi và hoạt động của con người
Tư vấn tâm lý học đường: là hoạt động trợ giúp HS nâng cao năng lực tự giải
quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp; nâng cao năng lực cho GV, phụ huynh HS và các lực lượng giáo dục khác trong việc phát hiện sớm khó khăn, rối nhiễu tâm lý ở HS, đồng thời phát triển các chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp trong nhà trường
Tư vấn tâm lý học đường thực chất là hoạt động nhà tâm lý học đường vận dụng kiến thức, kỹ năng tư vấn tâm lý của mình để khơi gợi ở học sinh năng lực tự giải quyết vấn đê của họ
Tư vấn tâm lý học đường còn hướng tới sự trợ giúp cho các lực lượng giáo dục khác có liên quan như: giáo viên, phụ huynh học sinh Trợ giúp họ trong việc phát hiện ra vấn đề của học sinh để có cách phối hợp hỗ trợ kịp thời
Tư vấn tâm lý học đường có nhiệm vụ phát hiện ra những dạng rối nhiễu tâm lý
ở học sinh để từ đó phát triển chương trình phòng ngừa và can thiệp hỗ trợ phù hợp
1.2.5 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Quản lý hoạt động TVTLHĐ còn hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cho
GV, phụ huynh HS và các lực lượng giáo dục khác trong việc phát hiện sớm khó khăn, rối nhiễu tâm lý ở HS THCS là người dân tộc thiểu số đang học tập tại các trường PTDTNT cấp huyện
Có thể hiểu: Quản lý hoạt động TVTLHĐ là hệ thống những tác động có chủ
định, phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến đội ngũ tư vấn viên, tập
Trang 26thể GV, HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động trợ giúp HS giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp và nâng cao năng lực cho GV, phụ huynh
HS và các lực lượng giáo dục khác trong việc phát hiện sớm khó khăn, rối nhiễu tâm
lý ở HS, giúp HS phát triển nhân cách toàn diện
Quản lý hoạt động TVTLHĐ ở trường PTDTNT cấp huyện là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến đội ngũ
tư vấn viên, tập thể GV, HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường PTDTNT nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động trợ giúp HS nội trú giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp và nâng cao năng lực cho GV, phụ huynh HS và các lực lượng giáo dục khác trong việc phát hiện sớm khó khăn, rối nhiễu tâm lý ở HS, giúp HS phát triển nhân cách toàn diện
Quản lý hoạt động TVTLHĐ trong trường PTDTNT cấp huyện thực chất là quá trình nhà quản lý tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt hai mục tiêu:
Trợ giúp, tư vấn HS THCS người dân tộc thiểu số nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp
Trợ giúp nâng cao năng lực cho GV, phụ huynh HS và các lực lượng giáo dục khác trong việc phát hiện sớm khó khăn, rối nhiễu tâm lý ở HS, giúp HS vượt qua mọi khó khăn về tâm lý
1.3 Hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
1.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cấp trung học cơ sở (THCS) được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng dân tộc Trường PTDTNT được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này Trường PTDTNT có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số Trường PTDTNT là loại hình trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú [4]
Trang 271.3.2 Mục tiêu hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
HS các trường PTDTNT cấp huyện gồm những em có độ tuổi từ 12 đến 15 Với nét đặc trưng tâm lý là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, các
em có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần: Tập khẳng định mình; Mong muốn được đối xử như người lớn; Đòi hỏi người lớn cần biết cách tôn trọng tính độc lập và quyển bình đẳng của thiếu niên, cần gương mẫu, khéo léo, tế nhị trong mọi vấn đề…Chính sự chuyển tiếp này đã khiến các em gặp phải những khó khăn về tâm lý trong mọi mặt của cuộc sống từ học tập đến giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ… Do đó, công tác tư vấn, hỗ trợ HS dân tộc nội trú vượt qua những khó khăn tâm
lý là điều các cán bộ quản lý cần quan tâm
Cha mẹ HS, nhà quản lý, GV và HS luôn tự đặt ra câu hỏi: Mục tiêu của các nhà hoạt động tư vấn tâm lý trong trường học là gì? Tại sao lại cần đến các nhà TVTLHĐ?
Trong môi trường học đường cần những nhà TVTLHĐ sử giải quyết những vấn đề sau:
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm hỗ trợ HS các trường PTDTNT cấp huyện làm quen với môi trường nội trú, yên tâm ăn ở đặc biệt trong những tuần đầu mới nhập học xa gia đình, người thân
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm hỗ trợ HS nâng cao nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, về bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam từ đó nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật cho HS, giúp hạn chế tối đa trường hợp HS vi phạm pháp luật
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống, kỹ năng phòng tránh và ứng phó với xâm hại tình dục trong học đường cho HS; giáo dục HS kĩ năng hoạt động xã hội với các nội dung thiết thực, phù hợp tâm sinh
lý lứa tuổi và đặc điểm văn hóa DTTS
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm nâng cao nhận thức của HS trong việc phòng tránh ảnh hưởng và đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu như tảo hôn, hôn nhân cận huyết còn tồn tại ở một số vùng DTTS
Trang 28- Hoạt động TVTLHĐ nhằm nâng giúp HS có định hướng lựa chọn nghề nghiệp, giúp các em có thể lựa chọn ngành, nghề phù hợp với năng lực, sở trường cá nhân và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, địa phương
- Hoạt động TVTLHĐ tạo cơ hội cho HS được trải nghiệm, rèn luyện thêm
về kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đối diện và ứng phó với khó khăn, kĩ năng xác lập mục tiêu cho bản thân Tạo cơ hội để thầy cô và HS gần gũi với nhau hơn, giúp cho HS giữa các dân tộc khác nhau xích lại gần nhau, biết đồng cam và sẻ chia với nhau trong mọi khó khăn, để mỗi HS cảm thấy nội trú thực sự là nhà, thầy cô là cha mẹ, bạn bè là anh em, để cho những ai đã được gắn bó với nơi này cảm nhận được đây
là ngôi nhà thứ 2 của mình
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm hỗ trợ gia đình HS trong việc quan tâm chăm sóc
và giáo dục con cái, phát hiện những khó khăn của con cái, phát triển mối quan hệ với nhà trường một cách tích cực và phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm hỗ trợ GV và HS của nhà trường trong việc giao tiếp và tiếp cận với HS, kịp thời phát hiện những nhu cầu và những vấn đề cần sự can thiệp của nhà tư vấn
- Hoạt động TVTLHĐ giúp nâng cao kỹ năng tự quản, kĩ năng tự phục vụ bản thân cho HS Các GV phải hỗ trợ các em từ những điều nhỏ nhất như: giờ ăn, giấc ngủ, giặt quần áo đến vệ sinh cá nhân… giúp các em biết làm mọi việc để tự lập cuộc sống của mình
- Hoạt động TVTLHĐ nhằm phối kết hợp với các tổ chức liên quan trong việc
hỗ trợ và can thiệp trong trường hợp HS có những vấn đề liên quan đến những hoạt động bên ngoài như các vấn đề pháp luật, các vấn đề về bệnh tâm lý
1.3.3 Nội dung tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Học sinh các trường PTDTNT đều được xét tuyển theo chỉ tiêu phân bổ cho các
xã có đồng bào dân tộc thiểu số hoặc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Vì vậy, chất lượng đầu vào học sinh không đồng đều cộng với đặc điểm chung là học sinh người dân tộc thiểu số trình độ nhận thức, khả năng tiếp nhận kiến thức hạn chế… Cũng vì thế nên các em thường rất nhút nhát, thụ động, nhất là thời gian đầu làm quen
Trang 29với cuộc sống xa nhà Một khó khăn nữa mà các trường PTDTNT đang gặp phải là điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho dạy và học còn hạn chế, hiện học sinh vẫn đang sử dụng bàn ghế cũ, được trang bị từ lâu nên hư hỏng và không đảm bảo đúng yêu cầu.
Do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng sâu sắc, đa dạng và phức tạp, đời sống tâm lý cấp THCS chung, HS PTDTNT nói riêng đang có những biến động to lớn với nhiều biểu hiện đáng lo ngại Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh lí, trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè…Đặc biệt với HS dân tộc nội trú - các em sống tập trung trong kí túc xá, xa gia đình, bản thân
tự đối diện với mọi vấn đề của cuộc sống, nhiều em không thể vượt qua khó khăn tâm
lý, nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời, thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc: nhẹ thì chán học, bỏ học; nặng thì trầm cảm, bạo lực học đường, thậm chí tự tử, gây
án mạng Thực trạng này cho thấy các em thật sự cần người đáng tin cây và có chuyên môn để chia sẻ tâm sự hoặc trợ giúp các em tìm cách thức giải quyết vấn đề một cách tốt nhất
Để giúp học sinh khóa mới nhanh chóng làm quen với môi trường học tập, vơi
đi nỗi nhớ nhà, các trường PTDTNT đều tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa Ngay sau ngày tựu trường, các trường đã tổ chức cho học sinh khóa mới giao lưu với khóa cũ để các em kết bạn, nhận đồng hương cùng xã, cùng thôn và động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập Ngoài giờ học, tổ chức Đoàn, Đội trong nhà trường thường xuyên có các buổi sinh hoạt tập thể, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao để giúp học sinh mạnh dạn, tự tin hơn và cũng là cơ hội để các em giới thiệu và gìn giữ những bản sắc văn hóa dân tộc mình
Một “chiến lược chung” được tất cả các trường PTDTNT cùng thực hiện để nâng cao chất lượng đó là phương châm “mưa dầm thấm lâu” Ngoài giờ học chính khóa trên lớp, các thầy cô phải thường xuyên nhắc nhở, củng cố kiến thức cho các em trong các buổi tự học; lồng ghép kiến thức vào những trò chơi như: học từ vựng, cấu trúc ngữ pháp qua ô chữ, hình vẽ Bên cạnh đó, căn cứ vào kết quả khảo sát đầu năm học, các trường tăng cường phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém, chậm tiến bộ, thành lập các tổ, nhóm, đôi bạn học tập để các em giúp đỡ nhau
Trang 30Nội dung của TVTLHĐ ở trường PTDTNT cấp huyện cho các đối tượng cụ thể như sau:
- Với HS:
+ Kĩ năng, phương pháp học tập, hứng thú học tập
+ Giải quyết, ứng phó với những tình huống nảy sinh trong các mối quan hệ với bạn bè, bố mẹ, thầy cô
+ Hỗ trợ HS xác định thiên hướng, hứng thú nghề nghiệp
+ Hỗ trợ HS các vấn đề về kĩ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng phòng vệ,
kỹ năng tự nhận thức bản thân
+ Các vấn đề về tâm lý lứa tuổi, giới tính, sức khỏe sinh sản
+ Nâng cao nhận thức cho HS trong việc phòng ngừa tệ nạn xã hội, hủ tục + Các vấn đề về đời sống tình cảm
+ Các vấn đề về nếp sống, nếp sinh hoạt và khả năng thích ứng của HS
- Với GV:
+ Nhận diện những khó khăn tâm lý của HS
+ Hỗ trợ HS tự giải quyết các khó khăn về tâm lý
+ Phối hợp với cha mẹ HS, cán bộ tư vấn, các lực lượng giáo dục để tư vấn tâm lý cho HS
- Với cha mẹ và gia đình HS:
+ Phát hiện các khó khăn về tâm lý mà con em mình gặp phải
+ Trợ giúp con em mình tự giải quyết khó khăn
+ Phối hợp với GV, cán bộ tư vấn và các lực lượng giáo dục để hỗ trợ con em mình được tư vấn tâm lý
Ngoài ra, hoạt động TVTLHĐ còn giúp nhà trường điều chỉnh môi trường sư phạm, phương pháp giảng dạy có tác động đến sức khỏe, tinh thần và kết quả học tập của HS Giúp cộng đồng phát triển, phát hiện các vấn đề nổi cộm của HS theo địa bàn hoặc thời gian trong mối quan hệ, môi trường (nhà trường - gia đình - cộng đồng)
Như vậy, nội dung của hoạt động TVTLHĐ là những vấn đề rất đa dạng, phong phú nhưng cũng rất phức tạp, nhạy cảm, gắn liền với đời sống tâm, sinh lý của
HS ở các trường PTDTNT cấp huyện
Trang 311.3.4 Hình thức tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
- Theo nội dung tư vấn tâm lý thì có các loại tư vấn tâm lý như: Tư vấn tình yêu, giới tính; tư vấn hôn nhân gia đình, tư vấn bạo hành; tư vấn HIV - AIDS; tư vấn học đường
- Theo tính chất của hoạt động tư vấn tâm lý có các loại: Tư vấn tâm lý trực tiếp và tư vấn tâm lý gián tiếp
+ Tư vấn tâm lý trực tiếp
+ Tư vấn tâm lý gián tiếp qua Intenet
+ Tư vấn tâm lý qua chat
+ Tư vấn tâm lý qua Email
- Theo phương thức tư vấn tâm lý có các loại: tư vấn tâm lý cá nhân và tư vấn tâm lý nhóm
- Tư vấn tâm lý qua hoạt động lồng ghép vào các hoạt động khác
+ Tư vấn tâm lý qua việc lồng ghép vào các bài học, giờ học trên lớp
+ Tư vấn tâm lý qua các hoạt động ngoại khóa, qua hoạt động Đoàn, Đội, hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Tư vấn tâm lý qua phòng tư vấn
- Tư vấn tâm lý qua điện thoại, qua thư, qua đài báo, qua Internet
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau có rất nhiều hình thức tư vấn tâm lý khác nhau, được tổ chức dưới các dạng khác nhau như (diễn đàn, các buổi ngoại khóa, sinh hoạt chuyên đề ) tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi tập trung vào lĩnh vực quản lý hoạt động TVTLHĐ
Hình thức TVTLHĐ là trong những nội dung cơ bản được quy định tại Thông
tư 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho HS trong trường phổ thông được ban hành ngày 18/12/2017
Căn cứ vào đặc thù của trường PTDTNT và đặc trưng tâm lý của HS người dân tộc thiểu số, có thể thấy công tác tư vấn tâm lý cho HS các trường PTDTNT cấp huyện được thực hiện theo các hình thức sau:
* Hướng dẫn, tư vấn trực tiếp: Mặt đối mặt (face to face) Tư vấn trực tiếp là
hình thức tư vấn mà quá trình bạn gặp gỡ, trao đổi của khách hàng với chuyên gia là trực tiếp mặt đối mặt tại văn phòng tư vấn
Trang 32* Hướng dẫn, tư vấn gián tiếp: Tư vấn qua mạng (E-mentoring)
Là một phương tiện, qua đó duy trì mối quan hệ hướng dẫn (a guided mentoring relationship) sử dụng các công cụ trực tuyến hoặc thư điện tử Đó là mối quan hệ giữa người hướng dẫn và được hướng dẫn, giao tiếp thông qua phương tiện điện tử Tư vấn qua mạng nhằm mục đích nâng cao kỹ năng, kiến thức, sự tự tin và hiểu biết văn hóa của người được hướng dẫn giúp họ đạt được thành công Tư vấn qua mạng đặc biệt hữu ích trong những trường hợp khó sắp xếp liên lạc trực tiếp
Hiện nay có nhiều công nghệ có thể được sử dụng trong quá trình tư vấn từ xa như điện thoại (Telephone), thư điện tử (Email), nhật ký điện tử (Blog), nhóm (Groups), các trang web (Website), Diễn đàn (Forum) …
* Tư vấn thông qua lồng ghép, các nội dung tư vấn tâm lý cho HS trong trong các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ; Tích hợp trong các môn học chính
khóa và hoạt động trải nghiệm, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* Tư vấn thông qua hình thức tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề: Tổ chức diễn đàn về các chủ đề liên quan đến nội dung cần tư vấn cho HS
* Thiết lập kênh thông tin, cung cấp tài liệu, thường xuyên trao đổi với cha
mẹ HS về diễn biến tâm lý và các vấn đề cần tư vấn, hỗ trợ cho HS
* Phối hợp với các tổ chức, cá nhân liên quan tổ chức các hoạt động tư vấn
Tiến hành hoạt động tư vấn tâm lý thông qua một số phương pháp sau:
- Phương pháp trò chuyện: Là phương pháp sử dụng phương tiện cơ bản là lời nói sinh động của nhà tư vấn đến HS
Trang 33- Phương pháp thảo luận: Là một dạng tương tác nhóm mà trong đó các thành viên cùng giải quyết một vấn đề nhằm đạt tới một kết quả chung Thảo luận, tạo ra môi trường thuận lợi để HS kiểm chứng ý kiến và hướng đi riêng của mình
- Phương pháp đóng vai: Là phương pháp thực hành của HS trong một số tình huống cụ thể nào đó trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩa sáng tạo của các em
- Phương pháp xử lý tình huống: Nhà tư vấn giúp cho HS có cách nhận diện vấn đề toàn diện bằng bằng cách đặt HS vào các tình huống giả định
- Phương pháp trò chơi: Nhà tư vấn thiết kế và tổ chức các trò chơi để thu hút
HS tham gia để gửi gắm thông điệp hỗ trợ Phương pháp này phát huy được nội lực của HS, tạo được bầu không khí thân thiện
1.3.6 Các phương tiện, điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
* Đội ngũ tư vấn viên
- Nhà trường có Tổ tư vấn, hỗ trợ HS và bố trí cán bộ, GV kiêm nhiệm để thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho HS Thành phần Tổ tư vấn hỗ trợ HS gồm: Đại diện lãnh đạo nhà trường làm tổ trưởng; thành viên là cán bộ quản sinh, GV kiêm nhiệm công tác tư vấn tâm lý, nhân viên y tế trường học, cán bộ, GV phụ trách công tác Đoàn, Đội, đại diện cha mẹ HS và một số HS là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn, Đội
- Cán bộ quản sinh, GV kiêm nhiệm công tác tư vấn cho HS phải là người có kinh nghiệm và được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ tư vấn tâm lý (có chứng chỉ nghiệp vụ TVTLHĐ theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành) GV kiêm nhiệm công tác tư vấn tâm lý được hưởng định mức giảm tiết dạy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
* Cơ sở vật chất
- Nhà trường bố trí phòng tư vấn tâm lý riêng đảm bảo tính riêng tư, kín đáo, dễ tiếp cận và phù hợp để tổ chức hoạt động tư vấn; trang bị cơ sở vật chất, trang thiết
bị, tài liệu, học liệu cần thiết để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ tư vấn
- Để tổ chức được các hoạt động TVTLHĐ tốt lôi kéo được HS đến với hoạt động và mở lòng đối với các nhà tư vấn thì nhà trường cần được cấp kinh phí và trang thiết bị cần thiết cho hoạt động như:
Trang 34- Tài liệu tham khảo và sách hướng dẫn cho cán bộ và GV làm công tác TVTLHĐ
- Phòng tư vấn, hội trường sân bãi cho các buổi tư vấn cá nhân, nhóm và tập thể
- Các phương tiện để tổ chức như: Trang thiết bị âm thanh, máy tính, máy chiếu
1.3.7 Chủ thể tham gia hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Trong trường học, nhiều lực lượng có thể tham gia phối hợp tư vấn tâm lý cho
HS, tùy từng trường hợp và cơ cấu tổ chức của nhà trường mà các chủ thể tham gia tư vấn tâm lý có thể khác nhau
- Chủ thể tư vấn tâm lý chuyên nghiệp: Là các nhà tâm lý giáo dục, các chuyên
viên tâm lý học đường Đây là lực lượng chính trong việc chăm sóc sức khỏe tâm lý của HS nói riêng và tư vấn các vấn đề về tâm lý - giáo dục cho các đối tượng trong nhà trường nói chung
- Chủ thể tư vấn tâm lý không chuyên nghiệp: Gồm GV chủ nhiệm, GV giảng
dạy bộ môn, GV làm công tác Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Ban giám hiệu, gia đình, hội phụ huynh HS và các lực lượng khác có liên quan như tổ y tế, tổ bảo vệ… Đây là lực lượng chưa được đào tạo cơ bản về tâm lý, giáo dục hay tư vấn, tham vấn tâm lý; họ thực hiện chức năng TVTLHĐ với tư cách là chức năng thứ hai sau chức năng giáo dục và hỗ trợ cho hoạt động giáo dục
1.3.8 Kỹ năng tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
* Kỹ năng lắng nghe: Kỹ năng lắng nghe trong TVTLHĐ là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi quan sát, chú ý cao độ và thể hiện thái độ tôn trọng nhằm hiểu biết cảm xúc, suy nghĩ và vấn đề của HS đồng thời giúp HS nhận biết rằng mình đang được quan tâm, chia sẻ
* Kỹ năng đặt câu hỏi: Kỹ năng hỏi trong TVTLHĐ là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi sử dụng câu hỏi hợp lý hướng tới cảm xúc, suy nghĩ và hành
vi của HS, khích lệ HS chia sẻ nhằm khai thác thông tin, đồng thời giúp HS tự nhận thức về bản thân và hoàn cảnh để thay đổi
Trang 35* Kỹ năng thấu cảm: Kỹ năng thấu cảm trong tư vấn là khả năng biết đặt mình
vào vị trí của thân chủ để hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về tâm tư, tình cảm của thân chủ; biết cảm thông, chia sẻ với họ
* Kỹ năng phản hồi: Kỹ năng phản hồi trong tư vấn là khả năng chuyển tải mức
độ hiểu và thấu cảm của người tư vấn tới thân chủ, phản ánh lại những gì đã nghe, đã cảm nhận được từ thân chủ, giúp duy trì mối quan hệ tốt đẹp và đạt hiệu quả cao trong giao tiếp
* Kỹ năng cung cấp thông tin: Kỹ năng cung cấp thông tin là khả năng đáp ứng nhu cầu về thông tin của thân chủ, giúp thân chủ thu được những thông tin khách quan, có giá trị để giải quyết vấn đề của thân chủ
* Kỹ năng đương đầu (thách thức)
Đương đầu trong tư vấn là một kỹ thuật của cán bộ tư vấn nhằm giúp thân chủ
cố gắng vượt qua khó khăn tâm lý của mình Kỹ năng đối đầu thúc đẩy thân chủ đối diện với những mâu thuẫn của mình (sự không nhất quán trong lời nói, cảm xúc, thái
độ, hành vi) để nỗ lực tìm ra các phương hướng giải quyết
* Kỹ năng đánh giá tâm lý HS: Kỹ năng đánh giá tâm lí HS là sự vận dụng tri
thức, kinh nghiệm để thu thập những dữ liệu chính xác về đặc điểm tâm lí của HS (năng lực, tính cách, điểm mạnh, điểm yếu, mức độ khó khăn tâm lí…) để có kế hoạch trợ giúp can thiệp kịp thời và hiệu quả
* Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa trong nhà trường: Kỹ năng tổ chức các hoạt động phòng ngừa trong nhà trường là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào thiết kế, triển khai và đánh giá việc áp dụng các chính sách toàn trường nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các nguy cơ gặp khó khăn/ rối nhiễu tâm lí ở HS
Trang 36* Kỹ năng can thiệp: Kỹ năng can thiệp là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để
xây dựng và triển khai những kế hoạch trợ giúp kịp thời, phù hợp với từng tình huống
tư vấn, HS có cuộc sống tâm lí cân bằng và ổn định
* Kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục: Kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục là sự vận dụng trí thức, kinh nghiệm vào việc kết nối các nguồn lực trong gia đình, nhà trường, cộng đồng một cách hiệu quả để tư vấn cho HS trong việc tự giải quyết vấn đề
* Kỹ năng lập và lưu trữ hồ sơ tâm lý HS: Kỹ năng lập và lưu trữ hồ sơ tâm lí
của HS là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào việc lưu giữ đầy đủ và khoa học những thông tin về HS, đảm bảo tính bí mật và an toàn, để có thể theo dõi, giám sát những thay đổi/ tiến bộ của HS và làm cơ sở cho những kế hoạch trợ giúp, can thiệp nếu có trong tương lai
1.3.9 Nguyên tắc cơ bản trong tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
* Đảm bảo tính khách quan trong tư vấn
Việc đảm bảo tính khách quan trong tư vấn học đường thể hiện ở chỗ trong quá trình tư vấn, chỉ có một mục tiêu duy nhất đó là hỗ trợ HSCTV tự nhận thức và tự giải quyết được những khó khăn của mình NTV không có mục tiêu cá nhân nào trong tư vấn
Trong tư vấn, NTV không được để các cảm xúc cá nhân chi phối trong quá trình
tư vấn Khi vào phòng tư vấn, chỉ có vấn đề HSCTV mà thôi NTV không chia sẻ những câu chuyên riêng tư, những nỗi lo lắng, tâm trạng của mình cho HS Chính vì vậy, áp lực trong công việc tư vấn khá nặng nề Nhiều NTV không kiểm soát tốt bản thân có thể lại bị rối nhiễu tâm lý, bệnh… và đến lượt họ, họ lại trở thành thân chủ của một NTV khác
* Nguyên tắc đảm bảo tôn trọng học sinh (Đối tượng tư vấn)
Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ NTV không phân biệt văn hóa, dân tộc, nguồn gốc xuất thân, tuổi tác, tôn giáo, khiếm khuyết hay bệnh tật của HSCTV
Việc tôn trọng HSCTV còn thể hiện ở cách hành xử của NTV: Không bao giờ làm thay cho HS những gì chúng có thể tự làm, hãy tăng cường tối đa khả năng tự
Trang 37nhận thức, tự giúp đỡ bản thân Sự tôn trọng còn thể hiện ở chỗ NTV cần tôn trọng quyền lựa chọn và chịu trách nhiệm của HSCTV Việc áp đặt các quyết định của NTV lên trẻ không những thiếu tôn trọng HS mà còn không trang bị cho các em những công cụ cần thiết để trẻ có thể tự giải quyết những khó khăn của mình NTV không thể ép buộc trẻ ra quyết định mà chỉ có thể làm cho trẻ tự nhận thức và ra quyết định
Đối với cha mẹ hoặc người bảo trợ các em, sự tôn trọng thể hiện ở chỗ: NTV cần tôn trọng quyền và trách nhiệm của họ Gia đình rất quan trọng đối với HS Khi tư vấn cho HS, cần thiết lập mối quan hệ hợp tác, sự thông cảm và sự tham gia của cha mẹ trong việc tạo ra cho trẻ một cuộc sống tốt nhất Về mục tiêu tư vấn, sự tôn trọng thể hiện ở chỗ lợi ích của HSCTV là mục tiêu duy nhất của các cuộc tư vấn Lợi ích của trẻ
đó là các quyền trẻ em được ghi trong Công ước về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em NTV không có lợi ích nào khác Trong buổi đầu tiên tư vấn, hãy cho HS biết điều này và thống nhất quy tắc làm việc với trẻ
* Nguyên tắc đảm bảo bí mật thông tin trong tư vấn
Trong quá trình tư vấn, NTV cần:
Bảo đảm những bí mật mà HSCTV cung cấp, chia sẻ Bảo đảm bí mật các
để xử lý Đồng thời báo cho HSCTV biết để phòng tránh
NTV thường hỏi ý kiến của những người có chuyên môn giỏi về cách xử lý các tình huống cụ thể Khi hỏi ý kiến, NTV cần đảm bảo thay đổi tên họ HS nhằm đảm bảo bí mật về nhân thân HS
* Nguyên tắc đảm bảo quan hệ đơn tuyến với học sinh (Đối tượng tư vấn)
Quan hệ giữa NTV và HSCTV là quan hệ giữa chuyên gia tư vấn với người có nhu cầu tư vấn, một quan hệ chuyên nghiệp Tính chất của mối quan hệ này là quan
Trang 38hệ một chiều vì NTV lắng nghe HS chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ nhưng NTV không được chia sẻ cảm xúc, những điều đang lo lắng, những gánh nặng lo nghĩ cho trẻ
Tư vấn có mục tiêu là hỗ trợ HS tự giải quyết vấn đề của mình, vượt qua khó khăn nhưng không giải quyết vấn đề của NTV Chính vì vậy mối quan hệ giữa NTV với HSCTV mang tính khách quan, chuyên nghiệp, lấy mục đích phát triển của HS làm mục tiêu của cuộc tư vấn Nếu NTV với HSCTV có các mối quan hệ khác thì NTV không nhận tư vấn cho HS đó
1.4 Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
1.4.1 Lập kế hoạch hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Kế hoạch là sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định Kế hoạch của hoạt động TVTLHĐ là trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố trí sắp xếp theo thứ tự thời gian năm học
Việc xây dựng kế hoạch phải dựa trên các văn bản chỉ đạo của Ngành giáo dục, của Sở GD&ĐT, kế hoạch chung của nhà trường và có sự phối hợp với các bộ phận khác trong nhà trường đồng thời phải căn cứ vào thực tế của nhà trường và văn hóa mỗi địa phương
Để việc lập kế hoạch TVTLHĐ đạt hiệu quả, các cán bộ quản lý cần xác định nhu cầu TVTLHĐ cho GV ở các trường PTDTNT; Xác định nội dung, hình thức tổ chức TVTLHĐ cho GV ở các trường PTDTNT; Dự kiến nguồn lực (đội ngũ GV làm công tác TVTLHĐ, cơ sở vật chất…) cho hoạt động TVTLHĐ; Xây dựng kế hoạch TVTLHĐ theo học kì, năm học;
1.4.2 Tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Trong quá trình quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động TVTLHĐ nói riêng, người hiệu trưởng phải xây dựng được bộ máy giúp việc cho mình Đây là yếu tố quyết định đến thành bại của công tác quản lý nhà trường Để quản lý hoạt động TVTLHĐ tốt người hiệu trưởng cần xây dựng các mối quan hệ giữa BGH với các tổ chức đoàn thể như (Đội thiếu niên, Hội CMHS, GV và các lực lượng giáo dục địa phương khác ) cho phù hợp Hiệu trưởng cần phải tổ chức sắp xếp cán bộ quản
Trang 39lý, GV một cách hợp lý, giao nhiệm vụ cụ thể, đúng người đúng việc sao cho các cá nhân phát huy hết khả năng và sự sáng tạo của mình Cần phân cấp rõ ràng, tạo ra quyền hạn và ý thức trách nhiệm của những người cộng sự giúp cho hiệu trưởng hoàn thành nhiệm vụ Nhiệm vụ của ban chỉ đạo là điều hành hoạt động, phân công nhiệm
vụ, kiểm tra đánh giá chỉ đạo thành lập bộ phận độc lập có nhiệm vụ, chức năng giúp việc cho hiệu trưởng trong việc thực hiện hoạt động TVTLHĐ cho HS, với các bước cụ thể:
- Thành lập hội đồng giáo dục gồm: Ban giám hiệu, GV chủ nhiệm, Đội thiếu niên, cán bộ, GV kiêm nhiệm (Cán bộ, GV kiêm nhiệm công tác tư vấn cho HS phải
là người có kinh nghiệm và được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ tư vấn tâm lý)
- Phân công công việc cụ thể cho từng bộ phận, trong đó GV chủ nhiệm, đội thiếu niên và cán bộ, GV kiêm nhiệm là nòng cốt Bộ phận này có trách nhiệm triển khai thực hiện hoạt động TVTLHĐ cho HS
- Triển khai thực hiện kế hoạch bằng cách giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân một cách công khai, cụ thể trên cơ sở tính đến trình độ, kinh nghiệm, năng lực, sở trường của các bộ phận và cá nhân
- Phát huy vai trò chủ động, tích cực của các bộ phận Khi thành lập bộ phận chỉ đạo hoạt động TVTLHĐ cho HS, hiệu trưởng cần có biện pháp cụ thể nhằm phát huy năng lực ở mức cao nhất để làm cho các bộ phận luôn nỗ lực cùng thực hiện nhiệm vụ chung
- Tạo ra sự phối hợp đồng bộ, có hiệu quả giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc hoạt động TVTLHĐ cho HS
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Để chỉ đạo tốt các hoạt động TVTLHĐ ở các trường PTDTNT cấp huyện, ban lãnh đạo nhà trường cần phải thành lập ban chỉ đạo tổ chức hoạt động TVTLHĐ Đây
là trung tâm đầu não triển khai các hoạt động Ban chỉ đạo hoạt động TVTLHĐ gồm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Chủ tịch công đoàn, Tổng phụ trách Đội, Tổ trưởng chuyên môn
Trang 40Các bộ phận phải có sự phối kết hợp đồng bộ, nhiệm vụ của các bộ phận được phân công cụ thể và có những báo cáo kịp thời về tiến độ thực hiện để hiệu trưởng nắm rõ tình hình và chỉ đạo
Lãnh đạo nhà trường cần phải phân công nhiệm vụ cụ thể Việc phân công nhiệm vụ này được thực hiện qua sự phân cấp quản lý Hiệu trưởng phân công Phó hiệu trưởng hoặc Tổng phụ trách đội xây dựng kế hoạch chung, trên cơ sở đó các bộ phận cùng với Đội thiếu niên thực hiện nội dung chương trình hoạt đồng TVTLHĐ dưới sự theo dõi, kiểm tra đánh giá của ban chỉ đạo
Phối hợp các lực lượng xã hội tham gia hoạt động TVTLHĐ: Các lực lượng tham gia hoạt động TVTLHĐ bao gồm các lực lượng trong và ngoài nhà trường Cần phải phối hợp hài hòa các lực lượng này để tổ chức hoạt động tư vấn được tốt nhất
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện
Đây là nội dung quan trọng trong quản lý ở nhà trường nói chung và quản lý hoạt động TVTLHĐ nói riêng Trên cơ sở kế hoạch hoạt động TVTLHĐ cho HS, lãnh đạo nhà trường cũng cần thường xuyên đôn đốc và tiến hành kiểm tra, đánh giá
tổ chức hoạt động TVTLHĐ của những tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động TVTLHĐ theo các bước:
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Khi lập ra kế hoạch, hiệu trưởng chỉ đạo các bộ phận qua việc thực hiện kế hoạch, có sự đối chiếu, so sánh với các phương hướng đã đặt ra và kết quả đạt được
- Kiểm tra, đánh giá việc triển khai các hình thức, phương pháp, biện pháp TVTLHĐ Hoạt động TVTLHĐ cho HS đạt hiệu quả ở mức độ nào phụ thuộc rất nhiêu vào các nội dung, yêu cầu này Nếu hình thức, phương pháp, biện pháp thực hiện không phù hợp hoặc quá coi trọng một nhân tố nào đó đều có thể làm hạn chế đến các khâu khác
- Kiểm tra, đánh giá việc phối hợp các lực lượng tham gia thực hiện Sự tham gia của các lực lượng giáo dục tạo nên tính tổng thể quản lý của hiệu trưởng, tạo nên tính liên thông, sự tham gia góp mặt ở mọi nơi, mọi lúc của các bộ phận giúp hiệu trưởng nắm vững tình hình và đánh giá đúng với thực trạng, kết quả đạt được của các
bộ phận