LỜI CẢM ƠN Sau hai năm học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình khoá học với luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Thú y về đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm vắc xin đa giá nh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ QUỲNH ÁNH
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM VẮC XIN ĐA GIÁ
NHŨ DẦU PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI DO VI KHUẨN
ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE, PASTEURELLA MULTOCIDA VÀ STREPTOCOCCUS SUIS GÂY RA Ở LỢN
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ QUỲNH ÁNH
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM VẮC XIN ĐA GIÁ
NHŨ DẦU PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI DO VI KHUẨN
ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE, PASTEURELLA MULTOCIDA VÀ STREPTOCOCCUS SUIS GÂY RA Ở LỢN
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y Mã số: 8.64.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐỨC HẠNH
THÁI NGUYÊN – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và đã được sự đồng ý, cho phép sử dụng số liệu nghiên cứu
để hoàn thành luận văn cao học của PGS TS Cù Hữu Phú
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 8 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Ánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình
khoá học với luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Thú y về đề tài “Nghiên cứu thử
nghiệm vắc xin đa giá nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên”.Để hoàn thành khoá học và công trìnhnghiên cứu này, tôi đã nhận
được sự dạy bảo tận tình và định hướng của giảng viên hướng dẫn TS Trần Đức Hạnh và sự giúp đỡ của PGS TS Cù Hữu Phú Sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của tập thể giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y, Phòng Đào tạo
- Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; Công ty Cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet
Nhân dịp này cho phép tôi được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn hội đồng chấm luận văn đã giúp đỡ và cho phép tôi được bảo vệ bản luận văn này
Tôi xin được cảm ơn Ban Lãnh đạo đơn vị, bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình đã động viên, tạo điều kiện về thời gian, về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành tốt khoá học
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 8 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Ánh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tế 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tế 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi lợn 3
1.1.1 Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae 3
1.1.2 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do A pleuropneumoniae 9
1.1.3 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra 9
1.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra.12 1.2.1 Vi khuẩn P multocida 12
1.2.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida 16
1.2.3 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn P multocida gây ra 22
1.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra… 22 1.3.1 Vi khuẩn S suis 22
1.3.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis 22
Trang 61.1.2 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn
S sui gây ra 29
Chương 2 NỘI DUNG, NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 30
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Môi trường, hóa chất dùng trong nghiên cứu chế tạo vắc xin đa giá nhũ dầu phòng viêm phổi ở lợn 31
2.3.2 Động vật thí nghiệm 31
2.3.3 Máy móc, dụng cụ thí nghiệm 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp xác định số lượng vi khuẩn 31
2.4.4 Phương pháp chế tạo vắc xin phòng bệnh viêm phổi cho lợn 32
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn lợn sau tiêm phòng vắc xin đa giá nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae; P multocida và S suis 33
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.5.1 Các phương pháp đo lường trong dịch tễ 37
2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Kết quả xác định độc lực các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được; chọn chủng vi khuẩn chế tạo vắc xin thử nghiệm 38
3.1.1 Kết quả xác định độc lực các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 38
Trang 73.1.2 Kết quả xác định độc lực của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập
được 40
3.1.3 Kết quả xác định độc lực của các chủng vi khuẩn S.suis phân lập được 45 3.2 Kết quả chế tạo vắc xin thử nghiệm phòng bệnh viêm phổi cho lợn 45
3.2.1 Chọn giống vi khuẩn chế tạo vắc xin thử nghiệm 45
3.2.2 Kết quả chế tạo vắc xin thử nghiệm phòng viêm phổi cho lợn 46
3.3 Kết quả xác định độ dài miễn dịch và hiệu lực của vắc xin thử nghiệm ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên 57
3.3.1 Kết quả xác định độ dài miễn dịch của vắc xin thử nghiệm 57
3.3.2 Kết quả xác định hiệu lực của vắc xin thử nghiệm ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên 68
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 1 1
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
AGID : Agargel Immuno Diffuse
A pleuropneumoniae : Actinobaccillus pleuroneumoniae
BHI : Brain Heart Infusion
CAMP : Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson
CPS : Capsule polysaccharide
DNT : Dermanecrotic toxin
ELISA : Enzyme - linked Immuno sorbant assay
H pleuropneumoniae : Haemophilus pleuropneumoniae
NAD : Nicotinamide Adenine Dinucleotide
PBS : Phosphat buffer solution
PCR : Polymerase Chain Reaction
PPLO : Pleuropneumonia - like organism
P multocida : Pasteurella multocida
Trang 9Sta aureus : Staphylococcus aureus
S suis : Streptococcus suis
TSA : Tryptic Soya Agar
VP : Voges Prokauer
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn A
pleuropneumoniae phân lập được 39
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 41
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 42
Bảng 3.4: Các chủng vi khuẩn được chọn để chế tạo vắc xin thử nghiệm 45
Bảng 3.5: Kết quả đếm số lượng vi khuẩn có trong canh trùng 47
chế tạo vắc xin thử nghiệm 47
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra thuần khiết của 3 lô canh trùng 48
sử dụng chế tạo vắc xin thử nghiệm 48
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra vô trùng 3 lô vắc xin chế tạo thử nghiệm 49
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra an toàn của vắc xin thử nghiệm trên chuột bạch 50 Bảng 3.9: Kết quả xác định hiệu lực của vắc xin thử nghiệm trên chuột bạch khi công cường độc vi khuẩn A pleuropneumoniae 51
Bảng 3.10: Kết quả xác định hiệu lực của vắc xin thử nghiệm trên chuột bạch khi công cường độc vi khuẩn P multocida 52
Bảng 3.11: Kết quả xác định hiệu lực của vắc xin thử nghiệm trên chuột bạch khi công cường độc vi khuẩn S suis serotype 2 53
Bảng 3.12: Kết quả xác định hiệu lực của vắc xin thử nghiệm trên lợn 55
bằng phương pháp công cường độc 55
Bảng 3.13: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể có trong máu lợn 59
được tiêm vắc xin thử nghiệm sau một tháng 59
Bảng 3.14: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể có trong máu lợn 60
được tiêm vắc xin thử nghiệm sau hai tháng 60
Trang 11Bảng 3.15: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm được tiêm vắc xin thử nghiệm sau ba tháng 62 Bảng 3.16: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm được tiêm vắc xin thử nghiệm sau bốn tháng 64 Bảng 3.17: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm được tiêm Vắc xin thử nghiệm sau năm tháng 66 Bảng 3.18: Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc viêm phổi ở vùng tiêm và vùng không tiêm vắc xin thử nghiệm 68 Bảng 3.19: Nguy cơ lợn mắc viêm phổi do không tiêm vắc xin thử nghiệm so sánh giữa nhóm lợn được tiêm và nhóm lợn không tiêm 69
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm được tiêm vắc xin thử nghiệm sau ba tháng 63 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm được tiêm vắc xin thử nghiệm sau bốn tháng 65 Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm được tiêm vắc xin thử nghiệm sau năm tháng 67
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thịt, sữa, trứng, nhất là thịt lợn xuất khẩu Trong những năm gần đây Nhà Nước,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có những chính sách để đưa ngành chăn nuôi của nước ta nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng từng bước phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành sản xuất quan trọng, chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi và góp phần xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, dịch bệnh ở lợn cũng phát triển và có nhiều diễn biến đa dạng, phức tạp
đã gây nhiều thiệt hại cho các hộ chăn nuôi lợn, làm giảm hiệu quả, thu nhập kinh tế Việc tạo ra một môi trường chăn nuôi an toàn và sạch bệnh là vấn đề
vô cùng cần thiết để tang về cả năng suất và chất lượng sản phẩm từ lợn thịt
Ngoài những bệnh truyền nhiễm thì bệnh viêm phổi màng phổi là bệnh gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn Bệnh lây lan nhanh, tác động kéo dài đối với cơ thể lợn Bệnh tồn tại rất lâu trong cơ thể lợn cũng như ngoài môi trường Ngoài việc phòng trị rất khó khăn, khi lợn bị nhiễm bệnh chi phí điều trị lớn, thời gian và liệu trình điều trị kéo dài
Bệnh viêm phổi màng phổi đã và đang tồn tại trên khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là những nơi chăn nuôi tập trung có điều kiện chăn nuôi còn thấp kém
Hiện nay tại Việt Nam chưa có loại vắc xin viêm phổi đa giá phòng bệnh
cho lợn được chế tạo gồm cả 3 loại vi khuẩn A.pleuropneumoniae, S.suis và
P.multocida gây ra sử dụng chất bổ trợ nhũ dầu Vắc xin đa giá nhũ dầu sẽ tăng
hiệu lực phòng bệnh của vắc xin, đặc biệt là thời gian miễn dịch của vắc xin được kéo dài hơn nhiều Chính vì vậy việc nghiên cứu chế tạo vắc xin đa giá
vô hoạt nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi cho lợn từ 3 vi khuẩn
A.pleuropneumoniae, S suis và P multocida là vấn đề đòi hỏi cần thiết hiện
nay của sản xuất
Trang 14Xuất phát từ tình hình thực tiễn, đáp ứng cơ sở khoa học cho việc phòng chống bệnh viêm phổi ở lợn, đánh giá được hiệu lực phòng bệnh của vắc xin sản xuất trên lợn, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Nghiên cứu thử nghiệm vắc xin đa giá nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida
và Streptococcus suis gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Tuyển chọn chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis sử dụng chế tạo thử nghiệm vắc xin đa giá nhũ dầu phòng bệnh viêm
phổi cho lợn
- Xác định hiệu lực của vắc xin đa giá phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi
khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra tại tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tế
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu thử nghiệm vắc xin đa giá nhũ dầu từ các chủng vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được
- Xác định hiệu lực của vắc xin đa giá nhũ dầu lần đầu tiên được nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm trong thực tế là cơ sở khoa học để xây dựng các biện pháp phòng bệnh viêm phổi hiệu quả cho đàn lợn
3.2 Ý nghĩa thực tế
Sử dụng vắc xin đa giá nhũ dầu tiêm phòng cho đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên góp phần giảm tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm phổi và tăng hiệu quả, thu nhập cho người chăn nuôi
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 151.1 Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi lợn do
vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra
1.1.1 Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae
Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, trước đây còn có tên là Haemophilus parahaemolyticus hay Haemophilus pleuropneumoniae A pleuropneumoniae đã được xác định
là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn,
là vi khuẩn có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu gram âm, kích thước khoảng
0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 µm Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, có khả năng hình thành giáp mô ( một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy) Quan sát dưới kính hiển vi điện tử thấy vi khuẩn có nhung mao với kích thước 0,5 - 2 x 60 - 450 nm Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được
tìm thấy ở hầu hết các serotype của vi khuẩn A Pleuropneumoniae (loại không
có vỏ thì ít tìm thấy hơn)
1.1.1.1 Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có khả năng lên men đường glucose,
xylose, mannitol, mannose, sucrose và không lên men đường arabinose,
lactose, raffinose, sorbitol Nghiên cứu đặc tính sinh hóa cho thấy vi khuẩn A
pleuropneumoniae có phản ứng urease và oxidase dương tính; phản ứng cAMP
dương tính hoặc âm tính (tùy thuộc vào serotype của vi khuẩn); phản ứng âm tính với sinh Indol; phản ứng catalase âm tính, một số chủng cho phản ứng dương tính nhẹ (tùy thuộc vào serotype của vi khuẩn); không mọc trên thạch MacConkey (Moller và cs, 1996)
Trang 1612 serotype khác nhau dựa trên sự khác nhau của capsule polysaccharide (CPS)
và của lipopolysaccharide (LPS) thành tế bào Ở biotype 2 có serotype 2; 4; 7
và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên như biotype 1 Trong những năm gần đây, serotype 13 và 14 thuộc biotype 2 được phát hiện và được mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1 (Nielsen và cs, 1997)
1.1.1.3 Các yếu tố độc lực
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi
khuẩn A pleuropneumoniae phần lớn được quyết định bởi các ngoại độc tố
mà chúng sản sinh ra (Devenish và cs, 1990; (Frey và Bosse , 1993) Polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc tố và một vài loại enzym có liên quan cũng đóng
vai trò quan trọng đối với độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae Hiểu
biết về thành phần và cấu trúc kháng nguyên chủ yếu liên quan đến độc tính, độc lực của vi khuẩn sẽ cung cấp các thông tin quan trọng, là cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu cũng như chế tạo vắc xin
- Vai trò của ngoại độc tố (Exotoxin): Mức độ độc lực khác nhau của các
serotype vi khuẩn A pleuropneumoniae phần lớn do ngoại độc tố (Apx) sản
sinh từ vi khuẩn và đóng vai trò chính trong quá trình gây bệnh cho lợn Các
nhà khoa học đã xác định độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae có liên
quan đến bốn loại protein độc tố Các độc tố này được xếp vào nhóm
RTX-toxin và đặt tên là độc tố Apx, bao gồm ApxI, ApxII, ApxIII (Frey và Bosse,
1993); Cho và Chae, 2001) Tính độc của mỗi loại độc tố này có thể thay đổi
và phụ thuộc vào các serotype khác nhau của vi khuẩn A Pleuropneumoniae
+ ApxII là độc tố làm tan huyết, gây dung giải tế bào ở mức độ trung bình
và có trọng lượng phân tử khoảng 103 -105 kDa (Frey và Nicolet, 1988) Trước đây ApxII được gọi là HlyII, ClyII hay CytII (Frey và Nicolet, 1990) Tất cả các
serotype của A pleuropneumoniae đều tiết ApxII, ngoại trừ serotype 10 và 14
(Kamp và cs, 1994; Rayamajhi và cs, 2005)
Operon mã hóa ApxII chỉ chứa các gen apxIICA và thiếu các gen bài tiết tương ứng Sự tiết ApxII phụ thuộc vào gen apxIBD và gen này được tìm thấy ở tất cả các serotype của A pleuropneumoniae, ngoại trừ serotype 3
Trang 17+ ApxIII là độc tố không làm tan huyết, nhưng lại là độc tố dung giải tế bào mạnh với trọng lượng phân tử 120 kDa Trước kia ApxIII được đặt tên là cytolysin III (ClyIII), độc tố viêm màng phổi - pleurotoxin (Ptx), hay độc tố chống đại thực bào - macrophage toxin (Mat) (Rycroft và cs, 1991a; Macdonald
và Rycroft, 1992; Jansen và cs, 1993) ApxIII được phân biệt với 2 độc tố ApxI
và ApxII do không gây dung huyết, nhưng lại gây dung giải mạnh các tế bào
khác ApxIII giống 50% với ApxI và HlyI của vi khuẩn E coli (Jansen và cs 1993) Vùng gen điều hòa (operon) mã hóa cho ApxIII chứa các gen apxIIICABD
và giống với vùng gen điều hòa (operon) cho apxI (Chang và cs, 1993) Theo
(Rayamajhi và cs, 2005) protein độc tố ApxIII được tiết ra bởi serotype 2; 3; 4;
6; 8 và 15 của A pleuropneumoniae
+ ApxIV (ApxIVA) là độc tố RTX thứ 4 của A pleuropneumoniae đã
được phát hiện và đề xuất đặt tên là ApxIVA Gen ApxIVA được phát hiện thấy
ở tất cả các serotype của A pleuropneumoniae và điều đó chứng tỏ nó có tính
chất đặc trưng cho loài Vai trò của độc tố ApxIV với vật chủ trong quá trình gây bệnh hiện chưa được nghiên cứu kỹ, song đã có một số công trình nghiên cứu chứng minh sự tồn tại của ApxIVA trong cơ thể sống và được tạo ra từ gen
độc tố của vi khuẩn A pleuropneumoniae (Liu và cs, 2009)
Không có serotype nào của A pleuropneumoniae có khả năng sản sinh ra
cả ba loại độc tố Apx, chủ yếu là có khả năng tạo ra 2 độc tố Các serotype 1; 5; 9; 11 và 13 sản sinh ra ApxI và ApxII; serotype 2; 3; 4; 6; 8 và 15 sản sinh
ra ApxII và ApxIII Một số lượng nhỏ các serotype chỉ sản sinh một độc tố Apx như serotype 10 sản sinh ApxI, serotype 7 và serotype 12 sản sinh ApxII (Frey
và Nicolet, 1990; Frey và cs, 1993, 1994) Độc lực của các serotype A
pleuropneumoniae thay đổi từ mức độ mạnh đến yếu tùy thuộc vào loại độc tố
mà mỗi serotype tiết ra Theo (Frey và Nicolet, 1990) những serotype sản sinh
ra một hoặc hai độc tố thường có độc lực mạnh hơn những serotype không sản
sinh ra độc tố A pleuropneumoniae serotype 5 thể đột biến không sản sinh ra
ApxI hoặc ApxII đã không còn độc lực đối với lợn hoặc chuột thí nghiệm Điều
này cho thấy độc tố là yếu tố quan trọng xác định độc lực của vi khuẩn A
pleuropneumoniae serotype 5 Đồng thời tác giả đã làm thí nghiệm gây đột biến
các chủng A pleuropneumoniae serotype 5 để không sản sinh ra ApxI hoặc
Trang 18ApxII và sau đó dùng các chủng đã đột biến làm giống gốc sản xuất vắc xin cũng cho thấy động vật thí nghiệm không có khả năng bảo hộ đối với các chủng tự nhiên Kết quả nghiên cứu chứng minh các độc tố là cần thiết để kích thích đáp
ứng miễn dịch chống lại khả năng gây bệnh của các chủng A pleuropneumoniae
serotype 5
Thành phần heptose và glucose trong LPS của A pleuropneumoniae cao hơn so với ở một vài loài vi khuẩn Gram âm khác như E coli Jensen và Bertram (1986) đã tìm thấy LPS từ vi khuẩn A pleuropneumoniae có độc lực cao thuộc
serotype 5 có nhiều galactose hơn thể phân lập không độc cùng serotype 5 LPS thành tế bào có ý nghĩa quan trọng trong việc gây ra đáp ứng miễn dịch của vật
chủ sau khi A pleuropneumoniae xâm nhiễm
- Polysaccharide vỏ vi khuẩn (Capsule polysaccharide - CPS): Vi khuẩn A
pleuropneumoniae được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ có bản chất là các
polysaccharide Lớp vỏ polysaccharide này tích điện âm và được cấu tạo bởi các đơn vị Oligosaccharide, các polymer của axit teichoic gắn kết với nhau bởi các cầu nối phosphate diester, hoặc các polymer Oligosaccharide gắn kết với nhau bởi các cầu nối phosphate Polysaccharide vỏ vi khuẩn là một trong những thành phần quyết định độc lực của vi khuẩn và cũng là một nhân tố quyết định tính đặc hiệu serotype của vi khuẩn (Ward và Inzawa, 1997) Polysaccharide vỏ vi khuẩn
là yếu tố xác định đặc trưng của hiện tượng phát ánh ngũ sắc trên bề mặt khuẩn
lạc trong môi trường nuôi cấy Lớp vỏ của A pleuropneumoniae có độ dầy từ 80
- 230 nm tùy thuộc vào các serotype khác nhau Đã có những ý kiến cho rằng sự
khác biệt về độ dầy lớp vỏ dẫn đến sự khác nhau về độc lực Các chủng A
pleuropneumoniae độc lực cao có lớp vỏ dầy, trong khi một số chủng không độc
có lớp vỏ mỏng hoặc dễ dàng bị phá vỡ Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy những chủng có độc lực có kích thước lớn hơn và có lớp vỏ bám dính dầy
hơn so với những chủng ít độc; lớp vỏ của vi khuẩn A pleuropneumoniae không
chỉ có ý nghĩa trong quá trình gây bệnh mà còn có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và dịch tễ
- Các protein màng ngoài (Outer membrane proteins - OMPs): Protein màng ngoài của A pleuropneumoniae có trọng lượng phân tử 43 kDa và có thể
thay đổi tùy theo hàm lượng NAD cung cấp trong môi trường nuôi cấy Các protein mang sắt nằm trên màng ngoài, sau đó các đặc tính cùng chuỗi gen của
Trang 19chúng cũng được Gonzalez và cs (1995); Chung và cs (2007) nghiên cứu xác
định Vi khuẩn A pleuropneumoniae sản sinh một vài loại protein màng ngoài
(OMPs) và các protein này được cho là có vai trò trong đáp ứng miễn dịch Hơn
nữa, các kháng thể kháng OMPs của A pleuropneumoniae được chứng minh
tác động như một chất opsonin quan trọng chống đại thực bào và bạch cầu đơn
nhân A pleuropneumoniae có khả năng tổng hợp hai protein mới khi được
nuôi trong môi trường thiếu sắt và có các kháng thể chống lại chúng Hiện tượng xuất hiện các polypeptid này chỉ có được ở trong cơ thể sống Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy có một số receptor transferrin đặc hiệu ở lợn và
khả năng phát triển của A pleuropneumoniae với transferrin vận chuyển sắt
Các phân tích về mặt di truyền các yếu tố mã hóa cho receptor các protein transferrin được nhận dạng bởi hai gen nằm trên một operon Theo quy định
gen tbpB (mã hóa cho protein Tbp2 có khối lượng phân tử dao động từ 59,8 đến 65,5 kDa) và gen tbpA (mã hóa cho protein Tbp1 với trọng lượng chính xác 102,2 kDa) Theo các chứng minh ngược dòng trên operon tbp gợi ý rằng các ion sắt ở môi trường điều khiển gen tbp qua protein Fur (Gerlach và cs, 1992)
- Các protein thu nhận sắt: Khả năng cạnh tranh và hấp thụ sắt được xem
là một trong những yếu tố độc lực quan trọng của A pleuropneumoniae giúp vi
khuẩn tồn tại trong cơ thể vật chủ Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vi
khuẩn A pleuropneumoniae có thể sử dụng transferrin của vật chủ (Gerlach và
cs, 1992) và hemoglobin (Archambault và cs 1999), cũng như sử dụng các loại siderophore khác nhau của nhiều vi sinh vật khác (Diarra và cs, 1996) làm nguồn cung cấp sắt cho sinh trưởng Các nghiên cứu cũng đã xác định chắc
chắn có sự tồn tại của các thụ thể trên bề mặt màng tế bào A pleuropneumoniae
đặc hiệu cho các nguồn thu nhận sắt Nghiên cứu của Jacques (2004) cho biết
vi khuẩn A pleuropneumoniae có protein gắn kết hemoglobin và các receptor ferric hydroxamate Chính protein gắn transferrin đã giúp cho A
pleuropneumoniae được cung cấp đầy đủ sắt trong một thời gian ngắn sau quá
trình xâm nhập gây nhiễm trùng
- Các yếu tố độc lực khác: Ngoài các yếu tố độc lực chính như trên vi
khuẩn A pleuropneumoniae còn có một số thành phần khác cũng có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học, bao gồm:
+ Fimbriae là yếu tố bám dính chính lên tế bào niêm mạc đường hô hấp
Trang 20của vật chủ của A pleuropneumoniae trong quá trình xâm Dưới kính hiển vi điện tử, fimbriae có đường kính từ 0,5 - 2 nm, dài từ 60 - 450nm
+ Ngưng kết tố: Hiện tượng ngưng kết hồng cầu đã được xác định ở một
số chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được, tuy nhiên cũng có một
số chủng A pleuropneumoniae không có đặc tính ngưng kết cũng đã được xác
định
+ HlyX protein: Vi khuẩn A pleuropneumoniae có chứa gen hlyX (cfp) quy
định khả năng dung giải hồng cầu, biểu hiện phản ứng CAMP có mặt ở hầu hết các
chủng A pleuropneumoniae phân lập được (Macdonald và Rycroft, 1993)
+ Protease: Vi khuẩn A pleuropneumoniae tiết ra protease có khả năng
phân giải gelatin, IgA, IgG và hemoglobin
+ Enzym superoxide dismutase (SOD) là một trong những yếu tố độc lực
vì nó giúp cho vi khuẩn tồn tại trong suốt quá trình gây nhiễm Trình tự cấu trúc của enzym này đã được xác định bởi Langford và cs (1996) + Urease: Hoạt động của urease góp phần vào khả năng gây nhiễm trùng
của vi khuẩn A pleuropneumoniae trên đường hô hấp của lợn và sau đó làm phát
sinh bệnh Hoạt động urease cũng góp phần gây bệnh do quá trình này cung cấp cho vi khuẩn nguồn nitrogen, từ đó trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn thương tế bào thực bào và tế bào nội mạc của vật chủ
1.1.1.4 Khả năng đề kháng với kháng sinh
Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae được
quyết định bởi thành phần plasmid có trong tế bào vi khuẩn và plasmid này có trọng lượng phân tử thấp (2,3-3,6) x106 dalton Cơ sở của hiện tượng kháng này với ampicillin là do vi khuẩn tiết ra men β-lactamase Những plasmid này không có vật liệu gen để thúc đẩy sự dẫn truyền tới vi khuẩn khác và sự xuất hiện của plasmid này gợi ý về kết quả của một quá trình chọn lọc của vi khuẩn
A pleuropneumoniae Đặc tính kháng kháng sinh có khả năng truyền bằng
plasmid
Như vậy, khả năng kháng thuốc của vi khuẩn A pleuropneumoniae khá
phổ biến, có xu hướng tăng lên về tỷ lệ và chủng loại thuốc bị kháng Do đó cần có biện pháp sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi và thú y hợp lý
nhằm hạn chế khả năng kháng thuốc của A pleuropneumoniae
Trang 211.1.2 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do A pleuropneumoniae
1.1.2.1 Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào: tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Dựa vào triệu chứng bệnh được chia làm ba thể: quá cấp tính, cấp tính hoặc mãn tính
- Thể quá cấp tính: Lợn mắc bệnh sốt 41,5oC, mệt mỏi, bỏ ăn, có thể nôn mửa và tiêu chảy Thời gian ngắn trước khi chết, thường có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt độ giảm nhanh Ngay trước khi chết, có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và mũi, nhịp tim tăng; phần da ở mũi, tai, chân và sau cùng toàn bộ cơ thể trở nên tím tái (Nicolet, 1992), lợn mắc bệnh thường chết sau 24 - 36 giờ
- Thể cấp tính: Ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một
đỏ, mệt mỏi, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ (Fenwick và Henry, 1994) Bệnh diễn biến khác nhau ở từng cá thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Lợn thường sống sót nếu qua được
4 ngày đầu của bệnh
- Thể mãn tính: Lợn mắc bệnh không có biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng Những con vật mắc bệnh thể mãn tính là nhân tố truyền bệnh cho những lợn khác Những dấu hiệu viêm phổi sẽ biểu hiện rõ hơn nếu có nhiễm trùng kế
phát các vi sinh vật đường hô hấp khác (Mycoplasma, Pasteurella, PRRS) hay
các nhân tố Stress (MacInnes và Rosendal, 1988)
1.1.2.2 Bệnh tích
Lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae có những tổn thương chủ yếu ở
đường hô hấp (Nicolet, 1992) Đa số các trường hợp lợn bị viêm hai bên phổi với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim và một phần các thùy trên vòm hoành Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất rõ ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh Hầu hết những nghiên cứu đều kết luận rằng những tổn
thương trên là do độc tố của vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra (Bertram,
1986) Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng như thể cấp tính thấy khí quản
và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhày, bọt lẫn máu, phổi trở nên sẫm màu, có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực,
Trang 22cơ hoành và màng ngoài tim
1.1.2.3 Phòng bệnh
Việc phòng bệnh cần thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
Đối với trại chăn nuôi không có lợn mắc bệnh và nhiễm A
pleuropneumoniae phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch an
toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly trước khi cho vào đàn
Có thể dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh nhưng không được dùng kéo
dài và thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn A pleuropneumoniae
với kháng sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không loại bỏ được mầm
bệnh hoàn toàn và vi khuẩn A pleuropneumoniae vẫn có thể thải ra môi trường
(Fedorka-Cray và cs, 1993)
Trong trường hợp có tỷ lệ lợn trong đàn kiểm tra huyết thanh dương tính cao thì tiêu hủy là phương pháp hiệu quả để thanh toán dịch bệnh, sau đó tiêu độc chuồng trại, tạo đàn mới từ những con giống sạch bệnh (Nicolet, 1992) Tuy nhiên, phương pháp này rất tốn kém và có thể dẫn đến mất đi những giống thuần quý Trong chăn nuôi lợn việc chẩn đoán sớm những con lợn mang trùng
mà chưa có dấu hiệu lâm sàng là rất cần thiết và cấp bách
* Phòng bệnh bằng vắc xin
Hiện đã có nhiều loại vắc xin được sản xuất để phòng cho bệnh này và được chia thành 2 nhóm chính là vắc xin vô hoạt và vắc xin có chứa một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vắc xin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác Vắc xin dùng tiêm cho lợn con khi kháng thể thụ động nhận được từ lợn mẹ đã giảm đi giúp đàn lợn giảm tỷ lệ tử vong, giảm thuốc điều trị và chất lượng thịt cũng được nâng cao, lợn ít bị viêm phổi
Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất sát trùng thông thường như: Han-Iodine 10%, Benkocid
1.1.2.4 Điều trị bệnh
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có MIC cao với streptomycin, kanamycin,
spectinomycin, spiramycin và lincomycin (Nicolet và Schifferli, 1982 Prescott
và Baggot (1993) đã đánh giá lại khả năng nhạy cảm của vi khuẩn này với một
Trang 23số kháng sinh Sự xuất hiện tình trạng vi khuẩn A pleuropneumoniae kháng lại
ampicilin, cephalosporin, colistin, tetracyclin, streptromycin, sulfonamide là vấn đề đáng lo ngại và thường gặp ở các serotype 1; 3; 5 và 7; nhưng hiếm gặp
ở các chủng khác, nhất là serotype 2 (Nicolet và Schifferli, 1982
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới
có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết
quả Lê Văn Dương (2013) cho biết, các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae
phân lập được mẫn cảm nhất với ceftiofur, chiếm tỷ lệ 77,08%; tiếp theo là amoxicillin, florfenicol, ampicillin lần lượt là 70,84%; 68,75%; 54,17% Một
số kháng sinh đang được sử dụng nhiều có tỷ lệ kháng thuốc khá cao như lincomycin bị kháng tới 93,75%; tiếp đến là erythromycin, neomycin và gentamicin với tỷ lệ tương ứng 79,17%; 77,08% và 45,83% Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae
ngày càng gia tăng như do việc dùng kháng sinh điều trị kéo dài, kháng sinh được bổ xung vào thức ăn chăn nuôi và do hiện tượng di truyền tính kháng
thuốc bởi các gen nằm trong plasmid của vi khuẩn A pleuropneumoniae Cần
làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh Sự thành công của điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng và can thiệp điều trị kịp thời
Trang 241.1.3 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra
1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây A pleuropneumoniae đã được phân
lập và đánh giá là một trong những nguyên nhân gây bệnh viêm đường hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn trên toàn quốc
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Blackall và cs (2002) đã phát hiện ra serotype 15 thuộc biotype 1 ở 9 chủng
vi khuẩn phân lập được tại Australia
Bệnh viêm phổi - màng phổi (VPMP) ở lợn lây lan rộng và được ghi nhận ở
nhiều nước trên thế giới, nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển Bệnh có mặt và lây lan mạnh ở hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia
1.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra 1.2.1 Vi khuẩn P multocida
1.2.1.1 Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn P multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ Parvobateriaceae, tộc
Pasteurelliae, giống Pasteurella, loài Pasteurella multocida Kích thước của vi
khuẩn P multocida có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 , trong khi đó P
multocida phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước từ 0,8 - 1,0 (Bergey,
1974)
Kích thước của vi khuẩn thay đổi phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy, khi
nuôi cấy lâu trên môi trường nhân tạo thường có hình trực khuẩn P multocida
là vi khuẩn yếm khí tùy tiện, bắt màu Gram âm, không di động, không sinh nha bào khi phát triển trong cơ thể; trong môi trường nuôi cấy có bổ sung huyết thanh hoặc máu vỡ sẽ hình thành giáp mô Khi cấy truyền trên môi trường nhân tạo hoặc tiêm truyền qua động vật máu lạnh nhiều lần thì độc lực của vi khuẩn giảm do không còn giáp mô, nhưng nếu tiêm truyền vi khuẩn qua lợn thì độc
Trang 25lực lại tăng lên vì chúng lại khôi phục khả năng hình thành giáp mô Vi khuẩn
P multocida có kích thuớc 0,2-0,41 x 0,04-1,5 m, thường bắt màu sẫm ở hai
đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn còn tươi Điều kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 37°C trong môi trường trung tính hay hơi kiềm (pH: 7,2-
7,4) Vi khuẩn P multocida mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch
thường, thạch máu… (Cù Hữu Phú, 2011)
Trên môi trường thạch có huyết cầu tố và huyết thanh là môi trường tốt dùng để giám định, phân lập và xác định độc lực của vi khuẩn này Ở môi
trường này vi khuẩn P multocida phát triển thành khuẩn lạc đặc biệt có hiện
tượng phát dung quang Peter và cs (1996) đã sử dụng môi trường dinh dưỡng
tối thiểu để nuôi cấy chủng sinh độc tố và không sinh độc tố của vi khuẩn P
multocida Môi trường gồm 17 thành phần, trong đó có cysteine, acid glutamic,
leucine, muối vô cơ, nicotinamid, pantothenate, thiamine, methionine Kết quả cho thấy có 40/46 chủng đem thử (chiếm 87%) mọc tốt sau 10 lần cấy chuyển vẫn giữ nguyên khả năng sinh độc tố hoặc không sinh độc tố như lúc đầu
Vi khuẩn P multocida phát triển tốt trên môi trường nhân tạo cần cho
thêm một số chất như cysteine, acid glutamic, leucine, methionine, muối vô cơ, nicotinamid, pantothenate, thiamine và đường Trong đó leucine có tác dụng kích thích tăng trưởng và thiamine có thể thay thế bằng adenine Vi khuẩn có thể duy trì sự sống được trong môi trường Cary- Blair và L-15 (leubovitz medium No15) hơn 15 ngày ở nhiệt độ phòng, tuy nhiên sử dụng Cary - Blair làm môi trường vận chuyển (transport medium) thì sẽ tốt hơn, còn môi trường L-15 thích hợp hơn khi bảo quản vi khuẩn này trong phòng thí nghiệm
Vi khuẩn P multocida phát triển trong môi trường phổ thông có thêm tụy
đệm CaCl2 và MgCl2 cũng giống như phát triển trên môi trường BHI - Brain Heart Infusion (Michael và cs, 2002)
Môi trường tốt nhất cho P multocida là môi trường YPC (yeast extract
peptone L-cytine) có thêm sacarose và sodium sulfite (Na2SO4) và môi trường
Trang 26TSA (tryptone soya agar) (OIE, 2004) Trên môi trường TSA kích thước của
khuẩn lạc sẽ lớn hơn Vi khuẩn P multocida phát triển trên môi trường YPC
thạch máu sẽ tạo nhiều kháng nguyên quan trọng hơn khi cấy trong các môi trường tổng hợp khác, đây cũng là môi trường giúp tái tạo giáp mô của vi
khuẩn Theo Shivachandra (2006) vi khuẩn P multocida còn có khả năng mọc
trên môi trường đậu phụ, tuy nhiên chúng không phát triển trên môi trường MacConkey và thạch Citrate Trong môi trường giàu chất dinh dưỡng thì các gen liên quan đến quá trình trao đổi chất của vi khuẩn hoạt động mạnh
1.2.1.2 Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose;
không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh Indol, Catalaza
và Oxydaza: Dương tính; phản ứng Urease: Âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey agar (Carter, 1984; Đỗ Quốc Tuấn và cs, 2007)
1.2.1.3 Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại luôn thay đổi Cho đến nay, người ta đã xác định được P multocida có 2
loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân (O) Kháng
nguyên O của vi khuẩn P multocida được cấu tạo từ gluxit, lipid và protein
Về đặc điểm sinh học, kháng nguyên O của vi khuẩn P multocida không khác
với kháng nguyên O của các vi khuẩn khác Kháng nguyên này có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch Kháng nguyên K bao quanh thân vi khuẩn giúp cho vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào và ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên thân O và kháng thể O (Carter, 1984 đã sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp cũng xác định vi
khuẩn P multocida có 4 serotype nhóm kháng nguyên K đánh theo chữ cái in
hoa A, B, C, D
Kháng nguyên thân O có hai thành phần đặc hiệu và không đặc hiệu, các chủng vi khuẩn khác nhau sẽ khác nhau theo kháng nguyên thân; kháng nguyên
Trang 27thân có 16 serotype đánh số từ 1 - 16 và cho rằng khuẩn lạc của P multocida
chuyển từ dạng S sang dạng R thì vi khuẩn giữ được kháng nguyên thân O và
cũng theo tác giả cho biết ở Nhật Bản bệnh do P multocida gây ra ở lợn thuộc
serotype A1 và D2
Theo Rimler và Rhoades (1987) bằng phản ứng IHA đã bổ sung thêm một
serotype giáp mô mới của vi khuẩn P multocida ký hiệu là F Các tác giả còn
cho biết phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp là thích hợp cho việc định serotype theo kháng nguyên K mà hiện nay nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới đang dùng Khi nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy trong 116 chủng vi khuẩn
P multocida phân lập từ phổi lợn có bệnh tích nhục hóa, áp xe phổi và viêm
màng phổi có 81,9% thuộc serotype A; 18,1% thuộc serotype D Đỗ Ngọc Thuý
và cs (2009) đã tiến hành xác định serotype giáp mô của chủng vi khuẩn P
multocida phân lập được từ vật nuôi Kết quả cho thấy hầu hết các chủng phân
lập được từ dịch ngoáy mũi của lợn khoẻ, phổi hoặc dịch hầu họng của lợn tại
lò mổ đều thuộc serotype A trừ một chủng phân lập từ lợn bị viêm phổi thuộc serotype D
1.2.1.4 Độc lực của vi khuẩn
Nhiều nghiên cứu về độc lực của vi khuẩn P multocida cho thấy ở những gia súc, gia cầm chết do vi khuẩn P multocida gây ra, người ta tìm thấy dấu
hiệu hoạt động của độc tố Diallo và cs (1995) khi nghiên cứu độc lực của 9
chủng P multocida phân lập được thuộc serotype A tại Australia cho biết trong
9 chín chủng này có 3 chủng không chứa plasmid nhưng rất độc với chuột, tiêm liều 100 CFU/con vào xoang bụng thì chuột chết trong vòng từ 10 - 24 giờ, trong khi đó 3 chủng phân lập có chứa 1 plasmid và 3 chủng có chứa 2 plasmid lại
không có khả năng giết chết chuột dù tiêm liều cao hơn Vi khuẩn P multocida
thuộc serotype D còn tạo ra dermanecrotic toxin (DNT) là độc tố gây hoại tử biểu bì, độc tố này không bền với nhiệt Trọng lượng phân tử của dermanecrotic
toxin khoảng 112 - 160 kDa và có thể tách ra từ canh trùng nuôi cấy, gen toxA
Trang 28quy định tổng hợp dermanecrotic toxin có chiều dài 4.381 bp Nếu nuôi cấy vi khuẩn ở 30oC thì hoạt tính của gen toxA này bị giảm nhiều và số lượng độc tố
DNT sinh ra cũng ít đi (Hunt và cs, 2000) Chung và cs (2001) khi kiểm tra, đánh
giá độc lực của vi khuẩn P multocida chủng X - 73, PBA 930 và PBA 945
thuộc serotype A trên chuột và gà đã cho thấy độc lực của chủng X - 73 đối với
gà cao hơn hẳn hai chủng kia, đối với chuột thì độc lực của chủng PBA 930 là thấp nhất
1.2.1.5 Khả năng đề kháng với kháng sinh
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở gia súc tại Thái Lan chứa 2 loại plasmid
có khả năng đề kháng với kháng sinh Loại plasmid thứ nhất là pJR1 chứa 6.792
bp và loại thứ hai là pJR2 chứa 5.252 bp
- Plasmid pJR1 có 6 gen chính: gen thứ nhất (Sul II) quy định tính kháng sulfamide, gen thứ 2 (tet G) quy định đặc tính kháng tetracyclin, gen thứ 3 (cat B2) quy định đặc tính kháng chloramphenicol, gen thứ 4 (rep) quy định khả năng tái tạo protein của plasmid, gen thứ 5 và 6 (mbe Cy và deltambe Ay) quy định qúa trình tổng hợp các protein liên quan đến khả năng di chuyển của plasmid
- Plasmid pJR2 có 5 gen chính: gen thứ nhất (deltain I1) có liên quan đến khả năng hợp nhất của plasmid, gen thứ 2 (aad A1) quy định đặc tính kháng streptomycin, gen thứ 3 (bba P1) quy định đặc tính kháng ampicillin, gen thứ 4
và gen thứ 5 quy định khả năng tổng hợp của protein tham gia vào quá trình tái tạo và phân ly plasmid (Wu và cs, 2003)
1.2.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida
Vi khuẩn P multocida có thể là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát
gây ra bệnh viêm phổi ở lợn, bệnh có thể gây chết lợn hoặc làm giảm khả năng tăng trọng của lợn do vậy gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi
Theo Pijoan (1989), việc nhiễm P multocida ở phổi lợn thường thấy ở
giai đoạn cuối của dịch viêm phổi địa phương hay hội chứng ho thở truyền
Trang 29nhiễm do M hyopneumoniae khởi phát hoặc ở những bệnh ghép
1.2.2.1 Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm phổi do P multocida gây ra rất
khác nhau tùy thuộc vào từng chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện
3 thể:
- Thể cấp tính:
Thể này thông thường do hầu hết các chủng P multocida thuộc serotype
B gây ra Những con vật mắc bệnh thường có biểu hiện khó thở, hóp bụng vào
để thở, gõ vào bụng có âm đục “bịch, bịch”, sốt cao nhiệt độ lên tới 41 - 420C,
tỷ lệ chết cao (5 - 40%) Ở những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết đổi màu tím ở vùng bụng có thể là do sốc nội độc tố
- Thể á cấp tính:
Ở thể này, hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy ở những lợn lớn
Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là tiêu chuẩn xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh Triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này giống như
viêm màng phổi do A pleuropneumoniae gây ra, nhưng những đặc điểm phân biệt chính là bệnh viêm phổi do P multocida hiếm khi gây ra chết đột ngột, hơn nữa lợn mắc bệnh viêm phổi do P multocida gây ra có thể tồn tại một thời
Bệnh tích do P multocida gây ra chủ yếu ở phần xoang ngực và thường
đi kèm với bệnh tích của M hyopneumoniae Bệnh tích đặc trưng của bệnh này
xuất hiện ở thuỳ đỉnh và mặt trong của phổi, cùng với có bọt khí trong khí quản
Có sự phân ranh giới rõ ràng giữa vùng tổ chức phổi bị tổn thương và vùng tổ
Trang 30chức phổi bình thường Phần bị ảnh hưởng của phổi có sự biến đổi màu sắc từ màu đỏ sang màu xám xanh phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh
Bệnh nặng có thể xuất hiện viêm màng phổi và áp xe ở các mức độ khác nhau Lúc này màng phổi dính chặt vào thành xoang ngực và màng phổi có vùng mờ đục, khô Đây chính là bệnh tích chủ yếu để phân biệt bệnh viêm phổi
do Pasteurella với viêm phổi do Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy
ra có màu vàng và dính cùng với rất nhiều sợi fibrin (Pijoan, 1989)
Ở thuỳ phụ có dịch rỉ viêm của phế quản Mức độ nghiêm trọng của viêm phế quản là do sự tăng sản của tế bào nội mô và sự có mặt rất nhiều các tế bào bạch cầu trung tính trong mủ nhầy (chất tiết nhầy có mủ) ở phế quản và trong
phế nang Bệnh tích này là không đặc trưng cho sự nhiễm khuẩn P multocida
mà nó phổ biến cho mọi trường hợp viêm phổi do nhiễm khuẩn
Dấu hiệu bệnh này cũng thể hiện mối liên quan giữa bệnh viêm phế quản
do Pasteurella với bệnh viêm cầu thận, cũng do Pasteurella (Buttenschon,
1991) Tác giả này cũng kết luận rằng hai bệnh này có liên quan với nhau bởi quá trình vi khuẩn phát tán từ những bệnh tích ở phổi
1.2.2.3 Chẩn đoán
Việc chẩn đoán đúng bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra là hết sức
cần thiết, do đó cần tiến hành đồng thời nhiều phương pháp như: Dịch tễ học, chẩn đoán lâm sàng, giải phẫu bệnh lý và đặc biệt là dựa trên kết quả xét nghiệm
vi khuẩn học trong phòng thí nghiệm
Vi khuẩn P multocida là vi khuẩn tương đối dễ nuôi cấy, phân lập trong
phòng thí nghiệm Những mẫu bệnh phẩm tốt nhất để phân lập vi khuẩn bao gồm: Dịch khí quản và tổ chức phổi được lấy ở vùng ranh giới giữa tổ chức bị tổn thương và tổ chức bình thường Những mẫu dịch ngoáy mũi, ngoáy họng
bằng tăm bông cũng được xem là mẫu tốt cho việc phân lập P multocida, những
mẫu này nên được giữ trong môi trường vận chuyển phù hợp Mẫu bệnh phẩm phải được đưa đến phòng thí nghiệm càng nhanh càng tốt, tránh bị tạp nhiễm
Trang 31và tất cả các mẫu phải được bảo quản lạnh (4 – 80C) cho đến khi phân lập, nuôi cấy vi khuẩn
Bên cạnh đó còn có thể sử dụng các phương pháp khác như: Phản ứng kết tủa khuếch tán miễn dịch trên gel thạch AGID (Agargel Immuno Diffuse)
để xác định kháng nguyên thân (O) từ vi khuẩn phân lập được với kháng huyết thanh chuẩn, phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính để định loại kháng nguyên giáp mô (K), phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp để xác định kháng nguyên giáp mô, kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction),
Việc xác định chủng vi khuẩn P multocida phân lập được thuộc serotype
nào để xác định được thể bệnh mà chúng gây ra, từ đó có biện pháp phòng trị bệnh phù hợp Kỹ thuật PCR gần đây đã được ứng dụng rộng rãi trong nghiên
cứu và chẩn đoán bệnh do vi khuẩn gây ra ở vật nuôi, trong đó có P multocida
và đã được OIE chuẩn hóa thành quy trình chung, có thể áp dụng ở các phòng
thí nghiệm để định type giáp mô của vi khuẩn P multocida
1.2.2.4 Phòng bệnh
Để phòng bệnh cần tiến hành đồng thời nhiều biện pháp để phòng các
bệnh truyền nhiễm nói chung và bệnh viêm phổi do P multocida gây ra nói
riêng như: Giữ vệ sinh chuồng trại, chuồng nuôi thông thoáng, hợp lý, quản lý
chăm sóc tốt, nhất là thức ăn, nước uống cho lợn phải đầy đủ
*Phòng bệnh bằng vắc xin
+ Vắc xin vô hoạt: ở Việt Nam đã và đang sử dụng các loại vắc xin vô hoạt để phòng bệnh tụ huyết trùng cho lợn bao gồm:
Vắc xin tụ huyết trùng lợn keo phèn: chế từ chủng P multocida Trung
Quốc do Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương và Công ty thuốc thú y Trung ương sản xuất; với ưu điểm của vắc xin là có miễn dịch cao, độ an toàn tốt, dễ bảo quản và hiện nay đang được dùng rộng rãi
Trang 32Vắc xin tụ dấu do Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương sản xuất bằng phương pháp lên men sục khí nên có đậm độ vi khuẩn cao, đang được sử dụng rộng rãi tại tất cả các tỉnh phía Bắc
Phan Thanh Phượng và cs (1994), Viện Thú y Quốc gia đã chế tạo thành công một vắc xin kép dạng mới, đó là vắc xin tụ dấu nhũ hoá Đây là một vắc xin chết có bổ trợ dầu khoáng, tiêm một mũi có thể phòng được cả hai bệnh: đóng dấu và tụ huyết trùng lợn Liều tiêm lợn dưới 25kg là 2ml, cho lợn trên 25kg là 3ml Độ dài miễn dịch 4-8 tháng Vắc xin này phù hợp với những vùng
xa xôi hẻo lánh vì điều kiện bảo quản đơn giản, mà hiệu lực miễn dịch vẫn được
đảm bảo Tất cả các chủng vi khuẩn P multocida dùng sản xuất vắc xin đều
thuộc serotype B hiệu lực đạt yêu cầu, nhưng mỗi loại phù hợp và có hiệu lực phòng bệnh cao với từng vùng
+ Vắc xin nhược độc: với chương trình nghiên cứu Công nghệ sinh học cấp nhà nước mã số KHCN 02-03 do GS.TSKH Phan Thanh Phượng chủ trì đã nghiệm thu thành công vắc xin phối hợp, một mũi có thể phòng được 4 bệnh
đỏ của lợn: bệnh đóng dấu, tụ huyết trùng, phó thương hàn và dịch tả lợn Việc phối hợp đông khô 3 loại vi trùng được tiến hành theo phương pháp thường qui, riêng dịch tả lợn được đông khô riêng, đặc biệt việc vô trùng được tiến hành bằng kỹ thuật cao, nên khi phối hợp để tiêm cùng lúc với 3 loại vi khuẩn của 3 bệnh kia không gây tác dụng xấu lên kháng nguyên vi khuẩn nhược độc Một mũi tiêm phòng được 4 bệnh không những tạo được miễn dịch cao như tiêm vắc xin đơn mà còn giảm được chi phí tiêm phòng Hiện nay, vắc xin nhược độc đa giá này được phép sản xuất tại phân Viện Thú y miền trung để
sử dụng trong cả nước (Phan Thanh Phượng và cs, 2006)
Trang 33100%, flumequin 100%, nitrofuratonin 98%, colistin 90% và thấy rằng phần lớn những kháng sinh mới nhập vào thị trường Việt Nam đều có tác dụng mạnh
Một số thuốc kháng sinh đã được dùng có hiệu quả cho điều trị P
multocida: lincomycin-spectinomycin, một số cephalosporin và nhiều
quinolon: enrofloxacin và danofloxacin Trong đó ceftiofur đã được một số tác
giả chứng minh là kháng sinh tốt để chống lại vi khuẩn P multocida
Tuy nhiên, để điều trị có hiệu quả bệnh đường hô hấp do vi khuẩn P
multocida gây ra phải dựa trên kết quả kháng sinh đồ vì vi khuẩn rất dễ kháng
thuốc và thường kết hợp gây bệnh với một số loại vi khuẩn đường hô hấp khác
như Mycoplasma, Actinobacillus,
1.2.3 Tình hình nghiên cứu vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi lợn
do vi khuẩn P multocida gây ra
1.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và Nguyễn Quang Tuyên (2007) cho biết 25
chủng P multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh mẫn cảm
cao với các kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin; sau đó tác giả
xác định mức độ mẫn cảm của các chủng P multocida phân lập được ở lợn tại một
số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với một số kháng sinh thông dụng đã cho thấy
các chủng P multocida mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin và neomycin Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) cũng cho biết các chủng P multocida
phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao với các kháng sinh như amoxicillin
Trang 34(100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh các kháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin
Vi khuẩn P multocida phân lập được từ gia súc tại các tỉnh Cao Bằng và
Hà Giang có độc lực mạnh, đã gây chết từ 80% đến 100% chuột thí nghiệm trong vòng 48 giờ sau khi công cường độc (Đặng Xuân Bình và cs, 2010)
1.2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bệnh viêm phổi do P multocida xuất hiện rộng khắp trên thế giới nhưng
bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới như: Ấn
Độ, Pakistan, Iran, Irắc, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Lào, Campuchia, Triều Tiên và Việt Nam, ở tất cả các điều kiện khí hậu và điều kiện chăn nuôi
1.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra 1.3.1 Vi khuẩn S suis
1.3.1.1 Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ
Lactobacillales, lớp Bacilli S suis là loại vi khuẩn hình cầu hoặc bầu dục,
đường kính có khi đến 1 Vi khuẩn bắt màu Gram dương, không di động, thường xếp thành chuỗi từ hai vi khuẩn trở lên, độ dài của chuỗi phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy:
- Trong bệnh phẩm, vi khuẩn xếp thành chuỗi ngắn như chuỗi hạt, thường có
từ 2-8 đơn vị
- Nếu nuôi cấy trong môi trường lỏng, vi khuẩn hình thành chuỗi dài
Vi khuẩn Streptococcus agalactiae và Streptococcus equi có chuỗi từ
10-100 đơn vị
- Ở môi trường đặc, liên cầu hình thành chuỗi ngắn
Các vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu là dạng hình cầu Trong canh trùng già, sau 30 – 48 giờ nuôi cấy có thể thấy thay đổi tính chất bắt màu
và chuỗi cũng dài hơn lên Đặc biệt ở môi trường nuôi cấy có 5% huyết thanh
Trang 35thì hình thái chuỗi vi khuẩn được nhìn thấy rõ nhất
Hầu hết Streptococcus phát triển trong các môi trường hiếu khí hay yếm
khí tùy tiện, mọc tốt ở các loại môi trường nuôi cấy thông thường, nhiệt độ là
37oC Đôi khi có một số chủng vi khuẩn đòi hỏi hiếu khí nghiêm ngặt
Trong môi trường nước thịt, vi khuẩn mọc tốt, lúc đầu môi trường đục đều Sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC, vi khuẩn hình thành những hạt hoặc những cụm bông lắng xuống đáy ống nghiệm, lớp nước trong bên trên và dưới đáy ống có cặn
Trên môi trường thạch thường, vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc dạng S, màu hơi xám
Trên môi trường thạch máu, Streptococcus mọc tốt, đa số vi khuẩn gây
dung huyết và một số không gây dung huyết Dựa vào mức độ dung huyết người
ta phân ra làm 3 loại (Taylor và cs, 1990)
- Dạng : Vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc thường màu xanh lơ
do tác động của Streptococcus làm cho Hemoglobin biến thành
Met-hemoglobin, xung quanh khuẩn lạc là vùng tan máu Đây là hiện tượng dung huyết từng phần hoặc không hoàn toàn
Liên cầu khuẩn thuộc loại này gọi là liên cầu dung huyết nhóm , độc lực của nhóm này không cao
- Dạng : Vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc rõ và trong suốt do
Hemoglobin được phủ hoàn toàn Đây thường là nhóm phụ Streptococcus gây
Trang 36năng gây bệnh của vi khuẩn thuộc nhóm cầu khuẩn phụ thuộc rất nhiều vào yếu
tố gây dung huyết của mầm bệnh Các yếu tố dung huyết lại phụ thuộc vào mầm bệnh phân lập được ở giai đoạn đầu, giai đoạn giữa hay giai đoạn cuối của quá trình sinh bệnh Ở giai đoạn đầu của bệnh hoặc các ổ dịch mới phát
hiện lần đầu và có tính chất ồ ạt thì tỷ lệ vi khuẩn Streptococcus thường gây
dung huyết dạng là 48,33% và dạng là 35,00%
1.3.1.2 Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn Streptococcus gây bệnh ở lợn có khả năng lên men một số
đường: glucose, lactose, saccarose, trehalose, maltose, fructose…, không có khả năng lên men một số đường như: dulciton, mannit, innulin…
Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1978 tính chất không lên men đường innulin
là đặc tính quan trọng vì nhờ nó chúng ta phân biệt được các chủng gây bệnh
Vi khuẩn không có men Oxydase và men Catalase nên phản ứng Oxydase, Catalase âm tính
- Phản ứng sinh Indol âm tính
Ngoài ra Streptococcus còn có khả năng sinh men Diphotpho- Pyridin-
Nucleotidase (làm chết bạch cầu), Proteinase (có tác dụng phân hủy Protein, nếu tiêm liều cao cho động vật sẽ gây nên các tổn thương ở tim)
1.3.1.3 Giáp mô và các yếu tố độc lực
Những nghiên cứu của nhiều tác giả đều khẳng định rằng nhóm vi khuẩn
Trang 37Streptococcus không hình thành nha bào, đa số hình thành giáp mô, sự hình
thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc
mọc trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh
Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1987, trong phòng thí nghiệm, bằng phương pháp tiêm canh khuẩn vào tĩnh mạch hay xoang phúc mạc, nếu vi khuẩn có độc lực sẽ gây chết chuột bạch và thỏ do bại huyết
Roger, 1991 thấy rằng các xoang của cơ thể vật chủ khỏe mạnh là nơi cư
trú mầm bệnh Streptococcus độc hay không độc và rất dễ bài xuất mầm bệnh
ra ngoài Bởi vậy, vật khỏe mạnh mang trùng là rất đáng quan tâm, điều này phù hợp với kết luận của Burrow và Moulder, 1968 Ông cho rằng, viêm phổi
viêm màng não do vi khuẩn Streptococcus ít khi các tác nhân gây bệnh được
truyền từ vật mắc bệnh, từ con ốm, đa số được truyền từ con vật lành mang vi khuẩn
1.3.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
Bệnh liên cầu khuẩn ở lợn do vi khuẩn S suis gây nên, hiện có 20 nhóm
huyết thanh và 25 type khác nhau Phần lớn các vi khuẩn gây bệnh ở lợn đều thuộc type 1 và type 2
S suis thường thấy ở vùng mũi họng của lợn nhà mà không gây bệnh
Tuy nhiên, khi gặp một số điều kiện thuận lợi chúng có thể gây bệnh cho đàn
lợn S suis nhiễm phổ biến ở lợn con một vài tuần tuổi đến sau cai sữa vài tuần, đặc biệt S suis type 2 có thể gây bệnh cho người
1.3.2.1 Triệu chứng
Triệu chứng của các thể bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra rất
phức tạp, khó nhận biết và khó phân biệt khi mà bệnh có hiện tượng bội nhiễm,
kế phát bởi một số vi khuẩn khác
Viêm màng não và viêm khớp có thể xảy ra riêng rẽ hoặc kết hợp phổ biến ở lợn 2 - 6 tuần tuổi, lợn con bị nhiễm trong cùng một ổ mắc nặng hơn Biểu hiện của thể viêm màng não là phản ứng toàn thân như sốt, biếng ăn và
cơ thể suy sụp Lợn con đứng trên đầu ngón chân, bước đi cứng nhắc, phần sau
Trang 38thân đu đưa, tai xuôi ép về phía thân Lợn có thể bị mù, co giật cơ, mất cân bằng, nằm nghiêng một bên, chân đạp bơi chèo rồi chết Một số trường hợp viêm rốn, viêm nội tâm mạc ở lợn thường thấy khi hôn mê hoặc chết không có biểu hiện triệu chứng trước đó
Vi khuẩn có thể phân lập từ dịch khớp, dịch não tuỷ, máu, mô não, phổi, mẫu swab, từ hạch amidan của lợn khoẻ
Liên cầu khuẩn (Streptococcus suis) gây ra nhiều thể bệnh khác nhau ở
các loài vật tuỳ theo chủng gây bệnh Một số thể bệnh thường gặp như sau:
- Thể nhiễm trùng huyết
Nhiễm trùng huyết cấp tính do liên cầu xảy ra rải rác ở lợn nái và lợn con theo mẹ Bệnh xảy ra làm chết lợn đột ngột trong vòng 12 đến 48 giờ Triệu chứng gồm: cơ thể suy yếu, nằm phủ phục, sốt, thở khó, đi kiết, huyết niệu Mổ khám thấy xuất huyết điểm hoặc tràn lan ở hầu hết nội tạng Những con sống sót sau vài ngày mắc bệnh: phổi bị phù và chắc đặc Bệnh lây khá nhanh và tỷ
lệ chết cao nếu như không dùng kháng sinh tác dụng tốt với vi khuẩn để điều trị dự phòng
- Thể viêm não và màng não
Viêm não và màng não khá phổ biến do nhiễm trùng huyết của
Streptoccocus ở con vật sơ sinh, nhưng cũng gặp ở lợn sau cai sữa 10 đến 14
tuần tuổi và lợn lớn hơn đến 6 tháng tuổi Thể bệnh này ở lợn thường do S suis
type 2 gây ra Con vật biểu hiện chậm chạp, mất phối hợp, co giật từng cơn,
giật nhãn cầu Bệnh tiến triển nhanh trong vòng 4 giờ và thường không biểu hiện ốm trước khi chết
- Thể viêm da
Viêm da truyền nhiễm ở lợn đặc trưng bởi mụn mủ ở mặt, cổ, gặp ít hơn
ở thân Trong ổ mủ phát hiện cả liên cầu và tụ cầu Bệnh lây lan qua vết trầy xước ngoài da, đặc biệt ở lợn con khi cắn nhau, những lợn con này không được cắt răng nanh Bệnh có thể nhầm lẫn với viêm da do thẩm xuất
Trang 391.3.2.2 Bệnh tích
Lợn chết do S suis type 2, bệnh tích đại thể, vi thể bao gồm một hoặc
nhiều ổ viêm tương mạc hoá mủ, viêm phổi và màng phổi xuất huyết hoặc viêm
tơ huyết, viêm màng não mủ, viêm cơ tim, thoái hoá xuất huyết, viêm van tim hai lá Trong trường hợp viêm màng não, dịch não tuỷ bị đục, xung huyết và viêm màng não tích tụ thể trắng, ổ mủ ở vùng dưới nhện Hầu hết các trường hợp hệ thống mạng lưới võng mạc nội mô bị ảnh hưởng nặng, các mạch máu ở tâm thất, não và tuỷ sống bị tắc nghẽn do dịch thẩm xuất, nhiều khi gây ra phù não Mô thần kinh của tuỷ sống, tiểu não và cuống não có thể biểu hiện thoái hoá dạng lỏng
1.3.2.3 Chẩn đoán
Có thể thấy viêm khớp rải rác ở lợn do tụ cầu trùng nhưng phổ biến hơn
vẫn là do liên cầu trùng Viêm khớp do Mycoplasma hyorhinis sinh mủ ít hơn,
do đó cần phải nuôi cấy xác định Bệnh glasser (bệnh gây ra bởi Haemophilus
spp biểu hiện viêm đa khớp cấp tính, viêm màng phổi, viêm bao tim và viêm phúc mạc) thường xảy ra ở lợn lớn hơn và kèm theo viêm màng phổi và phúc mạc Bệnh đóng dấu lợn ở lợn con thường biểu hiện nhiễm trùng huyết Tuy
nhiên, thể viêm màng não do nhiễm Streptococcus có thể dễ nhầm lẫn với viêm não do vi rút S suis type 2 cũng có thể gây viêm màng não ở lợn lớn từ 10-14
tuần tuổi
1.3.2.4 Phòng và trị bệnh
Theo Clifton-Hadley và cs, 1986 để phòng bệnh, biện pháp vệ sinh
chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý và phân đàn, chia ô là yếu tố vô cùng quan trọng đối với công việc chăn nuôi lợn Việc diệt trừ tận gốc mầm bệnh bằng cách giảm mật độ và nuôi trong các ô chuồng sạch sẽ là điều kiện cần thiết và có hiệu quả
*Phòng bệnh bằng vắc xin
Hiện nay, các loại vắc xin được sử dụng để phòng bệnh do S suis gây ra
Trang 40cho lợn chủ yếu là các vắc xin chuồng (autogenous vắc xin) và hiệu quả bảo hộ của các loại vắc xin này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Có thể liệt
kê ra một số nguyên nhân của hiện tượng này như sự thoái hoá của kháng nguyên bảo hộ hoặc vi khuẩn bị mất tính kháng nguyên do quá trình xử lý bằng nhiệt hoặc formalin, do sự sản sinh kháng thể đối với các kháng nguyên mà
không có liên quan đến độc lực của vi khuẩn và sự thiếu hụt các chủng S suis
hay serotype liên quan đến quá trình sinh bệnh học (Higgins và cs, 2002) Các nhà khoa học cũng đã chế tạo thử nghiệm nhiều loại vắc xin khác nhau như vắc xin toàn khuẩn, vắc xin sống nhược độc, vắc xin tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào) Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vắc xin này cũng rất thất thường và không ổn định Trong một số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vắc xin vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ đàn lợn
1.3.2.4 Điều trị bệnh
Trong một vài thử nghiệm tính mẫn cảm kháng sinh cho thấy vi khuẩn mẫn cảm với ampicillin, penicillin, trimethoprim-sulfamethoxazole, kháng với lincomycin, erythromycin, neomycin, streptomycin và tetracyclin Trong thí nghiệm khác lại cho thấy tất cả các mẫu vi khuẩn phân lập được mẫn cảm với penicillin và ampicillin, 1/3 kháng với trimethoprim-sulfamethoxazole, kháng rất mạnh với nitrofuran và tetracyclin Tính mẫn cảm với penicillin có thể
không lâu dài với tất cả các chủng S suis vì vậy nếu dùng lâu phải đánh giá lại
tính mẫn cảm