1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

10 nguyen xuan dat bach cau ai toan trong hen

29 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẠCH CẦU ÁI TOAN ĐÀM VỚI MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT HEN PHẾ QUẢN VÀ MỨC ĐỘ NGUY CƠ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH THS.. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã ch

Trang 1

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẠCH CẦU ÁI TOAN ĐÀM VỚI MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT HEN PHẾ QUẢN VÀ MỨC ĐỘ NGUY CƠ BỆNH PHỔI TẮC

NGHẼN MẠN TÍNH

THS BS Nguyễn Thị Ý Nhi Nguyễn Xuân Đạt

Trang 2

NỘI DUNG BÁO CÁO

Trang 3

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 4

Một số nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã cho thấy

ở bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn cấp có sự liên

quan chặt chẽ đến bạch cầu ái toan và hiệu quả của ICS

trong đợt cấp chủ yếu liên quan đến loại tế bào này, trong giai đoạn ổn định thì số lượng tế bào bạch cầu ái toan có

liên quan đến đáp ứng với cả corticoid đường toàn thân và đường hít (ICS) [4][8]

Trang 5

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhận thấy mối liên quan của bạch cầu ái toan đàm trong cơ chế bệnh sinh của cả hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng như tầm quan trọng trong chiến lược điều trị và dự phòng

nên chúng tôi thực hiện đề tài:”Nghiên cứu mối liên quan giữa

bạch cầu ái toan đàm với mức độ kiểm soát hen phế quản và mức

độ nguy cơ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” với mục tiêu:

1 Khảo sát sự biến đổi số lượng bạch cầu ái toan đàm ở bệnh

nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

2 Tìm hiểu mối liên quan giữ số lượng bạch cầu ái toan đàm

với mức độ kiểm soát hen phế quản và mức độ nguy cơ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Trang 6

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 7

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Chọn 50 bệnh nhân tham dự sinh hoạt Câu lạc

bộ bệnh nhân HEN – BỆNH PHỔI TẮC

NGHẼN MẠN TÍNH tại Bệnh viện Đại học Y

Dược Huế ngày 17/8/2019, bệnh nhân được thăm khám lâm sang, đo hô hấp ký và làm trắc

nghiệm phục hồi phế quản, xác định được có 42 bệnh nhân hen phế quản được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của GINA và 8 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được chẩn đoán theo tiêu

chuẩn của GOLD

Trang 8

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu ngang

Trang 9

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu:

- Đánh giá thang điểm mMRC và

C, phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân COPD

- Lấy mẫu đàm

- Đếm BCAT bằng giemsa 1/10

- Phân bệnh nhân thành 2 nhóm có

và không tăng BCAT

Trang 10

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Trang 11

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Bảng 3.1: Đặc điểm của nhóm nghiên cứu hen phế quản

3.1 Đặc điểm về tuổi, giới nhóm nghiên cứu:

Nhận xét: - Số bệnh nhân nam nghiên cứu gấp 2 lần số bệnh

nhân nữ nghiên cứu

- Trong đó độ tuổi trung bình của nam là 62,18 cao hơn độ tuổi trung bình của nữ là 57,14

Trang 12

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Bảng 3.2: Đặc điểm của nhóm nghiên cứu bệnh phổi

Nhận xét: - Số bệnh nhân nam nghiên cứu gấp 3 lần số

bệnh nhân nữ nghiên cứu

- Trong đó độ tuổi trung bình của nam (67,67) thấp hơn nữ (77,5)

Trang 13

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

3.2 Đặc điểm bạch cầu ái toan đàm ở bệnh nhân hen phế quản:

Bảng 3.3: Đặc điểm bạch cầu ái toan trong đàm

Thành phần tế bào Số lượng trung

bình (n/200 tế

bào)

Tỷ lệ trung bình

(%) Bạch cầu ái toan 4.48 2.24

Nhận xét: Số lượng bạch cầu ái toan trong

đàm trung bình trên 200 tế bào ở bệnh nhân

hen phế quản là 4,48 tương ứng 2,24%

Trang 14

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Tỉ lệ bạch cầu ái toan ở bệnh nhân hen phế quản trong nghiên cứu của chúng tôi là 2.24%, có sự khác biệt so với 3.93% ở bệnh nhân hen phế quản ở Trung Quốc năm 2017 [5] Điều này có thể giải thích là do tiêu chuẩn chọn bệnh trong nghiên cứu của Jie Gao và cộng sự chỉ là các bệnh nhân đã được chẩn đoán Hen hoăc BPTNMT , trong khi nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên các bệnh nhân trong CLB bệnh nhân hen và BPTNMT ,

đã được điều trị ICS và theo dõi định kỳ nên góp phần làm giảm

tỉ lệ BCAT ở trong nghiên cứu chúng tôi Ngoài ra, do thói quen

sử dụng các thuốc có nguồn gốc không rõ loại ở người dân Việt Nam nguy cơ có pha trộn corticoid góp phần vào sự khác biệt

kể trên

Trang 15

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Bảng 3.4: Biến đổi số lượng bạch cầu ái toan trong đàm:

Bạch cầu ái toan Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Không tăng 16 38,1%

Nhận xét: Có 26 bệnh nhân hen phế quản có bạch cầu

ái toan tăng ≥ 2% chiếm 61,9% và có 14 bệnh nhân hen phế quản có bạch cầu ái toan ≤ 2% chiếm 38,1%

Trang 16

3 BÀN LUẬN

Tỉ lệ này có cao hơn so với nghiên cứu của Wenzel và cộng sự năm 2012 là hơn 50%.[6] Theo GINA 2019, hen

dị ứng là kiểu hình hen thường gặp nhất đặc trung bởi

sự tăng BCAT trong đàm, điều này là phù hợp với tỉ lệ hen tăng BCAT trong nghiên cứu của chúng tôi

Trang 17

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Bảng 3.5: Tỷ lệ bạch cầu ái toan đàm ở hen phế quản

tăng và không tăng bạch cầu ái toan

Nhận xét: Tỷ lệ bạch cầu ái toan đàm trung bình ở

bệnh nhân hen tăng bạch cầu ái toan là 3,15%, trong khi đó tỷ lệ bạch cầu ái toan ở bệnh nhân hen phế quản không tăng bạch cầu ái toan là 0,75%

Trang 18

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Trung bình, tỉ lệ BCAT trong đàm ở nhóm bệnh nhân hen tăng BCAT là 3.15%, điều này tương tự với nghiên cứu của Ankan Bandyopadhyay và cộng sự năm 2013 tại Ấn độ khi BCAT ở nhóm này dao động quanh mức 3% Tuy nhiên ở nhóm hen không tăng BCAT chiếm tỉ

lệ 0,75%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu ở Ấn Độ

2013 là 2% Điều này 1 phần là do ngưỡng cắt để chẩn đoán hen tăng BCAT trong nghiên cứu của Ankan là 3%, cao hơn so với chúng tôi là 2%.[7]

Trang 19

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.6: Liên quan giữa sự biến đổi bạch cầu ái toan đàm

và mức độ kiểm soát hen

Nhận xét: Trong số 26 bệnh nhân có tăng bạch cầu ái toan có

9 bệnh nhân có mức độ kiểm soát hen hoàn toàn, 14 bệnh nhân kiểm soát một phần, trong khi đó ở 16 bệnh nhân không tăng bạch cầu ái toan thì có đến 14 bệnh nhân không

kiểm soát hen Có sự liên quan giữa Bạch cầu ái toan đàm và

mức độ kiểm soát hen (Fisher-exact test, p<0,05)

Trang 20

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự liên quan giữa sự biến đổi BCAT trong đàm với mức độ kiểm soát hen Điều này ủng hộ việc điều trị ICS ở bệnh nhân hen tăng BCAT, vì phần lớn bệnh nhân hen tăng BCAT đạt được mức độ kiểm soát hen cao hơn so với hen không tăng BCAT, với điều kiện tất cả các bệnh nhân của chúng tôi đang được điều trị ICS Điều này là phù hợp với khuyến cáo của GINA 2019 [3]

Trang 21

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

3.3 Đặc điểm bạch cầu ái toan ở bệnh nhân

bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính:

Bảng 3.7: Đặc điểm bạch cầu ái toan trong đàm:

Thành phần tế bào Số lượng trung bình

(n/200 tế bào)

Tỷ lệ trung bình

(%) Bạch cầu ái toan 3.26 1.63

Nhận xét: Số lượng bạch cầu ái toan trên 200 tế bào

trong đàm trung bình ở bệnh nhân bệnh phổi tắc

nghẽn mãn tính là 3.16 tương ứng 1.63%

Trang 22

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Bảng 3.8: Biến đổi số lượng bạch cầu ái toan trong đàm:

Nhận xét: Số lượng bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn

mãn tính có tăng bạch cầu ái toan trong đàm ≥ 2% là 4 chiếm 50 % và số lượng bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính không tăng bạch cầu ái toan là 4 chiếm 50%

Bạch cầu ái toan Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Trang 23

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.9: Liên quan giữa bạch cầu ái toan với phân

Nhận xét: Trong số 8 bệnh nhân tham gia nghiên cứu thì có đến 4

trường hợp nguy cơ bậc A, 2 trường hợp nguy cơ bậc B và chỉ có 1 trường hợp ở mỗi bậc C và D, tuy nhiên so sánh về sự biến đổi bạch cầu ái toan đàm thì số lượng bạch cầu ái toan đàm ở các nhóm nguy cơ là tương tự nhau

Trang 24

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Số lượng bạch cầu ái toan đàm trung bình ở 8 bệnh nhân BPTNMT là 1.63%, tương tự với nghiên cứu của Jie Gao

và cộng sự là 1.5%, điều này là phù hợp vì tình trạng gia tăng bạch cầu ái toan ở bệnh nhân BPTNMT là không nổi trội hơn so với bệnh nhân hen

Trang 25

3 KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Có 6 bệnh nhân nằm trong các nhóm nguy cơ A, B và chỉ có 2 bệnh nhân nằm ở nhóm nguy cơ C, D tuy nhiên số lượng bạch cầu ái toan đàm ở các nhóm nguy cơ này lại tương tự nhau Lý giải cho việc này chính là do nghiên cứu của chúng tôi chỉ mới có thể khảo sát trên 8 bệnh nhân, cỡ mẫu quá bé để có thể làm các test thống kê nên chưa thể xác định được có mối liên quan giữa bạch cầu ái toan đàm với phân tầng nguy cơ BPTNMT

Trang 26

4 KẾT LUẬN

Trang 27

4 KẾT LUẬN

1 Số lượng bạch cầu ái toan trong đàm ở bệnh nhân

hen phế quản 2.24%, trong đó xác định 26 trường hợp có tăng bạch cầu ái toan (≥ 2%) chiếm 61.9%

Tỷ lệ bạch cầu ái toan trong đàm trung bình ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là 1.63% trong đó 1 nửa trường hợp có tăng bạch cầu ái toan

2 Có sự liên quan giữa có bạch cầu ái toan đàm và

mức độ kiểm soát hen bằng ICS (p<0,05) Chưa thể xác định mối liên quan giữa bạch cầu ái toan đàm với phân tầng nguy cơ BPTNMT

Trang 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A Guide for Health Care Professionals.”

Management and Prevention ( 2016 update ),” 2016

Prevention,” 2019

Inflammation in the Airway Is Related to Glucocorticoid Reversibility in Patients

With Pulmonary Emphysema *,” Chest, vol 115, no 3, pp 697–702, 1999

COPD and asthma – COPD overlap,” pp 2703–2710, 2017

approaches,” Nat Med., vol 18, no 5, pp 716–725, 2012

“Usefulness of induced sputum eosinophil count to assess severity and treatment outcome in asthma patients,” vol 30, no 2, pp 117–124, 2013

[8] Nguyễn Như Vinh, 2017, "Viêm trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính", Tạp chí Y Học 10/2017, tr 35-40

Ngày đăng: 17/03/2020, 22:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w