1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

251 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 17,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do lựa chọn đề tài Nghệ thuật trang trí đình làng là một trong những thành tố quan trọng trong kho tàng mỹ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu đi trước, đình manh nha xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV, phát triển rực rỡ vào cuối TK XVII đầu TK XVIII và thoái trào vào TK XIX. Trong diễn trình lịch sử mỹ thuật truyền thống của nước nhà, hệ thống đình làng Việt đã tích hợp được nhiều di sản văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật và được phổ biến sâu đậm trong dân gian. Ở Phú Thọ có khoảng hơn 200 ngôi đình lớn nhỏ có niên đại khác nhau được phân bố rộng rãi trong toàn tỉnh. Trong số đó, đình làng Lâu Thượng (ĐLLT) và đình làng Hùng Lô (ĐLHL) là hai ngôi đình lớn nhất của tỉnh Phú Thọ, được nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vừa mang phong cách trang trí của thời Lê (gắn với sự ra đời của đình) vừa mang phong cách Nguyễn (gắn với quá trình tu bổ lớn) nhưng lại sở hữu hai phong cách trang trí có nhiều nét khác biệt (nhất là trong nghệ thuật chạm khắc). Rõ ràng, hai ngôi đình với vị trí địa lý khá gần nhau nhưng phong cách trang trí có nhiều sự khác biệt sẽ là vấn đề đáng để người nghiên cứu quan tâm và suy ngẫm. ĐLLT và ĐLHL đã được một số các nhà nghiên cứu đi trước quan tâm, tìm hiểu nhưng những nghiên cứu này chủ yếu đều nhìn từ góc độ lịch sử, văn hóa, còn những nghiên cứu nhìn từ góc độ nghệ thuật học dường như không có nhiều. Tư liệu nghiên cứu về hai ngôi đình chỉ dừng ở hồ sơ di tích và được lưu rất hạn chế tại địa phương; một số bài viết điền dã chỉ ở dạng tư liệu nội bộ, một số đài báo có quay video, làm tư liệu phóng sự nhưng thời lượng còn hạn chế nên chưa cung cấp được nhiều thông tin… Nhận thấy ĐLLT và ĐLHL là hai trong số hàng trăm ngôi đình ở đất Phú Thọ có rất nhiều giá trị nghệ thuật được nhiều tác giả trong nước đánh giá cao, với quy mô bề thế khang trang cùng nhiều hiện vật quý có nhiều lớp niên đại khác nhau nhưng về cơ bản lại chưa được khai thác và nghiên cứu một cách chuyên biệt. Rõ ràng, đây là khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu. Dựa vào tình hình nghiên cứu về đình làng có thể nhận thấy đình làng là một vấn đề đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu chủ yếu khai thác trên các lĩnh vực như: khảo cổ, kiến trúc, mỹ thuật, văn hóa… nhưng những nghiên cứu về nghệ thuật trang trí đình làng nói chung thì hầu như chưa có công trình nào đề cập tới (nhất là nghệ thuật trang trí đình làng ở một đối tượng cụ thể thì hầu như chưa có). Xuất phát từ tình hình thực tế này, luận án bước đầu nhận định hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về nghệ thuật trang trí đình làng mang tính trường hợp như ĐLLT và ĐLHL. Nên, NCS lựa chọn đề tài Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) để làm đối tượng nghiên cứu chính của luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, bởi đây là hai ngôi đình tương đối tiêu biểu ở Phú Thọ có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử và đặc biệt là giá trị về nghệ thuật. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án làm rõ tính chất trang trí ở hai ngôi đình để tìm ra những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam. Góp phần bổ sung những tư liệu còn khuyết thiếu trong kho tàng nghiên cứu về nghệ thuật dân gian Việt Nam.

Trang 1

1

Cao Thị Vân

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG VÀ ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ

(Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2020

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 01

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 07 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 07

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 15

1.3 Khái quát về đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô 29

Tiểu kết 34

Chương 2: HÌNH THỨC, ĐỀ TÀI VÀ ĐỒ ÁN TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 36

2.1 Hình thức trang trí 36

2.2 Đề tài trang trí 61

2.3 Đồ án trang trí 77

Tiểu kết 91

Chương 3: BỐ CỤC, KHÔNG GIAN VÀ MÀU SẮC TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 93

3.1 Bố cục trang trí 93

3.2 Không gian trang trí 106

3.3 Màu sắc trang trí 119

Tiểu kết 129

Chương 4: BÀN LUẬN VỀ ĐẶC TRƯNG VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 130 4.1 Đặc trưng nghệ thuật trang trí 130

4.2 Giá trị nghệ thuật trang trí 151

Tiểu kết 161

KẾT LUẬN 162

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 167

TÀI LIỆU THAM KHẢO 168

PHỤ LỤC 181

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐLLT ĐLHL

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nghệ thuật trang trí đình làng là một trong những thành tố quan trọng trong kho tàng mỹ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu đi trước, đình manh nha xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV, phát triển rực rỡ vào cuối TK XVII đầu TK XVIII và thoái trào vào TK XIX Trong diễn trình lịch sử mỹ thuật truyền thống của nước nhà, hệ thống đình làng Việt đã tích hợp được nhiều di sản văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật và được phổ biến sâu đậm trong dân gian

Ở Phú Thọ có khoảng hơn 200 ngôi đình lớn nhỏ có niên đại khác nhau được phân bố rộng rãi trong toàn tỉnh Trong số đó, đình làng Lâu Thượng (ĐLLT) và đình làng Hùng Lô (ĐLHL) là hai ngôi đình lớn nhất của tỉnh Phú Thọ, được nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vừa mang phong cách trang trí của thời Lê (gắn với sự ra đời của đình) vừa mang phong cách Nguyễn (gắn với quá trình tu bổ lớn) nhưng lại sở hữu hai phong cách trang trí có nhiều nét khác biệt (nhất là trong nghệ thuật chạm khắc) Rõ ràng, hai ngôi đình với vị trí địa lý khá gần nhau nhưng phong cách trang trí có nhiều sự khác biệt sẽ là vấn đề đáng để người nghiên cứu quan tâm và suy ngẫm

ĐLLT và ĐLHL đã được một số các nhà nghiên cứu đi trước quan tâm, tìm hiểu nhưng những nghiên cứu này chủ yếu đều nhìn từ góc độ lịch sử, văn hóa, còn những nghiên cứu nhìn từ góc độ nghệ thuật học dường như không có nhiều Tư liệu nghiên cứu về hai ngôi đình chỉ dừng ở hồ sơ di tích và được lưu rất hạn chế tại địa phương; một số bài viết điền dã chỉ ở dạng tư liệu nội bộ, một

số đài báo có quay video, làm tư liệu phóng sự nhưng thời lượng còn hạn chế nên chưa cung cấp được nhiều thông tin… Nhận thấy ĐLLT và ĐLHL là hai trong số hàng trăm ngôi đình ở đất Phú Thọ có rất nhiều giá trị nghệ thuật được nhiều tác giả trong nước đánh giá cao, với quy mô bề thế khang trang cùng nhiều

Trang 5

hiện vật quý có nhiều lớp niên đại khác nhau nhưng về cơ bản lại chưa được khai thác và nghiên cứu một cách chuyên biệt Rõ ràng, đây là khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu

Dựa vào tình hình nghiên cứu về đình làng có thể nhận thấy đình làng là một vấn đề đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu chủ yếu khai thác trên các lĩnh vực như: khảo cổ, kiến trúc, mỹ thuật, văn hóa… nhưng những nghiên cứu về nghệ thuật trang trí đình làng nói chung thì hầu như chưa có công trình nào đề cập tới (nhất là nghệ thuật trang trí đình làng

ở một đối tượng cụ thể thì hầu như chưa có) Xuất phát từ tình hình thực tế này, luận án bước đầu nhận định hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về nghệ

thuật trang trí đình làng mang tính trường hợp như ĐLLT và ĐLHL Nên, NCS

lựa chọn đề tài Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng

Lô (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) để làm đối tượng nghiên cứu chính của

luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, bởi đây là hai ngôi đình tương đối tiêu biểu ở Phú Thọ có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử và đặc biệt là giá trị về nghệ thuật Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án làm rõ tính chất trang trí ở hai ngôi đình để tìm ra những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam Góp phần bổ sung những tư liệu còn khuyết thiếu trong kho tàng nghiên cứu về nghệ thuật dân gian Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL để làm rõ các đặc trưng

và giá trị nghệ thuật của hai ngôi đình trong hệ thống đình làng Việt Nam

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận án làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về ĐLLT và ĐLHL

Trang 6

- Luận án khai thác các biểu hiện của nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL thông qua các hình thức trang trí, đề tài và đồ án trang trí

- Phân tích chuyên biệt tính hiệu quả trong việc sử dụng các yếu tố nghệ thuật tạo hình như: bố cục, không gian và màu sắc trang trí ở ĐLLT và ĐLHL

- Luận bàn về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL

3.2.2 Phạm vi thời gian

Dựa vào niên đại ra đời di tích trong đó ĐLHL được khởi dựng vào năm

1697, còn ĐLLT không rõ về niên đại, số năm hiện được ghi chép lại trong lý lịch

di tích là số liệu các năm trùng tu, tôn tạo (phần lớn các hạng mục được bổ sung vào khoảng TK XIX như khu vực nghi môn, hậu cung, các đồ thờ), còn nghệ thuật chạm khắc ở tòa đại đình Lâu Thượng, nhiều nhà nghiên cứu đi trước khẳng định những mảng chạm khắc ở ĐLLT có phong cách nghệ thuật cuối TK XVII ở Việt Nam Chính vì lịch sử hai ngôi đình được ra đời vào những năm khác nhau đồng thời đã trải qua nhiều lần trùng tu biến đổi, thay mới Để đánh giá khách quan, NCS sẽ dựa vào mốc ra đời của ĐLHL kết hợp với sự nhận định niên đại của ĐLLT và trải qua quãng trùng tu tôn tạo lớn vào năm 2008 (TK XXI)

Trang 7

Do vậy, phạm vi nghiên cứu sẽ giới hạn từ TK XVII đến TK XXI ở Việt Nam

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện như thế

nào trong các: hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian và màu sắc trang trí?

Câu hỏi 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL mang phong cách tạo hình

dân gian Việt Nam hay được tiếp biến từ tạo hình mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ?

Câu hỏi 3: Đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu

hiện như thế nào so với các ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện đa dạng

trong các hình thức trang trí như: chạm khắc, tượng, đắp nổi vôi vữa, hoành phi câu đối cùng một số đồ thờ có giá trị, được thể hiện bằng nhiều đề tài, các đồ án trang trí và điểm tô bởi nhiều màu sắc khác nhau, được xắp xếp trong không gian ngoại đình và nội đình bởi các hình thức bố cục như đối xứng, phân tầng hay nương theo kiến trúc để trang trí

Giả thuyết 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL phần lớn mang đậm

phong cách tạo hình dân gian cùng mỹ cảm truyền thống dân tộc của người Việt, bên cạnh sự tiếp biến về tạo hình của mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ

Giả thuyết 3: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL tuy mang nhiều nét

tương đồng so với những ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam nhưng vẫn có những đặc trưng và giá trị nghệ thuật riêng biệt mà không phải ngôi đình nào cũng có (nhất là hình tượng rồng nhân dạng ở ĐLLT)

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Thông qua nghiên

cứu sách báo, tạp chí, bài báo khoa học, tài liệu trong và ngoài nước để tìm ra những ý tưởng khoa học mới Từ đó hình thành nên những luận điểm cần phải làm sáng tỏ trong luận án

Trang 8

Phương pháp điền dã: thông qua các chuyến điền dã thực tế nhằm giúp

NCS thu thập, xác minh các dữ liệu phục vụ nghiên cứu một cách rõ ràng, minh bạch như: xem xét hiện vật di tích, đo đạc, đạc họa, chụp ảnh…

Phương pháp thống kê, so sánh: luận án thống kê các số liệu trong di tích,

so sánh đối chiếu với các di tích khác để tìm ra phong cách nghệ thuật trang trí điển hình của đối tượng nghiên cứu

Phương pháp liên ngành: luận án dựa vào thành tựu nghiên cứu của các ngành có liên quan tới luận án như: kiến trúc, lịch sử, dân tộc, địa lý, văn hóa,…để

từ đó luận giải các vấn đề có liên quan trong luận án

Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù trong ngành nghệ thuật học như: phân tích các yếu tố về bố cục, về đường nét, họa tiết, ánh sáng, màu sắc, chất liệu, khối, không gian đậm nhạt, ánh sáng, tỉ lệ, mảng, hình tượng, lượng, chất liệu… cùng các nguyên tắc của nghệ thuật trang trí như: đối xứng, lặp lại, phá thế, đảo chiều, cân đối để từ đó rút ra những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình trên cơ sở giải mã về mặt biểu tượng trong các dạng thức được trang trí ở ĐLLT và ĐLHL

6 Những đóng góp mới của luận án

6.1 Đóng góp về mặt lý luận

Về phương diện lý luận và lịch sử mỹ thuật: Đề tài là công trình nghiên

cứu chuyên biệt theo hướng tiếp cận nghệ thuật học qua việc nghiên cứu mang tính trường hợp của nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL (ở TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa tạo nên những nét đặc trưng riêng trong nghệ thuật trang trí đình làng Việt Nam

Đối với nghệ thuật tạo hình: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu

về nghệ thuật trang trí ở ĐLLT và ĐLHL trên cơ sở làm rõ các giá trị về nghệ thuật tạo hình được biểu hiện trong các hình thức trang trí, đề tài và đồ án trang trí

Với giáo dục thẩm mỹ: Thông qua các chuyến nghiên cứu điền dã, đạc

họa cùng một số bản vẽ mô tả về các đồ án trang trí sẽ cho cái nhìn khoa học về

Trang 9

các yếu tố tạo hình được soi tỏ dưới các biểu tượng văn hóa dân tộc từ đó khơi dậy niềm đam mê yêu thích nghệ thuật trang trí truyền thống của nước nhà

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

- Góp phần bổ khuyết những khoảng trống về tư liệu của ĐLLT và ĐLHL trong quá trình điền dã và khảo sát, hệ thống hóa tư liệu liên quan tới nội dung luận án

- Cung cấp cho các nhà nghiên cứu, những nhà làm công tác quản lý di tích những thông tin tư liệu xác thực dưới các góc độ: lịch sử, kiến trúc, chạm khắc, đắp nổi vôi vữa (nề, ngõa), tranh vẽ trên gỗ, tín ngưỡng dân gian,…

7 Kết cấu của luận án

Luận án ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (12 trang), phụ lục (70 trang), nội dung được kết cấu 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (29 trang)

Chương 2: Hình thức, đề tài và đồ án trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (57 trang)

Chương 3: Bố cục, không gian và màu sắc trang trí đình làng Lâu Thượng

và đình làng Hùng Lô (37 trang)

Chương 4: Bàn luận về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí đình làng

Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (31 trang)

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo các nhà nghiên cứu đi trước, nguồn gốc đình làng manh nha ra đời vào thế kỷ XV nhưng nghiên cứu về đình làng thì chỉ mới bắt đầu từ TK XX Đã

có nhiều nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá đình làng ở các khía cạnh khác nhau được phân định theo phong cách nghệ thuật và kiến trúc trong đó có các nhà nghiên cứu thời kỳ đầu như: Nguyễn Văn Khoan, Hà Văn Tấn, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, Thái Bá Vân Mỗi tác giả lại đề cập tới các khía cạnh liên quan tới kiến trúc, điêu khắc, hình tượng con người, hình tượng rồng, Qua tổng hợp các dạng tài liệu, NCS phân định theo trình tự về mặt thời gian như sau:

Trong những năm đầu của của TK XX, cụ thể vào năm 1932, Nguyễn Văn

Khoan với công trình nghiên cứu về đình bằng tiếng Pháp Essai sur le đình et le

culte du génie tutélaire des villages au Tonkin (Khảo luận về ngôi đình và việc

thờ Thành Hoàng của các làng xã ở Bắc Kỳ), BEFEO, 1930 [148] (Tác giả là một trong những trợ lý xuất sắc của Viện Viễn Đông Bác cổ - một trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông Dương, ông đã hỗ trợ cho Pierre Gourou trong công trình nghiên cứu Người nông dân Châu Thổ Bắc Kỳ) Đây được coi là công trình nghiên cứu đầu tiên về đình và những đóng góp của ông đã được nhà nghiên cứu người Pháp tên là Bezacier trong L’art Vietnamien, Paris (1955) đánh giá rất cao Bằng ngòi bút sắc sảo, tác giả đã luận bàn chi tiết về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, lễ hội, tục hèm,… cùng một số ảnh về đồ thờ và đồ vật được trang trí trong đình Yên Mẫn Cuốn sách là tư liệu quý và có giá trị trong kho tàng văn hóa dân gian viết về đình Tuy nhiên trong toàn bộ nghiên cứu của mình, một phần rất quan trọng để làm nên nét đẹp của ngôi đình chưa được tác giả quan tâm

Trang 11

đến đó là nghệ thuật chạm khắc trên kiến trúc Đối tượng khảo tả của tác giả cũng chỉ xoay quanh đình Yên Mẫn mà chưa có sự mở rộng ra các ngôi đình khác

Tiếp nối nghiên cứu về đình là Chu Quang Trứ trong bài viết Về phong

cách và niên đại đình Lâu Thượng được lưu trong tài liệu nội bộ của Viện nghiên

cứu Mỹ thuật (1969) [106] Đây là tập tài liệu được tác giả viết vào những năm cuối thập niên 60 của TK XX trong một chuyến điền dã thuộc hệ thống nghiên cứu về các ngôi đình làng ở miền Bắc Việt Nam Tài liệu đã bước đầu phân tích, đánh giá khá tỉ mỉ về phong cách và niên đại của ĐLLT Trong đó, nêu sơ lược được về tình hình địa phương, tên gọi địa danh, lý lịch sơ bộ các vị Thành Hoàng làng và cùng đó cũng đi khá chi tiết về các mốc dựng đình và miêu tả các chạm khắc trên kiến trúc tương đối tỉ mỉ Điểm mạnh của tài liệu này là tính công phu, phân loại ra được các chạm khắc theo niên đại, mang tính khảo tả cao Chính vì điểm mạnh ấy, NCS có thể hình dung được vào năm 1969 ĐLLT có hiện trạng như thế nào… Tuy nhiên, một phần tạo nên tính thẩm mỹ cho ngôi đình là nghệ thuật trang trí trên các cấu kiến trúc được biểu hiện dưới dạng bố cục, không gian,

đồ án, đề tài, hình thức trang trí vẫn chưa được tác giả quan tâm nhiều… Vậy nên, đây sẽ là hướng mở để NCS tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, trong luận án

Vào năm 1996, Nguyễn Anh Tuấn với luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành

khảo cổ học với đề tài Cụm đình Tam Canh trong hệ thống đình làng Vĩnh Phú

[94] Công trình nghiên cứu của tác giả bước đầu nghiên cứu về ba ngôi đình trên đất Vĩnh Phúc, đây là một cụm di tích gồm: đình Hương Canh – đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường Đề tài nghiên cứu về cảnh quan, di tích và những vị thần Tam Canh, kết cấu kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc, đáng lưu ý trong phần 4 tác giả ít nhiều đã kể tên, khảo tả sơ bộ một vài ngôi đình tiêu biểu về kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của các ngôi đình miền trung du trong đó có ĐLLT và ĐLHL Vì hai đình được nhắc tới không nhiều trong luận án nên thông tin tác giả cung cấp còn sơ sài và mang tính khái quát Bên cạnh đó, tính trang trí

và tính nghệ thuật tạo hình như: bố cục, không gian, màu sắc trong nghệ thuật

Trang 12

trang trí ở ĐLLT và ĐLHL vẫn chưa được tác giả khai thác và đề cập tới trong các nghiên cứu về sau này Vì thế đây sẽ là hướng mở để luận án tiếp tục thực hiện Có thể nói rằng, đây được coi là một công trình đề cập nhiều nhất tới hai ngôi đình là đối tượng nghiên cứu của đề tài, giúp NCS so sánh, đối chiếu sát hơn trong quá trình thu thập tài liệu và phân tích

Đến năm 1998, Hà Văn Tấn cùng nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Kự đã khảo

sát các ngôi đình tiêu biểu trên khắp cả nước để viết nên cuốn Đình Việt Nam

[81] – đây được coi là một cuốn sách nghiên cứu có sự đầu tư cả về tư liệu khoa học và hình ảnh minh họa rất rõ ràng, sinh động Trong đó bản đầu tiên bao gồm

62 ngôi đình tiêu biểu từ Nam ra Bắc được viết bằng hai thứ tiếng (Tiếng Việt và Tiếng Anh), cho đến nay cuốn sách vẫn còn có sức hút đối với độc giả cả nước khi

mà chỉ trong vòng 15 năm sách đã được tái bản tới lần thứ 3 vào năm 2013 và ở bản

in này sách được in bằng tiếng Việt và nâng tổng số khảo sát ngôi đình lên tới con

số 100 với sự đầu tư công phu và chất lượng hình ảnh đẹp đã giúp độc giả có cái nhìn tổng quan về những ngôi đình giá trị trên mọi miền Phần lớn trong cả hai cuốn sách đều lược tả hai ngôi đình về nguồn gốc xuất hiện, diễn biến kiến trúc qua thời

gian và không gian, nghệ thuật điêu khắc Qua tư liệu ảnh chụp năm 1998 được in

trong sách cộng với sự so sánh về thực tế các mảng chạm khi NCS đi điền dã từ năm 2015 - 2019, rõ ràng các mảng chạm khắc trên kiến trúc ĐLLT vào năm 1998

bị hư hỏng khá nhiều Theo nhận định ban đầu, một số chi tiết ở các mảng chạm hoàn chỉnh ở thời hiện tại có thể đã được lắp ghép lại ở những chi tiết nhỏ bị rơi, rụng trong quá trình trùng tu tôn tạo như: đao mác, mây lửa, một số thân rồng con… Đây là một cứ liệu hết sức quan trọng, giúp NCS làm cơ sở vững chắc để phân định niên đại và phân tích một cách khách quan hơn trong quá trình nghiên cứu

Tiếp tục chuỗi những nghiên cứu về đình làng của mình, Chu Quang Trứ

đã xuất bản cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật (2002) Trong đó có một số bài viết về đình làng như: Đình Hữu Bổ, Đình Thổ Hà, Đình Trà Cổ, Đình Chu

Quyến, Đình Phù Lão, Đình Hồi Quan,… đặc biệt trong cuốn sách này có bài

Trang 13

viết về “Đình Xốm với sự chuyển hóa từ đền sang đình” [111, tr.526], với những dẫn chứng công phu về các mốc thời gian ra đời và tu sửa cho đến hoàn thiện ĐLHL trên cơ sở từ một ngôi đền, trong bài viết này phần lớn tác giả đi sâu phân tích hệ thống kiến trúc của tòa đại đình Đánh giá đây là tư liệu lịch sử quý về ĐLHL với những khảo cứu khá chi tiết, sẽ phần nào giúp NCS có thêm cơ sở đối chiếu tư liệu trong quá trình hoàn thiện luận án Tuy nhiên, bài viết về ĐLHL được tác giả nghiên cứu trên tinh thần tiếp cận theo hướng văn hóa học, vì vậy luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu nghệ thuật trang trí ĐLHL theo hướng tiếp cận nghệ thuật học

Năm 2006, một trong những nghiên cứu về đình có tính khảo sát và

chuyên biệt là cuốn Mỹ thuật đình làng ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hóa

Thông tin [28] của Nguyễn Văn Cương Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn Cương đã miêu tả nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng theo sự phân cắt các biểu tượng với những tư liệu phong phú Theo tác giả, các yếu tố văn hóa đã chi phối các giá trị thẩm mỹ, mô thức thẩm mỹ của người Việt khi nghiên cứu

mỹ thuật đình làng từ góc độ nghệ thuật học Đáng chú ý, trong một công trình

có đối tượng khảo sát lớn như thế này, tác giả có điểm qua và nhắc đến cả hai ngôi đình Lâu Thượng và Hùng Lô ở một vài chi tiết trong phần đặc trưng của chạm khắc đình làng Bắc Bộ như: tượng thờ Hai Bà Trưng ở đình Lâu Thượng (tượng cũ), tranh trang trí ở ĐLHL Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa phân tích về nghệ thuật trang trí của hai đình này trong một số phần mô tả khác Vì vậy, luận

án sẽ tiếp tục đi sâu, nghiên cứu và chứng minh tính trang trí của ĐLLT và ĐLHL là mang tính điển hình như tác giả đã nêu lên trong hệ thống trang trí đình làng Việt Nam

Cuốn Đình làng vùng Châu thổ Bắc Bộ do Trường Đại học Mỹ thuật Việt

Nam xuất bản (2013) [138] Trong lời tựa, Lê Văn Sửu – Hiệu trưởng trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam cũng đưa ra nhận định rằng: “Cuốn sách tập hợp tư liệu, không phải là công trình nghiên cứu mang tính chuyên luận, chưa đi sâu nhưng

Trang 14

đa diện”, “Từ một số ngôi đình điển hình, các tác giả cũng đề cập tới những thao tác nghệ thuật và phần nào đã bước vào hệ thống giá trị biểu tượng mà người xưa

đã lập”, “Bằng vào sự sắp xếp theo niên đại hiện còn được xác định được trong

di tích, các tác giả như vô tình đã đưa người đọc theo con đường lịch sử nảy sinh, tồn tại, phát triển và suy vong của kiến trúc” [138, lời tựa, tr.87] Theo ý này, khi quan sát phần mục lục cho thấy cả hai ngôi đình làng Lâu Thượng và Hùng Lô đều nằm ở vị trí tương đối gần nhau và ở khoảng giữa (tức ra đời vào thời kỳ phát triển và hưng thịnh nhất trong cả một chu kỳ ra đời và kết thúc của các ngôi đình làng Việt ở vùng Châu thổ Bắc Bộ),… Với các tư liệu quý báu đó phần nào giúp NCS bổ sung kiến thức, so sánh ĐLLT và ĐLHL để đối chiếu với các ngôi đình trên cả nước mà NCS chưa có dịp khảo sát trực tiếp

Đặc biệt, một trong những công trình nghiên cứu chuyên biệt về nghệ

thuật trang trí một cách vĩ mô là cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của

người Việt, (2011) của Trần Lâm Biền [12] Cuốn sách nghiên cứu về các lớp ý

nghĩa của những hoa văn chạm khắc trên kiến trúc tôn giáo (trong đó có nghệ thuật trang trí trên kiến trúc đình làng) Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp, được đúc kết qua quá trình khảo sát thực tiễn của người viết dày kinh nghiệm, công trình bao quát về nghệ thuật trang trí truyền thống của người Việt qua các giai đoạn từ thời tiền sử, Đông Sơn cho đến thời tự chủ Mặt khác, tác giả đã có

sự so sánh, đối chiếu và đưa ra ví dụ rất cụ thể trên từng đối tượng Dựa vào công trình tổng hợp này, luận án có thể đối chiếu để tìm ra nét đặc trưng riêng có của ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt Rõ ràng, với một công trình có đối tượng khảo sát lớn xuyên suốt qua nhiều thời kỳ nên việc đi sâu vào tính trang trí cụ thể trong ĐLLT và ĐLHL đương nhiên sẽ không được nhắc tới cũng là điều dễ hiểu Vì thế, luận án sẽ tiếp tục đi sâu, làm rõ và bổ sung những đặc điểm nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình

Trong cuốn Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (2014) thuộc dự án của

Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam do Trần Lâm Biền chủ biên [16] Đây là một

Trang 15

cuốn sách không những nêu được khái quát sự về sự hình thành và phát triển của đình làng mà còn khảo tả khái quát về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc, các lễ hội gắn với đình làng của vùng đồng bằng châu thổ một cách chân thực, đầy đủ, hệ

thống Tác giả lấy ví dụ phần lớn từ các ngôi đình tiêu biểu như bức: thổi tiêu,

chèo thuyền (đình Hương Canh - Vĩnh Phúc – tr.123), phượng, hươu, rồng (đình

Lỗ Hạnh Bắc Giang– tr29,132,133), lân (đình Thổ Hà – Bắc Giang – tr.130), bản vẽ rồng (đình Lỗ Hạnh – Bắc Giang – tr.131), bản phượng rập (đình Thổ Hà – Bắc Giang – tr.131),… Tuy nhiên, cuốn sách không có các dẫn chứng về

ĐLLT và ĐLHL vì thế nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình này vẫn còn là nghiên cứu bỏ ngỏ và đây là lý do luận án tiếp tục thực hiện

Trong số những nghiên cứu của Trần Lâm Biền, một luận điểm đáng chú

ý trong cuốn Con đường tiếp cận lịch sử (2013) [15] có liên quan trực tiếp tới đề

tài, tác giả khẳng định: “có một tạo hình Mạc đích thực, làm tiền đề cho một dòng chảy mỹ thuật dân dã phát triển tới cao đỉnh ở thế kỷ XVII Cũng không thể quên được đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô một điển hình của dòng nghệ thuật riêng Nơi ấy, những con rồng lớn, như quá cỡ, mà khó có thể thấy trên chạm gỗ của các di tích khác” [15, tr.369] Từ luận điểm trên đây, tác giả đã khẳng định rất rõ ràng về một phong cách Lâu Thượng có sự khác biệt lớn so với các ngôi đình khác, sẽ là cơ sở để người nghiên cứu khẳng định về sự khác biệt của ngôi đình này trong quá tình phân tích và nghiên cứu

Cuốn sách Kiến trúc đình làng Việt (Qua tư liệu của Viện bảo tồn di tích)

– Tập 1, Nxb Văn hóa Dân tộc (2017) [137] Đây là nghiên cứu mới xuất bản

nhưng đã được các các độc giả rất quan tâm tìm đọc bởi trong đó chứa những thông tin cơ bản về tên gọi các cấu kiện kiến trúc, các bản vẽ mô tả rất chi tiết về mặt cắt, mặt bằng tổng thể, mặt đứng và cũng như nghệ thuật trang trí trên đó,… Tuy cuốn sách chỉ khai thác 15 ngôi đình được xuất phát từ các ngôi đình cổ có giá trị ở miền Bắc Việt Nam và trong đó quần thể ĐLHL được các nhà nghiên cứu khảo tả, đạc họa bằng các bản vẽ kỹ thuật rất đẹp về mặt bằng kiến trúc với

Trang 16

một số họa tiết trang trí trên các cấu kiện cơ bản Mặc dù có bản vẽ mô tả nhưng các mô típ trang trí ở ĐLHL vẫn còn rất hạn chế và ở đây cũng không có bản vẽ đạc họa ĐLLT cùng các mô típ trang trí, vì thế luận án tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện bổ sung nhất là các đồ án trang trí ở hai ngôi đình

Nhìn chung, qua một vài tài liệu nghiên cứu về đình ở trong nước qua các thời kỳ lịch sử cho thấy nguồn tư liệu viết về các ngôi đình ở Việt Nam là rất lớn nhưng các tư liệu viết về ĐLLT và ĐLHL lại không có nhiều, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về nghệ thuật trang trí ở ĐLLT

và ĐLHL Mỗi một nhà nghiên cứu đều có cách tìm tòi những hướng đi khác nhau, một số ngôi đình được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm như: đình Yên Mẫn, đình Thổ Hà, đình Chu Quyến, đình Đình Bảng, đình Hương Canh…, các công trình đều được xuất bản thành sách và được phổ biến nhiều trên các tạp chí chuyên ngành và được nhiều người biết tới Còn lại, hai ngôi đình ở miền đất

cổ bên dòng Tam giang lịch sử có lối trang trí được nhiều nhà khoa học đánh giá

là tiêu biểu trong hệ thống đình làng Việt Nam thậm chí còn được gọi tên là

“phong cách Lâu Thượng” nhưng vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt, nếu có cũng chỉ được lồng ghép trong các công trình ở tầm vĩ mô Một vài nghiên cứu đã có sự đầu tư nghiên cứu sâu hơn về ĐLLT và ĐLHL nhưng chỉ dừng lại khía cạnh sử học, văn hóa học, hay mô tả đạc họa kiến trúc (ĐLHL), còn lại phần lớn các nghiên cứu về hai ngôi đình chỉ dừng ở mức khảo tả, chưa

đi sâu vào phân tích, so sánh, để tìm ra nét đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí Chính vì lẽ đó, đây sẽ là hướng mở để NCS tiếp tục hoàn thiện với tên đề tài

Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Có thể nói nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu người Pháp quan tâm từ cuối TK XIX – đầu TK XX, nội dung nghiên cứu chủ yếu là kiến trúc nhà ở, tranh dân gian Việt Nam, các phong tục

Trang 17

tập quán sinh hoạt truyền thống của người Việt, bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu về đình nhưng chưa hệ thống và chỉ được điểm xuyết trong các công trình lớn, tiêu biểu như:

Một công trình nghiên cứu về địa lý, nhân văn của Pierre Gourou trong

cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ được xuất bản bởi Viện Viễn Đông Bác

cổ (EFEO) vào những năm 30 của TK XX [134] Công trình là sự đầu tư nghiên cứu công phu, đề cập được nhiều vấn đề liên quan tới địa lý, khí hậu, nông nghiệp, dân số, lệ làng,… của những người nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ nói chung Trong đó đáng chú ý, tác giả đã mô tả sơ bộ về một đình làng mà theo tác

giả là “lớn nhất và đẹp nhất Bắc Kỳ” [134, tr.352] đó là Đình làng Đình Bảng

Những bản vẽ đạc họa dưới sự cộng tác của sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương về đình Đình Bảng rất tỉ mỉ, mô tả kiến trúc theo các mặt cắt chính diện, mặt nghiêng theo luật thấu thị và có sự so sánh với ngôi nhà của người miền núi…

Ngoài Pierre Gourou, tiêu biểu là Léopold Cadiere với công trình Les

motifs L'art Anamite B.A.V.H No.1 [149] (Họa tiết trong mỹ thuật An Nam) là

công trình được tác giả trau chuốt với những bản vẽ rất đẹp, tỉ mỉ và công phu

mô tả lại các đối tượng trang trí như: gương đồng, hạc đứng trên lưng rùa, bộ cửa gỗ, hoành phi, lân trên đỉnh cột trong các công trình đình, chùa, đền của người Việt Thông qua sự nỗ lực của Léopold Cadiere trong việc vẽ lại các mô típ trang trí ta có thể thấy các hoa văn họa tiết trang trí của người An Nam thể hiện ở nhiều dạng thức bố cục cũng như ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình khác nhau nhất là các nguyên tắc trang trí được sử dụng triệt để như: đăng đối, nhắc lại, xen

kẽ, phá thế Tuy công trình là một bước tiến lớn khi áp dụng kiến thức khoa học trong công việc nghiên cứu mỹ thuật của người Việt nhưng dường như thật thiếu sót khi các mảng chạm khắc trên cấu kiện kiến trúc ở những ngôi đình làng hầu như bị tác giả bỏ quên

Ngoài hai tác giả tiêu biểu kể trên, còn có một số tác giả khác như

Tingley, Nancy (2009) viết Arts of Ancient Vietnam from river plain to open sea

Trang 18

(Nghệ thuật cổ Việt Nam từ sông ra biển lớn) [144] tuy nhiên không có có

nghiên cứu về đình; Kerry Nguyễn Long viết trong cuốn Arts of Viet Nam 1009 -

1945 (Nghệ thuật của Việt Nam 1009 – 1945) (2013) [146], cuốn sách tổng hợp

trong các chương phân chia theo các triều đại trong lịch sử và khai thác nghệ thuật trang trí trong các công trình nghệ thuật qua các thời đại ở Việt Nam nhưng vẫn còn hạn chế

Rõ ràng, công lao của các nhà nghiên cứu người Pháp trong việc tìm hiểu

về văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cuối TK XIX - đầu TK XX về bối cảnh, nghệ thuật trang trí, kiến trúc của người An Nam là vô cùng giá trị… Tuy nhiên, các nghiên cứu về đình chủ yếu nhìn từ góc độ lịch sử, dân tộc học, còn nghệ thuật trang trí đình làng mới chỉ dừng lại ở cung cấp các bản vẽ đạc họa kiến trúc

và mô típ trang trí trên bờ guột của mái đình Vậy nên, nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL vẫn là khoảng trống về tư liệu cần được tiếp tục bổ sung và nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Khái niệm cơ bản và thuật ngữ liên quan

1.2.1.1 Khái niệm cơ bản

* Khái niệm trang trí:

Trang trí là thuộc tính của nghệ thuật, xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người Trang trí gắn liền với nhu cầu làm đẹp, nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần của con người Tư liệu khảo cổ học cho thấy, ngay từ xã hội nguyên thuỷ, trang trí đã có các biểu hiện và hình thức thể hiện vô cùng phong phú, như tạo tác các đồ trang sức, vẽ các hình vẽ trên cơ thể… Theo thời gian, trang trí phát triển ngày càng hoàn thiện, không chỉ thể hiện sự tài khéo, mà còn phản ánh

ở trong đó bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc

Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, trang trí được định nghĩa

là: “Bố trí các vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo

ra một sự hài hòa, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó” [73, tr.1308]

Trang 19

Theo định nghĩa trong từ điển Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông, trang

trí được định nghĩa như sau:

Trang trí (decoration) là một tổng hợp những thuộc tính nghệ thuật để làm tăng vai trò biểu hiện cảm xúc và tổ chức mỹ thuật của những tác phẩm nghệ thuật trong môi trường vật thể bao quanh con người Chiếm

vị trí quan trọng trong việc tạo ra ấn tượng trang trí của tác phẩm nghệ thuật là: đồ trang trí, là sự biểu cảm những vẻ độc đáo tự nhiên của những chất liệu và những đặc tính cố hữu của các hình thức nghệ thuật,

là tổ chức bố cục những nhịp điệu của đường nét, của các khối hình và các mảng màu sắc,… Trang trí là một trong những phương tiện nghệ thuật chính của những tác phẩm nghệ thuật trang trí tạo hình Trang trí có mặt như một thành tố cố hữu của các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật kiến trúc [141, tr.212 – 214]

Dựa vào hai định nghĩa trên đây, cho ta thấy sự khá đồng nhất trong việc định nghĩa về trang trí, rõ ràng trang trí là một thuộc tính làm tăng tính chất thẩm

mỹ cho một tác phẩm nghệ thuật thông qua việc sử dụng các yếu tố về tạo hình như bố cục, đường nét, hình khối, màu sắc,… đây được xem là một thành tố quan trọng trong các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật kiến trúc để làm tăng tính thẩm mỹ cho tác phẩm nghệ thuật

* Khái niệm nghệ thuật trang trí:

Cũng vẫn theo từ điển Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông, khái niệm

về Nghệ thuật trang trí được làm rõ hơn và đặc biệt nhấn mạnh ở tương quan

kiến trúc như sau:

Nghệ thuật trang trí là một lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình, mà những

tác phẩm của nghệ thuật này, cùng với kiến trúc tạo ra một cách nghệ thuật một môi trường vật chất bao quanh con người, đem vào môi trường đó tính thẩm mỹ, tính tư tưởng và tính hình tượng Nghệ thuật

trang trí được chia ra thành Nghệ thuật trang trí hoành tráng gắn bó

Trang 20

trực tiếp với kiến trúc (tạo ra các hình trang trí kiến trúc, các bức tranh tường, các hình phù điêu, các bức tượng, các bức tranh kính, các bức tranh khảm… để trang trí mặt tiền, nội thất, thậm chí cả điêu khắc công

viên), Nghệ thuật trang trí mỹ thuật (tạo ra các đồ vật sinh hoạt), và

Nghệ thuật bài trí (bài trí các trưng bày, lễ hội, bảo tàng… [141, tr.212] Dựa vào định nghĩa trên đây, cho ta cái nhìn rất cụ thể về nghệ thuật trang

trí Nếu khái niệm về trang trí đơn thuần chỉ là sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật tạo

hình để làm tăng tính thẩm mỹ như bố cục, đường nét, hình khối, màu sắc, chất

liệu,… thì khái niệm về nghệ thuật trang trí còn bổ sung thêm ngoài tính thẩm

mỹ còn mang cả tính tư tưởng và tính hình tượng rất rõ nét được chia theo các hạng mục khác nhau như: trang trí nội thất, trang trí mặt tiền, các bức tượng, tranh, bức khảm, thậm trí cả việc bài trí, trưng bày… tất cả được đặt trong một không gian bao quanh con người để làm tăng tính chất thẩm mỹ

Nhưng trong từ điển Oxford Dictionary of Art, lại có một tư duy phân loại khác khi cho rằng: “Nghệ thuật trang trí thường được sử dụng nhiều, ít nhiều đồng nghĩa với nghệ thuật ứng dụng nhưng cũng có thể chấp nhận đối tượng được thực hiện hoàn toàn là trang trí, mà không có bất kỳ mục đích thực tế nào” [142, tr.256]

Nhưng, đối với các nhà nghiên cứu mỹ thuật ở Việt Nam như Nguyễn Du Chi, Nguyễn Phi Hoanh, Trần Lâm Biền, Ngô Văn Doanh,… đều thống nhất quan niệm trang trí trong mỹ thuật truyền thống của Việt Nam là mang tính biểu tượng

Điển hình như Trần Lâm Biền trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của

người Việt viết “Hoa văn trên dải đất chữ S không chỉ nhằm mục đích đơn thuần để

trang trí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó, mà chúng là sự kết tinh “muôn đời

muôn thủa” của dân tộc Việt” [12, tr.8] Hay như trong cuốn Mỹ thuật Việt Nam của

Nguyễn Phi Hoanh khi cho rằng: “Nghệ sỹ Việt Nam chẳng những cách điệu đồ án cho đẹp và thích hợp với bố cục trang trí, mà có điểm đặc sắc nhất là tưởng tượng làm cho các vật biến thể ra vật khác để tăng thêm ý nghĩa và tính chất trang trí của

đồ án” [49, tr.321]

Trang 21

Do vậy, khi áp dụng thuật ngữ này vào nghiên cứu về nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL cần phải kết hợp giữa lý luận khoa học phương Tây và mật ngữ phương Đông mới tìm ra được đúng bản chất thật sự của đối tượng nghiên cứu Do vậy, nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL không chỉ đơn giản là làm đẹp mà còn biểu thị cho những giá trị biểu tượng thiêng liêng trong văn hóa của người Việt

* Khái niệm đình làng

Trong cuốn Đình Việt Nam [78], Hà Văn Tấn cho rằng: “Đình là ngôi

nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam Nơi đây ba chức năng được

thực hiện: hành chính, tôn giáo và văn hóa Có thể nói đình là một tòa thị

chính, một nhà thờ và một nhà văn hóa cộng lại của làng xã Việt Nam Ngôi đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình

của văn hóa làng Việt Nam” [78, tr.13]

Tiếp nối khái niệm về đình, cuốn Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ

[19] Nguyễn Văn Cương cũng nhận định:

Khái niệm đình khi du nhập vào Việt Nam, đã được tiếp thu và biến đổi

như sau: Một là, là du nhập nguyên mẫu Giới thượng lưu, quý tộc

phong kiến đã xây dựng đình theo kiểu Trung Quốc để sinh hoạt và giải trí hoặc sau này vào thời Nguyễn phương đình được “cấy” vào khuôn viên đình làng trước đại đình với chức năng nhà tiền tế; các điểm dừng

chân cho du khách, như đình trạm Hai là, người Việt chỉ mượn từ

“đình” để gọi ngôi kiến trúc – nhà công cộng của làng xã như một thiết

chế văn hóa – tín ngưỡng, với ba chức năng dần được hình thành theo

sự phát triển của đình làng: hành chính, văn hóa, tín ngưỡng Thiết chế tổng hợp như đình làng Việt Nam ở Trung Quốc không có [19, tr.54]

Rõ ràng “đình làng” là khái niệm chỉ có ở Việt Nam sau một thời gian du nhập và biến đổi Đình làng vừa có chức năng hành chính vừa là nơi thờ tự, qua

đó cũng là biểu tượng của làng xã người Việt đồng thời cũng là nơi mà nghệ thuật dân tộc được thăng hoa Cần phải nhìn nhận đình làng như một tác phẩm

Trang 22

nghệ thuật thực thụ nên khi áp dụng các thuật ngữ hay các quan điểm, lý thuyết

từ phương tây nếu hiểu máy móc đôi khi sẽ cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn cứng nhắc về đình làng của người Việt

Nếu đối chiếu với các khái niệm về trang trí, nghệ thuật trang trí và khái

niệm về đình như trên, rõ ràng Nghệ thuật trang trí đình làng thuộc lĩnh vực

trang trí truyền thống cần phải nhìn nhận ngôi đình ở Việt Nam như một tác phẩm nghệ thuật trong đó được sử dụng rất nhiều thành phần trang trí bao gồm: tượng trang trí, chạm khắc trang trí, tranh vẽ vẽ trên gỗ (tranh trang trí), hoành phi câu đối, phù điêu dạng đắp nổi bằng vôi vữa có gắn sứ (nề, ngõa), nghệ thuật sắp đặt đồ thờ,… Có thể nói ngắn gọn, nghệ thuật trang trí đình làng là một tác phẩm nghệ thuật được thể hiện bằng nhiều hình thức trang trí khác nhau, được sắp xếp bằng các hình thức bố cục trong một không gian nhất định và mang tính biểu tượng cho làng xã của người Việt

1.2.1.2 Thuật ngữ liên quan

* Một số thuật ngữ trong các nguyên tắc trang trí

- Đối xứng: Sử dụng nguyên tắc này tạo cảm giác vững chãi cho bố cục trang

trí, tăng tính nghiêm trang cho chốn thâm nghiêm nhất là nơi thờ tự như đình, chùa,

miếu Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier Alain Gheerbrant (1997), mô tả thuật ngữ này là “một thế đối xứng, trong đó hai bên của

trục đối xứng lặp lại cùng một mô típ nhưng không giống hệt nhau” [85, tr.747]

- Nhắc lại: là nhắc đi nhắc lại các yếu tố tạo hình nào đó như: mảng, màu

sắc, bố cục, họa tiết… làm cho đối tượng được trang trí trở nên nhất quán trong phong cách tạo hình, gợi cho đối tượng được trang trí có cảm giác vận động

- Xen kẽ: Xen kẽ các yếu tố tạo hình như: đậm – nhạt, nóng – lạnh, to –

nhỏ, chi tiết – nền, sáng – tối … làm cho bố cục trở nên được chặt chẽ và sinh động hơn, tạo ra kết nối và tránh sự nhàm chán trong quá trình trang trí

Trang 23

- Phá thế: là quá trình sử dụng các yếu tố tạo hình như: đường nét, khối,

họa tiết… để phá bỏ các đường, hướng, có xu thế gây nhàm chán, đơn điệu, có khả năng chi phối hay tạo ra sự lấn lướt các bố cục khác

- Đảo chiều (xoay chiều): là nguyên tắc một hay một nhóm họa tiết có xu

hướng xoay chiều ngược lại với một hay một nhóm họa tiết khác trong một bố cục trang trí để thay đổi hiệu ứng giúp cân bằng lại bố cục

* Một số thuật ngữ trong kiến trúc cổ, truyền thống của người Việt

- Bộ vì: Theo khái niệm trong cuốn Đình làng Việt (Châu Thổ Bắc Bộ) “bộ

vì không nên dừng lại ở các cấu kiện phía trên của kiến trúc (vì nóc mái) và chỉ làm chỗ dựa cho kết cấu đỡ mái, mà nên quan niệm bộ vì phải bao gồm toàn bộ kết cấu khung chịu lực theo chiều ngang công trình (gồm cả cột, câu đầu, các xà ngang và vì nóc) tạo thành khung cơ bản, kết hợp với hệ giằng để tạo thành bộ khung chịu lực hoàn chỉnh” [16, tr.74]

- Ván gió/ván giong: “là loại cấu kiện được nong vào giữa các xà giằng cột, có tác dụng ngăn chia không gian một cách giả định và tác dụng trang trí nội thất kiến trúc” [16, tr.87]

- Vì nách (hay cốn): “Là cách liên kết các cấu kiện ở khoảng không gian,

có hình tam giác vuông, tạo thành giữa cột cái và cột quân Tam giác vuông này

có cạnh dài là xà nách, cạnh ngắn là độ cao hơn của cột cái so với cột quân và cạnh huyền là dộ dài của phần dưới mặt mái giữa hai cột kể trên” [16, tr.87]

- Hoành phi, câu đối: là một trong những bộ phận không thể thiếu trong các ngôi đình làng, được xem như một phần của bố cục trang trí trong không gian đình Các bức hoành phi được treo trên chính giữa khu vực trung đình và hai gian chái Câu đối được treo ở hai bên cửa võng, hay gắn trên các cột cái Nội dung của các hoành phi, câu đối nhằm để ca ngợi công lao của các vị Thành Hoàng làng, phần lớn được trang trí lộng lẫy bắt mắt bằng sơn son, thếp vàng, một số bức được khảm trai, một số được cung tiến bởi quan viên trong triều hoặc những bậc kỳ hào trong làng xã…

Trang 24

- Cửa võng: là một trong những thành tố trang trí quan trọng ở đình Cửa

võng được đặt ở phía trên cao, ngay gian giữa khu trung đình trước khu vực khám

thờ hoặc là bức ngăn che giữa khu đại đình và hậu cung nhằm tạo thành một bức vách ngăn che giữa khu vực hành lễ và chốn thâm cung tạo hiệu ứng uy nghiêm, tôn kính cho khu vực thờ tự của thần đình Nghệ thuật trang trí trên cửa võng ở các ngôi đình phần lớn có sự khác nhau ở bố cục và các mô típ trang trí trên đó

* Một số thuật ngữ điêu khắc

Theo từ điển Oxford: Learner’s pocket Dictionary, “điêu khắc” (sculpture) được định nghĩa là “một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra bằng cách chạm khắc, đẽo gọt gỗ, đá,… thành một khối rắn chắc” [142, tr.395] Từ những nhận định về điêu khắc như trên, điêu khắc được chia thành 2 thể loại là: tượng và phù điêu

Theo Chu Quang Trứ trong Lược sử Mỹ thuật và mỹ thuật học [108] viết:

- Tượng tròn: “là loại hình nghệ thuật, tạo hình bằng cách kết hợp hình khối trong không gian ba chiều”… Khi thưởng thức tác phẩm điêu khắc (tượng tròn) ta có thể đi xung quanh để ngắm nghía và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm ở nhiều hướng, nhiều diện khác nhau [108, tr.388]

- Phù điêu: “Phù điêu khác tượng tròn ở chỗ hình tượng nghệ thuật gắn với một mặt phẳng không gian hai chiều Phù điêu cũng có nhiều loại: chạm nổi hoặc chạm khắc nét chìm Hình tượng nhân vật có thể có độ nổi cao thấp khác nhau” [108, tr.388]

1.2.2 Các hình thức trang trí đình làng

1.2.2.1 Chạm khắc

Chạm khắc là một trong những thành tố quan trọng và có giá trị nhất trong nghệ thuật trang trí đình làng Nổi bật nhất phải kể đến là những mảng chạm khắc trên chất liệu gỗ được đục, chạm và gắn trực tiếp vào các cấu kiện kiến trúc bằng các kỹ thuật như: chạm lộng, chạm thủng, chạm nông, hoặc chạm kênh bong tùy từng vị trí và ý đồ thể hiện Những vị trí tiêu biểu thường được phô diễn chạm khắc như: bộ vì, ván giong, đầu bảy, thân kẻ, cốn; đầu dư, cửa võng;

Trang 25

hoành phi, câu đối Bên cạnh đó nghệ thuật chạm khắc còn được thể hiện ở những đồ thờ như: bát bửu, chấp kích, hạc thờ… Theo Trần Lâm Biền viết trong

cuốn Đình Làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) [16] một số bộ phận kết cấu kiến trúc được tác giả phân định như sau:

1.2.2.2 Tượng

Tượng được chia 2 loại gồm: tượng thờ và tượng trang trí (chủ yếu là

tượng trang trí) Vị trí các tượng được thường được đặt ở 3 vị trí cơ bản như sau:

1 – Tượng đặt trong không gian nội thất đình, gồm tượng thờ (tượng người) đặt

trên ban thờ và tượng trang trí trong khu vực trung đình 2 – Tượng trang trí trên

kiến trúc: tượng được gắn trực tiếp trong các bức chạm khắc gỗ hay gắn trên

những chiếc cột cột gỗ 3 – Tượng trang trí ngoài không gian kiến trúc gồm:

tượng trang trí trên mái đình như: con sô, rồng, phượng, si vẫn Trang trí khu vực trên cột trụ biểu ở tường bao thường có tạo hình lân chầu, phượng hóa

Giữa tượng thờ và tượng trang trí thì tượng thờ ít thấy sự đa dạng Hình thức này thường bày theo một mô típ trang trí nhất định, nếu là tượng người thì thường được đặt ngồi ngay ngắn trên ngai thờ, đối với tượng chầu chỉ có tượng linh thú chầu đặt trong lòng đình hay ngoại thất đình thường có chức năng trang trí, án ngữ, bảo vệ, làm tăng uy lực cho thần đình Phần lớn, các ngôi đình làng thường không có hình thức tượng thờ trên ban thờ mà chủ yếu chỉ thờ vọng thông qua hệ thống bài vị, mũ, áo, hoặc các đồ vật linh thiêng Tuy nhiên, ở một

số ngôi đình vẫn có hình thức thờ tượng kết hợp với hình thức thờ vọng trong hậu cung điển hình như tượng thờ Hai Bà Trưng ở ĐLLT (Phú Thọ), tượng thờ

Sĩ Nhiếp ở đình làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội)…

1.2.2.3 Phù điêu đắp nổi bằng vôi vữa

Sau giai đoạn trùng tu khoảng cuối TK XIX, hình thức đắp nổi vôi vữa có gắn các mảnh sứ có màu được trang trí phổ biến khiến cho chất liệu này trở nên đặc biệt và rõ nét nhất vào thời Nguyễn đã tạo đã nên một dạng chất liệu mới như một nét khá đặc thù cho mỹ thuật thời kỳ này Hình thức trang trí này tập trung

Trang 26

chủ yếu trên nghi môn, trụ biểu, nóc mái đình,… thông qua việc đắp các con

giống như: hổ phù, rồng, phượng… Theo Trần Lâm Biền trong Đình Làng Việt

(Châu thổ Bắc Bộ) khẳng định: “Khoảng thế kỷ XIX và thế kỷ XX, vật liệu vôi

vữa gạch ngói đã được sử dụng để tạo nên tường bao quanh đại đình, thậm chí có nhiều đình bỏ truyền thống kết cấu bằng gỗ mà làm theo kiểu tường hồi bít đốc bao kín ba mặt, còn phía trước được lắp hệ thống cửa bức bàn” [16, tr.107]

1.2.2.4 Tranh trang trí trên kiến trúc (vẽ màu lên gỗ)

Là hình thức dùng màu sơn vẽ trực tiếp trên các ván gỗ, một số được thể hiện dưới dạng những bức tranh phong cảnh điểm người, số khác chỉ đơn giản là các bức vẽ về những con vật linh hay các dạng hoa lá thực vật Các bức vẽ được gắn trực tiếp vào các cấu kiện kiến trúc, chỉ mang chức năng làm đẹp Một số nơi trên trần thiết người ta ốp gỗ sau đó vẽ trang trí các đề tài theo mô típ rồng mây với các màu chủ đạo như đỏ, vàng, đen, trắng, nâu, xanh

1.2.2.5 Các loại đồ thờ

Bên cạnh các hình thức trang trí khác thì đồ thờ cũng là một trong những hình thức trang trí quan trọng và phổ biến trong các công trình kiến trúc mang tính tôn giáo tín ngưỡng như đình, chùa, miếu trước khi để trở thành một ngôi đình thực sự Khi hệ thống thờ tự cùng Thành Hoàng Làng được “cấy” vào thì chức năng của ngôi đình mới trở thành một công trình kiến trúc mang tôn giáo tín ngưỡng Có thể thấy một số dạng đồ thờ cơ bản được bày biện trong đình như: hương án, bát bửu, chấp kích,… Một số đồ thờ là vật dụng cá nhân thường mang theo bên mình của các vị thần bảo hộ làng Khi văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa du nhập vào nước ta khiến cho hệ thống đồ thờ đã ít nhiều có sự thay đổi nhất là các đồ tự khí hay các vật linh trong không gian nội thất đình

1.2.3 Lý thuyết nghiên cứu

1.2.3.1 Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa

Trong bối cánh lịch sử từ TK XVII – TK XXI ở Việt Nam, nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được ra đời và tiếp thu có chọn lọc bởi những nền văn

Trang 27

hóa khác nhau, trong đó có những nền văn hóa ngoại lai tồn tại bên cạnh nền văn hóa bản địa Xét thấy đây là một khía cạnh cần phải được làm rõ trong luận án nên thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là một trong những lý thuyết phù hợp để luận án áp dụng vào nghiên cứu hai trường hợp cụ thể là ĐLLT và ĐLHL

Theo A.A.Radugin trong Từ điển bách khoa Văn hóa học (người dịch Vũ Đình Phòng) [133] cho rằng, thuật ngữ Cultural Acculturation thứ nhất là “Tiếp

nhận văn hóa” – là quá trình một nhóm sắc tộc tiếp nhận văn hóa của một nhóm sắc tộc khác tiến bộ hơn Thứ hai là “Tiếp xúc văn hóa” – trong quá trình tiếp xúc, hai bên bổ sung và làm giầu thêm cho nhau về mặt văn hóa, bên có nền văn hóa cao giúp bên có nền văn hóa thấp rút ngắn được chặng đường phát triển Thứ

ba là “tiếp thụ văn hóa” – là quá trình một thành viên của một nền văn hóa tiếp thụ những nét chính yếu và nội dung của nền văn hóa đó [133, tr.448 - 450] Dựa trên định nghĩa này, có thể nói rằng thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là lý thuyết quan tâm tới kết quả của quá trình được giao lưu tiếp xúc và biến đổi về văn hóa giữa hai quốc gia, giữa các dân tộc, giữa những nhóm người, giữa hai nền văn minh khác nhau,… Giao lưu văn hoá thực chất là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng Nó là “màng lọc” để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình

Lý thuyết này được áp dụng vào luận án để thấy đối tượng nghiên cứu ít nhiều đã có sự giao lưu, tiếp nhận, ảnh hưởng hay chọn lọc văn hóa qua các thời

kỳ để biến đổi trong tư duy trang trí ở hai ngôi đình Việc làm rõ sự giao lưu và tiếp biến về tạo hình trong các nền văn hóa khác nhau sẽ là cơ sở cho các hình thức trang trí được đa dạng hơn, đề tài trang trí phong phú hơn, đặc biệt các hình tượng trang trí cũng từ đó mà ít nhiều có sự thay đổi để phù hợp với bối cảnh

Trang 28

thực tiễn Qua quá trình điền dã, so sánh, đối chiếu thực tế, NCS nhận thấy hai nền văn hóa tiêu biểu này đã có sức ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình trang trí ở ĐLLT và ĐLHL là văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ bên cạnh yếu tố bản địa Cụ thể, tạo hình trong mỹ thuật Trung Hoa đã ảnh hưởng phần lớn trong các hạng mục công trình được bổ sung vào sau này (TK XIX) như: nghi môn, cửa võng, hoành phi câu đối, còn biểu hiện của văn hóa Ấn Độ trong ĐLLT và ĐLHL tuy không được mạnh mẽ như văn hóa Trung Hoa song một số mô típ hay các dạng đồ án trang trí tiêu biểu như: hoa sen, rahu, thần cưỡi thú đã được tiếp biến để trở thành đồ án hoa sen (ĐLLT và ĐLHL), đồ án rồng nhân dạng (ĐLLT), đồ án long hàm thọ (ĐLLT và ĐLHL)

Bên cạnh sự giao lưu và tiếp biến từ mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Đô, nghệ

thuật trang trí còn được tiếp biến từ mỹ thuật truyền thống Phú Thọ nhất là vùng

đất ngã ba Hạc gần khu vực núi Hùng là một trong những cơ tầng văn hóa cổ đã

từng rất rực rỡ trong thời đại Đông Sơn, qua các di vật còn để lại như trống

đồng, thạp đồng, các đồ dùng, vật dụng để săn bắt và hái lượm, các đồ vật trang trí trên: muôi đồng, dao găm, vòng tay… đã chứng minh phong cách thời đại

Đông Sơn mang đậm văn hóa Đông Nam Á với những hình tượng phi Ấn, phi

Hoa như tạo hình thuyền, hình tượng con người, hình ngôi sao biểu thị mặt

trời… Trải qua một quãng thời gian dài trong lịch sử nhưng những hình tượng

đó vẫn được bảo lưu trong kiến trúc truyền thống cùng một số mô típ trang trí ở ĐLLT và ĐLHL như: “nhà sàn – thuyền” được vận dụng sáng tạo vào trong kiến trúc ngôi đình với phần mái có 4 đầu đao cong vút, lòng sàn rộng (có dấu tích mộng sàn) Vẫn những hình ảnh: thuyền, mái nhà sàn, người chèo thuyền, nay được thể hiện theo một phương thức trang trí mang tính hiện thực hơn Đặc biệt,

một trong những dấu ấn tạo nên điểm rất riêng của nền văn hóa Đông Sơn đó là đề

cao vai trò của nữ giới trong gia đình và xã hội (được thể hiện sinh động trong

cảnh nam nữ giao phối, người giã gạo, hay hình ảnh hình người phụ nữ ăn vận rất đẹp tìm thấy được trên cán kiếm dao găm (Thanh Hóa))… nay đã được hai ngôi

Trang 29

đình thể hiện liên tục qua các bức chạm khắc: rồng ổ, tiên nữ, ngọc nữ, những người phụ nữ trong tranh trang trí trên ván gỗ ở ĐLHL, thậm chí ở ĐLLT còn tạc thành tượng nữ Hai Bà Trưng để thờ (điều này còn rất mới mẻ trong thời kỳ mang

đậm tính chất Nho giáo với quan niệm trọng nam, khinh nữ rất rõ nét của người

Việt) Vậy nên, từ những mô típ trang trí còn phảng phất trong một số hình tượng nhân vật hay tạo hình trong văn hóa mặc ở ĐLLT và ĐLHL đã cho thấy ảnh xạ từ những dấu tích của văn hóa cổ Đông Sơn vẫn được tiếp tục được thể hiện nhưng theo một cách thức khác ở hai ngôi đình trên miền đất tổ Hùng Vương

Nếu lấy kinh kỳ (tức Thăng Long) làm trung tâm thì Phú Thọ thuộc xứ Đoài (trấn Sơn Tây), Xứ Đoài là một trong những khu vực mà nghệ thuật đình làng phát triển rực rỡ và đỉnh cao (nhất là TK XVII), với sự đa dạng trong kiến trúc cũng như nghệ thuật chạm khắc, nếu nhìn một cách tổng thể, về cơ bản các ngôi đình Việt đều có phần giống nhau nhưng xét về tính chi tiết, mỗi ngôi đình đều có những đặc trưng nhất định Vào thời xưa khi mới khởi dựng các ngôi đình, làng nào có đình càng to, chạm khắc càng đẹp thì làng ấy càng được coi là

giàu có và được làng khác ngưỡng mộ hoặc kính trọng Với tư tưởng “con gà

ganh nhau tiếng gáy” giữa các làng nên những ngôi đình càng về sau càng được

xây dựng to đẹp và rực rỡ hơn (có thể thấy giai đoạn cuối thế kỷ XVII – đầu thế

kỷ XVIII là giai đoạn bùng nổ các ngôi đình làng) Do đó, để đáp ứng được khối lượng công việc khổng lồ ấy thì các làng thuê các hiệp thợ có tay nghề cao ở làng bên sang bên làng mình để làm là điều rất dễ hiểu Chính nguyên nhân này

vô hình chung đã dẫn tới việc các hiệp thợ khi làm việc cùng nhau thì sẽ có điều kiện để giao lưu và học hỏi lẫn nhau từ đó dần dần mà sinh ra một phong cách chạm khắc mới Sự giao lưu cứ qua lại như thế thì cho ra kết quả rằng nghệ thuật chạm khắc ở ngôi đình này lại có nét gì đó na ná với phong cách chạm khắc ở các ngôi đình làng bên tuy nhiên lại có những nét rất riêng mà ngôi đình khác muốn bắt chước cũng không có được vì chạm khắc còn liên quan tới cả vị thành hoàng làng, kinh tế, văn hóa làng, vô hình chung chính điều

Trang 30

này đã thúc đẩy mỹ thuật dân gian phát triển một cách rất mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân trong giai đoạn bùng nổ về đình vào cuối TK XVII đầu

TK XVIII ở Việt Nam

1.2.3.2 Lý thuyết Địa - văn hóa

Một trong những phân ngành được phát triển mạnh mẽ nhất trong khoa học địa lý ở các nước phương Tây vào thế kỷ XIX phải kể đến là phân ngành

Địa lý văn hóa Với sự phát triển toàn diện của địa lý văn hóa đã được nhiều nhà

nghiên cứu ở nhiều nước như ở Pháp, Anh, Đức, Bắc Mỹ, Pháp, Thụy Điển, phát triển và đều được tiếp cận theo nhiều trường phái khác nhau (trong đó tiêu biểu nhất là Joel Bonnemaison - nhà địa lý học người Pháp, giáo sư Đại học Paris IV) Nhưng nhìn chung, bản chất cơ bản của lý thuyết này là mối quan hệ

giữa địa lý và văn hóa, thiên nhiên địa lý mỗi vùng như thế nào sẽ hình thành

nên văn hóa, kinh tế của mỗi vùng sẽ như thế đó Vì vậy, với những vị trí địa lý gần nhau sẽ hình thành nên sự tiếp xúc hay giao lưu với nhau về văn hóa, còn những vùng địa lý tuy xa nhau nhưng lại có điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau thì có thể sẽ sản sinh ra các nền văn hóa tương đồng, trong đó hai nền văn hóa lớn nhất phải kể đến là: văn hóa lúa nước và văn hóa du mục, từ đó hình thành nên các cách ứng sử khác nhau giữa các vùng văn hóa

Tại Việt Nam, theo một số quan điểm về địa văn hóa của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng [118] và vùng văn hóa của Ngô Đức Thịnh [114], cũng đều cho rằng địa lý bao gồm hai cấu trúc là địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế xã hội, và thống nhất điều kiện tự nhiên sẽ tác động tới đặc trưng và sắc thái văn hóa rõ nét

Từ việc tìm hiểu lý thuyết này, NCS áp dụng vào đối tượng nghiên cứu để thấy rằng: Sự phân bố địa lý đã tác động một phần tới nghệ thuật trang trí ĐLLT

và ĐLHL Việc xác định không gian văn hóa bao gồm cả địa lý, khí hậu, tộc người, các lớp lang lịch sử cùng các lễ hội truyền thống trên địa bàn xung quanh khu vực núi Hùng mà NCS chọn làm đối tượng nghiên cứu chính, để thấy rằng:

Sự tập trung các ngôi đình lớn với nghệ thuật trang trí ở đây đều mang những

Trang 31

đặc trưng văn hóa vùng rất rõ nét Nếu nghiên cứu kỹ về không gian văn hóa vùng hay văn hóa dòng sông sẽ phần nào giải quyết được các câu hỏi trong luận

án về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trong dòng chảy văn hóa dân gian của Phú Thọ, thực chất là văn hóa lúa nước từ đó nảy sinh ra đình làng Cụ thể:

Về Vị trí địa lý – văn hóa, xã hội của Phú Thọ

Vào thời đại đồng thau, thời kỳ Hùng Vương là một trong những thời kỳ hùng mạnh và tập trung được nhiều dân cư sinh sống Phú Thọ được xem là một trong những khu vực có địa thế phức tạp, đây vừa là nơi có tính chất miền núi bởi dải rác là những dãy núi cao (núi Hùng), vừa là nơi có tính chất miền trung

du thơ mộng bởi những quả đồi mọc quanh như bát úp (đồi chè Phú Thọ), phía chân đồi là những cánh đồng bằng phẳng phì nhiêu màu mỡ Bên cạnh cảnh quan vị trí địa lý đặc biệt ấy, Phú Thọ còn được biết đến như là một trong những vùng đất cổ kính với cơ tầng văn hóa cổ đã từng rất rực rỡ ở nơi đây tiêu biểu nhất là văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đông Sơn và thời đại Hùng Vương đã từng một thời vang bóng Có thể nói, Phú Thọ có vị trí thuận lợi mang nhiều màu sắc dân tộc cùng nguồn tài nguyên trù phú để thúc đẩy tiềm lực về kinh tế cùng quỹ đất rộng để phát triển các cây gỗ quý có đường kính mấy người ôm, chỉ riêng điều này thôi cũng đủ để lý giải cho nguyên nhân tại sao ĐLLT và ĐLHL được làm rất lớn, cột mấy người ôm và có phần bề thế khang trang hơn so với các ngôi đình trong toàn tỉnh

Khi nghiên cứu khảo sát các ngôi đình làng tại địa bàn Phú Thọ, một đặc điểm rất điển hình là trên 200 ngôi đình ở Phú Thọ tất thảy đều có tục thờ cúng các vị vua thời Hùng Vương và các vị tướng như: Tam Sơn, Ất Sơn, Viễn Sơn,

Áp Đạo Quan Đại Vương, Hai Bà Trưng, Khi men theo triền sông hoặc sang các vùng lân cận như: Sơn Tây, Ba Vì, Hương Canh thì những ngôi đình này

có nhiều điểm khá tương đồng Do đó, việc nghiên cứu địa – văn hóa là thực sự

Trang 32

cần thiết, điều này sẽ là cách để tìm ra mối liên hệ giữa nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam

1.3 Khái quát về đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô

1.3.1 Khái quát về đình làng Lâu Thượng

1.3.1.1 Lịch sử xây dựng đình làng Lâu Thượng

ĐLLT nằm trên một quả đồi thấp, thuộc xóm Mai, đồi Lâu Thượng Theo các cụ kể lại: ĐLLT nằm trên tai ngai, một bên là xóm Mai, một bên là đồi Lôi Kết Đình trông về hướng Nam, cách sông Lô khoảng 1km, phía Bắc cách TP Việt Trì khoảng 4km, cách ĐLHL khoảng 5 - 6 km

Theo bản lược kê di tích, ĐLLT từ trước tới nay vẫn được người dân gọi

là đình Ngoại, thuộc thôn Ngoại, xã Lâu Thượng Trước kia xã Lâu Thượng còn gọi là Kẻ Sủ, huyện Phù Kháng, tỉnh Sơn Tây Sau Kẻ Sủ đổi thành Ngọc Vũ và chia thành hai thôn là thôn Nội và thôn Ngoại Thời Pháp thuộc gọi là xã Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ Sau cách mạng tháng 8/1945, Ngọc Vũ Ngoại thôn, sát nhập với 6 thôn: thôn Hương, thôn Nội, thôn Đông, thôn Nam, thôn Thượng, thôn Hạ lấy tên là xã Trưng Vương Năm 1954, xã Trưng Vương chia ra làm nhiều xã, thì hai thôn Nội và Ngoại lại lập lại thành một xã gọi là xã Lâu Thượng thuộc TP Việt Trì, tỉnh Vĩnh Phú Hiện nay, nhân dân vẫn gọi là đình Lâu Thượng hay đình Ngoại thuộc TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Đình được xếp hạng di tích quốc gia theo quyết định số 29 – VHQG danh mục số 115, cấp ngày 21 tháng 2 năm 1975, trao bằng D-T, ngày 10 tháng 3 năm Canh Ngọ, tức ngày 05 tháng 4 năm 1990 [126]

Trước đây khi xã Lâu Thượng còn là Kẻ Sủ thì chỉ có một đình gọi là đình Rỡ Kẻ Sủ gặp nhiều phúc lộc, sinh sôi nảy nở, con cháu ngày càng đông, nên dân chia làm 2 thôn gọi là Ngọc Vũ Nội thôn và Ngọc Vũ Ngoại thôn, đồng thời cũng chia đình Rỡ thành hai đình là đình Ngoại và đình Nội Trong khi chia đình, thôn Ngoại ở gần lấy được nhiều hơn, thôn Nội lấy được một nồi hương Sau đó hai thôn kiện nhau, quan trên xét thôn Nội được làm anh, vì

Trang 33

thôn Nội lấy được nồi hương là đồ thờ chính trong đình vì vậy Lâu Thượng ngày nay có 2 đình gồm: đình Nội và đình Ngoại Tuy nhiên xét về mặt kiến trúc cũng như nghệ thuật chạm khắc thì đình Ngoại mang giá trị nghệ thuật hơn

so với đình Nội do đó luận án sẽ chỉ tập trung nghiên cứu vào nghệ thuật trang trí đình Ngoại tức gọi tắt là ĐLLT hay đình Lâu Thượng Ngoại [126]

Thông qua những số liệu ghi chép trong hồ sơ di tích tại phòng văn hóa địa phương cũng như chứng kiến thực địa tại di tích này cho thấy, làng Lâu Thượng ở vào nơi di chỉ thời Hùng Vương, phía tả giáp Lô giang, phía hữu giáp Thao giang Làng Lâu Thượng hiện nay có một ngôi đình, không rõ về niên đại

đến đời nhà Nguyễn tiếp tục tu bổ nên có chữ viết ở câu đầu như sau: Tự Đức

ngũ niên cửu nguyệt sơ thập nhật thụ trụ thượng lương (tức là ngày mười tháng

chín bắc nóc), lần thứ 2 đời Tự Đức sửa hậu cung và đại bái vào năm Nhâm Tý Ngày mồng sáu tháng tám tu lý Lần thứ 3 đời Tự Đức sửa lại nội điện, ghi ở hai

đầu cột giữa đại bái và hậu cung như sau: Quý mão niên lý tác nội điện thượng

hạ tứ vị, tứ giáp Đồng tự hậu ý khởi trên cùng một thời gian Năm Quý Mão xây

lại hậu cung làm cả bốn phía dưới Năm Duy Tân (1915 đình xiên về phía Đông, nhưng không có điều kiện sửa chữa) Đời vua Khải Định năm thứ 2 (1917) bắt đầu tu lý lại (Khải Định làm vua từ 1916 - 1925) Sang đời dân chủ cộng hòa, ngày 26 tháng 11 năm 1987 tức là ngày mồng 6 tháng 10 năm Đinh Mão, sửa lại phần mái, chống dột Đến năm 1992 cây nóc gian giữa gãy, phải sửa lại đề là:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuế thứ nhâm Thân nhị nguyệt nhị thập tứ nhật khởi công trùng tu (tức dương lịch, ngày 27 tháng 3 năm 1992, tức ngày 24

tháng 4 năm Nhâm Thân) Lần thứ 7 đại tu tổng thể do sở Văn hóa thông tin tỉnh

Phú Thọ chủ đầu tư, cây nóc giữa đề là: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lục

thập tam niên Tuế thứ Mậu tý bát nguyệt nhị thập tứ nhật thụ trụ thượng lương

Công nguyên năm hai nghìn linh tám, tháng 9, ngày 28 đại cát (tạm xong) [126]

Trang 34

1.3.1.2 Các vị thần được thờ ở đình làng Lâu Thượng

Đình thờ 4 vị trong đó vị thứ nhất là Cao Sơn báo quốc đại vương (Tản

Viên Sơn thần) (Húy là Tuấn, tên chữ là Tùng, sinh ngày mồng một tháng giêng

năm Đinh Tỵ, là: Quốc tế hiện quân của vua Hùng Duệ Vương, ngài có công đánh giặc Thục, được phong nguyên tặng: Chiêu ứng Anh Thông, Linh Tế, Linh

Diệu, gia phong địch cát, Tuấn Tĩnh, Quế Minh Thượng đẳng thần đại vương)

Vị thứ hai là Ả nương Công chủ đại vương (Húy là Trắc tên chữ là Đoan, sinh

ngày mười lăm tháng tám năm Đinh dậu, nguyên tặng Ả nương nàng kiền, Từ

tuệ Huyền Cơ đại vương) Vị thứ ba là Bình Khôi công chủ đại vương (húy là

Trong tên chữ là Nhị, sinh ngày mồng mười tháng chạp năm Mậu Thân Nguyên tặng Bình khôi thông duệ trinh thục công chủ đại vương) Vị thứ hai và vị thứ ba

chính là hai vị thần Trưng nữ vương, sinh vào thời Triệu vương trị nước, cuối

thời Vệ vương thất thủ giặc Tô nổi loạn Trung Nguyên khiến trăm họ dân Việt lầm than, binh biến dày vò Hai vị đã được ân đức của nhà Hùng Thần oai càng dậy, thanh thế càng dày, sỹ phu bốn phương tụ hợp, rèn luyện quân cơ tại khu Bãi Dầu, xứ sở làng Lâu Thượng khởi binh đánh giặc, đuổi Tô Định tham tàn, bạo nghịch, phận nữ nhi chống được Hán triều, dương cờ độc lập, mở ra kỷ nguyên độc lập cho tổ quốc Nam Việt, xứng danh nữ anh hùng Vị thứ tư là Như Tuy đại vương, người họ Lý, húy là Hồng Liên, sinh ngày mười tám tháng ba năm Đinh tỵ, thọ 63 tuổi Mất ngày mồng mười tháng giêng năm Kỷ dậu Nguyên tặng: Như Tuy độ lý anh nghị Hồng Du, gia phong Bảo An, chính trực, Hiệu Thiện Đôn, ngưng thần đại vương Người lên đất Lâu Thượng từ đời Lê Anh Tông dạy học, khai sinh ra hai tiếng Văn vật, mùa hè nóng nực đi tắm, lên bóng mát trên bờ rồi hóa ngay, ở đấy hiển linh làm thành hoàng (mộ tại Cây Trâm đầu đình Nội bây giờ) [126]

1.3.1.3 Kiến trúc đình làng Lâu Thượng

Dựa theo ghi chép trong lý lịch di tích ĐLLT cùng một số nghiên cứu đi trước của: Hà Văn Tấn, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, ĐLLT là một ngôi đình

Trang 35

có kiến trúc đồ sộ, làm theo kiểu chữ Đinh, nằm trên khu đất cao, rộng bằng phẳng Nhìn từ ngoài vào mái đình có 4 đầu đao vút lên thanh thoát trên bờ nóc,

bờ guột được trang trí bởi những hình con giống Đình gồm 5 gian 2 chái, với chiều dài 28m, chiều rộng kể cả hậu cung 22m Vì nóc được sáng tạo theo kiểu giá chiêng chồng rường Liên kết hiên được làm kiểu kẻ suốt, ăn mộng từ thân cột quân qua cột hiên đỡ dạ tàu mái Các xà ngang được ăn mộng với nhau tạo thành một bộ khung bền, chắc

Trước kia toàn bộ phần mái được khoác lên mình một chiếc áo gồm những viên ngói mũi hài thời Lê rất đẹp, tuy nhiên sau nhiều lần tu sửa đặc biệt

là năm 2008 toàn bộ phần mái được lợp bằng ngói di, ở phần chính giữa trang trí

đôi rồng chầu mặt nhật hay còn gọi là Lưỡng long chầu nhật, con lân được đặt ở

vị trí khúc nguỷnh và các góc đao thì được đắp hình rồng Phần bao che cũng được làm từ năm 2008 ở đầu hồi bít đốc bằng gạch chát vữa, phần nền được lát gạch đồng thời cũng khôi phục lại sàn gỗ ở hai gian chái đình (TK XX), cho nên khi vào đình ta sẽ thấy hệ thống sàn được chia giật cấp (3 cấp) Hậu cung được làm lồi ra phía sau ngăn cách với tòa đại đình bằng bức cửa gỗ kín đáo Kết cấu khung tương đối đồng bộ được làm từ TK XIX, các vì nách cũng được làm theo lối cốn chồng rường và bên dưới được đỡ bởi các xà nách to khỏe Nhìn chung toàn

bộ ngôi đình có lối kiến trúc đồ sộ cùng nghệ thuật chạm khắc rất công phu

1.3.2 Khái quát về đình làng Hùng Lô

1.3.2.1 Lịch sử xây dựng đình làng Hùng Lô

Theo ghi chép trong lý lịch di tích [125], ĐLHL còn gọi là đình Xốm, khi mới hình thành làng gọi là An Thái xã, Khả Lãm thôn Khi xóm làng phát triển,

cư dân đông đúc mới đổi thành An Lãm xã Đến năm Thành Thái đổi là An Lão

xã, thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Hạc Trì (Phú Thọ) Đến năm 1945 đổi thành

xã Hùng Lô, huyện Phù Ninh nay là TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Khi nhắc tới ĐLHL thường là nhắc về cả một quần thể kiến trúc vô cùng phức tạp, được xây dựng với nhiều hạng mục lớn nhỏ khác nhau như: ngôi miếu

Trang 36

cổ (miếu Hùng Vương), tòa đại đình, tòa phương đình, nhà tiền tế, lầu Chuông, gác Trống, nhà Văn Chỉ, nhà Yến Lão, nhà thờ Phật, bệ Thần Nông, ao sen, công viên, vườn hoa cây cảnh và nhiều chậu hoa tạo nên một quần thể di tích mang một ý nghĩa văn hóa sâu sắc của tỉnh Phú Thọ ĐLHL cách Đền Hùng khoảng 10km Xét về riêng tòa đại đình thì ĐLHL được xây dựng vào năm 1697 dưới triều Lê Chính Hòa thứ 18 Khi làng Hùng Lô mới hình thành thì chưa có đình, chỉ có một ngôi miếu để thờ thần gọi là miếu Hùng Vương Sau khi xóm làng đông đúc có tới 11 xóm, dân làng mới bắt đầu dựng đình bên cạnh miếu, đến đời Nguyễn đình được trùng tu lớn và ngày 17 tháng 2 năm 1990 đã được nhà nước cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia [125]

Quần thể khu di tích ĐLHL được xây dựng trên một gò đất cao rộng

5000m2, thuộc trung tâm giữa làng An Lão, thời đó các cụ chia làm 4 giáp đến nay có 10 xóm, đất chật người đông, cuộc sống chủ yếu làm về nghề nông và có buôn bán nhỏ, thực phẩm đa dạng ngày càng phát triển, thôn xóm sầm uất Riêng nhà Văn Chỉ và Yến Lão năm 1947 – 1948 bị rỡ bỏ cho đến năm 2007 hai tòa nhà này mới được phục hồi

Quả đồi nơi xây dựng đình được dân làng gọi nôm na là đồi con cua, ở thế

mão long Đình được làm trên mai con cua; hai bên tả hữu có hai cái ao, tựa như

hai mắt con cua (nhưng hiện nay ao này đã bị lấp) Phía trước là đầm cửa đình,

phía sau giáp sông Lô, hướng đình trông về núi Nghĩa Lĩnh, nơi có mộ Hùng Vương, bên phải đình là xóm Xị, bên trái đình là xóm Ngà; hai xóm này được ví

như tay long, tay hổ mà người làng gọi là tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ [125]

ĐLHL được khởi dựng từ ngôi miếu thờ Hùng Vương (miếu xây dựng từ bao giờ hiện không rõ) Dưới đời Nguyễn, quần thể ĐLHL được trùng tu lớn Vì vậy, nhìn toàn bộ ngôi đình, sẽ thấy sự kết hợp của hai phong cách chạm khắc của triều Lê và triều Nguyễn rất rõ nét [125]

Trang 37

1.3.2.2 Các vị thần được thờ ở đình làng Hùng Lô

ĐLHL thờ tam vị là 1 - Ất Sơn Đại Vương gọi là vua Hùng Hy Vương, tên húy gọi là Viêm Lang; 2 - Viễn Sơn Đại Vương gọi là Hùng Hoa Vương, tên húy là Bảo Lang; 3 - Áp Đạo Quan Đại Vương là tướng dẫn đường, tướng bảo vệ vua Bên

trong thượng cung có 3 ngai, tượng trưng thờ 3 vị, riêng ở ngai giữa có mũ cánh chuồn, có áo hoàng bào, có đôi hia, bên trong bụng ngai có chữ Hán khắc bên trong

đề “Ất Sơn Đại Vương”, “Viễn Sơn Đại Vương”, “Áp đạo quan Đại Vương” [125]

1.3.2.3 Kiến trúc đình làng Hùng Lô

Nhìn chung, đây là một quần thể di tích bao gồm rất nhiều kiến trúc nhỏ

lẻ, được xây dựng vào nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử Xét về niên đại còn lưu lại trên kiến trúc, tòa đại đình được xây dựng sớm hơn cả và được làm

theo kiểu chữ Nhất, tức là kiến trúc nhất gian nhị hạ (1 gian 2 chái) Phần đất để

dựng tòa đại đình có chiều dài 19m, chiều rộng 12m Toàn bộ cấu kiện kiến trúc đều được làm bằng gỗ như đinh, lim, sến, táu, mít và xoan Cột kèo và các mảng chạm đều được phủ sơn son thếp vàng lộng lẫy và đẹp mắt Bao quanh tòa đại đình là hàng hiên Gian chính có 4 chiếc cột cái đường kính khoảng 0,8m, còn các cột bên đều có đường kính khoảng 0,8m Các đầu bẩy ngoài hàng hiên phía trước đều có chạm rồng miệng ngậm ngọc Phần hậu cung được đặt trên một gác lửng ngay trong khu vực khám thờ, phía trước là rèm lụa, hai bên ốp gỗ và có nhịp xuôi xuống theo nhịp xuôi của mái đình

Tiểu kết

Trong chương 1, luận án hệ thống lại các tư liệu nghiên cứu về đình nói chung và ĐLLT, ĐLHL nói riêng của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ như văn hóa học, nghệ thuật học, kiến trúc,… trên cơ sở đó tìm ra những vấn đề khoa học còn chưa được luận bàn, hay chưa được làm sáng tỏ Qua một số tư liệu kể trên, nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL là một trong những đề tài còn chưa được các nhà nghiên cứu đi trước quan tâm tìm hiểu và đây sẽ là vấn đề cần phải làm rõ trong luận án

Trang 38

Trên cơ sở đó, luận án nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm về trang trí, nghệ thuật trang trí, khái niệm về đình làng, mặt khác cũng xác định hệ thống lý thuyết xuyên suốt cùng một số nguyên tắc trang trí

cơ bản như: đối xứng, xen kẽ, phá thế… để làm tiền đề nghiên cứu về nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình

Thêm nữa, luận án nhận định đây là một đối tượng nghiên cứu vừa có tạo hình dân gian mang yếu tố bản địa, vừa có tạo hình được tiếp biến từ mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ Do đó, một số thuyết khoa học sẽ được luận án

vận dụng như thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, thuyết địa văn hóa để

hướng đến nhận định rằng nghệ thuật trang trí ĐLLT, ĐLHL dựa trên nguyên tắc trang trí cơ bản để hình thành nên những phong cách trang trí đặc trưng, góp phần làm đẹp cho ngôi đình trong bối cảnh lịch sử văn hóa, xã hội TK XVII – TK XXI Có thể nói rằng ĐLLT và ĐLHL là hai ngôi đình tiêu biểu ở tỉnh Phú Thọ, thời kỳ đầu mang phong cách trang trí thời Hậu Lê (cuối TK XVII) còn sang đến giai đoạn trùng tu, tôn tạo, cả hai ngôi đình đều có những ảnh hưởng về nghệ thuật trang trí của thời Nguyễn (TK XIX) rất rõ nét

Trang 39

Chương 2 HÌNH THỨC, ĐỀ TÀI VÀ ĐỒ ÁN TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ

2.1 Hình thức trang trí

2.1.1 Chạm khắc

Trong số các hình thức trang trí bao gồm: chạm khắc, tượng, đắp nổi vôi

vữa có gắn sứ, tranh vẽ trên ván gỗ, cùng một số đồ thờ thì chạm khắc gỗ là một

trong những hình thức trang trí điển hình và có giá trị nhất ở ĐLLT và ĐLHL Đây là kiểu thức trang trí chủ đạo đã góp phần tạo nên hiệu quả thẩm mỹ mạnh

mẽ nhất, gây xúc động nhiều nhất và đem lại những giá trị nghệ thuật mang đậm chất dân gian Vì phần lớn cả hai ngôi đình đều đã được trùng tu nhiều lần do vậy những mảng chạm khắc mang nhiều lớp niên đại cùng phong cách chạm khắc

có phần thay đổi, hình thức này chủ yếu được tập trung trang trí ở một số vị trí cơ bản như: ván giong, bảy, kẻ, cốn, đầu dư, hoành phi câu đối, cửa võng Cụ thể:

Thứ nhất: Chạm khắc trên bộ vì

Tất cả các bộ vì ở đại đình ĐLLT hầu như không được tập trung chạm khắc, chỉ hai bộ vì ở giữa lòng đình được nhấn nhá khắc nông ở câu đầu [PL3 H.20, tr.195] Hai bên phía dưới câu đầu (tức đầu dư) được chạm đôi rồng chầu với kích thước dài hơn so với các đầu dư ở gian bên, ở vị trí này trông chúng như cuốn đỡ lấy câu đầu, nâng đỡ kiến trúc cho nhẹ nhõm Rồng ở đây được miêu tả gồm mắt, mũi, tai, răng, hai chân choãi với những móng sắc nhọn Những bờm tóc bay ngược về phía sau với lối tạo hình mềm mại trông như những tia lửa và tạo cảm giác rồng như đang bay tất cả đều sử dụng lối chạm đục kênh bong rất công phu Chính nhờ hiệu ứng trang trí bộ vì mang tính tập trung cao ở khu vực trung đình và cách tối giản ở các bộ vì gian bên nên hiệu quả trang trí ở ĐLLT phần lớn mang tính tập trung và không sa đà vào các chi tiết rườm rà trên các khu vực kiến trúc khác đã phần nào làm cho không gian đình trở nên nhẹ nhõm tăng hiệu quả thẩm mỹ cho không gian nơi thờ tự

Trang 40

Còn bộ vì ở ĐLHL cũng được làm theo kiểu vì giá chiêng chồng rường và cũng chỉ được trang trí khá đơn giản, chủ yếu được nhấn nhá chạm khắc ở những thanh rường phía dưới, càng lên cao những thanh rường ở phía trên được trang trí đơn giản hơn Khác với cách trang trí bộ vì ở ĐLLT chỉ được tập trung trang trí ở gian giữa nhưng 2 bộ vì ở ĐLHL lại được tập trung trang trí ở cả hai gian kế bên, được điểm xuyết sinh động bởi thần tiên con người và linh thú [PL3, H.89, tr.229], còn những bộ vì ở gian giữa chỉ được nhấn nhá bởi những họa tiết không quá cầu kỳ ở đầu thanh rường, góp phần hiệu quả làm nổi lên những dòng chữ trên câu đầu [PL3, H.20, tr.195] Với cách bố trí mang tính lan tỏa sang hai khu vực gian bên như thế, đã góp phần tạo nên không gian mang tính chất dàn trải, thống nhất với các hình thức trang trí khác nhưng không tạo sự rối mắt trong tổng thể kiến trúc ngôi đình

Riêng ở ĐLLT, còn có thêm hình thức chạm khắc trên vì nóc ở hậu cung,

bộ vì này được nối trực tiếp với ban thượng cung để tạo nên một bức chạm khắc lớn ở ngay khu vực giữa khám thờ, người ta tận dụng tối đa độ cao, độ dài của kiến trúc với kỹ thuật đục bong để tạo nên một tác phẩm lớn vừa có chức năng che phủ mặt trước hậu cung vừa trở thành bức “nền” cho hai bức tượng thờ trên khám thờ ở phía trước (nay bức chạm bị che khuất bởi rèm, tượng thờ, bằng công nhận

di tích nên rất khó thấy) [PL3, H.16, tr.193] Bên cánh tả, hữu, ở ngay trên lối ra vào hậu cung, mỗi bên chạm 1 bức có chiều cao lên tới tận nóc được đấu thẳng và

ăn liền với bức chạm vì nóc ở giữa để tạo nên một mảng trang trí rất lớn với những nhát đục khá sâu có chỗ độ dày lên tới khoảng 15cm [PL3, H.43, H.44, tr.206] Đường nét ở đây bị lơi đi không còn thấy những đường thẳng của kiến trúc mà sử dụng nhiều đường cong gẫy khiến cho bức chạm trở nên tủn mủn và vụn vặt Hàng chục con vật lớn nhỏ được chạm trong các tư thế như: rồng chầu mặt trời, lân ngoạm chữ thọ, phượng hàm thư, khỉ leo trèo, rùa ẩn nấp trong lá sen, thân rồng được cuốn bởi những cụm mây có vân xoắn lớn hay những cụm mây có tạo hình như tia lá dài cuốn lấy thân rồng, con thì có vảy, con thì để trơn, phong

Ngày đăng: 17/03/2020, 18:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w