1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên toán thông qua xêmine

93 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xê mi ne là một hình thức tổ chức học tập, trong đó người học được hoàn toàn chủ động từ khâu chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung, trao đổi, thảo luận với các thành viên khác và cuối c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

DẠY HỌC TƯ SUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN TOÁN

THÔNG QUA XÊ MI NE

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

DẠY HỌC TƯ SUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN TOÁN

THÔNG QUA XÊ MI NE

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến thầy hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Đức Huy, người đã tận tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt đẹp nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Sư phạm và khoa sau đại học Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Hà Nội, ngày 14 tháng 02 năm 2019

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Quan niệm của giáo viên về xê mi ne……….19

Bảng 1.2 Ý kiến của giáo viên về tác dụng của xê mi ne……… 20

Bảng 1.3 Mức độ phù hợp của việc tổ chức xê mi ne trong dạy học tư duy sáng tạo………20

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng xê mi ne trong quá trình dạy học môn Hình học tổ hợp……… 21

Bảng 2.1 Quy trình tổ chức xê mi ne……… 27

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra lần thứ nhất……….69

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra lần thứ hai……… 70

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ của K.K Platonov về quá trình tư duy……… 8

Sơ đồ 1.2 Ba vòng tròn đồng tâm tư duy của Krutexki, A.V (1973)………10

Sơ đồ 1.3 Hệ thống các bài toán rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh của Tôn Thân (1998)……… 14

Trang 6

iv

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Câu hỏi nghiên cứu 2

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Phương pháp nghiên cứu 3

9 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Dạy học tư duy sáng tạo 7

1.2.1 Khái niệm tư duy 7

1.2.2 Khái niệm tư duy sáng tạo 8

1.2.3 Biểu hiện của tư duy sáng tạo 10

1.2.4 Cách kiểm tra đánh giá tư duy sáng tạo của học sinh 11

1.2.5 Dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Toán ……… 12

1.3 Sơ lược về học sinh chuyên Toán 14

1.4 Sơ lược về xê mi ne 14

1.4.1 Khái niệm 14

1.4.2 Ưu điểm và hạn chế của tổ chức xê mi ne trong dạy học 15

Trang 7

v

1.4.3 Chức năng cơ bản của xê mi ne 16

1.4.4 Phân loại xê mi ne [1] 17

1.5 Tiềm năng của xê mi ne trong dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên Toán 18 1.6 Tổng quan về dạy học tư duy sáng tạo qua xê mi ne chủ đề Hình học tổ hợp ở trường trung học phổ thông chuyên 21

1.6.1 Môn Hình học tổ hợp 21

1.6.2 Thực trạng dạy học môn Hình học tổ hợp hiện nay tại trường trung học phổ thông chuyên 23

Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN TOÁN THÔNG QUA TỔ CHỨC XÊ MI NE CHỦ ĐỀ HÌNH HỌC TỔ HỢP 25

2.1 Nguyên tắc lựa chọn những nội dung xê mi ne 25

2.2 Các nội dung trong chương trình học Hình học tổ hợp có thể tổ chức xê mi ne ……….25

2.2.1 Bài “Các phương pháp thường dùng” 26

2.2.2 Bài “Các dạng bài toán thường gặp” 26

2.3 Chuẩn bị cho một buổi xê mi ne 26

2.4 Qui trình tổ chức xê mi ne cho một buổi học dạy học tư duy sáng tạo ……….29

2.5 Một số giáo án xê mi ne dạy học tư duy sáng tạo chủ đề Hình học tổ hợp ……….31

2.5.1 Giáo án bài “Các phương pháp thường dùng” 31

2.5.2 Giáo án bài “Các dạng bài toán thường gặp” 50

Kết luận chương 2 66

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích thực nghiệm 67

Trang 8

vi

3.2 Đối tượng thực nghiệm 67

3.3 Tiến hành thực nghiệm 67

3.4 Kết quả thực nghiệm 68

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 PHỤ LỤC

Trang 9

Trước những cơ hội và thách thức rất lớn mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại, một yếu tố mang tính then chốt cần được chú trọng phát triển đó là năng lực sáng tạo của người lao động Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới (năm 2017) Theo đó, chương trình phổ thông mới hướng tới hình thành 5 phẩm chất và 10 năng lực cho người học, trong đó có năng lực “giải quyết vấn đề và sáng tạo” Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học nhằm hướng tới sự phát triển năng lực sáng tạo của người học là một nhu cầu cấp thiết của giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

Xê mi ne là một hình thức tổ chức học tập, trong đó người học được hoàn toàn chủ động từ khâu chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung, trao đổi, thảo luận với các thành viên khác và cuối cùng tự rút ra nội dung bài học hay vấn đề khoa học, cũng như đào sâu tri thức, đề xuất các ý kiến mở rộng nội dung Xê mi ne thường được sử dụng ở bậc học Đại học, Cao đẳng Ở trường trung học phổ thông, việc sử dụng xê mi ne trong dạy học còn hạn chế do thời lượng môn học

có hạn và tính chất công phu của một buổi xê mi ne Tuy nhiên, đối với học

Trang 10

2

sinh chuyên là những học sinh có tư chất thông minh, ý thức tự giác cao và có niềm say mê với môn học, dạy học thông qua xê mi ne sẽ giúp các em phát huy tốt khả năng của mình

Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“DẠY HỌC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN TOÁN

THÔNG QUA XÊ MI NE”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên Toán thông qua tổ chức xê mi ne

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

- Xây dựng các nguyên tắc lựa chọn nội dung, qui trình tổ chức một buổi

xê mi ne theo hướng dạy học tư duy sáng tạo

- Thiết kế giáo án, tổ chức xê mi ne chủ đề Hình học tổ hợp cho học sinh chuyên Toán

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả của đề tài và rút ra bài học kinh nghiệm

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Khung lí luận của đề tài như thế nào?

- Dạy học chủ đề Hình học tổ hợp giúp phát triển tư duy sáng tạo của học sinh chuyên Toán như thế nào?

- Dạy học theo hình thức tổ chức xê mi ne có ưu điểm gì trong việc dạy học tư duy sáng tạo của học sinh chuyên Toán? So với dạy học bằng phương pháp truyền thống có đem lại hiệu quả tốt hơn không?

- Nêu qui trình tổ chức một buổi xê mi ne theo định hướng dạy học tư duy sáng tạo?

- Việc tổ chức xê mi ne trong dạy học theo tư duy sáng tạo có khả thi không?

Trang 11

3

- Tư duy sáng tạo của học sinh được thể hiện qua những buổi xê mi ne chủ đề Hình học tổ hợp như thế nào?

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên

Toán ở trường trung học phổ thông chuyên Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thông qua xê mi ne theo chủ đề Hình học tổ hợp

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học cho học sinh chuyên Toán ở trường trung học phổ thông chuyên Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

6 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức tốt xê mi ne chủ đề Hình học tổ hợp cho học sinh chuyên Toán ở trường trung học phổ thông chuyên Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thì tư duy sáng tạo của những học sinh này được phát triển Qua việc nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị báo cáo và tiến hành xê mi ne, học sinh bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học, hình thành kĩ năng và tư duy sáng tạo

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê toán học

9 Cấu trúc của luận văn

Nội dung chính của luận văn được trình bày theo ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 12

4

Chương 2: Dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên Toán thông

qua tổ chức xê mi ne chủ đề Hình học tổ hợp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Ngoài ra, luận văn còn có phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Vấn đề phát hiện và bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho người lao động nói chung và cho học sinh phổ thông nói riêng là mối quan tâm chung của toàn xã hội Đã có nhiều sách được xuất bản, đề tài nghiên cứu, tham luận, báo cáo khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về việc phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua nhiều phương pháp và chủ đề khác nhau

Thế kỉ XX từ những năm 50 của đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, bản chất của sáng tạo, phát triển năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo, kích thích hoạt động sáng tạo… của nhiều tác giả lớn như Barron (1952, 1955, 1981, 1995), Guilford J.P (1950, 1956,

1967, 1979), Torrance (1962, 1963, 1965, 1975),… Các nhà tâm lí học Liên

Xô (cũ), Tiếp Khắc, Ba Lan, Đức… cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề sáng tạo cả về mặt lí luận và thực nghiệm

Cũng phải kể đến tác phẩm Sáng tạo toán học của nhà giáo, nhà toán học

kiêm tâm lí học Polya G đã nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán, quá trình sáng tạo toán học dưới một hình thức hấp dẫn và sinh động Polya đã phân tích quá trình giải toán không tách rời quá trình dạy giải toán [15] Do đó, cuốn sách đã đáp ứng được yêu nâng cao chất lượng giảng dạy môn toán ở trường phổ thông mà một trong những nhiệm vụ quan trọng là dạy học tư duy sáng tạo

Trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo của các tác giả lớn như Hoàng Chúng (1964), Nguyễn Cảnh Toàn (2003, 2004), Nguyễn Huy Tú (1996 2006), Đức Uy (1999), Phạm Văn Hoàn (1969), Phan Dũng (1992, 1994, 2002…), Tôn Thân (1995, 1996)…

Trang 14

6

Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề sáng tạo và tư duy sáng tạo là một vấn

đề đang được quan tâm và nghiên cứu sâu rộng, phổ biến cả trong và ngoài nước do tầm quan trọng và tính thực tiễn của vấn đề Cần tiếp tục có những nghiên cứu về sáng tạo nói chung, tư duy sáng tạo nói riêng để đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo

Xê mi ne là một hình thức tổ chức cơ bản ở bậc cao đẳng, đại học và được sử dụng rộng rãi ở các môn tự nhiên cũng như xã hội Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi cũng nhận thấy rằng, các giảng viên đại học, cao đẳng đã tổ chức xê mi ne trong giảng dạy và đúc kết được nhiều kinh nghiệm được thể hiện trong một số luận văn, bài tham luận, báo cáo khoa học sau:

- ThS Vũ Thụy Hùng , “Tổ chức dạy học thuyết vật lí bằng hình thức xê

mi ne”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 2/2000

- ThS Ngô Xuân Dậu, “Xeminar cần thiết cho đổi mới phương pháp dạy

và học ở đại học”, tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 5/2000

- ThS Nguyễn Chiến Thắng (2008), “Tổ chức xê mi ne cho sinh viên sư phạm ngành Toán thông qua dạy học môn hình học sơ cấp ở bậc đại học”, khoa

Toán – Đại học Vinh

- TS Nguyễn Thị Thu Thủy (2009), “Tổ chức xê mi ne – một biện pháp nâng cao chất lượng dạy, học cho sinh viên ngành sư phạm vật lý”, trường đại

học Cần Thơ

- ThS Vũ Thị Ngọc Mai (2011), “Tổ chức xê mi ne trong dạy học môn Hóa đại cương ở trường cao đẳng kĩ thuật Cao Thắng Tp Hồ Chí Minh”,

trường cao đẳng kĩ thuật Cao Thắng

Tuy nhiên, việc sử dụng hình thức tổ chức xê mi ne trong dạy học phổ thông thì không được áp dụng nhiều do tính chất công phu của quy trình tổ chức và đòi hỏi cao về tinh thần tự giác, sự ham hiểu biết, tìm tòi, sáng tạo của người học và do thời lượng cho môn học ở phổ thông còn hạn hẹp, không linh

Trang 15

Do đó, đề tài nghiên cứu về việc dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên Toán thông qua tổ chức xê mi ne còn khá mới mẻ, có thể xem là một hướng đi có giá trị của luận văn

1.2 Dạy học tư duy sáng tạo

1.2.1 Khái niệm tư duy

Tư duy nói chung, tư duy sáng tạo nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của nhận thức và nền văn minh nhân loại Con đường của nhận thức theo V.I Lê nin là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Khổng Tử đã nhấn mạnh, trong dạy học cần tuân thủ: học đi đôi với tư (tư duy), với tập, với hành Có thể thấy tư duy tạo nên sự khác biệt giữa con người và các loài sinh vật khác cùng sinh sống trên hành tinh này

Theo quan điểm tâm lí học, nhiều tài liệu đã chỉ ra rằng: “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ảnh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức như cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận” [17]

Tư duy mang tính chất khái quát, tính gián tiếp và tính trừu tượng, được nảy sinh từ nhu cầu thực tiễn Thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của tư duy Quá trình tư duy là một quá trình vừa mang tính sinh lí thần kinh học, vừa là một quá trình mang tính trí tuệ đồng thời mang tính cảm xúc Nhờ có tư duy, con người nhận thức được thế giới hiện thực khách quan của tự nhiên, xã hội, vận dụng những quy luật đó vào thực tiễn cuộc sống của con người để xây dựng nền văn minh nhân loại rực rỡ như ngày nay

Theo K.K Platonov, quá trình tư duy được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 16

8

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ của K.K Platonov về quá trình tư duy [17]

1.2.2 Khái niệm tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là kết quả tương tác của các quá trình khám phá, tưởng tượng và tư duy dưới tác động của động cơ và cảm xúc cá nhân

Trong [10], các tác giả đã chỉ rõ: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả vấn đề cao Ý tưởng mới thể hiện ở chỗ phát hiện cái mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới Tính độc đáo của ý tưởng mới thể hiện ở giải pháp lạ, hiếm, không quen thuộc hoặc duy nhất”

Để tạo ra được cái mới thực sự, con người cần thực hiện bước nhảy tư duy, suy đoán, thoát ra khỏi hệ thống cũ để có thể quay lại khắc phục lỗi của chính hệ thống đó Tuy nhiên, cái mới, cái độc đáo mang tính chất tương đối vì

có thể với người này là sáng tạo nhưng lại là điều quen thuộc với người khác,

Trang 17

9

hoặc cùng một chủ thể tư duy nhưng trong điều kiện hoàn cảnh này thì vấn đề được coi là mới lạ, độc đáo, có hiệu quả, còn trong trường hợp khác thì không

Tư duy sáng tạo có tính độc lập và tính tích cực, tuy nhiên, không phải

cứ tư duy độc lập và tư duy tích cực là tư duy sáng tạo Có thể nói, tư duy tích cực là tiền đề của tư duy độc lập và đó là nền tảng của tư duy sáng tạo Tư duy tích cực đối với chủ thể nhận thức được biểu hiện qua sự cố gắng về mặt trí tuệ

và nghị lực Tư duy độc lập được đặc trưng bởi khả năng tự phát hiện vấn đề

và giải quyết được vấn đề, tự kiểm tra và hoàn thiện kết quả đạt được

Trong dạy học tư duy, A.V Krutexki đã chỉ ra mối quan hệ giữa ba dạng mức độ tư duy [11]:

Sơ đồ 1.2 Ba vòng tròn đồng tâm tư duy của Krutexki, A.V (1973)

Trang 18

1.2.3 Biểu hiện của tư duy sáng tạo

Về mặt tâm lí học, biểu hiện đặc trưng của hoạt động sáng tạo có thể bao gồm:

- Vận dụng các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có và được rèn luyện vào tình huống mới

- Phát hiện cấu trúc mới, chức năng mới của các đối tượng quen thuộc

- Nhận thấy nội dung mới trong các tình huống bình thường

- Độc lập kết hợp các phương thức hoạt động đã biết, tạo thành cái mới

- Nhận thấy nhiều cách giải quyết cho một vấn đề cụ thể, lựa chọn được cách giải quyết tối ưu

- Đưa ra được phương pháp mới về nguyên tắc, khác lạ, độc đáo so với những phương pháp đã biết, quen thuộc

Tư duy sáng tạo nói chung và tư duy sáng tạo trong toán học nói riêng gồm các đặc điểm sau:

- Tính mềm dẻo (Flexibility):

+ Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, + Suy nghĩ không máy móc, rập khuôn,

+ Phát hiện được vấn đề mới trong các điều kiện quen thuộc

- Tính nhuần nhuyễn (Fluency):

+ Xem xét đối tượng qua nhiều khía cạnh, trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau,

+ Tìm được nhiều giải pháp khác nhau, có thể có giải pháp mới mẻ

- Tính độc đáo (Originality):

Trang 19

11

+ Tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới,

+ Nhìn ra những mối liên hệ trong sự kiện bên ngoài tưởng như không

có gì liên hệ với nhau

+ Tìm ra những giải pháp mới lạ, có hiệu quả tuy đã biết những giải pháp khác

- Tính phản biện (Elaboration):

+ Sản phẩm tạo ra mới lạ, mang tính phát triển, ứng dụng rộng rãi

1.2.4 Cách kiểm tra đánh giá tư duy sáng tạo của học sinh

Mục đích của kiểm tra đánh giá trong dạy học:

+ Nhìn nhận, nắm bắt thực trạng của quá trình dạy và học

+ Điều chỉnh và tạo động lực cho hoạt động học của trò

+ Rút kinh nghiệm và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Kiểm tra đánh giá qua các mức độ khác nhau:

+ Tái hiện các kiến thức, kĩ năng đã học

+ Vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết được các tình huống thực tế

Giáo viên cần tiến hành kiềm tra đánh giá học sinh thường xuyên trong quá trình dạy học Các công cụ mà người giáo viên có thể sử dụng trong kiểm tra đánh giá:

+ Quan sát các biểu hiện của người học trong quá trình dạy học

+ Các bài kiểm tra nói hay vấn – đáp

+ Các bài kiểm tra viết dưới hình thức tự luận, trắc nghiệm hoặc kết hợp

Trang 20

12

2 Câu hỏi kiểm tra không dừng lại ở việc kiểm tra thuộc kiến thức lí thuyết mà còn là những câu hỏi đòi hòi học sinh phải tư duy, suy luận, các dạng loại bài tập không chỉ áp dụng công thức thức thuần túy mà còn có bài tập tổng hợp, bài tập yêu cầu khái quát hoá và bài tập đòi hỏi vận dụng lí thuyết vào thực tiễn

3 Chú ý kiểm tra tính linh hoạt, tháo vát trong thực hành, thực nghiệm (tìm tòi tài liệu, viết bài báo cáo, sử dụng các phương tiện trực quan…)

4 Kiểm tra qua những bài tập đòi hỏi tính sáng tạo (như tự đặt đề bài từ một số dữ kiện cho trước…) và tìm được cách giải hay nhất, ngắn nhất (những bài tập yêu cầu học sinh đề xuất các cách giải quyết bằng nhiều phương pháp, khía cạnh khác nhau)

5 Đánh giá cao những biểu hiện sáng tạo dù nhỏ

1.2.5 Dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Toán

Polya G đã chỉ rõ: “cần phải dạy thanh niên suy nghĩ” [15] Suy nghĩ ở

đây được hiểu là tư duy Mà sáng tạo là một phẩm chất tư duy quan trọng nhất cần được rèn luyện cho học sinh

Trong [10], các tác giả Nguyễn Bá Kim, Dương Vương Minh, Tôn Thân

đã chỉ ra một số hướng để dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh như:

- Dạy học tư duy sáng tạo cần đặt trọng tâm vào việc khơi dậy các ý tưởng mới, rèn luyện khả năng phát hiện các vấn đề mới

- Dạy học tư duy sáng tạo cần chú trọng bồi dưỡng các yếu tố của cụ thể của tư duy sáng tạo

- Dạy học tư duy sáng tạo là một quá trình lâu dài, cần được chú ý lồng ghép trong các khâu của quá trình dạy học

- Chú ý tới việc kết hợp với các hoạt động trí tuệ khác

Từ đó, có thể thấy, dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn Toán thực hiện được bằng một số biện pháp cụ thể:

Trang 21

13

(1) Dạy học tư duy sáng tạo bằng cách bổ sung hệ thống bài tập rèn luyện các phẩm chất của tư duy sáng tạo như tính mềm dẻo, nhuần nhuyễn, độc đáo… Tôn Thân đã xây dựng hệ thống bài tập nhằm rèn luyện tính sáng tạo cho học sinh thông qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.3 Hệ thống các bài toán rèn luyện tư duy sáng tạo cho học

sinh của Tôn Thân (1998) [10]

Trong sơ đồ trên, các kiểu bài toán được đưa ra nhằm rèn luyện những thuộc tính cơ sở của tư duy sáng tạo Ứng dụng sơ đồ này trong dạy học, giáo viên có thể coi đó là một định hướng trong việc lựa chọn bài tập phù hợp, góp phần vào việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh

Trang 22

14

(2) Dạy học tư duy sáng tạo thông qua việc trang bị cho học sinh đầy

đủ kiến thức, các phương tiện, các kĩ năng học tập, các phương pháp nhận thức, các tri thức tổ chức hoạt động tư duy, các tri thức phương pháp…

(3) Dạy học giải quyết vấn đề

Trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Toán nói riêng, giáo viên cần chú trọng đặt học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để học sinh có thể phát huy tốt nhất khả năng học tập, tính sáng tạo của mình thông qua các hình thức tổ chức dạy học phù hợp

1.3 Sơ lược về học sinh chuyên Toán

Học sinh chuyên Toán là những học sinh bước đầu thể hiện được năng khiếu ở môn Toán, được tuyển chọn kĩ, là những đại diện tiêu biểu của học sinh trung học phổ thông

Học sinh chuyên Toán được tiếp cận với những chương trình Toán mở rộng, nâng cao và ngoài sách giáo khoa, kích thích tính tò mò, sự tìm tòi, sáng tạo của của các em

Học sinh học chuyên Toán không nhất thiết sau này chọn con đường trở thành nhà Toán học, mà học sinh chuyên Toán là những học sinh có khả năng phát huy tốt môn Toán trong việc rèn luyện trí tuệ để trở nên giỏi ở một lĩnh vực nào đó

1.4 Sơ lược về xê mi ne

1.4.1 Khái niệm

Tác giả Phan Trọng Ngọ cho rằng: “Xemina là hình thức học tập, trong

đó một nhóm học viên được giao chuẩn bị trước vấn đề nhất định Sau đó trình bày trước lớp (nhóm) và thảo luận đã được chuẩn bị” [14]

Còn tác giả Lê Khánh Bằng đã chỉ ra: “Xemina ở đại học là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản, trong đó người học thảo luận các vấn

đề khoa học đã tự tìm hiểu theo sự hướng dẫn cụ thể của giảng viên, người rất

am hiểu lĩnh vực của các vấn đề khoa học đó Xemina thay hình đổi dạng tùy

Trang 23

trưng cơ bản của xê mi ne là phải có chủ đề khoa học nhất định và phải có người hướng dẫn khoa học Điều quan trọng là học sinh phải biết trình bày ý

kiến của mình và tranh luận bảo vệ ý kiến đó trước tập thể

1.4.2 Ưu điểm và hạn chế của tổ chức xê mi ne trong dạy học

*) Ưu điểm

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ trong [14]: “Xemina hội tụ và tổng hợp nhiều kĩ thuật dạy học: các phương pháp dùng lời (người học phải học cách thuyết trình vấn đề được chuẩn bị); các kĩ thuật trao đổi, vấn đáp; các kĩ thuật làm việc trực tiếp với đối tượng (tìm kiếm thông tin, nghiên cứu tài liệu, ghi chép, thực hành, thực nghiệm…); các kĩ thuật thảo luận…”

Như vậy, với hình thức tổ chức xê mi ne, người học:

- Được chủ động tìm tòi, nghiên cứu tri thức, xử lí các thông tin khoa học dưới nhiều hình thức khác nhau tạo thuận lợi cho việc hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức

- Được phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo, thực sự là chủ thể, là trung tâm của quá trình dạy học

- Được học tập trong một không khí lớp học sôi nổi, hào hứng

- Bước đầu tiếp cận với việc làm khoa học một cách chủ động, chuyên nghiệp

Trang 24

16

Đối với người dạy, xê mi ne có tác dụng kiểm tra, đánh giá trình độ hiểu biết, khả năng tư duy, khả năng tự học, tự nghiên cứu, khả năng sáng tạo của học sinh

- Tinh thần tham gia của người học quyết định phần lớn hiệu quả dạy học

1.4.3 Chức năng cơ bản của xê mi ne

Theo [1], chức năng cơ bản của xê mi ne có thể phân loại như sau:

1.4.3.1 Chức năng nhận thức

Trong quá trình chuẩn bị xê mi ne, người học cần tự mình tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để tổng hợp, phân tích và đưa ra một bài báo cáo hoàn thiện Quá trình diễn ra xê mi ne, người học trình bày ý kiến của mình, tranh luận, bảo vệ các ý kiến đã đưa ra với những lập luận sắc bén, ngắn gọn và chặt chẽ Qua đó, nhu cầu tìm tòi, nhu cầu nhận thức và trí sáng tạo của người học được kích thích

1.4.3.2 Chức năng giáo dục

Chức năng giáo dục của xê mi ne được biểu hiện như sau:

- Xê mi ne hình thành niềm tin và nhân cách khoa học cho người học

- Người học bước đầu tiếp cận với cách nghiên cứu khoa học, hình thành các phẩm chất của một nhà khoa học như sự ham thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo; tính ngăn nắp, kỉ luật, có kế hoạch khi làm việc; tính trung thực, dũng cảm bảo vệ quan điểm khoa học của mình

Trang 25

17

1.4.3.3 Chức năng kiểm tra, tự kiểm tra

- Về phía người dạy, người trực tiếp điều khiển, qua xê mi ne, người dạy thu thập được các thông tin về kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực người học đã rèn luyện được cho mình Từ đó, người dạy kịp thời điều chỉnh những sai lầm mà người học mắc phải, định hướng người học hiểu đúng, làm đúng Đồng thời, người dạy cũng có cơ sở điều chỉnh cách dạy cho phù hợp và hiệu quả

- Về phía người học, qua việc chuẩn bị, trình bày và tranh luận, trao đổi tại xê mi ne, người học tự kiểm tra bằng cách đối chiếu, so sánh với ý kiến của các bạn và ý kiến điều chỉnh, bổ sung của giáo viên Từ đó, người học tự đánh giá trình độ, kiến thức của bản thân điều chỉnh quá trình nhận thức và tự học cho đúng đắn

1.4.4 Phân loại xê mi ne [1]

Xê mi ne được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau

Phân loại theo phương thức tiến hành:

- Xê mi ne thảo luận tự do: tất cả người học đều chuẩn bị nội dung và phát biểu ý kiến tự do

- Xê mi ne báo cáo: một số người học báo cáo nội dung theo chỉ định phân công trước, các thành viên còn lại nhận xét báo cáo

- Xê mi ne hỗn hợp: kết hợp giữa trao đổi, thảo luận các báo cáo và thảo luận tự do

Phân loại theo tính chất, mức độ phát triển nhận thức

- Xê mi ne thông báo, tái hiện

- Xê mi ne nêu vấn đề

- Xê mi ne nghiên cứu

Phân loại theo tính chất và phạm vi nội dung

- Xê mi ne đơn giản (tiền xê mi ne)

- Xê mi ne gắn với giáo trình

Trang 26

18

- Xê mi ne nghiên cứu một số chương cơ bản, quan trọng của giáo trình

- Xê mi ne gắn với chuyên đề

1.5 Tiềm năng của xê mi ne trong dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh

chuyên Toán

Trong quá trình học Toán, học sinh không những được cung cấp các kiến thức Toán học mà còn được trang bị, rèn luyện kĩ năng suy nghĩ độc lập, độc đáo và sáng tạo Bên cạnh việc khai thác hệ thống bài tập sao cho kích thích được khả năng tư duy sáng tạo của học sinh thì hình thức tổ chức dạy học cũng cần có những đổi mới để học sinh phát được rèn luyện tư duy sáng tạo biểu hiện qua các mặt như: khả năng tìm ra hướng đi mới (qua việc phát hiện ra được nhiều cách giải cho một bài toán), khả năng tìm ra kết quả mới (qua việc khai thác kết quả của bài toán hoặc xem xét bài toán dưới các khía cạnh khác nhau)

Xê mi ne là một hình thức dạy học mà trong đó người học được phát huy rất cao tính chủ động Chủ động trong việc tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, đưa ra các ý kiến về vấn đề nghiên cứu và trao đổi, tranh luận để bảo vệ ý kiến đó Giáo viên đóng vai trò là người định hướng, điều hành buổi học Như vậy, việc dạy học được đặt trung tâm vào người học Từ đó học sinh thể hiện được các khả năng của mình thông qua quá trình học Đối với học sinh chuyên Toán, giáo viên có thể định hướng các em khai thác, đào sâu thêm các vấn đề được đưa ra trình bày hoặc có thể sáng tạo trong hình thức, cách thức thể hiện vấn

đề

Theo [8], dạy cho học sinh cách suy nghĩ như các nhà khoa học đã làm

ra những tri thức mới cho nhân loại làm cho xê mi ne trở thành những buổi

“thảo luận phát triển” (developmental discussion), giúp kích thích tư duy sáng tạo đang là hướng đổi mới trong dạy học sử dụng xê mi ne

Theo hướng đó, người ta dùng những kĩ thuật dạy học sau :

- Công não (brain storming): làm bật ra nhiều ý tưởng về một vấn đề

Trang 27

19

nêu ra để sau đó bình luận, đánh giá,

- Trao đổi nhóm (buzz groups): trao đổi ngắn trong nhiều nhóm nhỏ, tập trung vào một vấn đề nêu ra khi chia sẻ ý kiến trong lớp lớn

- Nghiên cứu trường hợp (case study): đưa ra một trường hợp thực hoặc

mô phỏng để SV nghiên cứu, đề xuất các giải pháp

- “Bể cá” (fish bowl): một nhóm thảo luận được quan sát im lặng bởi một nhóm khác, sau đó đổi vai hoặc trao đổi chung

- “Kim tự tháp” (pyramid): vấn đề được thảo luận sơ bộ trong từng nhóm nhỏ để tạo ý tưởng ban đầu, sau đó được thảo luận sâu hơn bằng cách gộp 2 nhóm, 4 nhóm nhỏ thành nhóm lớn hơn

- Thảo luận nhóm khống chế: trong quá trình thảo luận, học sinh có thể đề ra những câu hỏi nhưng giáo viên điều khiển khống chế định hướng chung

- Thảo luận nhóm tự do: các vấn đề thảo luận do chính học sinh trong nhóm đề xuất chứ không phải do giáo viên

Tác giả cũng tiến hành điều tra về tiềm năng dạy học tư duy sáng tạo qua

xê mi ne đối với 15 giáo viên dạy môn Toán tại trường trung học phổ thông chuyên Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Khi tiến hành, tác giả có trao đổi, phỏng vấn và gửi phiếu điều tra đến 15 giáo viên này

Sau đây là một số kết quả thu được:

Trang 28

20

Bảng 1.1 Quan niệm của giáo viên về xê mi ne

viên chọn %

Xê mi ne là tổ chức cho học sinh thảo luận một vấn

Xê mi ne là cho học sinh chuẩn bị một đề tài cụ thể

Học sinh chủ động tiếp thu kiến thức 0 1 3 6 5 4.0 Củng cố, mở rộng và đào sâu tri thức 1 2 5 3 4 3.5 Hình thành niềm tin và cách làm việc khoa học

Kiểm tra được trình độ tiếp thu, khả năng làm

Không khí học tập sôi động, hào hứng 1 2 2 4 6 3.8 Rèn luyện kĩ năng giao tiếp và làm việc theo

Rèn luyện kỹ năng trình bày trước tập thể 0 1 3 3 8 4.2 Rèn luyện kĩ năng đánh giá và tự đánh giá 1 5 2 3 4 3.3

Trang 29

Qua kết quả điều tra, tác giả nhận thấy giáo viên quan tâm và thấy được tác dụng của xê mi ne đáp ứng được yêu cầu dạy học tư duy sáng tạo và đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Tuy nhiên, quan niệm của giáo viên về xê

mi ne (bảng 1.1) còn khá tản mạn, có thể thấy giáo viên còn thiếu thông tin về việc tổ chức xê mi ne trong dạy học

Đa số giáo viên nhận thấy việc tổ chức xê mi ne trong dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh là phù hợp, nhưng việc áp dụng trong dạy học nói chung

và trong dạy học môn Hình học tổ hợp nói riêng còn dè dặt, chưa phổ biến

Do đó, tiềm năng dạy học tư duy sáng tạo của việc tổ chức xê mi ne trong dạy học Toán là rất lớn

Trang 30

22

1.6 Tổng quan về dạy học tư duy sáng tạo qua xê mi ne chủ đề Hình học

tổ hợp ở trường trung học phổ thông chuyên

1.6.1 Môn Hình học tổ hợp

Hình học tổ hợp không thuộc dạng hình học thông thường Một bài toán Hình học tổ hợp là một bài toán mà trong đó có nhiều thành phần (ví dụ như nhiều điểm, nhiều góc, nhiều hình), và để giải quyết bài toán chúng ta cần dùng các phương pháp tổ hợp, tức là các phương pháp phân chia và kết hợp các thành phần với nhau

Hình học tổ hợp rất đa dạng về nội dung Chúng ta có thể gặp các bài toán về sắp xếp các hình; đánh giá độ dài, góc, diện tích; đếm số điểm, số đoạn thẳng, số miền; phủ hình; cắt ghép hình; đường đi và lưới ô vuông; đồ thị; tô màu; v.v

Hình học tổ hợp cũng rất phong phú về phương pháp giải Một số phương pháp quen thuộc như phương pháp phản chứng, nguyên lí Dirichlet, quy nạp toán học, nguyên lí cực hạn Một số phương pháp ít gặp hơn như tạo đa giác bao, tạo các dải song song, chia nhỏ hình, phương pháp tô màu, v.v

Các bài toán Hình học tổ hợp thường không đòi hỏi nhiều về kiến thức

và kĩ năng tính toán Chúng chủ yếu đòi hỏi sực chặt chẽ trong việc xét các khả năng, sự sáng tạo trong việc đưa ra các mô hình cụ thể, sự linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp Nhiều bài toán có nội dung tương tự như nhau, chỉ khác nhau về các con số, nhưng lại cần đến những cách giải quyết khác nhau, đòi hỏi người giải toán không thể rập khuôn, máy móc Chỗ khó và chỗ hay của Hình học tổ hợp là ở đó Chính vì thế mà các bài toán Hình học tổ hợp thường

có mặt trong các kì thi học sinh giỏi Toán trong nước và quốc tế

Hình học tổ hợp cho chúng ta thấy được vẻ đẹp sáng tạo của Toán học khi nghiên cứu về loại Toán này Từ đó cho thấy sự phù hợp khi dạy Hình học

tổ hợp trong dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh

Các nội dung chính trong chương trình học Hình học tổ hợp gồm có [2]:

Trang 31

23

Bài 1 CÁC PHƯƠNG PHÁP THƯỜNG DÙNG

1.1 Phương pháp phản chứng – nguyên lí Dirichlet 1.1.1 Phương pháp phản chứng

1.1.2 Nguyên lí Dirichlet

1.2 Phương pháp tạo đa giác bao 1.3 Phương pháp tạo các dải song song 1.4 Phương pháp mở rộng, thu nhỏ một hình 1.5 Phương pháp tô màu, sử dụng đồ thị 1.6 Nguyên lí cực hạn

1.7 Phương pháp quy nạp toán học Bài 2 CÁC DẠNG BÀI TOÁN THƯỜNG GẶP

2.1 Hệ điểm và đường thẳng 2.2 Điểm nằm trong một hình 2.3 Hình nằm trong một hình 2.4 Phủ hình

2.5 Hình giao nhau 2.6 Đánh giá độ dài, góc, diện tích 2.7 Các bài toán đếm hình học 2.8 Cắt và ghép hình

2.9 Đường gấp khúc 2.10 Tô màu

2.11 Bảng và lưới ô vuông, điểm nguyên 2.12 Đường đi

Bài 3 CÁC BÀI TOÁN THI CÓ NỘI DUNG HÌNH HỌC TỔ HỢP

Trang 32

Hiện nay ở các trường trung học phổ thông chuyên nói chung và tại trường trung học phổ thông chuyên Hạ Long, Quảng Ninh nói riêng, các giáo viên chủ yếu vẫn áp dụng phương pháp truyền thống để dạy nội dung Hình học

tổ hợp Khi khảo sát về việc sử dụng xê mi ne để dạy học chủ đề này, đa số ý kiến là chưa từng sử dụng, hoặc chỉ sử dụng trong các chương trình học lớn của cộng đồng các trường chuyên như trường toán mùa đông, cuộc thi dành cho trường trung học phổ thông chuyên khu vực duyên hải và đồng bằng bắc bộ…

Như vậy, hình thức dạy học thông qua xê mi ne còn khá mới mẻ với chủ

đề Hình học tổ hợp và có tiềm năng để khai thác, triển khai trong dạy học

Kết luận chương 1

Trong chương này, các khải niệm về tư duy, tư duy sáng tạo, các biểu hiện về tư duy sáng tạo đã được làm rõ Bên cạnh đó, chương cũng chỉ ra các khái niệm về xê mi ne, những ưu điểm và hạn chế cũng như tiềm năng của xê

mi ne trong quá trình dạy học tư duy sáng tạo cho học sinh chuyên Toán

Việc xây dựng xê mi ne để giúp học sinh phát huy tốt tư duy sáng tạo trong quá trình dạy học là rất quan trọng Người giáo viên cần có định hướng

và hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch rõ, đồng thời giám sát tiến độ kịp thời để có thể tổ chức xê mi ne một cách hiệu quả

Trang 33

25

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN TOÁN THÔNG QUA TỔ CHỨC XÊ MI NE CHỦ ĐỀ HÌNH HỌC TỔ HỢP

2.1 Nguyên tắc lựa chọn những nội dung xê mi ne

Để tổ chức hiệu quả một buổi xê mi ne, vấn đề đầu tiên cần quan tâm là việc lựa chọn nội dung cho phù hợp Qua nghiên cứu, tôi đưa ra các nguyên tắc lựa chọn nội dung xê mi ne như sau:

- Nội dung xê mi ne phải gắn liền với mục tiêu dạy học, thường là những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất trong bài giảng, trong giáo trình

- Nội dung xê mi ne cũng có thể là những vấn đề đã hoặc đang tranh luận trong khoa học hay có tính thời sự

- Nội dung xê mi ne thường là những vấn đề khó, có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau, cần sự hợp tác của tập thể để tìm cách giải quyết vấn đề và phải

có một sự chuẩn bị chu đáo mới có thể trả lời được

- Nội dung xê mi ne mà học sinh phải chuẩn bị nên là các vấn đề gần gũi,

có nhiều ứng dụng và bài tập để kích thích học sinh tìm hiểu hoặc là những vấn

đề mà học sinh có vốn hiểu biết nhất định làm nền tảng để dễ dàng lĩnh hội kiến thức liên quan hay khái quát hóa và mở rộng kiến thức cũ

- Nội dung xê mi ne nên có nhiều tài liệu tham khảo để học sinh dễ dàng tìm kiếm và sử dụng

- Nội dung xê mi ne nên là vấn đề khoa học mà giáo viên rất am hiểu thì mới có thể điều khiển thảo luận và đưa ra những nhận xét xác đáng

- Nội dung xê mi ne phải phù hợp với trình độ của học sinh và thời gian thuyết trình, thảo luận

Trang 34

26

2.2 Các nội dung trong chương trình học Hình học tổ hợp có thể tổ chức

xê mi ne

Dựa trên các nguyên tắc đã nêu, trong chương trình học Hình học tổ hợp

có thể chọn ra một số nội dung để tổ chức xê mi ne báo cáo như sau:

2.2.1 Bài “Các phương pháp thường dùng”

Một số phương pháp trong bài có thể chọn để xê mi ne như: phương pháp phản chứng – nguyên lí Dirichlet, nguyên lí cực hạn và phương pháp quy nạp toán học Đây là các phương pháp rất quen thuộc mà học sinh đã được tiếp cận

ở bậc học tiểu học và trung học cơ sở, tài liệu tham khảo về các phương pháp này rất đa dạng, phong phú và dễ tìm kiếm

Ngoài ra, có thể chọn thêm một số phương pháp ít gặp hơn như phương pháp tô màu, sử dụng đồ thị Đây là phương pháp có nội dung ứng dụng thực tiễn cao, có thể kích thích trí tưởng tượng, tính tò mò, sự sáng tạo trong học sinh

2.2.2 Bài “Các dạng bài toán thường gặp”

Các dạng bài toán thường gặp được chia thành nhiều dạng loại khác nhau Tuy nhiên có thể chọn một số dạng bài toán điển hình để xê mi ne báo cáo như: bài toán về hệ điểm và đường thẳng, bài toán về điểm nằm trong một hình, hình nằm trong một hình, các bài toán đếm hình học, bài toán tô màu, bài toán đường đi Các dạng bài toán này có thể được giải bằng cách vận dụng sáng tạo các phương pháp thường dùng ở bài 1, đồng thời nội dung của bài toán có yếu tố thực tế nên kích thích được học sinh tư duy, liên tưởng

Học sinh có cơ hội chia sẻ kiến thức của mình, tranh luận, thảo luận khi chuẩn bị và thuyết trình những nội dung của bài này

2.3 Chuẩn bị cho một buổi xê mi ne

Xê mi ne là hình thức tổ chức dạy học thường được sử dụng ở bậc học đại học Đối với học sinh bậc học phổ thông còn ít được tiếp cận Vì vậy, việc

tổ chức xê mi ne trong dạy học còn khá bỡ ngỡ với các em Để đạt được hiệu

Trang 35

- Nêu cách thức tiến hành xê mi ne: giới thiệu hệ thống các đề tài xê mi

ne, chia nhóm, chọn đề tài (bốc thăm hoặc tự chọn), yêu cầu các nhóm chuẩn

bị bài thuyết trình (bằng phần mềm Microsoft PowerPoint hoặc phần mềm có chức năng tương tự) và trình bày bài báo cáo theo thứ tự đề tài và trong khoảng thời gian quy định

- Giới thiệu một số bài báo cáo mẫu (có thể là bài của những khóa học trước, bài học khác nhưng có cùng cách tổ chức hoặc chính bài giảng của giáo viên), nêu các yêu cầu về cách thức trình bày về cỡ chữ, font chữ, màu sắc, hình ảnh minh họa, thứ tự trình bày, thời gian và cách thức thuyết trình, …

- Nêu cách chấm điểm cho xê mi ne: Mỗi bài thuyết trình sẽ được chấm điểm bởi các nhóm còn lại và giáo viên theo thang điểm sau:

1) Về hình thức trình bày (3đ)

- Bố cục rõ ràng, mạch lạc, hợp lí (1đ)

- Đúng quy cách (1đ)

- Đẹp mắt, thu hút, sáng tạo (1đ)

2) Về người báo cáo (3,5đ)

- Tác phong tự tin, nghiêm túc (0,5đ)

- Có sự phối hợp của nhiều thành viên trong nhóm cùng báo cáo (0,5đ)

- Giọng nói rõ ràng, dễ nghe, trình bày mạch lạc, dễ hiểu (1đ)

- Trả lời được câu hỏi phản biện (của các nhóm khác và giáo viên) (1đ)

- Đúng thời gian quy định (0,5đ)

3) Về nội dung báo cáo (3,5đ)

Trang 36

28

- Đúng, đủ nội dung bài học (1đ)

- Phong phú, có liên hệ thực tế hay, nhiều bài tập áp dụng (1đ)

- Người nghe hiểu nội dung bài học (1đ)

- Tinh thần làm việc nhóm tốt (0,5đ)

Điểm xê mi ne của từng nhóm được tính bằng cách lấy trung bình cộng điểm được chấm bởi các nhóm còn lại cộng với điểm của giáo viên, sau đó chia đôi

- Đặc biệt: các nhóm cần xem trước nội dung xê mi ne của các nhóm khác, chuẩn bị câu hỏi để trao đổi, thảo luận

- Giáo viên chuẩn bị sẵn mẫu “Phiếu đánh giá xê mi ne” và hướng dẫn học sinh ghi nội dung trong phiếu Đối với mỗi bài báo cáo, các nhóm còn lại phải nghe, tham gia nhận xét, đặt câu hỏi thảo luận đồng thời cử thành viên điền vào “Phiếu đánh giá xê mi ne”, nộp lại phiếu đánh giá vào cuối buổi học

- Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài báo cáo:

+ Giới thiệu sơ lược về cách sử dụng phần mềm hỗ trợ trình chiếu (học sinh có thể sử dụng các phần mềm khác có tính năng tương tự)

+ Các bước thực hiện để có một báo cáo chất lượng:

Bước 1: Họp nhóm lần 1: bầu nhóm trưởng, thư kí, thảo luận để đưa ra

kế hoạch thực hiện, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên

Bước 2: Học sinh tìm và nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu về nội dung mà nhóm mình báo cáo, làm các bài tập có liên quan, ghi chú lại những nội dung chính, những vướng mắc cần giải đáp, những câu hỏi thảo luận

Bước 3: Họp nhóm lần 2: Thảo luận để hiểu rõ hơn về nội dung thuyết trình, thống nhất những nội dung và hình thức báo cáo

Bước 4: Thực hiện các nhiệm vụ: thiết kế báo cáo, chuẩn bị thuyết trình, đưa ra các câu hỏi thảo luận, ý kiến đề xuất,…

Bước 5: Họp nhóm lần 3: tập thuyết trình trước nhóm, các thành viên trong nhóm nhận xét và góp ý chỉnh sửa cho hoàn thiện

Trang 37

29

Giáo viên yêu cầu các nhóm ghi biên bản các buổi họp và nộp lại vào cuối buổi xê mi ne Nhắc nhở học sinh chuẩn bị các phương án dự phòng trong trường hợp máy tính, máy chiếu gặp trục trặc… thì vẫn tiến hành xê mi ne một cách bình thường

Trước mỗi buổi học xê mi ne, giáo viên cần cung cấp hệ thống câu hỏi định hướng để người học chuẩn bị Các câu hỏi cần đủ độ khó và khơi gợi tính

tò mò, trí sáng tạo, kích thích nhu cầu nhận thức và mong muốn tìm cách trả lời bằng được của học sinh

2.4 Qui trình tổ chức xê mi ne cho một buổi học dạy học tư duy sáng tạo

Để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh, quá trình tổ chức xê mi ne chú trọng theo hướng giáo viên có vai trò định hướng, điều hành, còn học sinh

có vai trò chủ đạo trong việc tìm tòi, phát hiện kiến thức Cụ thể được trình bày trong bảng sau:

Bảng 2.1 Quy trình tổ chức xê mi ne

Giai đoạn Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

- Xây dựng kế hoạch xê mi ne

- Hướng dẫn học sinh phát hiện vấn đề khoa học, xác định đề tài xê mi ne

- Phát hiện vấn đề khoa học, xác định và tiếp nhận các đề tài xê mi ne

Chuẩn bị

xê mi ne

- Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch thực hiện xê mi ne

- Hướng dẫn học sinh các phương pháp thu thập, xử lí thông tin

- Hướng dẫn học sinh viết báo cáo

- Lập kế hoạch thực hiện xê mi

ne

- Thu thập, xử lí thông tin bằng các phương pháp khác nhau

- Tiến hành viết báo cáo

Trang 38

30

- Theo dõi, đôn đốc và hỗ trợ học sinh trong quá trình thực hiện

- Nhận bài báo cáo của học sinh, chỉnh sửa, góp ý và gửi lại cho học sinh

- Phối hợp thực hiện kế hoạch

- Gửi bài báo cáo của nhóm cho giáo viên, nhận và chỉnh sửa theo góp ý của giáo viên

- Hướng dẫn học sinh viết tóm tắt, trình bày trên PowerPoint

- Viết tóm tắt và trình bày trên PowerPoint, chuẩn bị phương tiện

- Kiểm tra lại việc chuẩn bị của học sinh;

- Giới thiệu chủ đề, công bố tiến trình xê mi ne;

- Hướng dẫn cách thực hiện

và cách đánh giá qua các tiêu chí đánh giá;

- Hoàn thành và chuẩn bị báo cáo;

- Tham gia, góp ý để thống nhất các tiêu chí đánh giá

- Nhóm phản biện nhận xét, đánh giá, nêu câu hỏi;

- Các nhóm còn lại: Đặt câu hỏi chất vấn, nêu thắc mắc

- Học sinh trao đổi, tranh luận, giải đáp thắc mắc

- Nhận xét báo cáo, ý kiến tranh luận, giải đáp những

- Đánh giá, tự đánh giá quá trình thực hiện xê mi ne

Trang 39

31

Kết thúc

xê mi ne

thắc mắc mà các nhóm chưa làm rõ nhằm giúp học sinh hiểu đúng bản chất của vấn

2.5 Một số giáo án xê mi ne dạy học tư duy sáng tạo chủ đề Hình học tổ

hợp

2.5.1 Giáo án bài “Các phương pháp thường dùng”

Tiến hành xê mi ne đối với một số phương pháp thường dùng

Thời gian xê mi ne: 4 tiết

2 Về kĩ năng

- Sử dụng được các phương pháp thường dùng này vào giải toán

- Đọc và nghiên cứu tài liệu

- Thuyết trình, thảo luận nhóm, phản biện

- Vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo

3 Về thái độ

Trang 40

32

- Tìm tòi, nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc, có hiệu quả

- Thái độ hợp tác khi làm việc nhóm

- Thực hiện hoạt động học tập một cách tỉ mỉ, chính xác

4 Về năng lực

Rèn luyện và phát triển các năng lực:

- Năng lực hợp tác, làm việc nhóm

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực tư duy sáng tạo

II PHƯƠNG PHÁP

- Tổ chức xê mi ne báo cáo

- Phương pháp trực quan (sử dụng máy chiếu đa năng, các phần mềm hỗ trợ trình chiếu như PowerPoint…)

III CHUẨN BỊ

1 Đối với giáo viên

- Phân công các nhóm chuẩn bị báo cáo (triển khai ở buổi học trước), yêu cầu học sinh thực hiện theo đúng kế hoạch Nhắc nhở các nhóm chuẩn bị báo cáo có bài trình chiếu kèm theo

Chủ đề 1: Phương pháp phản chứng

Chủ đề 2: Nguyên lí Dirichlet

Chủ đề 3: Nguyên lí cực hạn

Chủ đề 4: Phương pháp quy nạp toán học

- Giới thiệu cho học sinh một số tài liệu tham khảo:

1/ Vũ Hữu Bình (2016), Hình học tổ hợp, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội

2/ Nguyễn Văn Mậu (2017), Tổ hợp và các dạng toán rời rạc liên quan,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

3/ Lê Anh Vinh (Chủ biên) (2018), Định hướng bồi dưỡng học sinh năng khiếu Toán, Nxb Giáo dục Việt Nam

Ngày đăng: 17/03/2020, 00:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w