1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế của các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh phú thọ

100 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, chất thải rắn y tế phát sinh từ các bệnh viện, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế, cơ sở khám chữa bệnh, nhà hộ sinh…được phân thành 03 nhóm theo Thô

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH LOAN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

Y TẾ CỦA CÁC BỆNH VIỆN TUYẾN TỈNH TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH LOAN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

Y TẾ CỦA CÁC BỆNH VIỆN TUYẾN TỈNH TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

Ngành: Khoa học môi trường

Mã ngành: 8.44.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan các thông tin trích trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường cùng các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên to lớn của gia đình và bạn bè thân thiết đã dành cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài./

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Ý nghĩa đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở pháp lý 4

1.1.2 Cơ sở lý luận 6

1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe công đồng và môi trường 7

1.2.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe 7

1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường 11

1.3 Quản lý chất thải rắn trong bệnh viện 12

1.3.1 Quy định về phân định, phân loại CTRYT 12

1.3.2 Quy định mã màu sắc, tiêu chuẩn các dụng cụ, bao bì đựng và vận chuyển CTR trong BV 14

1.3.3 Quy trình quản lý CTRYT 17

1.3.4 Xử lý CTRYT 19

1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải y tế 25

1.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế 27

1.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 27

1.4.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 32

1.4.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Phú Thọ 37

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.5 Đánh giá chung về tổng quan tài liệu 40

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đối tượng nghiên cứu 41

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 41

2.3 Nội dung nghiên cứu 41

2.3.1 Thực trạng quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế tỉnh Phú Thọ 41

2.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 03 bệnh viện 41

2.3.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại khu vực nghiên cứu 41

2.4 Phương pháp nghiên cứu 42

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 42

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 42

2.4.3 Các phương pháp nội nghiệp 43

2.5 Chỉ số nghiên cứu 43

2.5.1 Các chỉ số về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế 43

2.5.2 Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế 43

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Khái quát quy mô và thực trạng y tế Phú Thọ 44

3.1.1 Khái quát về Y tế Phú Thọ 44

3.1.2 Tình hình thực hiện các chương trình, dự án bảo vệ môi trường 46

3.1.3 Giới thiệu khái quát về các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 50

3.2 Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 03 bệnh viện: Đa khoa tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện mắt và Bệnh viện Lao và bệnh phổi 52

3.2.1 Tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 52

3.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 59

3.2.3 Thành phần chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 60

3.2.4 Công tác phân loại và thu gom CTRYT 61

3.2.5 Công tác xử lý chất thải 68

3.2.6 Công tác vận chuyển, lưu trữ 69

3.2.7 Ý kiến của người dân đánh giá về công tác quản lý CTR y tế 73

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.2.8 Kinh phí cho công tác quản lý chất thải 74

3.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại khu vực nghiên cứu 75

3.3.1 Giải pháp thu gom, phân loại, xử lý, vận chuyển, lưu trữ 75

3.3.2 Giải pháp giảm thiểu 77

3.3.3 Giải pháp kiểm soát ô nhiễm 77

3.3.4 Một số giải pháp khác 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Kiến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại

chất thải y tế, các loại sinh vật gây bênh và phương thức lây truyền 9

Bảng 1.2 Quy trình quản lý CTRYT 17

Bảng 1.3 Lượng chất thải thay đổi theo từng nước 28

Bảng 1.4 Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện 28

Bảng 1.5 Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện 28

Bảng 1.6 Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện 29

Bảng 1.7 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 - 2010 34

Bảng 1.8 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau 36

Bảng 3.1 Quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 45

Bảng 3.2 Lượng CTRYT phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh qua các năm 45

Bảng 3.3 Danh sách các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại 48

Bảng 3.4 Danh sách các cơ sở y tế lập báo cáo kiểm soát môi trường định kỳ 50

Bảng 3.5 Bình quân khối lượng chất thải theo quy mô giường bệnh 53

Bảng 3.6 Khối lượng CTR YT của bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ qua các năm 54

Bảng 3.7 Khối lượng CTRYT của bệnh viện mắt qua các năm 56

Bảng 3.8 Khối lượng CTRYT của bệnh viện Lao và bệnh Phổi qua các năm 57

Bảng 3.9 Lượng CTR YT tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện mắt và Bệnh viện Lao và bệnh phổi 58

Bảng 3.10 Nguồn thải từ hoạt động khám chữa bệnh 59

Bảng 3.11 Đánh giá công tác phân loại rác thải tại các bệnh viện 62

Bảng 3.12 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Mắt 65

Bảng 3.13 Thực trạng thu gom, phân loại CTRYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 66

Bảng 3.14 Thực trạng thu gom, phân loại CTRYT tại Bệnh viện Lao và bệnh Phổi 67

Bảng 3.15 Thực trạng vận chuyển, lưu trữ chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 70

Bảng 3.16 Thực trạng vận chuyển, lưu trữ CTRYT tại Bệnh viện Mắt 71

Bảng 3.17 Thực trạng vận chuyển, lưu trữ CTRYT tại Bệnh viện Lao và bệnh Phổi 72

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 3.18 Ý kiến của bệnh nhân về công tác quản lý CTR y tế 73

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Một số biểu tượng chỉ loại chất thải 16

Hình 1.2 Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế 35

Hình 3.1 Thành phần CTR của bệnh viện đa khoa tỉnh 54

Hình 3.2 Lượng CTRYT của bệnh viện đa khoa tỉnh qua các năm 55

Hình 3.3 Thành phần CTRYT của bệnh viện Mắt 55

Hình 3.4 Lượng CTRYT của bệnh viện Mắt qua các năm 56

Hình 3.5 Thành phần CTRYT của bệnh viện Lao và bệnh Phổi 57

Hình 3.6 Lượng CTRYT của bệnh viện Lao và bệnh Phổi qua các năm 57

Hình 3.7 Khối lượng CTRYT của các bệnh viện tuyến tỉnh Phú Thọ 58

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, chất thải rắn y tế phát sinh từ các bệnh viện, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế, cơ sở khám chữa bệnh, nhà hộ sinh…được phân thành 03 nhóm theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BTNMT-BYT ngày 31 tháng 12 năm

2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y tế quy định về quản lý chất thải y

tế, trong đó nhóm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm được xem là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay trong hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý, tiêu hủy chất thải y tế trên địa bàn cả nước nói chung và của tỉnh Phú Thọ nói riêng

Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị

Trong thời gian qua, các cơ sở y tế đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý chất thải, góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trong ngành y tế Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải y tế nói riêng và quản lý môi trường nói chung tại các bệnh viện vẫn đang bộc lộ một số bất cập Nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở

y tế chưa có đủ nguồn lực trong công tác quản lý môi trường, đồng thời ngành y tế vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể cho công tác quản lý chất thải y tế

Tại tỉnh Phú Thọ hiện nay ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực với mức độ khác nhau trong đó có y tế Có thể nói ô nhiễm trong ngành y tế đang diễn ra khá trầm trọng mà nổi bật là ở các bệnh viện

Mạng lưới y tế ngày càng phát triển đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặc biệt là trong vấn đề quản lý rác thải y tế

Rác thải y tế bao gồm chất thải nguy hại như: kim tiêm, găng tay, cao su, bông, băng thấm dịch hoặc máu, các loại thuốc quá hạn, bệnh phẩm và rác thải phóng xạ Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công

Trang 12

nghiệp nhưng chất thải rắn y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây truyền dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân nếu không được

xử lý đúng mức

Tỉnh Phú Thọ có các bệnh viện tuyến tỉnh và các trung tâm y tế tuyến tuyến tỉnh và tuyến huyện và nhiều cơ sở khám chữa bệnh, là một trong các nguồn chính phát thải chất thải y tế Theo số liệu thống kê năm 2018, toàn tỉnh

có 650 cơ sở y tế với tổng số giường bệnh thực kê là 7281 Thành phần chính của rác thải y tế tại các bệnh viện, trạm y tế bao gồm: Bông, băng gạc, bơm kim tiêm, bệnh phẩm (nội tạng, bộ phận cơ thể), vật dụng khám bệnh (kim tiêm, dao, kéo), các chất về từ khâu xét nghiệm (môi trường cấy mô, vi sinh vật gây bệnh, lam kính, ống đựng máu…); Tuy khối lượng chất thải rắn y tế không nhiều nhưng có các thành phần độc hại cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm khi không được xử lý triệt để

Để quản lý tốt lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cần tiến hành thống kê các bệnh viện, cơ sở y tế, cập nhật thu thập các số liệu về khối lượng thành phần các loại chất thải phát sinh Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, kết hợp với các quy hoạch phát triển của tỉnh cho phép dự báo lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong những năm tiếp theo và đề ra các phương pháp quản lý và xử lý chất thải rắn y tế cho phù hợp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển

bền vững Do vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải

pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế của các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Khái quát thực trạng y tế và quản lý nhà nước về chất thải rắn trong lĩnh vực y tế tại tỉnh Phú Thọ

- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 03 bệnh viện: Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi và Bệnh viện Mắt

- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại 03 bệnh viện: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi và Bệnh viện Mắt

Trang 13

3 Ý nghĩa đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài là một bước tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây ô nhiễm của chất thải ytế tác động ảnh hưởng đến chất lượng môi trường của tỉnh Phú Thọ Ngoài ra đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học, điều tra về công tác quản lý rác thải Bệnh viện và giúp cho các nhà quản lý về môi trường có những chính sách và công tác quản lý môi trường chặt chẽ hơn

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng chất lượng môi trường Y tế của các bệnh viện tuyển tỉnh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

- Đánh giá được tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn bệnh viện trên địa bàn tỉnh

- Đề xuất những biện pháp khả thi nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho bệnh viện tuyến tỉnh, một trong những vấn đề cấp bách hiện nay

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở pháp lý

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;

- Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu;

- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định

về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường;

- Thông tư số 41/2011/TT-BYT, ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

- Thông tư số 41/2015/TT-BYT, ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ TN&MT về quản lý chất thải nguy hại;

- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ TN &MT về ĐMC, ĐTM và kế hoạch bảo vệ môi trường;

- Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ

Y tế và Bộ TN & MT quy định quản lý chất thải y tế;

Trang 15

- Thông tư số 24/2010/TT-BKHCN ngày 29/12/2010 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành và thực hiện “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - Phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ”;

- Thông tư số 24/2016/TT-BYT, ngày 30/6/2016 của Bộ Y tế quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn - mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc;

- Thông tư số 27/2016/TT-BYT, ngày 30/6/2016 của Bộ Y tế quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về rung - giá trị cho phép tại nơi làm việc;

- Thông tư số 26/2016/TT-BYT, ngày 30/6/2016 của Bộ Y tế quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vi khí hậu - giá trị cho phép vi khí hậu tại nơi làm việc;

- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”;

- Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020

- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 đến 2015

và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;

- Quyết định số 3409/QĐ-UBND ngày 24/11/2008 của UBND tỉnh Phú Thọ

về việc duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống y tế tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 2032/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 của UBND tỉnh Phú Thọ

về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 382/QĐ-UBND ngày 14/02/2015, Quyết định số 1936/QĐ-UBND ngày

Trang 16

18/8/2015 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc điều chỉnh Quy hoạch hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

- Quyết định số 3278/QĐ-UBND ngày 18/10/2010 của UBND tỉnh Phú Thọ

về việc duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển hệ thống y tế tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 1510/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn y tế tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2020;

- Báo cáo quản lý chất thải y tế các năm 2016, 2017, 2018 của Sở Y tế

1.1.2 Cơ sở lý luận

1.1.2.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan và phân loại rác thải y tế

- Môi trường: Theo điều 3, chương I, Luật Bảo vệ môi trường 2014 “Môi

trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự

tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”

- Chất thải y tế: Theo điều 3, chương I, Thông tư liên tịch số

58/2015/TTLT-BTNMT-BYT: “Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế.”

- Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có

đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm

và chất thải nguy hại không lây nhiễm

- Quản lý chất thải y tế: Là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu

gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện

- Thu gom chất thải y tế: Là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh

và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế

- Giảm thiểu chất thải y tế: Là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát

thải chất thải y tế

- Vận chuyển chất thải y tế: Là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi

lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc

cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế

Trang 17

1.1.2.2 Đặc điểm của chất thải y tế nguy hại (Trịnh Thị Thanh, 1998)

- Tiếp xúc với CTYT nguy hại có thể có nguy cơ bị chấn thương hoặc nhiễm mầm bệnh Chất thải y tế nguy hại có một số đặc tính như: Có khả năng lây nhiễm; gây độc gen, gây độc tế bào; có chứa độc chất, hóa chất độc hại; có tính ăn mòn; có tính phóng xạ (đối với các cơ sở có xạ trị); sắc nhọn

- Tất cả mọi người khi tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có thể có khả năng

bị tác động xấu tới sức khỏe Các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn nhất của CTYT nguy hại bao gồm:

+ Cán bộ, NVYT: Bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý, y công,

nhân viên văn phòng, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải,…

+ Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong BV: Nhân viên công ty vệ sinh môi trường, nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi,…

+ Đối tượng khác: Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên BV, người liên quan đến bãi chôn lấp rác và người nhặt rác; bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú; người nhà bệnh nhân và khách thăm; cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế; cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu của

các cơ sở y tế

1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe công đồng và môi trường

1.2.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe

Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế (Nguyễn Huy Nga, 2015)

Trang 18

Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn:

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,

Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm:

CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) (Bảng 1.1)

Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong BV Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến BV, nhưng khi đến và làm việc trong BV sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở

Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do HIV và virus viêm gan B, C, đó là những bằng chứng của việc lan truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh

Trong các cơ sở y tế, tính đề kháng của vi khuẩn đối với các loại thuốc kháng sinh và các hóa chất sát khuẩn cũng có thể góp phần tạo ra những mối nguy cơ do

sự quản lý yếu kém các chất thải y tế Điều này đã được minh chứng, chẳng hạn các plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế đã được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thuống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E Coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi truờng thuận lợi cho loại vi sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống thải bỏ và xử lý rác, nước

Trang 19

Bảng 1.1 Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật gây bênh và phương thức lây truyền

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bênh Dạng chất thải y tế

Nhiễm khuẩn tiêu hóa

Nhóm enterobacteri: salmonella,

shigella spp, vibrio cholerac, các

loại giun sán

Phân hoặc chất nôn

Nhiễm khuẩn hô hấp Vi khuẩn lao, virus sởi,

Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ

hôi, chất nhờn)

Viêm màng não Não mô cầu (neisseria

sinh dục

Sốt xuất huyết Các loại virus: junin, lassa, ebola,

Marburg

Tất cả các sản phẩm máu và dịch tiết

Nhiễm khuẩn huyết do

Nhiễm khuẩn huyết do các

loại vi khuẩn khác nhau

Nhóm tụ cầu khuẩn:

Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis

Máu

Viêm gan B, C Virus viêm gan B, C Máu, dịch thể

(Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới WHO)

Trang 20

Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:

Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:

+ Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT Thủy ngân có mặt trong một số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân, và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ;

+ Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn;

+ Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận;

+ Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận

Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào:

Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ:

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong BV, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn

có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền

Trang 21

Những bệnh do chất phóng xạ gây ra được xác định bởi liều lượng và kiểu phơi nhiễm Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như đau đầu, ngủ gà, nôn đồng thời ảnh hưởng tới chất liệu di truyền

Trên thế giới các nguồn phóng xạ được sử dụng rộng rãi trong y học và trong những ứng dụng khác Có khi, dân chúng tiếp xúc với rác thải y tế có hoạt tính phóng xạ thường có nguồn gốc từ liệu pháp điều trị phóng xạ không được xử lý đúng tiêu chuẩn hoặc do tiếp xúc với các chất phóng xạ trong các cơ sở điều trị do hậu quả của các thiết bị X - Quang hoạt động không an toàn hoặc do việc chuyên chở các dung dịch xạ trị không đảm bảo thiếu các thiết bị giám sát trong xạ trị liệu

Chính vì những hậu quả này do chất thải y tế gây ra mà ta cần có những biện pháp phòng tránh:

- Có thể thay thế hoặc giảm lượng hoá chất độc hại sử dụng

- Cung cấp các phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với hoá chất

- Thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ

và các trường hợp cấp cứu cho những người liên quan

- Bảo dưỡng các thiết bị y tế thường xuyên tránh rò rỉ hoá chất cũng như chất phóng xạ ra ngoài

1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường

Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí Mặt khác, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên

Đối với môi trường đất

Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

Đối với môi trường không khí

Chất thải rắn y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, Trong khâu xử lý, CTYT có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như dioxin, furan,… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S,… từ bãi chôn lấp, như sau:

Trang 22

+ Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và các chất độc hại;

+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và SO;

+ Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc

Đối với môi trường nước:

Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải

sinh hoạt Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella,

Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại,

chất hữu cơ, kim loại nặng Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này

1.3 Quản lý chất thải rắn trong bệnh viện

1.3.1 Quy định về phân định, phân loại CTRYT

* Chất thải lây nhiễm (CTLN)

- Chất thải sắc nhọn bao gồm: các loại kim tiêm, kim luồn, kim bướm, kim chọc dò, kim châm cứu thải bỏ; ống pipet, ống mao dẫn, ống xét nghiệm thủy tinh

bị vỡ; lưỡi dao mổ, lưỡi dao cạo dùng cho người bệnh; những vật sắc nhọn khác có dính máu, dịch sinh học người bệnh;

- Chất thải rắn lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: các chất thải thấm máu, dịch

cơ thể; các chất thải phát sinh từ phòng bệnh cách ly; dây truyền dính máu, truyền plasma (bao gồm cả túi máu); găng tay y tế; catheter, kim luồn mạch máu không sắc nhọn; ống hút đờm, ống thông tiểu, ống thông dạ dày và các ống dẫn lưu khác; bột bó trong gẫy xương hở và tất cả vật liệu, vật dụng thải bỏ khác có dính máu;

Trang 23

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm;

- Chất thải giải phẫu bao gồm: các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người được thải ra sau phẫu thuật; nhau thai, thai nhi; xác động vật thí nghiệm.[9]

* Chất thải hóa học nguy hại

- Các loại thuốc kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, thuốc quá hạn

sử dụng;

- Các loại hóa chất, chất khử khuẩn thải chứa các thành phần hóa học nguy hại; chất hàn răng amalgan thải;

- Các thuốc gây độc tế bào thải bỏ;

- Vỏ chai, lọ đựng các loại: thuốc gây độc tế bào (cytotoxic và cytostatic); các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào; các loại thuốc kháng sinh; các loại hóa chất độc hại vượt ngưỡng quy định tại QCVN07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại;

- Nhiệt kế thủy ngân hỏng, huyết áp kế thủy ngân hỏng;

- Bóng đèn huỳnh quang hỏng; pin thải, ắc quy thải; vật dụng, thiết bị điện tử thải bỏ và các vật liệu có chì thải bỏ;

- Bùn thải từ quá trình xử lý nước thải có chứa các chất vượt ngưỡng quy định tại QCVN 50:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước;

- Tro thải từ quá trình xử lý chất thải rắn y tế có chứa các chất vượt ngưỡng quy định tại QCVN07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại

* Chất thải phóng xạ

- Các thuốc hoặc hóa chất có chất phóng xạ thải bỏ theo Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị tại Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế;

- Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chẩn đoán, điều trị có chất phóng xạ thải bỏ; Bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, quần áo, găng tay y tế nhiễm

xạ, giấy thấm, bông gạc, ống nghiệm, chai đựng thuốc có chất phóng xạ thải bỏ

Trang 24

* CTRYT thông thường

Chất thải rắn y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, bao gồm:

+ Chất thải không có khả năng tái chế

- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các khoa, phòng, các buồng bệnh không cách ly không có khả năng tái chế;

- Chất thải ngoại cảnh: rác thải từ khu vực ngoại cảnh;

- Bột bó trong gẫy xương kín không bị lây nhiễm, các mảnh kính vỡ, chai, lọ thủy tinh vỡ (loại chai lọ không dùng để chứa các hóa chất độc hại, thuốc có thành phần độc hại) không phát sinh từ các buồng bệnh cách ly hoặc các loại đinh và các vật sắc nhọn sử dụng trong xây dựng, sửa chữa của cơ sở y tế;

- Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải y tế có nồng độ các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng theo quy định của QCVN 50:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước; tro của lò đốt chất thải y tế có nồng độ các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng theo quy định của QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại

- Chất thải y tế lây nhiễm sau khi xử lý bằng công nghệ khử khuẩn an toàn không có khả năng tái chế

+ Chất thải có khả năng tái chế

- Từ hoạt động văn phòng, sinh hoạt trong cơ sở y tế: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đựng phim; Các chai, lọ, lon nước uống giải khát bằng nhựa hoặc kim loại; thức ăn thải từ căng tin, nhà ăn;

- Từ hoạt động chuyên môn y tế: Các dây dịch truyền không dính máu, dính dịch cơ thể người; chai nhựa, đồ nhựa, các túi nilon, giấy bóng, giấy bọc, can nhựa không chứa chất lây nhiễm, không có chất hóa học gây độc hoặc nhiễm chất phóng xạ; Chất thải lây nhiễm sau khi được xử lý bằng công nghệ khử khuẩn an toàn và có khả năng tái chế

1.3.2 Quy định mã màu sắc, tiêu chuẩn các dụng cụ, bao bì đựng và vận chuyển CTR trong BV

* Quy định mã màu sắc

+ Màu vàng hoặc tông màu vàng đựng chất thải lây nhiễm;

+ Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ;

Trang 25

+ Màu xanh hoặc tông màu xanh đựng chất thải thông thường;

+ Màu trắng hoặc tông màu trắng đựng chất thải có khả năng tái chế

Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn:

+ Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng, có khả năng chống thấm;

+ Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài

Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy hủy kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng, có thể dùng lại và phải là một bộ phận trong thiết kế của máy hủy, cắt bơm kim

Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái

sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng

cụ y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu.[9]

* Thùng đựng chất thải

+ Phải làm bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dầy và cứng hoặc làm bằng kim loại có nắp đậy mở bằng đạp chân Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lên cần có bánh xe đẩy;

+ Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng;

+ Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại;

+ Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh;

+ Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng;

Trang 26

+ Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh

* Biểu tượng chỉ loại chất thải

Mặt ngoài túi, thùng đựng một số loại CTNH và chất thải để tái chế phải có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp

+ Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học; + Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây

độc tế bào kèm dòng chữ “CHẤT GÂY ĐỘC TẾ BÀO”;

+ Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng phóng xạ và

Biểu tượng chất gây độc tế bào Biểu tượng chất thải có thể tái chế

Hình 1.1 Một số biểu tượng chỉ loại chất thải

* Xe vận chuyển chất thải

Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, nắp và đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

* Nơi đặt các túi và thùng đựng chất thải

+ Tại các khoa phòng: phải được trang bị đầy đủ dụng cụ thu gom chất thải

và để ở nơi thuận tiện nhất; các dụng cụ thu gom chất thải cần trang bị nhiều loại kích cỡ phù hợp với điều kiện thu gom của từng khoa/phòng;

+ Trên xe tiêm và xe làm thủ thuật phải được trang bị đầy đủ dụng cụ để thu gom, phân loại chất thải phát sinh;

+ Mỗi khoa phòng cần bố trí một nơi riêng để lưu giữ tập trung tạm thời các chất thải theo từng loại trước khi thu gom về khu lưu giữ chất thải của BV;

Trang 27

+ Các thùng thu gom chất thải ở khu vực buồng bệnh phải luôn khô ráo và được vệ sinh thường xuyên Bên trong mỗi thùng thu gom chất thải luôn được đặt túi nilon có màu sắc tương ứng với loại chất thải thu gom Không được bỏ trực tiếp

chất thải vào các thùng thu gom chất thải chưa được đặt túi nilon ở bên trong

1.3.3 Quy trình quản lý CTRYT

Bảng 1.2 Quy trình quản lý CTRYT

Chất thải lây nhiễm;

Chất thải hóa học nguy hại;

Chất thải phóng xạ;

Chất thải thông thường

+ Phân loại chất thải ngay sau khi phát sinh, thải bỏ và cô lập vào dụng cụ thu gom phù hợp với từng loại chất thải theo

121OC trong thời gian 20 phút hoặc ngâm chất thải trong dung dịch Cloramin B 1 - 2% hoặc Javen 1 - 2% trong thời gian tối thiểu 30 phút

+ NVYT

+ Công nhân VS

+ Phải mang đầy đủ phương tiện phòng

hộ cá nhân: găng tay, khẩu trang, tạp dề, ủng,… khi thu gom chất thải;

+ Chất thải được thu gom vào các thùng túi theo đúng quy cách, màu sắc quy định

Trang 28

+ Vận chuyển chất thải từ nơi phát sinh

đến nơi lưu giữ tập trung bằng xe

chuyên dụng đúng thời gian và lộ trình

quy định;

+ Phương tiện vận chuyển chất thải sau

mỗi lần sử dụng được làm vệ sinh khử

khuẩn tại nơi lưu giữ tập trung và lưu

giữ tại nơi quy định của đơn vị

NVYT, nhân viên

công ty VS, nhân viên

khu lưu giữ tập trung

+ NVYT /nhân viên công ty vệ sinh bàn giao chất thải cho nhân viên khu lưu giữ tập trung;

+ Số lượng từng loại chất thải được ghi vào sổ bàn giao có đầy đủ chữ ký người giao, người nhận theo mẫu quy định

+ Nhân viên phụ trách

khu vực lưu giữ CTYT

+ Chất thải được lưu giữ riêng và có nhãn ghi tên cho từng loại tại nơi lưu giữ tập trung;

+ Nơi lưu giữ tập trung phải luôn có đầy

đủ dụng cụ, phương tiện thu gom chất thải, vệ sinh tay, phương tiện bảo hộ và vệ

sinh cá nhân, hóa chất vệ sinh bề mặt,…

+ CT tái chế quản lý để bán cho các cơ

sở có chức năng tái chế theo quy định; + Khử khuẩn hộp kháng thủng, dụng cụ thu gom để tái sử dụng;

+ Chất thải phóng xạ sau khi chờ hết thời gian bán rã được xử lý như CT lây nhiễm; chất thải hóa chất độc hại;

+ CTYT được phân loại, xử lý tại chỗ hoặc bàn giao cho đơn vị có chức năng xử lý an toàn bằng các phương pháp phù hợp

Trang 29

1.3.4 Xử lý CTRYT

* Mô hình xử lý CTRYT

Mô hình 1: Trung tâm xử lý và tiêu hủy CTYT nguy hại tập trung

Mô hình 2: Cơ sở xử lý và tiêu hủy CTYT nguy hại cho cụm cơ sở y tế

Mô hình 3: Xử lý và tiêu hủy CTR y tế nguy hại tại chỗ

Nhược điểm: công nghệ không đốt không làm giảm được khối lượng của các chất thải sau khi xử lý - chất thải y tế lây nhiễm sau khi xử lý bằng loại công nghệ này vẫn phải xử lý tiếp tục như đối với các chất thải rắn thông thường khác; Công nghệ không đốt không xử lý được chất thải hóa học, chất thải phóng xạ

- Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm (Autolave)

Bản chất của công nghệ là tạo ra môi trường hơi nước nóng với áp suất cao

để khử tiệt khuẩn chất thải y tế Áp suất của hơi bão hoà thông thường từ 2 đến 3 bar và nhiệt độ tương ứng 121 và 1340C trong khoang khử khuẩn Chất thải y tế, gồm nhiều loại vật liệu có hình dạng và kích thước khác nhau, được đưa vào trong khoang khử khuẩn (thường có dung tích lớn) Chính vì vậy, nhiều bằng chứng khoa học đã cho thấy, công nghệ hấp ướt để đảm bảo hiệu suất tiêu diệt vi sinh vật đạt yêu cầu (>99,999%) cần thời gian khá lâu 2-4 h Đồng thời, công nghệ này đòi hỏi

sử dụng nhiều năng lượng (đôi khi cần dùng riêng hệ thống cấp hơi riêng biệt) và khá cồng kềnh

Trang 30

Ưu điểm: Khử trựng bằng lò hấp ướt là công nghệ thân thiện với môi trường

do không sử dụng hóa chất và không gây ô nhiễm thứ cấp Mặt khác công nghệ này quen thuộc với các bệnh viện và các nhân viên y tế thường dùng phương pháp hấp ướt để khử trùng cho các dụng cụ y tế; Giá thành đầu tư thiết bị và chi phí vận hành không cao; Công suất thiết bị càng lớn thì chi phí đầu tư/kg chất thải càng giảm; Các chất thải y tế làm từ nhựa sau khử trùng có thể dễ dàng tái chế

Nhược điểm: Công nghệ nhiệt ướt không xử lý được các chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, bình khí có asp suất; Công nhân vận hành cần được đào tạo; Chất thải sau khử khuẩn vẫn phải xử lý tiếp như nghiền và chôn lấp cùng chất thải thông thường; Công nghệ này thường phải sử dụng thêm hóa chất để đảm bảo hiệu quả khử tiệt khuẩn được ổn định, và do đó làm tăng hơn chi phí vận hành của hệ thống

Ứng dụng: Tại Việt Nam công nghệ hấp ướt đang được các công ty URENCO nghiên cứu để xử lý các CTRYT lay nhiễm có khả năng tái chế như bơm kim tiêm, dây chuyền dịch,…

- Công nghệ sử dụng vi sóng

Bản chất của vi sóng ( microwave) là làm cho các ion (+) và ion (-) có trong nước (kể cả tổ chức hữu cơ bất kỳ) dao động nhanh, va đập mạnh vào nhau sinh ra nhiệt để tiêu diệt các vi khuẩn kể cả nha bào Vì vậy, vi sóng sẽ giúp cho quá trình khử khuẩn đạt hiệu suất hơn, ngay cả những chất thải ở sâu trong ống

Có hai nhánh công nghệ dùng vi sóng đó là sử dụng vi sóng thuần tuý trong điều kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà trong điều kiện nhiệt độ cao Sau khi xử lý khử khuẩn, máy nghiền cắt đều được khuyến khích sử dụng như thiết bị chọn lựa trong hệ thống

+ Vi sóng ở điều kiện áp suất thường

Tạo ra điều kiện khử khuẩn ở nhiệt độ khoảng 1000C với áp suất không khí thông thường Do vậy, hệ vận hành đơn giản hơn nhưng sẽ tốn nhiều thời gian xử lý cho mỗi mẻ, đồng thời hiệu quả khử tiệt khuẩn đạt mức 99,9% Công nghệ này cũng được áp dụng ở các nước đang phát triển và chia làm 2 loại: Thiết bị khử khuẩn ở áp suất thuờng có bổ sung nuớc/hơi nuớc và Thiết bị khử khuẩn ở áp suất thuờng không bổ sung hơi nuớc/nuớc

Trang 31

+ Vi sóng ở điều kiện áp suất cao (vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà)

Đây là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi hiệu quả khử tiệt khuẩn cao

và thời gian xử lý nhanh, được áp dụng tại các nước công nghiệp phát triển và một

số nước đang phát triển từ khoảng 10 năm trở lại đây

Loại này kết hợp giữa vi sóng và hấp ướt Khi có áp suất và nhiệt độ tăng dần cao lên ( 1 bar, 2 bar, 3 bar tương ứng nhiệt độ trên 100, 121, và 1340C ), nhiệt

từ bên ngoài bề mặt chất thải và nhiệt độ vi sóng làm nóng từ bên trong chất thải sẽ phá vỡ cấu trúc và tiêu diệt hoàn toàn mọi vi khuẩn, đạt tỷ lệ 99,9999% và cao hơn, trong khoảng thời gian ngắn ( từ 10 - 20- 30 phút) Thông thường chu kỳ xử lý sẽ kéo dài khoảng 30 phút Trong quá trình xử lý có gián đoạn hút chân không để hút hết không khí từ chất thải trong khoang xử lý tạo điều kiện cho giai đoạn sau khi cấp hơi nước bão hoà, hơi bão hoà sẽ đi vào tất cả những chỗ rỗng của chất thải và làm ướt mọi bề mặt chất thải, trong lòng khối chất thải, kể cả các vật thể có cấu trúc

“phức tạp” - nhỏ dài và hẹp như kim tiêm Việc làm ẩm bề mặt này lại có tác dụng giúp năng lượng nhiệt do vi sóng tạo ra làm nóng chất thải từ bên trong ra, kết hợp với nhiệt độ và áp suất cao sẽ cá tác dụng phá huỷ cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh (vi khuẩn, virus, nha bào, ký sinh trùng…) có trong chất thải Nhờ đó sau khi được xử lý, chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không bị phá huỷ, rất thích hợp cho việc tận dụng để tái chế

Toàn bộ quy trình hoạt động của công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà đều không tạo ra khói bụi, không xả ra nước thải, cũng không sử dụng hóa chất khử tiệt trùng nên hoàn toàn thân thiện với môi trường

Ở Việt Nam, hiện công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hoà SINTION 1.1

đã được Trung tâm y tế Vietsovpetro Vũng Tàu nhập về từ năm 2003, đến nay làm việc vẫn tốt Thiết bị có 10 chương trình vận hành tự động Kết quả khử trùng được thông báo rõ ràng bằng máy đo ghi Bộ y tế mới đầu tư cho một số cơ sở y tế như: Bệnh viện Phong- Da liễu TW Quy Hoà, Bệnh viện Phong- Da liễu TW Quỳnh Lập, Bệnh viện nhiệt đới TW, Bệnh viện Việt Nam- Thuỵ Điển Uông Bí

Trang 32

- Khử khuẩn bằng dung dịch điện giải

Dung dịch điện giải được điều chế từ quá trình điện phân dung dịch NaCl 0,5- 1% Trong quá trình điện phân sẽ tạo ra các chất có khả năng diệt khuẩn như

H2O2, O3, HClO trong dung dịch điện giải

Ưu điểm: khả năng diệt khuẩn và oxy hóa các hợp chất hữu cơ rất cao; Có khả năng tự phân huỷ hoàn toàn sau 3-5 ngày khi thải ra môi trường nên ít gây tác động tới môi trường; Chi phí không cao Các chất thải có khả năng tái chế sau khử khuẩn có thể đưa đi tái chế

Nhược điểm: chỉ áp dụng được với nhóm chất thải lây nhiễm

- Khử khuẩn bằng các dung dịch Javen, cloramin B 1-2%

Phương pháp này được dùng phổ biến ở các cơ sở y tế để tiệt trùng cho các dụng cụ y tế, xử lý ban đầu các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao được ngâm trong dung dịch Javen hoặc Cloramin B trong thời gian khoảng 30 phút, các vi khuẩn gây bệnh sẽ bị tiêu diệt Sau đó chất thải sẽ được xử lý tiếp bằng các phương pháp đốt, vi sóng hoặc chôn lấp hợp vệ sinh

Ưu điểm: đã quen dựng với nhân viên y tế

Nhược điểm: hóa chất gây mùi, độc

- Phương pháp tro hoá (cố định và đông rắn)

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rói để xử lý chất thải nguy hại trong

Theo quy chế quản lý chất thải y tế kèm theo Quyết định số 43/2007/ QĐ- BYT ngày 30/ 11/ 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, việc cô lập các nhóm chất thải này có thể được dựa trên tính nguy hại của chất thải, đặc biệt với nhóm chất thải lây nhiễm, bao gồm cả chất thải loại A, B, C, D: vật sắc nhọn (nhóm B) Theo quy chế, tỷ lệ các chất pha trộn như sau: 65% chất thải dược phẩm, hóa học, 15% vôi, 15% xi măng, 5% nước Sau khi tạo thành một khối đồng nhất dưới dạng cục thì đem đi chôn

Trang 33

Ưu điểm: Dễ thực hiện, chi phí thấp

Nhược điểm: Không thể áp dụng cho nhiều loại chất thải rắn y tế

- Công nghệ đốt

Phương pháp đốt là phương pháp oxy hoá chất thải rắn ở nhiệt độ cao với sự

có mặt của oxy trong không khí

Các chất thải trong quá trình đốt sẽ được chuyển hóa thành các chất khí và phần còn lại là các chất trơ không cháy

Chất thải y tế + O2

Lò đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được vận hành ở trong khoảng nhiệt độ từ 8000C đến 12000C hoặc lớn hơn

Ưu điểm:

- Làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý của chất thải dẫn tới xử lý triệt để;

- Có thể giảm được tới 99% thể tích và khối lượng của chất thải;

- Tiêu diệt vi sinh vật gay bệnh và các chất ô nhiễm khác;

- Có thể xử lý chất thải có chu kỳ phân huỷ dài;

- Diện tích xõy dựng nhỏ, vận hành đơn giản

Nhược điểm:

- Phát sinh bụi và khí thải

- Chi phí đầu tư vận hành cao

- Khi thiêu đốt chất thải chứa clo hay kim loại nặng, phát sinh chất ô nhiễm độc hại như đioxin hay kim loại nặng trong khói lò

Ứng dụng:

Phương pháp đốt áp dụng chủ yếu cho chất thải lây nhiễm, chất thải gây độc

tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có chứa halogen như PVC vì phát thải dioxin

cấp dư

dioxin, furan, kim loại và oxit kim loại thăng hoa…

Tro, xỉ

t o

Trang 34

- Phương pháp chôn lấp an toàn

Phương pháp này được sử dụng để chôn lấp các chất thải rắn y tế sau khi đó qua khử trùng bằng hấp nhiệt, vi sóng…hoặc chôn lấp tro của lò đốt chất thải rắn y

tế nguy hại sau khi đó đóng rắn Bãi chôn lấp chất thải nguy hại được thiết kế theo tiêu chuẩn TCXDVN 320: 2004

Chất thải y tế nguy hại chỉ được phép chôn lấp tại các khu vực đã được quy định và bãi chôn lấp chất thải y tế nguy hại phải đáp ứng các chỉ tiêu môi trường và các yêu cầu kỹ thuật do cơ quan quản lý mụi trường đối với chất thải nguy hại Chôn lấp các chất thải có tính độc; các chất thải có tính ăn mòn phải sử dụng hệ thống lớp lót đáy và thành kép Cấu tạo hệ thống lớp lót đáy và thành kép gồm:

- Đất sét: Lớp đất sét có đặc tính hệ số thấm K< = 10-7 cm/s, được đầm nén chặt, bề dày > = 60cm

- Màng HDPE (High Density Polyethylen) chiều dày >=2mm

- Nhựa tổng hợp PVC chiều dày >=2mm

- Cao su Butila chiều dày >=2mm

Trang 35

1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải y tế

a Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế

Trong quản lý CTYT, yếu tố con người rất quan trọng Cho dù có hệ thống

xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thức rõ tác hại

và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe thì hệ thống đó hoạt động cũng không hiệu quả

Qua nghiên cứu thực tế, nhân viên bệnh viện, nhân viên thu gom rác chưa được tập huấn những kiến thức cơ bản về phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy

cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe, chưa có kỹ năng nghiệp cụ cần thiết Phần lớn những người được phỏng vấn biết được sự nguy hại của chất thải lâm sàng, còn những chất thải khác số người biết chỉ < 50%, đặc biệt còn tới 8,8-8,9% không biết loại chất thải nguy hại Có tới 79,8% - 92,1% cho rằng đối tượng dễ bị ảnh hưởng của CTYT là nhân viên y tế, còn bệnh nhân là đối tượng rất cần quan tâm để tránh các nguy cơ của chất thải thì chỉ có 26,6%; có từ 43,5% - 55,8% số cán bộ, nhân viên y tế trả lời không đúng hoặc không biết về quy định mã màu sắc của dụng cụ đựng CTYT Phần lớn cán bộ, nhân viên y tế đều biết được những tác hại của CTYT, được biết đến nhiều nhất là khả năng lan truyền bệnh (96,8%), đối tượng bị ảnh hưởng bởi CTYT được biết đến nhiều nhất là bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý

b Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải

Về nhân lực:

Tại các bệnh viện quy mô lớn, Bệnh viện tuyến trung ương như Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đều có khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy về quản lý chất thải Còn hầu hết các bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến huyện việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải đều chưa đầy đủ và không thường xuyên Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2012: chỉ có 3/6 bệnh viện có khoa chống nhiễm khuẩn, phân loại chất thải rắn chủ yếu do điều dưỡng, hộ lý thực hiện, chưa có văn bản quy định rõ ràng về trách nhiệm của mỗi thành viên trong công tác quản lý chất thải Hoạt động giám sát nhà nước vể công tác quản lý CTYT còn chưa đầy đủ, năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh tra còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe

Trang 36

Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải:

Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sở y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý chất thải chưa được kết cấu vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải

Việc khoán chi ở bệnh viện đã làm cho các bệnh viện phần lớn chỉ quan tâm đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản

lý, xử lý chất thải Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và bất cập Theo tính toán, bình quân chi phí cho việc xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng cho một giường bệnh dao động từ 5.000-8.000đ/GB/ngày Nếu bệnh viện thuê trung tâm đốt CTYT sẽ mất vào 9.000đ/kg/ngày

Dự trù kinh phí quản lý CTYT đầy đủ và chính xác là chìa khóa thành công của công tác quản lý CTYT bền vững Kinh phí quản lý gồm hai phần: kinh phí đầu

tư và kinh phí chi thường xuyên để vận hành hệ thống Kinh phí nên được tính toán

dự trù trước cho từng năm, cách tính này sẽ giúp lãnh đạo có thể so sánh và đánh giá được hiệu quả của hệ thống quản lý của đơn vị

Các khoản kinh phí dự trù

Kinh phí quản lý CTYT của các BV có thể bao gồm các khoản sau đây:

- Kinh phí đầu tư:

+ Các thiết bị XLCT chính: lò đốt, lò hấp, ;

+ Các thiết bị, vật tư hỗ trợ: thiết bị định lượng, xử lý chất thải thứ cấp, + Cơ sở vật chất: khu vực lưu giữ, nhà xưởng xử lý, tủ đựng hóa chất, bàn ghế, ;

- Kinh phí thường xuyên

+ Vật tư phục vụ công tác quản lý CTYT: túi nhựa, túi - hộp kháng thủng, nhiên liệu cho lò đốt rác, ;

+ Thiết bị phân loại, vận chuyển, lưu giữ: thùng, xe, ;

+ Chi phí xử lý CTYT nguy hại, CTYT thông thường, ;

+ Chi phí nhân công lao động;

+ Chi phí trang thiết bị bảo hộ lao động cho các nhân viên làm công tác môi trường, chi phí PCCC và ứng phó sự cố;

Trang 37

+ Chi phí vận hành hệ thống, thiết bị XLCT (vật tư, hóa chất, điện, ), bảo trì, bảo dưỡng, thay thế vật tư, phụ tùng cho hệ thống xử lý CTYT;

+ Chi phí đào tạo, tập huấn, thực hành cho nhân viên QLCT;

+ Chi phí làm các thủ tục môi trường và phí xả nước thải;

+ Chi phí cho giám sát định kỳ và kiểm toán môi trường

Nguồn cung cấp kinh phí phục vụ công tác quản lý CTYT của BV bao gồm: + Ngân sách nhà nước: Ngân sách sự nghiệp y tế và ngân sách sự nghiệp BVMT; + Nguồn thu từ viện phí của BV;

+ Nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, các Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ; + Các nguồn vốn hợp pháp khác: các khoản vay, xã hội hóa,…;

1.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế

1.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt

ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

a Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh

và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng

Trang 38

Bảng 1.3 Lượng chất thải thay đổi theo từng nước

Chất thải bệnh viện nói chung (kg/giường bệnh/ngày)

Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)

Nước thu nhập

(Nguồn: Đại học Y Thái Nguyên, 2007)

Bảng 1.4 Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện

Nguồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện

(kg/giường bệnh/ngày)

(Nguồn: Đại học Y Thái Nguyên, 2007)

Bảng 1.5 Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau

trong cùng bệnh viện

Các bộ phận khác trong bệnh viện Lượng chất thải (kg/giường bệnh/ngày)

(Nguồn: Đại học Y Thái Nguyên, 2007)

Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại

Trang 39

Bảng 1.6 Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế

b Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại một số nước

* Quản lý chất thải y tế tại Vương quốc Anh

Phân loại chất thải y tế

Định nghĩa chất thải y tế ở nước Anh dựa trên các quy định về rác thải có kiểm soát năm 1992 như sau:

Bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ hoặc một phần cơ thể người, mô động vật, máu hoặc các dịch cơ thể, chất bài tiết, biệt dược mà không an toàn có thể gây độc hại cho người khi tiếp xúc với nó

Các rác thải khác bắt nguồn từ y tế, chất thải mà gây ra truyền nhiễm cho người khi tiếp xúc với nó

Chất thải y tế nằm trong phạm vi định nghĩa này được chia thành 8 loại nhóm bao gồm: Mô người và chất truyền nhiễm; Các vật sắc nhọn; Mầm bệnh và các chất thải phòng thí nghiệm; Các chất thải biệt dược; Nước tiểu, phân và các sản phẩm vệ sinh; Các chất thải Cytotoxic; Các chất thải phóng xạ; Các biệt dược bị kiểm soát

Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Tại Anh, các phân tách chất thải rắn y tế được thiết lập một cách hợp lý, điển hình trong các bệnh viện, phòng khám và các cơ sở y tế khác, các tổ chức y tế có quy định bắt buộc về pháp lý để quản lý chất thải Thiêu hủy tất cả chất thải y tế là hệ thống tiêu hủy phổ biến nhất, đôi khi kèm theo cả xử lý sơ bộ ban đầu cho các thành phành độc hại đặc biệt nhờ khử trùng tại bệnh viện Điển hình ở nước Anh các phương tiện thiêu hủy là Sector riêng và để đạt được tiết kiệm các hệ thống, được cấp cho từng khu vực Tuy nhiên, một số bệnh viện hiện đang hoạt động nhờ “Hospital trusts” cũng tiêu hủy chất thải rắn y tế bằng cách tự thiêu hủy hoặc họ kí hợp đồng với bên thứ 3 để thiêu hủy Trong thực tế, không phải tất cả rác thải được thiêu hủy

Trang 40

Chôn lấp được sử dụng cho loại chất thải rắn y tế ít độc hại hơn (rác thải không gây bệnh truyền nhiễm) Lựa chọn phương pháp tiêu hủy cục bộ phải dựa trên điều kiện thực tế và khả năng tiêu hủy có sẵn Tuy vậy, cách thức tiêu hủy cục bộ hiện nay cũng ít được áp dụng Theo truyền thống, các lò đốt quy mô nhỏ được phép thực hiện các tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, làm chúng có tính hiệu quả theo chi phí (vì chi phí làm sạch khí là 50-60%) Tuy nhiên, phương pháp này có vấn đề khi lượng khí thải nhỏ hơn, nhưng nồng độ cực đại tại mặt đất có thể cao hơn so với các lò đốt quy

mô lớn, vì vậy mức độ rủi ro cho sức khỏe sinh ra từ lò đốt quy mô nhỏ và lò đốt quy

mô lớn là như nhau Khi tiêu chuẩn giới hạn phát thải đối với các lò đốt quy mô nhỏ được thắt chặt hơn, thì nhiều lò đốt nhỏ tại các bệnh viện sẽ bị đóng cửa Khi đó bệnh viện phải ký hợp đồng thu gom và thiêu hủy với công ty dịch vụ

Chiến lược tiêu hủy chất thải

Tại Anh, chiến lược tối ưu cho tiêu hủy chất thải y tế là thiêu hủy ở nhiệt độ cao với thiết bị làm sạch khí thải hợp lý để thỏa mãn các tiêu chuẩn Châu Âu về kiểm soát chất phát thải Chiến lược này đã được áp dụng trong quá khứ và sẽ tiếp tục được áp dụng trong tương lai Khối lượng chất thải rắn y tế được chôn lấp sẽ giảm Trong khi

đó các biện pháp tiêu hủy thích hợp khác luôn luôn sẵn sàng đáp ứng đủ công suất theo yêu cầu Một phương pháp xử lý rác thải y tế là khử trùng bằng nhiệt đã được đề xuất tại Anh và đã được cơ quan môi trường chấp thuận như là một giải pháp để giải quyết vấn đề này Bên cạnh đó biện pháp tiêu hủy “đồ sắc nhọn” tại nguồn (là tại các bệnh

viện và phòng khám tư) với chi phí thấp cũng được phát triển ở nước Anh

* Quản lý chất thải y tế tại Hồng Kông

Phân loại chất thải y tế

Tại Hồng Kông phân loại chất thải y tế chia thành 7 nhóm bao gồm:

Ngày đăng: 18/03/2020, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w