Lá chùm ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin thiết yếu như vitamin A, C và E. Ngoài ra, trong lá Chùm ngây còn chứa hàm lượng cao carotenoid. Lá chùm ngây giàu provitamin, bao gồm cả axit ascorbic, carotennoids và tocopherols. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của chùm ngây (Moringa oleifera) đến năng suất, chất lượng sản phẩm của vật nuôi tại Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ QUÝ BIÊN
THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU
TƯƠNG BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ
SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ QUÝ BIÊN
THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU
TƯƠNG BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ
SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Ngành: Chăn nuôi
Mã ngành: 8.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Trung Kiên
Chữ ký phòng đào tạo Chữ ký khoa chuyên môn Chữ ký giảng viên hướng dẫn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưatừng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2019
Học viên
Lê Quý Biên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ long kính trọng và biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên - Giảng viên khoa Chăn nuôi Thú
y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ long biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2019
Học Viên
Lê Quý Biên
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ thí nghiệm
Bảng 2.2 Khẩu phần thức ăn thí nghiệm
Bảng 2.3 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm (%)
Bảng 3.2 Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (gam) Bảng 3.3 Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm (%), (n = 3)
Bảng 3.4 Năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ
Bảng 3.5 Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu về thành phần hóa học của trứng gà thí nghiệm Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm (n=40)
Bảng 3.8 Độ đậm màu lòng đỏ trứng ở các giai đoạn thí nghiệm (n=8) Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của việc thay thế khô đỗ tương bằng bột MO
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lê Quý Biên
Tên Luận văn: THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU TƯƠNG
BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN
THỨC ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Ngành: Chăn nuôi Mã ngành: 8.62.01.05
Tên cơ sở đào tạo: Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Đối tượng, nội dung nghiên cứu :
Cây thức ăn chùm ngây ( Moringa oleifera ), Gà sinh sản.
Thay thế một phần Protein khô dầu đậu tương bằng bột lá chùm nây (
Moringa oleifera ) trong khẩu phần thức ăn gà trứng.
Phương pháp nghiên cứu :
Thí nghiệm gồm 378 gà trứng, từ 35-42 tuần tuổi, chia làm 3 lô, mỗi lô
có 42 gà nhắc lại 3 lần (42 x 3 = 126 con)
Lô đối chứng ăn khẩu phần cơ sở (KP có KDĐT, không có bột lá chùm ngây ), lô TN1, TN 2, thay thế 20%, 30 % protein của khô dầu đậu tương
trong KPCS bằng protein của bột lá chùm ngây.
Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, thànhphần hóa học của trứng, các chỉ tiêu lý học của trứng
Kết quả chính và kết luận :
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp khá hoàn chỉnh về kỹ thuật sử dụngtrong chăn nuôi gà trứng Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng trong giảngdạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
Trang 9* Ý nghĩa thực tiễn
Thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phầnthức ăn gà trứng sẽ là một hướng mới để nâng cao chất lượng sản phẩm chănnuôi
Phần 1.
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hiện nay thức ăn chiếm từ 60- 70% giáthành sản phẩm, do vậy nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi luônđược các nhà khoa học quan tâm, việc sử dụng các chất có nguồn gốc thực vậtlàm nguyên liệu bổ sung vào thức ăn chăn nuôi là một hướng đi đúng và cấpthiết
Lá chùm ngây là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tựnhiên tốt cho sức khoẻ con người, được sử dụng để điều trị bệnh theo nhiềucách khác nhau Tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụng cho các
bà mẹ thiếu sữa, trẻ em suy dinh dưỡng và là giải pháp lương thực cho thếgiới thứ ba (DanMalam và cs, 2001; McBurney và cs, 2004; Fahey, 2005) Láchùm ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin thiết yếunhư vitamin A, C và E So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng chính trong láChùm ngây với một số loại thực phẩm phổ biến cho thấy hàm lượng vitamin
C nhiều hơn quả cam 7 lần; vitamin A nhiều hơn cà rốt 4 lần; canxi nhiều hơnsữa 4 lần; chất sắt nhiều hơn cải bó xôi 3 lần; chất đạm (protein) nhiều hơn 2lần so với yaourt; kali nhiều 3 lần so với quả chuối (Donovan, 2007) Ngoài
ra, trong lá Chùm ngây còn chứa hàm lượng cao carotenoid hoạt tính sinhhọc, tocopherols và vitamin C có giá trị trong việc duy trì cân bằng chế độ ănuống và ngăn ngừa các gốc tự do – là nguyên nhân gây lên nhiều bệnh hiểm
Trang 10nghèo (Smolin và Grosvenor, 2007) Lá giàu provitamin, bao gồm cả axitascorbic, carotennoids (Lako và cs, 2007) và tocopherols (Gomez- Conrado
và cs, 2004; Sanchez-Machado và cs, 2006) Các nghiên cứu dịch tễ học đãchứng minh rằng các loại rau quả giàu carotenoid có liên quan đến giảm nguy
cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái hoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷtinh thể (Lakshminarayan và cs, 2005; Bowman và cs, 1995; Krichevsky và
cs, 1999) Ngoài các provitamins, lá Chùm ngây cũng được coi là nguồngiàu khoáng chất (Gupta và cs, 1989), polyphenol (Bennett và cs, 2003),flavonoid (Lako và cs, 2007; Siddhuraju và cs, 2003), alkaloid và protein(Sarwatt và cs, 2002; Soliva và cs, 2005) Những chất dinh dưỡng thiết yếu cóthể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lại nhiều căn bệnh mãntính
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của Moringa oleifera đến năng suất, chất lượng sản phẩm của vật nuôi tại Việt Nam Chính
vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của lá chùm ngây ( Moringa oleifera ) đến năng suất và chất lượng trứng gà Lương Phượng”.
2 Muc tiêu của đề tài.
- Xác định ảnh hưởng của thay thế một phần khô dầu đậu tương bằng
bột lá chùm ngây trong khẩu phần thức ăn cho gà sinh sản Lương Phượngđến tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, nằn suất và chất lượng trứng
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thay thế một phần protein khô đầuđậu tương bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phần thức ăn của gà đẻ LươngLhượng
3 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp khá hoàn chỉnh về kỹ thuật sử dụng lácấy thức ăn chùm ngây trong chăn nuôi gà trứng Kết quả nghiên cứu này có
Trang 11thể sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thức ăn vàdinh dưỡng vật nuôi.
4 Ý nghĩa thực tiễn
Thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phầnthức ăn gà sinh sản sẽ là một hướng mới để nâng cao chất lượng sản phẩmchăn nuôi
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1 Giới thiệu về cây chùm ngây ( Moringa oleifera ).
1.1.1 Đặc điểm chung
Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thuộc ngành ngọc lan
Magnoliophyta, lớp ngọc lan Magnoliopsida, bộ Chùm ngây Moringales, họ
Chùm ngây Moringaceae, chi Chùm ngây Moringa (Foidl, 2001) Chùm ngây
là loài cây có sự phân bố địa lý rộng rãi nhất ở dãy núi Himalaya thuộc Ấn
Độ, Pakistan, Bangladesh và Afghanistan Đây là loài cây sinh trưởng nhanh
và được sử dụng bởi người La Mã cổ đại, người Hy Lạp và Ai Cập, là câytrồng quan trọng ở Ấn Độ, Ethiopia, Philippines, Sudan và đang phát triển tạimiền Tây, Đông và Nam thuộc châu Phi, châu Á nhiệt đới, châu Mỹ Latinh,vùng Caribbean, Florida và quần đảo thuộc Thái Bình Dương (Fahey, 2005)
Ở Việt Nam chùm ngây là loài duy nhất của Chi Chùm ngây được pháthiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, BìnhThuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú Quốc v.v Tuy vậy trước đây cây
ít được chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào và chỉ trong vài chục năm trởlại đây khi hạt cây từ nước ngoài được mang về Việt Nam, được trồng có chủ
Trang 12định và qua nghiên cứu người ta thấy cây có nhiều tác dụng đặc biệt nêntưởng là cây mới du nhập.
Cây chùm ngây rất dễ trồng, có thể trồng từ hạt, hom cành, hom củ vàtrồng được quanh năm Vùng thiếu nước nên trồng vào mùa mưa, tức khoảngtháng 4, tháng 5 Cây được trồng nhiều ở những vùng đất khô hạn khắcnghiệt nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới Cây chuộng đất ráo nước, nhiều cát, dù làđất xấu cũng dễ mọc, chịu được hạn hán, ưa nắng, hầu như không bị sâu bệnhhại do đó chăm sóc cây không cần điều kiện gì đặc biệt về phân bón và nướctưới Tuy nhiên cây không chịu được úng ngập và dễ chết nếu không đượcthoát nước tốt Hệ thống rễ phát triển mạnh nếu được trồng từ hạt, phình tonhư củ màu trắng với rễ bên thưa Nếu trồng bằng cách giâm cành, hệ thống
rễ sẽ không phát triển như trồng bằng hạt Cây bắt đầu cho quả từ thân, cành
và nhánh sau 6 đến 8 tháng trồng (Brossa, 2008)
Gỗ chùm ngây khá mềm, giòn nên thân cành dễ bị gãy trong mưa bão
Do đó nếu trồng cây để khai thác sử dụng người trồng thường cắt ngọn câykhi đạt độ cao nhất định, vừa tiện thu hái; vừa kích thích cây đâm tược, nảycành theo cấp số nhân như tán dù; vừa hạn chế thiệt hại do gãy đổ
Ở Việt Nam cây trổ hoa tập trung chủ yếu từ tháng 1 đến tháng 2 hàngnăm Cây ra hoa rất sớm, thường ra ngay trong năm đầu tiên, khoảng 6 thángsau khi trồng Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước, hoặcđược mang đi bởi những loài động vật ăn hạt Khả năng nảy mầm của hạtmới thu hoạch là 60 – 90% Tuy nhiên, nếu lưu trữ hạt quá 2 tháng trong điềukiện thông thường thì khả năng nảy mầm sẽ giảm một cách nghiêm trọng Tỉ
lệ nảy mầm giảm dần từ 60%, 48% và 7,5% tương ứng với thời gian lưu trữhạt là 1, 2 và 3 tháng (Rubeena, 1995)
Cây trồng từ hạt, trong giai đoạn đầu cây con thường yếu nên cần đượcchăm sóc trong điều kiện bóng mát Biện pháp giâm cành cũng có thể thựchiện, tuy nhiên hiệu quả không cao do hệ số nhân giống thấp, thường tiến
Trang 13hành giâm cành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ ẩm thíchhợp.
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thuộc nhóm cây thân gỗ, có thể mọc
cao từ 5 đến 10 m, phân nhánh nhiều, thân có thiết diện tròn Thân non màuxanh có lông, thân già màu xám có nốt sần Lá kép hình lông chim 3 lần lẻ,dài 30 – 60 cm, màu xanh mốc, mọc cách, có 5 – 7 cặp lá phụ bậc 1, 4 – 6 cặp
lá phụ bậc 2, 6 – 9 cặp lá chét Lá chét dài 12 – 20 mm hình trứng, mọc đối,mặt trên xanh hơn mặt dưới, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh, lá kép lôngchim, gân lá hình lông chim, nổi rõ mặt dưới, cuống lá dài 18 – 25 cm Cụmhoa dạng chùm sim mọc ở nách lá hay ngọn cành Hoa không đều lưỡng tính,màu trắng hơi vàng, mùi thơm, hình dạng giống hoa đậu, có cuống dài 1 – 2
cm, có lông tơ Trục phát hoa màu xanh, có lông dài 10 – 15 cm Lá bắc hìnhvảy nhỏ, có lông Đài hoa 5, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng, màu trắng,dài 1 cm, rộng 0,4 cm Cánh hoa 5, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, màutrắng hơi vàng, phấn nằm ngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa,nhị bất thụ nằm xen kẽ cánh hoa Chỉ nhị có kích thước to ở dưới, màu vàng,dài 0,6 – 1 cm, có lông Bao phấn 2 ô, hình bầu dục, màu vàng, hướng trong
Bộ nhụy 3 lá noãn dính, tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãnbên, có lông Vòi nhụy màu xanh, dài 1,8 cm, có nhiều lông Đầu nhụy hìnhtrụ, màu vàng, có lông (Trần Việt Hưng và Võ Duy Huấn, 2007) Cây chonhiều lá vào cuối mùa khô và trổ hoa vào các tháng 1 – 2 Quả dạng nangtreo, dài 25 – 30 cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theoquả có khía rãnh, quả khô màu vàng xám Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡhạt đậu Hà Lan (Võ Văn Chi, 1999)
Trang 141.1.3 Giá trị dinh dưỡng của cây Chùm ngây
Hạt Chùm ngây chứa hàm lượng dầu tương đối lớn, được sử dụng trongnấu ăn, chế biến các món salad Thành phần axit béo trong dung dịch vàenzyme chiết xuất từ dầu hạt Chùm ngây tương ứng là 67,9% và 70,0%(Abdulkarim và cs, 2005) Do tỷ lệ các axit béo không no cao nên dầu hạtChùm ngây được sử dụng để thay thế một số loại dầu có giá trị cho sức khoẻ conngười như dầu oliu (Tsaknis và cs, 2002) Toàn bộ hạt Chùm ngây được sử dụng
để ăn xanh, rang thành bột, hấp trong trà và món cà ri (Fahey, 2005)
Lá Chùm ngây là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tựnhiên tốt cho sức khoẻ con người, được sử dụng để điều trị bệnh theo nhiềucách khác nhau, được hai tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụngcho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh dưỡng, và là giải pháp lương thựccho thế giới thứ ba (DanMalam và cs, 2001; McBurney và cs, 2004; Fahey,2005) Lá Chùm ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitaminthiết yếu như vitamin A, C và E So sánh hàm lượng một số dinh dưỡngchính trong lá Chùm ngây với một số loại thực phẩm phổ biến cho thấy hàmlượng vitamin C nhiều hơn quả cam 7 lần; vitamin A nhiều hơn cà rốt 4 lần;canxi nhiều hơn sữa 4 lần; chất sắt nhiều hơn cải bó xôi 3 lần; chất đạm(protein) nhiều hơn 2 lần so với yaourt; kali nhiều 3 lần so với quả chuối(Donovan, 2007) Ngoài ra, trong lá Chùm ngây còn chứa hàm lượng caocarotenoid hoạt tính sinh học, tocopherols và vitamin C có giá trị trong việcduy trì cân bằng chế độ ăn uống và ngăn ngừa các gốc tự do – là nguyên nhângây lên nhiều bệnh hiểm nghèo (Smolin và Grosvenor, 2007) Lá giàuprovitamins, bao gồm cả axit ascorbic, carotennoids (Lako và cs, 2007) vàtocopherols (Gomez- Conrado và cs, 2004; Sanchez-Machado và cs, 2006).Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàucarotenoid có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoáihoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Lakshminarayan và cs,
Trang 152005; Bowman và cs, 1995; Krichevsky và cs, 1999) Ngoài các provitamins,
lá Chùm ngây cũng được coi là nguồn giàu khoáng chất (Gupta và cs, 1989),polyphenol (Bennett và cs, 2003), flavonoid (Lako và cs, 2007; Siddhuraju và cs,2003), alkaloid và protein (Sarwatt và cs, 2002; Soliva và cs, 2005) Những chấtdinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lạinhiều căn bệnh mãn tính
1.2 Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
- Chất lượng trứng gia cầm:
Nhiều tác giả cho rằng chất lượng trứng gồm có 2 phần:
+ Chất lượng bên ngoài gồm: Khối lượng, hình dạng, màu sắc, độ dày và
Chỉ số hình thái ở mỗi loài gia cầm là khác nhau và được quy định bởinhiều kiểu gen Khoảng biến thiên trị số hình thái của trứng gà là 1,34 - 1,36; củatrứng vịt 1,57 - 1,64; còn những trứng có hình dạng quá dài hoặc quá tròn đềucho chất lượng thấp
Theo Brandsch và Bilchel (1978) thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộngcủa quả trứng là một chỉ số ổn định 1/0,75 Hình dạng quả trứng tương đối ổnđịnh, sự biến động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn Nói chung hình dạngquả trứng luôn có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt
- Chất lượng vỏ trứng
Trang 16Vỏ trứng là lớp vỏ bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, lý học, hóa họccho các thành phần khác bên trong trứng Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vàogiống, lá tai của từng loại gia cầm khác nhau Bên ngoài nó được bao phủ bởimột lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát giữa thành âmđạo và trứng, tạo sự thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước củatrứng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn.
Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ýnghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài Vỏ trứng được cấutạo gồm 94% canxi carbonat, 1% canxi phosphat, 1% magie phosphat, 4% hợpchất hữu cơ Một phần hợp chất hữu cơ này là đường polisacharide Hàm lượngcanxi trong vỏ trứng khoảng 2g Trên bề mặt vỏ trứng có nhiều lỗ khí, số lượng
lỗ khí phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998), trên bềmặt vỏ trứng gà có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm2 có khoảng 150 lỗ,đường kính các lỗ khí dao động 4 - 10µm Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất ởđầu to giảm dần ở 2 bên và ít nhất ở đầu nhỏ
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng Nó có ýnghĩa trong vận chuyển và ấp trứng Độ dày vỏ tương quan dương đối với độ bền
vỏ trứng và có ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở Thường những trứng có vỏ quá dàyhoặc quá mỏng đều có tỷ lệ ấp nở kém Vỏ trứng quá dày hạn chế sự bốc hơinước, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở.Nếu vỏ trứng quá mỏng làm bay hơi nước nhanh, khối lượng trứng gia cầm giảmnhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, nở yếu và tỷ lệ chết cao Độ dày lý tưởng của vỏtrứng dao động từ 0,26 - 0,34 mm
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) thì chất lượng vỏ trứng không nhữngchịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trựctiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photphat, vitamin D3, vitamin
K, các nguyên tố vi lượng Khi nhiệt độ tăng từ 20 - 300C thì độ dày vỏ trứng giảm
6 - 10% khi đó gia cầm đẻ ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng
- Chất lượng lòng trắng
Trang 17Là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ và chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 56%) sovới khối lượng trứng, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng Lòng trắng chủ yếu làalbumin giúp cho việc cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông,
da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi Chất lượng lòng trắng đượcxác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Hệ số di truyền của tính trạngnày khá cao
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) cho biết: Khối lượngtrứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86), khối lượng lòng đỏ(r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48)
Orlov (1974) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) cho rằng: chỉ số lòngtrắng ở mùa Đông cao hơn mùa Xuân và mùa Hè Trứng gà mái tơ và gà mái già
có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh sản Trứng bảo quản lâu,chỉ số lòng trắng cũng bị thấp đi Chất lượng lòng trắng còn kém đi khi cho gà ănthiếu protein và vitamin nhóm B
- Chất lượng lòng đỏ
Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính vàokhoảng 35 - 40 mm, chiếm khoảng 32% khối lượng trứng, được bao bọc bởimàng lòng đỏ có tính đàn hồi, chất lượng của màng đàn hồi này phụ thuộc vàothời gian bảo quản, ở giữa các hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy dưỡng chất từnguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển Chất lượng lòng đỏ phụ thuộcvào nhiều yếu tố: Di truyền cá thể, lứa tuổi, giống, loài, điều kiện nuôi dưỡng Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào caroten trong thức ăn và sắc tố trong cơ thểgia cầm
Chỉ số lòng đỏ thể hiện chất lượng của lòng đỏ và được tính bằng tỷ sốgiữa chiều cao và đường kính của lòng đỏ Theo Card và Nesheim thì chỉ số lòng
đỏ trứng tươi là 0,4 - 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao.Theo Ngô Giản Luyện (1994): chỉ số lòng đỏ ít bị biến đổi hơn lòng trắng Chỉ
số lòng đỏ giảm từ 0,25 - 0,29 nếu bị tăng nhiệt độ và bảo quản lâu
- Chỉ số Haugh (Hu)
Trang 18Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua khối lượng trứng
và chiều cao lòng trắng đặc Chỉ số Haugh càng cao, chất lượng trứng càng tốt,
từ 80 - 100% là trứng rất tốt, 65 - 79% là trứng tốt, 55 - 65% là trứng trung bình
và nhỏ hơn 54% là xấu Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động:Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường, sự thaylông, giống, dòng
* Thành phần hóa học của trứng
Trứng gia cầm nói chung là một loại thực phẩm rất giàu dinh dưỡng, đặcbiệt là lòng đỏ, nó cung cấp khoảng 50% protein và tất cả các chất béo của trứng.Thành phần dinh dưỡng của các loại trứng gia cầm khác nhau thì khác nhau.Protein trong trứng thường là những protein dễ tiêu hóa Hàm lượng axit amintrong trứng thường rất cân đối Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng nhũ hóa dễtiêu hóa Trong trứng chứa hàm lượng axit béo không no cao, hàm lượng khoángcao đặc biệt là hàm lượng sắt và photpho Thành phần khoáng trong trứng có thểthay đổi theo khẩu phần ăn của gia cầm đẻ
Theo Gilbert (1971), trong một lòng đỏ trứng khối lượng 19g có chứa:10,5mg Na; 17,9mg K; 25,7mg Ca; 2,6mg Mg; 1,5mg Fe; 29,8mg S; 24,7mg Cl;94,8mg P
Hàm lượng vitamin trong trứng rất cao: 200 - 800UI vitamin A; 20UIvitamin D; 49mg vitamin B1; 84mg vitamin B2; 30mg axit nicotic; 58mgvitamin B6; 580mg axit pantothenic; 10mg biotin; 4,5mg axit folic; 0,3mgvitamin B12; 150mg vitamin E và 25mg vitamin K1
+ Thành phần hóa học của lòng đỏ
Lòng đỏ trứng của tất cả các loại gia cầm (trừ thủy cầm) có chứa 49% lànước, 16% là protein, 33% là mỡ Hai phần ba mỡ trong lòng đỏ là triglyxerit,30% là photpholipit và 5% là cholesterol Lòng đỏ trứng thủy cầm chứa nhiều mỡ(36%) và 18% protein Hàm lượng nước trong lòng đỏ có thể thay đổi (46 - 50%)tùy thuộc vào thời gian và điều kiện bảo quản Hàm lượng mỡ trong lòng đỏ cũng
có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn, chỉ riêng hàm lượng axit béo không no
Trang 19như palmitic và stearic là không thay đổi Hàm lượng các axit béo này duy trì ởmức 30 - 38% trong tổng số chất béo Nếu khẩu phần ăn chứa nhiều axit béokhông no mạch đa thì hàm lượng các axit béo này trong trứng cũng tăng lên.Thông thường tỷ lệ axit béo không no và no là 2 : 1.
+ Thành phần hóa học của lòng trắng
Lòng trắng là nơi dự trữ nước của trứng khoảng 88% Phần còn lại làprotein như globulin, ovomuxin và albumin Ovomuxin chiếm 75% tổng sốprotein trong lòng trắng trứng, globulin chiếm khoảng 20% Theo kết quả của cácnhà khoa học Nga, methionin có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp lòngtrắng, còn quá trình tổng hợp ovoxumin thì lysine lại chiếm vị trí quan trọng.Thành phần hóa học của lòng trắng ở tất cả các loại trứng gia cầm đều giống nhau.Lòng trắng đặc có hàm lượng ovomuxin cao gấp 4 lần lòng trắng loãng đây chính
là nguyên nhân tạo nên cấu trúc keo của lòng trắng Chất lượng lòng trắng thayđổi theo thời gian bảo quản Giá trị pH của lòng trắng trứng gà tươi là 7,6 sau 14ngày bảo quản chúng có thể tăng lên pH = 9,2
1.3 Giới thiệu về giống gà dùng trong thí nghiệm
Gà Lương Phượng hay còn gọi là gà lông vàng xuất xứ từ Trung Quốc,đây là giống gà thịt cao sản và có năng suất cao
Đặc điểm của gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng có mào, tích, tai đều màu đỏ Gà có thân hình chắc,hình dáng bên ngoài giống với gà Ri
Gà có màu lông đa dạng vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi Lông
cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen
Gà trống có mào cờ đứng, ngực rộng dài, lưng phẳng, chân cao trung
bình, lông đuôi vểnh lên Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt đốm đen.Chân màu vàng, mào đơn đỏ tươi
Gà mái đầu thanh tú, thể hình chắc, rắn, chân thẳng, nhỏ Dòng mái có
màu đốm đen, cánh sẻ là chủ yếu
Trang 20Khả năng sinh sản của gà Lương Phượng rất tốt Tuổi vào đẻ là 24 tuần,khối lượng cơ thể gà mái đạt 2.100g, gà trống đạt 2.700g Tuổi đẻ đầu tiên
140 – 150 ngày, sản lượng trứng 150 – 170 Sản lượng trứng/66 tuần đẻ đạtkhoảng 171 quả, tỷ lệ phôi đạt 92% Gà Lương Phượng có sức kháng bệnhtốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi
Với phẩm chất ưu việt như trên, gà Lương Phượng hiện nay đang là giống chủ đạo được ưa chuộng và phát triển rộng rãi khắp mọi vùng ở nước
ta
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu sự thay thế của protein bằng khô dầu dừa Nguyễn Thị KimĐông Cần ThơTạp chí khoa học trường đại học Cần Thơ,( số 106, 2016)tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của sự thay thế protein ở khô dầu dừa choprotein của khẩu phần thức ăn hỗn hợp trên khối lượng, chất lượng thân thịt
và hiệu quả kinh tế của gà Sao nuôi thịt Thí nghiệm được bố trí theo thể thứchoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại trên 150 gà Sao 28ngày tuổi 5 nghiệm thức là 5 mức độ protein khô dầu dừa tương ứng 0, 7,5,
15, 22.5 và 30% thay thế lượng protein của khẩu phần thức ăn hỗn hợp Mỗiđơn vị thí nghiệm có 10 gà và thí nghiệm được tiến hành trong 10 tuần Kếtquả lượng DM, OM và CP tiêu thụ không có sự biến động (P >0,05) giữa cácnghiệm thức, trong khi lượng EE và ME tiêu thụ cao hơn có ý nghĩa thống kê(P<0,05) ở nghiệm thức KDD22.5 và KDD30 Tăng trọng của gà thí nghiệmcao nhất và FCR thấp nhất có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở các nghiệm thứcKDD15, KDD22.5 and KDD30 Trọng lượng thân thịt, thịt ức và thịt đùi caonhất có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở nghiệm thức KDD22.5 Thí nghiệm đượckết luận rằng protein khô dầu dừa có thể thay thế protein của khẩu phần thức
ăn hỗn hợp Ở mức thay thế 22,5% protein, gà Sao thí nghiệm đạt tăng trọng,khối lượng và năng suất thịt cao nhất và lợi nhuận tốt hơn
Trang 21(Hồ Trung Thông và cs, tạp chí số 2, tập 71; năm 2012): Nghiên cứuđược triển khai nhằm xác định giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ(MEN) trong một số phụ phẩm (khô dầu lạc, khô dầu dừa, bột đầu tôm vàtấm gạo) khi được sử dụng làm thức ăn nuôi gà Tổng số 150 con gà LươngPhượng 35 ngày tuổi được sử dụng trong thí nghiệm Khẩu phần cơ sở đượcthiết kế đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho gà ở giai đoạn thí nghiệm
Tổng số 04 khẩu phần thí nghiệm được thiết lập bằng cách thay thế 20%hoặc 40% khẩu phần cơ sở bằng thức ăn thí nghiệm Giá trị MEN trong cácloại thức ăn thí nghiệm được tính theo phương pháp sai khác Kết quả cho thấygiá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong khô dầu dừa, khô dầu lạc,bột đầu tôm và tấm gạo lần lượt là 1444,87kcal/kg; 2542,51kcal/kg; 1737,68kcal/kg và 3539,66kcal/kg tính theo nguyên trạng Giá trị MEN của khô dầudừa từ nghiên cứu này thấp hơn nhiều so với giá trị MEN của khô dầu dừatrong cơ sở dữ liệu thức ăn Tuy vậy, giá trị MEN của tấm gạo từ nghiên cứunày cao hơn giá trị MEN của tấm gạo từ một số cơ sở dữ liệu hiện nay
Ở Việt Nam, Nghiên cứu về cây Moringa oleifera đã được thực hiện
trên một số khía cạnh sau: Nghiên cứu về đa dạng di truyền (Mai Hải Châu và
cs, 2014); Nghiên cứu về nhân giống (Trần Văn Tiến, 2013, Mai Hải Châu,2015); Nghiên cứu về năng suất chất xanh (Lưu Hữu Mãnh và cs, 2003 vàDương Đức Tiến, 2012); Nghiên cứu về kỹ thuật thu hoạch (2016) Tuy nhiên,Những nghiên cứu nêu trên thực hiện với mục đích phục vụ sản xuất rau xanhcho người và dược liệu không phải là sản xuất thức ăn gia súc
Theo Tạ An Bình (1973) đã sử dụng BLKG nuôi gà con và cho biết, ở
tỷ lệ 4% trong khẩu phần, keo giậu đã có tác dụng tốt tới sinh trưởng của gà.Dương Thanh Liêm (1981) thử nghiệm nuôi gà broiler với các khẩu phầnchứa tỷ lệ BLKG khác nhau; kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 4% BLKG cótác dụng tốt tới sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà Khi tỷ lệBLKG nâng lên tới mức 6% khẩu phần, tăng trọng của gà bắt đầu có xuhướng giảm Ở tỷ lệ 10% BLKG trong khẩu phần, gà nuôi đến 9 tuần tuổi bắt
Trang 22đầu có biểu hiện rụng lông và sưng tuyến giáp trạng, nhưng nếu thêm 0,5 ppmmuối KI hay casein vào khẩu phần ăn sẽ hạn chế hiện tượng rụng lông vàsưng tuyến giáp của gà do hạn chế độc tính của mimosin có trong keo giậu.
Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) đã nghiên cứu chế biến bột
lá sắn để nuôi gà thịt, gà đẻ trứng, lợn thịt cho kết quả tốt Tác giả đã kết luận
có thể phối hợp 4 - 6% trong khẩu phần ăn gà thịt, 10 - 15% trong khẩu phầncủa lợn
Tác giả Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) đã nghiên cứu sửdụng bột lá keo giậu bổ sung premmix vitamin trong thức ăn nuôi gà thịt côngnghiệp và cho kết luận có thể dùng 3 - 5% bột lá keo giậu bổ sung premixvitamin trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà thịt Với tỷ lệ bổ sung như trên, bột lákeo giậu đã có ảnh hưởng tốt tới tăng trọng lượng của lô thí nghiệm so với đốichứng đồng thời làm tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, tiêu thụ thức ăn/kg tăngtrọng giảm 85 g so với đối chứng, chi phí thức ăn giảm 8 - 10%
Theo Đào Lệ Hằng (2007) cho rằng sắn là loại cây thức ăn gia súc có giátrị Không tính sản lượng củ - sản phẩm khai thác chính của nghề trồng sắn màphụ phẩm ngọn, lá cũng là nguồn dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm Lá sắn cóhàm lượng protein và các axit amin cao hơn các bộ phận khác, hàm lượng lipit
ở lá cao gấp 6 lần so với củ sắn Lá sắn có chất dinh dưỡng tương đối cao cụthể hàm lượng protein trung bình là 6,59 - 7,00% (Nguyễn Khắc Khôi, 1982)cho nên một số nơi đã dùng BLS bổ sung vào thức ăn cho gia súc, gia cầm
Theo Trần Thị Hoan (2012) BLS giàu protein, các axit amin tương đốicân đối nhưng năng lượng lại thấp, tỷ lệ xơ cao, ngoài ra còn chứa độc tốHCN với hàm lượng khá cao Vì vậy, phải chế biến để khử độc tố trong lá sắn,
bổ sung các thức ăn giàu năng lượng khi đưa BLS vào khẩu phần gia súc, giacầm Tỷ lệ BLS thích hợp trong khẩu phần của gà là dưới 10%
Trang 231.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, nghiên cứu trên các khía cạnh sau đây đã được thựchiện: Về di truyền (Abubaka và cs, 2011); về nhân giống, gieo ươm (Adebayo
và cs, 2011, Antwi và cs, 2011, Bennett và cs, 2003); về kỹ thuật trồng và thuhoạch (Amaglo và cs, 2006, Fadiyimu và cs, 2011) về ảnh hưởng của phânbón đến năng suất và thành phần hóa học (Dash và cs, 2009; Imoro và cs,2012; Isaiah và cs, 2013) Các nghiên cứu trên đều nhằm mục dích phục vụsản xuất rau xanh cho người, làm dược liệu hoặc cây lâm nghiệp (trồngrừng)
Kỹ thuật trồng và thu hoạch cây thức ăn cho người và cho vật nuôi có
sự khác nhau Ví dụ: Nếu trồng làm rau xanh cho người thì cần thu hoạch lúcrau còn non dẫn tới khoảng cách thu hoạch (tuổi của rau) phải ngắn, còn chovật nuôi thì khoảng cách giữa các lứa phải dài hơn (thu hoạch ở thời điểm câythức ăn đạt được tối đa về dinh dưỡng và năng suất) Với mục đích khác nhaunhư trên dẫn đến khoảng cách trồng (mật độ trồng) cũng phải khác nhau Cụthể: Mật độ trồng rau ăn cho người (khoảng cách thu hoạch ngắn) thì phảitrồng dày hơn so với mật độ trồng thu hoạch lá cho vật nuôi
Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong lá ở thời điểm cònnon (rau ăn cho người) khác với thời điểm thu lá làm thức ăn cho vật nuôi
Mặc dù đã có một số nghiên cứu về cây Moringa oleifera nhưng các
nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích phục vụ sản xuất rau ăn cho người vàdược liệu, do đó, cần phải có các nghiên cứu tương tự với mục đích phục vụsản xuất thức ăn (chất xanh, bột lá) cho vật nuôi
Montilla và cs (1976) cho biết khả năng tăng khối lượng tăng cao vàkhả năng chuyển hóa thức ăn giảm mạnh khi thay thế bột bông hay bột ngôbằng bột lá sắn (BLS) từ 0, 10, 20 và 30% trong khẩu phần gà broiler
Trang 24Theo Wyllie và Chammanga (1979) khi sử dụng 5% bột lá và cuống lásắn, 10% bột ngọn lá sắn thay thế bột hạt bông cho gà Broiler từ 0 - 8 tuầntuổi thì khả năng tăng khối lượng của gà là tốt nhất.
Ravindran và cs (1986) cho rằng BLS là thức ăn thay thế cho bột dừatrong khẩu phần của gà thịt Tác giả cho biết có thể sử dụng với tỷ lệ 15%BLS vẫn cho kết quả tốt Tuy nhiên, nếu sử dụng với tỷ lệ cao hơn thì làmgiảm năng suất chăn nuôi
Theo Eruvbetine và cs (2003) thì BLS có hàm lượng chất xơ cao nênmức độ tối đa sử dụng trong khẩu phần ăn cho động vật dạ dày đơn là từ 10 -20% Tuy nhiên, mức độ tối đa này phụ thuộc vào thành phần hóa học củanguyên liệu sử dụng trong khẩu phần Bổ sung dầu đậu nành 3% hoặcmethionin thì hiệu suất gà được cải thiện khi khẩu phần chứa 20% BLS
Tác giả Iheukwumere và cs (2007) khi nghiên cứu ảnh hưởng của cácmức bột lá sắn 0, 5, 10 và 15% trong khẩu phần gà thịt cho biết tổng lượng
huyết thanh, albumin và hemoglobin ở mức 0 và 5% BLS lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với sử dụng ở mức 10 và 15% BLS Tuy nhiên, tỷ lệ cholesterol, creatinin và ure thì không có sự sai khác nhau Tỷ lệ thịt xẻ ở lô đối chứng
lớn hơn và có ý nghĩa thống kê so với lô thí nghiệm và tác giả khuyến cáo chỉ
sử dụng tối đa 5% bột lá sắn cho gà thịt broiler
Iheukwumere và cs (2008) nghiên cứu đánh giá năng suất, khả năng sửdụng thức ăn và biến đổi của một số tổ chức của cơ thể gà thịt Anak ở 5 tuầntuổi khi sử dụng khẩu phần có bột lá sắn ở các tỷ lệ 0, 5, 10 và 15% cho kết quảnhư sau: Lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng, chuyển hóa thức ăn và tăngkhối lượng của lô đối chứng và 5% bột lá sắn là khác nhau có ý nghĩa so với lô
sử dụng 10% và 15% BLS Khối lượng tim, gan, lách ở mức 0% và 5% BLScao hơn có ý nghĩa thống kê (P< 0,05) so với mức 10% và 15% Tác giả cũngkhuyến cáo chỉ nên dùng tối đa là 5% BLS cho gà broiler ở giai đoạn kết thúc.Onibi và cs (2008) khi nghiên cứu thay thế bột đậu tương bằng BLS với
Trang 25các tỷ lệ thay thế là 0, 30 và 60% cho gà broiler, đã thấy tăng khối lượng của
gà đến kết thúc thí nghiệm, tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng là sai khác có
ý nghĩa thống kê với lô ĐC (chỉ dùng bột đỗ tương) Gà sử dụng thức ăn thaythế 30% bột đỗ tương bằng BLS cho khối lượng kết thúc thí nghiệm, tăngkhối lượng trung bình cao hơn còn tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với sử dụng ởmức thay thế 60% và cũng cao hơn so với gà được nuôi bằng thức ăn có sửdụng BLKG với các tỷ lệ trên
Theo Hussain và cs (1991) thì không có sự khác nhau có ý nghĩa vềtăng trọng, hiệu suất sử dụng thức ăn giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡngvới các khẩu phần chứa 0, 5, 10 và 15% BLKG bằng cách sử dụng BLKGthay thế một phần khô dầu lạc trong khẩu phần ăn của gà Tuy nhiên, khi khẩuphần ăn chứa tới 20% BLKG đã làm giảm một cách có ý nghĩa tốc độ sinhtrưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà
Theo Gulraiz và cs (1991) cho biết không có sự khác nhau có ý nghĩa
về tăng trọng giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa12% BLKG và khẩu phần không chứa BLKG (trong điều kiện các khẩu phần
ăn đảm bảo đồng đều về protein và năng lượng trao đổi)
Fraga và cs (1992) nhận thấy khi thay thế 5% khẩu phần cơ sở dựa trênngô và ngô dầu đậu tương bằng BLKG phơi khô dưới ánh nắng mặt trời đểnuôi 540 gà thịt Cornish x Plymouth trong thời gian từ 0 - 6 tuần tuổi Kết quảcho thấy, nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa BLKG có mứctăng trọng lúc 6 tuần tuổi và hiệu suất sử dụng thức ăn cao hơn nhóm gà đốichứng được nuôi dưỡng với khẩu phần cơ sở không có BLKG
Ở Ấn Độ, Murthy và cs (1994) đã nhận thấy, không có sự khác nhau có
ý nghĩa nào về tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn giữa nhóm gà đượcnuôi dưỡng với khẩu phần ăn chứa 20% bột lá Sababul được xử lý bằng cáchngâm nước trong 12 giờ và nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần đốichứng không có bột lá Sababul, trong giai đoạn từ 0 - 8 tuần tuổi
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bột là cây thức ăn chùm ngây ( Moringa oleifera )
Gà sinh sản giống Lương Phượng LV
2.2 Địa đểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôiThú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Phân tích mẫu thức ăn, trứng tại Viện Khoa học Sự sống, Đại học TháiNguyên, Viện chăn nuôi
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2018 đến tháng 3/2019
2.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định ảnh hưởng của thay thế một phần khô dầu đậu tương bằng bột
lá chùm ngây ( Moringa oleifera ) trong khẩu phần thức ăn của gà sinh sảnLương Phượng đến tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, năng suất và chấtlượng trứng
Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thay thế một phần khô dầu đậu
tương bằng bột lá chùm ngây ( Moringa oleifera ) trong khẩu phần thức ăn
của gà sinh sản Lương Phượng
Trang 272.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo dõi trên 378 gà sinh sản LươngPhượng, giai đoạn đẻ từ 35-42 tuần tuổi, chia làm 3 lô, mỗi lô có 42 gà cókhối lượng như nhau Mỗi lô được nhắc lại 3 lần (42 x 3 = 126 con)
Thức ăn thí nghiệm như sau:
Lô đối chứng gà được ăn khẩu phần cơ sở (KP có KDĐT, không có bột
lá chùm ngây ); lô TN1, TN2, được thay thế 20%, 30 % protein của khô dầu
đậu tương trong KPCS bằng protein của bột lá chùm ngây.
Bột lá được thay thế ngay từ khi trộn thức ăn ban đầu, toàn bộ khẩuphần của gà trong ngày sẽ được chia làm 2 bữa/ngày và cho ăn vào các thờiđiểm 7h và 14h hằng ngày
Trước thí nghiệm gà được nuôi thích nghi với điều kiện chuồng trại,mật độ, khẩu phần như thí nghiệm trong thời gian 7 ngày
Trong thời gian thí nghiệm trứng thu được lấy mẫu đem đi phân tích ởviện Khoa học Sự sống Thí nghiệm tiến hành cân khối lượng trứng, khốilượng lòng đỏ, khối lượng lòng trắng, khối lượng vỏ 8 lần (mỗi tuần một lần),mỗi lần 5 quả
LươngPhượng
chuồng hở
Nhốt chuồnghở
Nhốt chuồnghở
Trang 287 Yếu tố thí nghiệm TĂ cơ sở
GĐ
TĂ cơ sở +20% bột lá
M oleifera
TĂ cơ sở +30% bột lá M
oleifera
Thành phần thức ăn thí nghiệm được phối hợp từ: Ngô, cám gạo, khô
đỗ tương, bột cá, bột lá chùm ngây, premix khoáng, premix vitamin, DCP
Bảng 2.2 Khẩu phần thức ăn thí nghiệm
Mỡ thô (%)
Xơ thô (%)
Khoáng TS (%)
Năng lượng thô (Kcal/kg)
Trang 29Tăng khối lượng của gà thí nghiệm
Hiệu quả kinh tế của việc thay thế
2.4.3 Phương pháp theo dõi
- Tỷ lệ nuôi sống:
Hàng ngày theo dõi và ghi chép vào sổ nhật ký số gà của các lô thí nghiệm
- Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm trước và sau khảo sát:
Cân khối lượng cơ thể gà lúc bắt đầu thí nghiệm và kết thúc thí nghiệm,cân vào buổi sáng sớm (7h) trước khi cho ăn (chỉ cho uống nước) bằng cânNhơn Hòa, dựa trên khối lượng từng con tính được khối lượng bình quângam/con
KLCT trung bình (gam) = KLCT con thứ 1+…+ KLCT con thứ n
n (con)
- Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm:
Thức ăn cung cấp hàng ngày vào 7h sáng, được cân bằng cân NhơnHòa, thức ăn thừa của từng lô được cân vào 7h sáng ngày hôm sau Sau đótính thức ăn tiêu thụ (gam/con /ngày), trong tuần:
Khả năng tiêu thụ TĂ = Tổng khối lượng TĂTT của cả lô /tuần
Số đầu gà trong tuần x 7 ngày
- Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng
Tỷ lệ đẻ trứng được xác định bằng công thức:
Trang 30Tỷ lệ đẻ trứng (%) = Số trứng đẻ ra trong kỳ (quả) x 100
Số gà mái có mặt trong kỳ (con) x số ngày trong kỳNăng suất trứng bình quân trong kỳ (quả/ mái bình quân):
NSTBQ trong kỳ = Tổng số trứng đẻ ra trong kỳ (quả)
Số gà mái có mặt bình quân trong kỳ (con)
- Khối lượng trứng qua các tuần tuổi
Khối lượng trứng (gam) được xác định bằng cách cân 100 % số trứngthu được trong ngày vào 16h các ngày trong tuần, bằng cân điện tử chính xác
khi tách lòng đỏ ra khỏi lòng trắng và vỏ trứng, sau đó cân khối lượng lòng
đỏ, lòng trắng, vỏ bằng cân điện tử có độ chính xác tới 0,01 g Tỷ lệ lòngđỏ/lòng trắng được tính theo công thức:
- Độ đậm màu lòng đỏ trứng được đo bằng quạt so màu của Roche
- Chất lượng trứng: Sau 8 tuần thí nghiệm lấy mẫu trứng đi phân tích;các chỉ tiêu VCK, protein, lipit được phân tích tại Viện Khoa học
Sự sống, Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên
Trang 31- Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai đoạn gà đẻ trứng
TTTĂ/10 quả trứng = ∑ lượng thức ăn tiêu tốn trong tuần (kg) x 10
∑ số trứng thu được trong tuần (quả)
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm
Đây là một tính trạng có yếu tố di truyền thấp, phụ thuộc chủ yếu vàođiều kiện môi trường sống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, thức ăn, sứcchống chịu với điều kiện ngoại cảnh của từng cá thể, từng dòng, giống Vìvậy, nâng cao tỷ lệ nuôi sống là một trong những chỉ tiêu quan trọng khinghiên cứu khả năng sản xuất của bất kỳ một dòng, giống gia súc, gia cầmnào Để đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế một phân khô đỗ tương bằngbột lá MO đến tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm Chúng tôi đã tiến hành thựchiện theo dõi số lượng gà thí nghiệm hàng ngày Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôisống được tính toán và trình bày tại bảng 3.1
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm (%)
Trong tuần
Cộng dồn
Trong tuần
Cộng dồn
Trang 33chứng tỏ gà thí nghiệm có khả năng chống chịu và thích nghi tốt Vào thờigian này, thời tiết lạnh lạnh và bắt đầu có mưa, thí nghiệm tiến hành thay thếmột phần khô dỗ tương bằng bột lá chùm ngây cho gà ở TN1 và TN2 có thể
sẽ chịu ảnh hưởng của thời tiết
Ở 35 tuần tuổi, khi gà bắt đầu được đưa vào thí nhiệm và cho ăn thức
ăn được thay thế một phần khô đỗ tương bằng bột lá chùm ngây, thể trạng gà
ở cả 3 lô đồng đều, sự thay đổi khẩu phần trong thức ăn của gà chưa tác độngđến sinh trưởng của gà Đến tuần 36 trở đi, gà ở lô TN1 và TN2 nhanh nhẹnhơn, gà ăn tập trung hơn, không ăn rời rạc như ở tuần đầu Lông gà và mào gà
ở lô TN1 và TN2 tươi, đẹp hơn, gà vận động nhiều hơn, nhanh nhẹn hơn ngay
cả những ngày nhiệt độ xuống thấp, song mức độ sinh trưởng tốt của gà ở hai
lô có tỷ lệ thay thế chùm ngây là 20% và 30% không có sự khác biệt, điều này
có thể thấy được bằng quan sát thông thường Sở dĩ có sự khác biệt như nêutrên ở lô đối chứng và 2 lô còn lại là do trong chùm ngây có nhiều vitaminnhư A, E, B nên làm tăng khả năng chống lạnh và chuyển hóa các chất dinhdưỡng nên ngoại hình gà đẹp hơn So sánh kết quả cho thấy tỷ lệ nuôi sốngcủa gà trong thí nghiệm này tương đương với kết quả của Ngô Hồng Thêu(2015); Hồ Thị Bích Ngọc, (2012) và Trần Thị Hoan (2012)
Như vậy việc thay thế chùm ngây vào khẩu phần ăn của gà giúp cho thểtrạng của gà được cải thiện tốt hơn, tác động trực tiếp đến năng suất đẻ vàchất lượng trứng, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệuquả kinh tế trong chăn nuôi
3.2 Tăng khối lượng của gà thí nghiệm
Khối lượng gà khi bắt đầu thí nghiệm và khi kết thúc thí nghiệm là khốilượng sống của gà được theo dõi trước và sau khi đưa yếu tố thí nghiệm, nhằmxác định sự tăng, giảm khối lượng sống của gà trong thời gian thí nghiệm
Trang 34Khối lượng gà lúc bắt đầu thí nghiệm và kết thúc thí nghiệm là chỉ tiêuphản ánh sự ảnh hưởng của yếu tố thí nghiệm đến thể trọng của cơ thể Kết quảthí nghiệm được trình bày ở bảng 3.2.
Bảng 3.2 Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (gam)
(lô)
Khối lượng (gam) Tăng,
giảm khối lượng (%)
Trước TN (X ± mx)
Sau TN (X ± mx)
đó lô TN2 khối lượng gà tăng cao nhất Điều này cho thấy khi thay thế khô đỗtương ở mức 20 và 30 % bột lá chùm ngây vào thức ăn có ảnh hưởng đến khốilượng cơ thể gà sau 56 ngày thí nghiệm Sở dĩ có điều này là do gà thu nhậnthêm các thành phần vitamin có trong bột lá chùm ngây nên làm thúc đẩychuyển hóa các chất dinh dưỡng từ thức ăn nên làm gà tăng khối lượng Khi sosánh lô ĐC với lô TN1 và TN2 thì khối lượng gà sau thí nghiệm không có sựsai khác nhau với P > 0,05
Để thấy rõ hơn ảnh hưởng của việc thay thế bột lá chùm ngây cho khô
đỗ tương Chúng tôi đã thể hiện qua hình 3.1 như sau:
Trang 35Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà trước và sau thí nghiệm
Như vậy, thay thế khô đỗ tương bằng bột lá chùm ngây đã làm gà tăngkhối lượng cao hơn so với lô đối chứng Sở dĩ có điều này là do khi bổ sungbột lá MO vào khẩu phần làm cho mức năng lượng trong thức ăn giảm đi,chúng tôi đã phải bổ sung dầu ăn vào, đây là nguồn nguyên liệu giàu nănglượng, dễ chuyển hóa Ngoài ra, trong bột lá chùm ngây còn chứa rất nhiềusắc tố, vitamin và các axit amin thiết yếu… Tất cả các yếu tố này tác động lênquá trình thu nhận thức ăn của gà nên đã làm tăng tích lũy mô mỡ và tăng khảnăng chuyển hóa các chất dinh dưỡng tích lũy vào thân thịt của gà Điều nàyđược thể hiện rõ qua đồ thị được thể hiện qua hình 3.1
3.3.Khả năng sinh sản của gà thí nghiệm
Khả năng sinh sản là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánhkhá toàn diện về khả năng sinh sản (đẻ trứng) của gà; tỷ lệ đẻ nói lên việcnuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý đàn gà của người chăn nuôi có tốt hay không.Trong hoạt động thí nghiệm, tỷ lệ đẻ là chỉ số phản ánh tác động của các yếu
tố thí nghiệm, mà ở đây cụ thể là việc thay thế một phần khô đỗ tương bằngbột lá MO vào khẩu phần thức ăn của gà
Tỷ lệ đẻ của gà phụ thuộc sức đẻ của các cá thể trong tổng đàn theo dõi
Cá thể nào có tỷ lệ đẻ cao, chất lượng trứng tốt, đồng đều và kéo dài trongthời kỳ sinh sản, mà vẫn giữ được trạng thái sinh trưởng tốt chứng tỏ là giốngtốt Hơn nữa, chế độ dinh dưỡng cũng là một trong những yếu tố quan trọng,quyết định đến tỷ lệ đẻ, chất lượng trứng, khả năng duy trì năng suất đẻ cao;thể trạng của gà đẻ, chu kỳ đẻ tốt nhất Đối với gà nuôi nhốt có tỷ lệ đẻthường thấp trong vài tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần từ 28 đến 36tuần tuổi và giảm dần tỷ lệ đẻ ở các tuần tiếp theo cho đến cuối kỳ sinh sản
Để đánh giá rõ hơn những nhận định khái quát trên, chúng tôi đã tiếnhành thí nghiệm thay thế một phần khô đỗ tương bằng bột lá MO vào khẩu
Trang 36phần ăn của gà đẻ Lương Phượng trong 8 tuần đẻ (từ 35 tuần tuổi đến 42 tuầntuổi) Kết quả theo dõi được trình bày tại bảng 3.3.
Bảng 3.3 Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm (%), (n = 3)
Tuần tuổi Tuần thí
nghiệm
Lô ĐC (0 % MO)
Lô TN1 (20 % MO)
Lô TN2 (30 % MO)
Kết quả số liệu ở bảng 3.3 cho thấy các lô gà thí nghiệm khác nhau có
tỷ lệ đẻ khác nhau Trong đó, tỷ lệ đẻ trung bình cao nhất ở lô TN2 là 57,23%,sau đó đến lô TN2 là 53,15% và thấp nhất là lô đối chứng là 47,28% Kết quả
so sánh thống kê về tỷ lệ đẻ của gà giữa ba lô cho thấy tỷ lệ đẻ của lô TN2 sai
khác có ý nghĩa thống kê với lô ĐC với P < 0,001 còn lô ĐC và TN1 không
có sự sai khác nhau với P > 0,05, giữa lô TN1 với lô TN2 cũng không có sự sau khác nhau với P > 0,05 Tỷ lệ đẻ của gà ở cả ba lô ĐC, TN1, TN2 đều có
xu hướng tăng dần và đạt cao nhất ở tuần thí nghiệm thứ 3, sau đó giảm thấp
ở tuần thí nghiệm thứ 4 Tuy nhiên, sự giảm này vẫn cho tỷ lệ đẻ cao hơn sovới khi bắt đầu thí nghiệm rồi tỷ lệ đẻ của gà lại tiếp tục tăng dần và đạt caonhất ở tuần thí nghiệm thứ 8 đối với lô TN2 là 61,22%, còn lô TN1 cao nhất ơtuần thí nghiệm thứ 6 là 53,74% và ở lô đối chứng cao nhất ở tuần thí nghiệmthứ 5 là 53,74
Trang 37Như vậy, ở tuần thí nghiệm thứ 3 thì tỷ lệ đẻ của cả 3 lô gà ĐC, TN1,TN2 đều tăng lên và đạt lần lượt là 40,82; 57,82 và 59,18 %, sau đó giảmxuống ở tuần thứ 4 còn lại lần lượt là 38,10; 53,74 và 56,46 % Sang tuần thứ
5 sức đẻ bắt đầu tăng trở lại nhưng mức tăng không vượt trội, lô TN2 tăng caonhất là 57,82 %, lô TN1 là 55,10 %, thấp nhấp ở lô ĐC là 53,74% mức tăngthêm chỉ đạt 1,36 đến 15,64 % Từ tuần thứ 6 sáu trở đi tỷ lệ đẻ bắt đầu giảmxuống và đạt thấp nhất ở lô đối chứng là 46,94 % ở tuần thí nghiệm thứ 8 (42tuần tuổi) còn ở lô TN1 là 50,34% ở tuần thí nghiệm thứ 7 (41 tuần tuổi),riêng lô TN2 đạt cao nhất ở 8 tuần tuổi là 61,22 % Sở dĩ có điều này là do gàcủa chúng tôi cùng ở một độ tuổi nên chúng có diễn biến tăng giảm về tỷ lệ đẻtheo từng chật đẻ Tuy nhiên, tỷ lệ đẻ của gà ở lô TN2 luôn lớn hơn TN1 và lôTN1 luôn lớn hơn lô ĐC, điều này cho thấy các thành phần dinh dưỡng trongbột lá chùm ngây đã có tác động làm tăng khả năng phát dục của buồng trứngnên gà ở lô thí nghiệm luôn đẻ tốt hơn so với lô đối chứng, ở lô TN2 do sửdụng nhiều bột lá chùm ngây hơn TN1 mà bột lá lại chứa nhiều chất dinhdưỡng như vitamin, axit amin hơn nên nên gà đã có xu hướng đẻ cao hơn sovới TN1 Theo chúng tôi có thể do tỷ lệ bột lá cao làm gà tăng chuyển hóahơn nên phần nào đã tác động đến khả năng sinh sản của gà, điều này thể hiệnđược tính ưu việt của bột lá chùm ngây là làm cho sức sinh sản của gà tốthơn Kết quả của chúng tôi theo dõi phù hợp với quy luật chung về khả năngsinh sản của gia cầm, tức là tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao của gà là từ tuần tuổi 30 - 36,còn từ 37 tuần tuổi trở đi thì tỷ lệ đẻ của gà sẽ giảm dần
Dương Thanh Liêm (1998) cho biết mức thích hợp nhất bổ sung BLS cho
gà sinh sản là 4 % Nguyễn Đức Hùng (2004) cho biết: Tỷ lệ bột lá keo giậu thíchhợp trong khẩu phần ăn của gà mái sinh sản là 6 % Theo tác giả Trần Thị Hoan(2011) thì khẩu phần chứa 6 % bột lá sắn có tỷ lệ đẻ cao nhất Nếu quy lượng bột
lá trong khẩu phần thì chúng tôi thay thế thì tương ứng với 4,23 và 6,34% trong
Trang 38khẩu phần và kết quả cũng có diễn biến tương tự như kết quả của các tác giả trên
đã nghiên cứu
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm
Qua hình 3.2 chúng tôi nhận thấy đường biểu diễn tỷ lệ đẻ của lô TN2luôn ở vị trí trên cùng, tiếp đó là đường biểu diễn của lô TN1 và thấp nhất làđường biểu diễn của lô ĐC Khi so sánh lô ĐC với lô TN1 và TN2 được thaythế một phần khô đỗ tương bằng bột lá chùm ngây cho thấy trung bình tỷ lệ
đẻ tăng lần lượt là 5,87 % và 9,95%
Hình 3.2 cho thấy đường biểu diễn tỷ lệ đẻ của lô ĐC với lô TN1 luônsát nhau, có điểm gần nhau, nhưng đường biểu diễn của lô ĐC luôn thấp hơn.Điều này cho thấy với tỷ lệ 20 % bột lá chùm ngây tỷ lệ đẻ không cao hơncách biệt so với lô ĐC Tuy nhiên, với số lượng theo dõi chưa nhiều, thời giantheo dõi chưa dài, việc đánh giá các tác động khác đến tỷ lệ đẻ chưa đượcxem xét cụ thể, riêng rẽ, xong từ những kết quả theo dõi, nghiên cứu ban đầucho thấy bột lá MO đã có tác động đến tỷ lệ đẻ của gà, với mức thay thế 30 %bột lá MO vào khẩu phần ăn đã nâng cao tỷ lệ đẻ ở một số giai đoạn trong chu
kỳ đẻ của gà rõ nét hơn sơ với mức 20% bột lá chùm ngây
3.4 Năng suất trứng của gà thí nghiệm
Trong chăn nuôi gà, năng suất trứng của gà được hiểu là tổng số trứng
đẻ ra của 01 cá thể gà trong một đơn vị thời gian Chỉ tiêu này phản ánh trạngthái sinh lý của gà và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Tuy nhiên, năngsuất trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, loài, hướng sản xuất, mùa
vụ sản xuất, thức ăn và đặc điểm cá thể Tất cả những yếu tố trên đều đặttrong điều kiện, môi trường cụ thể, những tác động của các yếu tố đó sẽ tácđộng đến năng suất trứng của gà