Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ truyền thống nhưng các nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THANH HUỆ
ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI TỪ CÁC NHÀ TÀI TRỢ MỚI NỔI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THANH HUỆ
ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI TỪ CÁC NHÀ TÀI TRỢ MỚI NỔI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2015
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan rằng :
Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS.Nguyễn Cẩm Nhung đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh luận văn Thạc sỹ
Đồng thời, tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Kinh Tế, ĐHQGHN đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến hội đồng bảo vệ sơ bộ đã có những góp ý tận tình, giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ làm việc tại Ủy ban đối ngoại-Văn phòng Quốc hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các ban quản lý dự án ODA và vốn vay ưu đãi trên địa bàn Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên khích lệ, chia sẻ, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như quá trình học tập, nghiên cứu
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016 Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Huệ
Trang 5TÓM TẮT
Kể từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới năm 1986, các nguồn hỗ trợ tài chính đa phương và song phương đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển của Việt Nam hơn 30 năm qua Bên cạnh vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế xã hội, ODA và vốn vay ưu đãi cũng có những tác động tiêu cực nếu như nguồn vốn này không được sử dụng có hiệu quả Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi là cần thiết Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ truyền thống nhưng các nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan còn hạn chế nên luận văn đi sâu và nghiên cứu vấn đề này
Luận văn có ba mục tiêu nghiên cứu chính là: (1) Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi; (2) Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi; (3) Đề xuất giải pháp giúp việc sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi
từ các nhà tài trợ mới nổi một cách có hiệu quả
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính gồm có: (i) Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, (ii) Phương pháp phỏng vấn sâu, (iii) Phương pháp case study
Các câu hỏi phỏng vấn sâu được chia thành bốn phần dựa trên bốn tiêu chí của Tuyên bố Paris về hiệu quả viện trợ bao gồm: Sự tuân thủ, Tính hài hòa, Quản lý dựa vào phát triển và Chia sẻ trách nhiệm
Dựa trên kết quả phỏng vấn thu được, luận văn đưa ra các đánh giá theo từng tiêu chí Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông được đưa ra làm ví
dụ minh họa cho các đánh giá này Từ việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng
và đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi, luận văn đưa ra các giải pháp giúp sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở lý luận về ODA và vốn vay ưu đãi 11
1.2.1 Khái niệm về ODA và vốn vay ưu đãi 12
1.2.2 Phân loại ODA và vốn vay ưu đãi 13
1.2.3 Vai trò của ODA và vốn vay ưu đãi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước tiếp nhận 16
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi 18
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi 21
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Thu thập và xử lý số liệu 27
2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) 28
2.4 Phỏng vấn sâu 28
2.5 Thiết kế nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI TỪ CÁC NHÀ TÀI TRỢ MỚI NỔI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2015 32
Trang 73.1 Tổng quan về tình hình tiếp nhận và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ
các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2015 32
3.1.1 ODA và vốn vay ưu đãi của Hàn Quốc 36
3.1.2 ODA và vốn vay ưu đãi của Trung Quốc 39
3.1.3 ODA và vốn vay ưu đãi của Ấn Độ 41
3.1.4 ODA và vốn vay ưu đãi của Thái Lan 42
3.2 Các nhận tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam 45
3.2.1 Các nhận tố từ các nhà tài trợ mới nổi 45
3.2.2 Các nhân tố nội tại của Việt Nam 48
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi giai đoạn 2000 - 2015 49
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP GIÚP SỬ DỤNG ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI TỪ CÁC NHÀ TÀI TRỢ MỚI NỔI CÓ HIỆU QUẢ 60
4.1 Giải pháp giúp sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi đạt hiệu quả ở cấp độ dự án 60
4.2 Giải pháp giúp sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi đạt hiệu quả ở cấp độ quốc gia 62
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Phụ lục 1: Nội dung câu hỏi phỏng vấn 73
Phụ lục 2: Kết quả câu hỏi phỏng vấn 75
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn
vay ƣu đãi theo tuyên bố Paris
23
2 Bảng 3.1 Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA và vốn
vay ƣu đãi thời kỳ 2001 – 2015
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA và vốn
vay ƣu đãi thời kỳ 2001 – 2015
34
2 Hình 3.2 ODA và vốn vay ƣu đãi Hàn Quốc cho Việt
Nam giai đoạn 2000 – 2014
37
3 Hình 3.3 Phân bổ ODA và vốn vay ƣu đãi từ Hàn
Quốc theo ngành năm 2014
38
4 Hình 3.4 ODA và vốn vay ƣu đãi của Thái Lan cho
Việt Nam giai đoạn 2008 - 2014
43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Kể từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới năm 1986, các nguồn hỗ trợ tài chính đa phương và song phương đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển của Việt Nam hơn 30 năm qua Các nguồn hỗ trợ tài chính này bao gồm
cả các khoản viện trợ và các khoản vay đi kèm các hỗ trợ kỹ thuật, từ các nhà tài trợ truyền thống và từ các nhà tài trợ mới nổi Theo Bộ Kế hoạch và Đầu
tư Việt Nam, trong thời kỳ từ 1993-2014, Việt Nam đã nhận khoảng 6.2 tỷ USD hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài, hầu hết là các khoản vay ưu đãi (xấp xỉ 90%) và các khoản viện trợ không hoàn lại, tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nặng, khai thác khoảng sản, đường sắt, dệt may, hóa chất và cơ sở hạ tầng
Tuy nhiên, các khoản vay ưu đãi đi kèm với đó là các điều kiện như ưu tiên các nhà thầu nước ngoài và yêu cầu mua máy móc, trang thiết bị, vật tư
từ các quốc gia tài trợ Với các điều kiện này, các nước viện trợ ODA muốn đảm bảo lợi nhuận cho các tập đoàn nước họ và chỉ một phần nhỏ lợi nhuận được chia cho các nhà thầu phụ Việt Nam Ví dụ điển hình là các dự án xây dựng như dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) sử dụng vốn vay ưu đãi từ Quỹ Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và một phần nhỏ ngân sách của chính phủ Việt Nam Dưới điều kiện của khoản vay này, nhà thầu chính của gói công trình là các công ty Nhật Bản Nhiều dự án khác cũng được thỏa thuận như vậy như
dự án Đường vành đai 3 được thực hiện bởi Sumitomo-một nhà thầu Nhật Bản, dự án thành phố ven sông, nhà thầu chính là công ty POSCO của Hàn Quốc Dự án đường cao tốc trên cao Cát Linh-Hà Đông – một dự án được tài trợ bởi Trung Quốc, Việt Nam cũng phải mua tàu và lựa chọn một nhà thầu Trung Quốc Sau 5 năm xây dựng, tổng số vốn của đường cao tốc trên cao Cát Linh-Hà Đông đã lên tời 891 tỷ USD trong khi số vốn ước tính ban đầu là
Trang 12552 tỷ USD Thật khó để ước tính chính xác chi phí tăng lên này liệu có thực
sự cần thiết, nhưng trong nhiều trường hợp, việc tín nhiệm các nguồn cung cấp ODA làm các chi phí tăng lên khó có thể kiểm soát, kéo theo đó các chi phí xây dựng có thể trở nên đắt hơn so với dự án tương tự mà không sử dụng vốn vay ODA
Mặc dù Việt Nam vẫn nhận được viện trợ từ các nhà tài trợ truyền thống nhưng nguồn viện trợ từ các nhà tài trợ mới nổi đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây Trong số 31 đối tác viện trợ phát triển song phương của Việt Nam, 7 đối tác khống phải là thành viên của OECD-DAC bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Hungary, Cộng hòa Séc, Thái Lan, Malaysia và Singapore Trong khi kế hoạch và quy trình viện trợ của các nhà tài trợ truyền thống có danh tiếng và chất lượng tốt, hiệu quả tài chính từ các nhà tài trợ mới nổi đang là một câu hỏi đặt ra Luận văn này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và nguồn vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp để sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn này
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu: Sử dụng các tiêu chí đánh giá hiệu quả của Tuyên bố Paris để đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi
tại Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi
Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay
ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi
Đề xuất giải pháp giúp việc sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các
nhà tài trợ mới nổi có hiệu quả
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: ODA và vốn vay ưu đãi
Phạm vi nghiên cứu: Tại Việt Nam, giai đoạn 2000-2015
Đóng góp của luận văn:
Đánh giá hiệu quả ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam giai đoạn 2000-2015
Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay
ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi
Đề xuất giải pháp giúp việc sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các
nhà tài trợ mới nổi có hiệu quả
4 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ODA và
vốn vay ưu đãi
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam giai đoạn 2000-2015
Chương 4 Giải pháp giúp sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi có hiệu quả
Trang 14CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức) và vốn vay ưu đãi đã thu hút được nhiều quan tâm nghiên cứu của các học giả trên thế giới và Việt Nam Về cơ bản, các nghiên cứu về ODA và vốn vay ưu đãi có thể phân chia thành những mảng vấn đề sau:
Tổng quan về ODA và vốn vay ưu đãi:
Nghiên cứu về khái niệm, hình thức, đặc điểm, tác động của ODA đối với tăng trưởng
Về khái niệm, hình thức, đặc điểm: Helmut Fuher (1996) đã đưa ra khái niệm về ODA và phân biệt ODA với các vốn đầu tư khác qua hai đặc điểm chính: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Có bao gồm thành tố hỗ trợ
Về tác động của ODA và vốn vay ưu đãi đối với tăng trưởng:
Quan điểm thứ nhất: viện trợ và vay ưu đãi có tác động tích cực đến tăng trưởng, tiêu biểu là các nghiên cứu Papanek, G (1973), “Viện trợ, Vốn đầu tư tư nhân nước ngoài, Tiết kiệm và Tăng trưởng ở các nước kém phát”, Snyder, Donald W (1993), “Thành kiến của các nhà tài trợ đối với các tiểu quốc: Một nhân tố bị bỏ qua trong việc phân tích về viện trợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế”, Hansen, Henrik and Finn Tarp (2000), “Bàn về hiệu quả viện trợ.”, Morrissey, Oliver (2001), “Viện trợ có làm tăng sự phát triển?”, Teboul, R., and E Moustier (2001), “Viện trợ nước ngoài và tăng trưởng: trường hợp của các nước Nam Địa Trung Hải”, Tun Lin Moe (2001) “Nghiên cứu kinh nghiệm về mỗi quan hệ giữa ODA và phát triển giáo dục, con người” Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng viện trợ quốc tế có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cụ thể là: Papanek (1973), đã nghiên cứu các
Trang 15biến độc lập gồm viện trợ quốc tế, đầu tư nước ngoài, các nguồn tiền khác và nguồn vốn trong nước và chứng minh rằng viện trợ quốc tế tác động tích cực đến tăng cưởng kinh tế hơn là các biến còn lại Cùng quan điểm đó, Snyder (1993) đã nghiên cứu các trường hợp của Indonesia (những năm 1970), Bolivia và Ghana (cuối những năm 1980), Uganda (những năm 1990) đã kết luận rằng viện trợ nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc giúp các nước này thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế để có được mức độ phát triển nhanh chóng Hansen và Tarp (2000) đã đưa ra một nghiên cứu tổng quan, và kết luận rằng viện trợ và đầu tư có mối quan hệ tích cực Theo Morrissey, (2001), viện trợ và vay ưu đãi tác động tích cực đến tăng trưởng thông qua: tăng đầu tư, năng lực nhập khẩu công nghệ, thiết bị; tác động tích cực đến đầu
tư trực tiếp; đẩy mạnh hiệu quả sử dụng vốn và khuyến khích những thay đổi công nghệ và kỹ thuật Teboul và Moustier (2001) cho thấy lượng vốn ODA
từ bên ngoài ảnh hưởng tích cực đối với trường hợp của các nước trong tiểu vùng Sahara Châu Phi Hỗ trợ phát triển từ nước ngoài đã tác động gia tăng tiết kiệm và tăng trưởng GDP, góp phần phát triển kinh tế các nước tiếp nhận ODA của sáu quốc gia đang phát triển trên biển Địa Trung Hải giai đoạn 1960-1966 Tun Lin Moe (2001) với nghiên cứu của mình đã đánh giá tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào sự phát triển giáo dục và con người ở tám quốc gia được lựa chọn tại khu vực Nam Á và chỉ ra
sự khác biệt các chỉ số phát triển con người; cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo trình, giáo viên đã được cải thiện sau 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA
Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng viện trợ và vốn vay ưu đãi
có tác động tiêu cực đến tăng trưởng Các nghiên cứu điển hình gồm có Boone (1996) “Chính sách và Hiệu quả của Viện trợ nước ngoài”, Knack, Stephen (2000), “Sự phụ thuộc viện trợ và chất lượng quản trị: Nghiên cứu thực nghiệm”, Gong, Liutang và Zou, Heng-fu (2001), “Viện trợ nước ngoài
Trang 16làm giảm cung ứng lao động và tích lũy vốn”, Easterly, William, Ross Levine
và David Roodman (2003) “Số liệu mới, Nghi ngờ mới: Bình luận về Viện trợ, Chính sách và Tăng trưởng” Cụ thể là: Boone (1996) với nghiên cứu của mình đã chỉ ra các hạn chế và tác động xấu của các nước đang phát triển khi tiếp nhận ODA và vốn vay ưu đãi Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ổn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách tài chính và đầu tư của nước nhận viện trợ Hơn nữa, các tác giả đã khẳng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện vốn ODA của nước nhận viện trợ Knack (2000) đưa ra các lập luận nhằm khẳng định viện trợ làm giảm chất lượng thể chế, tăng tham nhũng, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng Dòng vốn viện trợ lớn không có nghĩa là dẫn đến phúc lợi cao và kỳ vọng cao vào viện trợ có thể tăng chi phí và làm giảm chất lượng dịch vụ/sản phẩm công Gong và Zou (2001) cũng cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa viện trợ và tăng trưởng, cụ thể là viện trợ quốc tế làm giảm tiết kiệm quốc gia, hầu hết chuyển sang các kênh đầu tư và tiêu dùng, không nhận thấy mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng ở những nước đang phát triển Levine và Roodman (2003) đã sử dụng một cỡ mẫu lớn hơn để xem xét lại các nghiên cứu đi trước về tác động tích cực của viện trợ và chỉ ra rằng kết quả không được mạnh mẽ như trước
Tại Việt Nam, có những nghiên cứu đưa ra thực trạng về tình hình sử dụng, vai trò của ODA và vốn vay ưu đãi trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam như:
Marcus Cox, Samuel Wangwe, Hisaaki Mitsui and Trần Thị Hạnh (2007), “Báo cáo Giám sát độc lập về thực hiện Cam kết Hà Nội: Báo cáo cuối cùng, Nhóm đối tác về hiệu quả viện trợ của Việt Nam”
Trang 17 Katarina Kotoglou; Marcus Cox, Agulhas Applied Knowledge (2008),
“Báo cáo về tình hình thực hiện Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ”
Các báo cáo về phương thức viện trợ mới, báo cáo về tiến độ, hiệu quả viện trợ, các báo cáo đánh giá tình hình quản lý và sử dụng ODA, báo cáo về tình hình các ban quản lý dự án ODA của Chương trình nâng cao năng lực toàn diện về quản lý ODA tại Việt Nam (CCBP)
Các báo cáo đánh giá chung tình hình thực hiện các chương trình, dự
án ODA (do Tổ công tác ODA của Chính phủ và Nhóm các ngân hàng phát triển) được thực hiện 2 năm một lần nhằm xác định các vấn đề vướng mắc chung và vướng mắc cụ thể ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các chương trình, dự án của sáu Ngân hàng Phát triển
Ưu điểm chung của các nghiên cứu này là bám sát những khái niệm có tính chuẩn mực quốc tế, phân tích sâu và đưa ra những ví dụ, so sánh quốc tế Các phân tích thực tiễn mang tính định hướng chung, trong đó có các bài học tốt cho VN Tuy nhiên, do tính chất quá tổng quát, các khuyến nghị có phần mang tính lý thuyết, chưa thực sự sát với điều kiện Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Việt Nam nhận được nhiều viện trợ từ các nhà tài trợ mới nổi và hiệu quả của các dự án này còn gây nhiều tranh cãi
Đánh giá và nâng cao hiệu quả viện trợ:
Tuyên bố Paris (2005) đã đưa ra các 5 tiêu chí để đánh giá hiệu quả viện trợ Các nhà tài trợ truyền thống và các nước đối tác đã cùng ký vào cam kết
thực hiện theo các tiêu chí này
Hàng năm, OECD luôn có báo cáo đánh giá các thành viên, các nước cung cấp ODA; báo cáo đánh giá các chương trình phát triển (theo lĩnh vực hoặc theo các quốc gia); những số liệu phân tích cơ bản về viện trợ (theo nhà tài trợ, nước nhận viện trợ hay khu vực và theo lĩnh vực) Một số nghiên cứu nổi bật:
Trang 18 Báo cáo năm 2009 của DAC về Dự báo viện trợ - Điều tra Kế hoạch chi tiêu 2009-2011 của các nhà tài trợ: phân tích kế hoạch chi tiêu của các nhà tài trợ trong 3 năm, nhằm tằng khả năng dự báo viện trợ quốc tế
Tổng quan viện trợ phát triển 2010: Số liệu theo khu vực (phân tích số liệu ODA theo 5 khu vực Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Đại dương)
Viện trợ tốt hơn-Quản lý các nguồn lực phát triển: Báo cáo này xem xét lại quá trình tăng cường quản lý tài chính công, đưa ra các khuyến nghị nhằm đạt được các mục tiêu 2010 của Tuyên bố Paris
Bên cạnh OECD, Ngân hàng thế giới WB cũng có nhiều báo cáo tập trung phân tích các chiến lược, bài học kinh nghiệm trong sử dụng viện trợ, đánh giá hiệu quả viện trợ, mối quan hệ giữa viện trợ và quyền lực, kinh nghiệm huy động vốn của khu vực kinh tế tư nhân đầu tư phát triển ở Châu
Âu và khu vực Trung Á, viện trợ tại Đông Nam Á (đặc biệt là những nghiên cứu của Daniele Calabrese, David Dollar, Paul Mosley, Jame Harrigan, John Toye )
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác đã đưa ra những giải pháp tăng cường hiệu quả ODA như: Liesbet Steer; Cecelie Wathne (2009), “Trách nhiệm giải trình: Những bài học tốt”: đánh giá cơ chế giải trình chung ở 19 quốc gia, trong đó có Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường trách nhiệm giải trình
Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề đánh giá và nâng cao hiệu quả viện trợ như:
Vũ Thị Kim Oanh (2002) với Luận án Tiến Sỹ “Những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA”, đã phân tích, đánh giá vai trò của vốn ODA trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển; thực trạng sử dụng vốn ODA tại Việt
Trang 19Nam trong những năm qua, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian đến 2010 như: cần có chiến lược thu hút và sử dụng ODA, nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện các quy hoạch phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bao gồm quy hoạch ODA, đẩy nhanh tốc độ giải ngân
Tôn Thành Tâm (2005) với Luận án Tiến Sỹ về “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam”, đã đề cập đến các nội dung: (i) Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); (ii) Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ở Việt Nam; (iii) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA trong thời gian tới (đến năm 2010) Tác giả đã phân tích kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn ODA của các nước trên thế giới và các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA Từ
đó, tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian tới gồm: thành lập ngân hàng bán buôn nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý ODA; bổ sung, sửa đổi nội dung các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan đến quá trình thực hiện các chương trình, dự án; và các giải pháp bổ trợ khác nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý về ODA Các nghiên cứu này chưa thực sự đi sâu phân tích nguyên nhân tại sao hiệu quả ODA thấp và những nhân tố ảnh hưởng đến ODA
Trần Thị Hồng Thủy (2015) với Luận án Tiến Sỹ “Viện trợ phát triển chính chức (ODA) trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC)” và Bùi Đình Viên (2015) với nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình” lại tập trung nghiên cứu những thay đổi của ODA và vốn vay ưu đãi tại
Trang 20Việt Nam khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi tại Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng tới ODA và vốn vay ưu đãi tại Việt Nam trong bối cảnh mới và từ đó đưa ra các giải pháp nhăm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn khi Việt Nam trở thành nước trung bình Hai nghiên cứu này đã tạo ra khác biệt so với các nghiên cứu trước đây trong việc đánh giá và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA khi đặt Việt Nam trong bối cảnh mới Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa nêu rõ được các ngành, các lĩnh vực ưu tiên, cũng như việc quản lý ODA như thế nào, trả nợ ODA ra sao, quỹ trả nợ được xây dựng như thế nào
Trần Văn Thọ (2016) đã dành một chương trong cuốn sách “Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam” của mình để nói về hiệu quả sử dụng ODA Tác giả cho rằng “dưới một số điều kiện nhất định, ODA có vai trò thúc đẩy quả trình phát triển kinh tế và khi không có những điều kiện đó thì thất bại” Những nước thành công trong việc dùng ODA thường có ba đặc điểm: Một
là, nỗ lực tăng tiết kiện để hạn chế việc vay mượn nước ngoài và không lãng phí các nguồn vốn trong và ngoài nước Hai là, sử dụng ODA có chọn lựa, nhằm tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Ba là, có kế hoạch chấm dứt nhận ODA Tác giả đã phân tích hai trường hợp điển hình là Hàn Quốc và Thái Lan, có so sánh với Việt Nam Theo tác giả, Việt Nam chưa thỏa mãn ba điều kiện này và cần đặt ra kết hoạch giảm ODA trong 10 năm tới, tiến tới
“tốt nghiệp ODA” trong 15-20 năm tới Nghiên cứu này đã phân tích rất sâu nguyên nhân sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi kém hiệu quả của Việt Nam Tuy nhiên, do khuôn khổ chỉ gói gọn trong một chương của cuốn sách, tác giả chưa đưa ra chi tiết về lộ trình “tốt nghiệp ODA” cho Việt Nam
Trong các năm gần đây với sự tăng cường hoạt động của các nhà tài trợ mới nổi, bên cạnh các đánh giá hiệu quả về ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ truyền thống, các học giả đã tập trung nghiên cứu và đưa ra nhiều
Trang 21quan điểm về tính hiệu quả của các nhà tài trợ mới nổi Các nhà nghiên cứu Kimberly Smith, Tallta Yamashiro Fordelone và Fellx Zimmermann thuộc OECD (2010) với đề tài “Chào đón vai trò của các nhà tài trợ mới trong hợp tác phát triển”đưa ra các số liệu về dòng chảy ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi và chỉ ra rằng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi không đơn thuần vì mục tiêu giúp đỡ các nước nghèo phát triển mà còn vì các lợi ích thương mại, đầu tư của các nhà tài trợ Do đó, việc sử dụng các nguồn vốn này không đưa đến hiệu quả cao Stefan Lindemann (2013) với nghiên cứu “Liệu các nhà tài trợ mới có sử dụng tiêu chí khác so với các nhà tài trợ truyền thống khi cung cấp ODA?” đã đưa ra giả thuyết rằng các nhà tài trợ mới nổi có các động cơ khác với các nhà tài trợ truyền thống Tuy nhiên khác với quan điểm của Kimberly Smith, Tallta Yamashiro Fordelone và Fellx Zimmerman, cuối cùng tác giả kết luận điều đó còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa đưa ra được các tiêu chí để đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi
Hiện nay ngoài các nhà tài trợ truyền thống còn có rất nhiều nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ đang đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam Mặc dù đã có một vài nghiên cứu riêng lẻ về các nhà tài trợ này như Nguyễn Thi Thu Hiền “Vai trò của viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Hàn quốc với khu vực Đông Nam Á” đăng trên tạp chí sở khoa học và công nghệ Quảng Bình nhưng những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích tình hình tiếp nhận nguồn vốn từ các nhà đầu tư này và đưa ra một vài nhận xét về vai trò của nó mà chưa đưa ra được các đánh giá cũng như giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA từ các nhà tài trợ mới nổi vào Việt Nam
1.2 Cơ sở lý luận về ODA và vốn vay ưu đãi
Trang 221.2.1 Khái niệm về ODA và vốn vay ưu đãi
ODA (Official Development Assistance) nghĩa là Hỗ trợ phát triển
chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức
Theo OECD (Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển) “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”
Theo Nghị định 38/2013/NĐ-CP ngày 23/04/2013 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗtrợ phát triển chính thức (ODA)và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”, ODA bao gồm ODA viện trợ không hoàn lại và ODA vốn vay: (i) ODA viện trợ không hoàn lại là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ (ii) ODA vốn vay là hình thức cung cấp ODA phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% đối với các khoản vay có ràng buộc và 35% đối với các khoản vay không ràng buộc Phương pháp tính yếu tố không hoàn lại như sau:
Trong đó:
GE: Yếu tố không hoàn lại
r: Tỷ lệ lãi suất hàng năm
Trang 23a: Số lần trả nợ trong năm (theo điều kiện của bên tài trợ)
d: Tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ d = (1 + d‟)1/a - 1
d‟: Tỷ lệ chiết khấu của cả năm (theo thông báo của OECD hoặc các thoả thuận của bên tài trợ)
G: thời gian ân hạn
M: Thời hạn cho vay
Cũng theo nghị định này, vốn vay ưu đãi là hình thức cung cấp vốn
vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay
Một cách khái quát, ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc viện trợ có hoàn lại (ODA vốn vay) với các điều kiện ưu đãi trong đó yếu tố không hoàn lại chiếm ít nhất 25% đối với các khoản vay có ràng buộc và 35% đối với các khoản vay không ràng buộc Đây là các khoản viện trợ mà các Chính phủ, các tổ chức quốc tế dành cho các nước đang phát triển với mục đích phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội Vốn vay ưu đãi là hình thức cho vay với điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại những yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay
1.2.2 Phân loại ODA và vốn vay ưu đãi
Phân loại ODA
Theo hình thức cung cấp/hoàn trả
Viện trợ không hoàn lại: là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước tiếp nhận không phải hoàn trả lại cho các Nhà tài trợ Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
(i) Hỗ trợ kỹ thuật
(ii) Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
Trang 24 Viện trợ có hoàn lại: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp Những điều kiện ưu đãi thường là:
(i) Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay)
(ii) Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
(iii) Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)
ODA hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
Theo nguồn cung cấp
ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước
cung cấp cho Chính phủ nước tiếp nhận thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ
ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho Chính phủ nước tiếp nhận Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu: Ngân hàng thế giới (WB), Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Căn cứ theo mục đích sử dụng
Hỗ trợ cán cân thanh toán: Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao trực tiếp cho nước nhận ODA hay hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá)
Tín dụng thương nghiệp: Tương tự như viện trợ hàng hoá nhưng có kèm theo điều kiện ràng buộc
Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án): Nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định tính chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào Viện trợ dự
án Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA Điều kiện được
Trang 25nhận viện trợ dự án là "phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA"
Căn cứ theo điều kiện
ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
ODA có ràng buộc nước nhận:
(i) Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương) hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương)
(ii) Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể
Phân loại vốn vay ưu đãi
Theo mục đích vay
Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước
Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay ngắn hạn
Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh
Cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật
Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Theo hình thức vay
Chính phủ vay thông qua phát hành công cụ nợ và ký kết thỏa thuận vay trong phạm vi tổng mức, cơ cấu vay, trả nợ hàng năm của Chính phủ đã được Quốc hội quyết định
Trang 26 Chính phủ vay bằng nội tệ, ngoại tệ, vàng hoặc hàng hoá quy đổi sang nội tệ hoặc ngoại tệ
1.2.3 Vai trò của ODA và vốn vay ưu đãi đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của các nước tiếp nhận
ODA và vốn vay ưu đãi được đánh giá là yếu tố quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của mình Vai trò của ODA và vốn vay ưu đãi đối với các nước nhậnviện trợ thể hiện ở các điểm sau:
Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, quy mô lớn và hiện đại: Các nước đang phát triển đa phần là các nước trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng ODA và vốn vay ưu có ưu điểm là thời hạn cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm), lãi suất thấp (khoảng từ 0,25% đến 2%/năm), và trong ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại.Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô lớn và hiện đại, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế
Phát triển con người: ODA và vốn vay ưu đãi được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận tăng cường xây dựng cở vật chất, lắp đặt thiết bị dạy học hiện đại, tài trợ các dự án nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Bên cạnh đó, ODA và vốn vay ưu đãi trong lĩnh vực y tế được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo: Đối với các nước đang phát triển, dân số làm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
và tập trung các vùng nông thôn kém phát Vốn ODA ưu tiên cho các vùng này được sử dụng cho các dự án nâng cao năng suất nông nghiệp cũng như
Trang 27thúc đẩy cơ hội việc làm phi nông nghiệp ODAvà vốn vay ưu đãi còn được
sử dụng để xây dựng đập thuỷ lợi, lưới điện nông thôn, trường học, trạm y tế, giao thông nông thôn, cấp nước sinh hoạt, thành lập quỹ tín dụng quy mô nhỏ
hỗ trợ vốn cho nông dân mở rộng sản xuất Nhờ đó mà đời sống của người nghèo được cải thiện Trong điều kiện được sử dụng hiệu quả, nếu ODA tăng một lượng bằng 1% GDP tỷ lệ nghèo đói sẽ giảm 1% đồng thời tỷ lệ tỷ vong
ở trẻ sơ sinh cũng giảm 0,9% [22] Và nếu như các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hàng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo
Hỗ trợ xây dựng, cải cách hệ thống pháp luật và thể chế: Các khoản viện trợ và vốn vay ưu đãi có ràng buộc là động lực để các nước đang phát triển cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
Hỗ trợ bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh: Nhờ vốn ODA mà các dự án về môi trường được thực hiện, góp phần đáng kể vào việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu
Hỗ trợ thúc đẩy đầu tư, thương mại và một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh: ODA và vốn vay ưu đãi được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ cứ 1 USD viện trợ sẽ tạo ra xấp xỉ 2 USD đầu tư tư nhân [22] Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA và vốn vay ưu đãi còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của đất nước
ODA và vốn vay ưu đãi là nguồn bổ sung ngoại tệ và giúp cân bằng cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển Đa phần các nước đang phát triển rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này ODA và vốn vay ưu đãi, đặc
Trang 28biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm cân bằng cán cân vãng lai của các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ
Tuy nhiên, bên cạnh vai trò quan trọng nêu trên, ODA và vốn vay ưu đãi cũng có những mặt trái Nếu nguồn vốn này không được sử dụng hiệu quả sẽ làm tăng gánh nặng nợ quốc gia, lệ thuộc chính trị vào nhà tài trợ
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi
Có 2 nhóm nhân tố chính tác động đến ODA và vốn vay ưu đãi gồm:
Nhóm nhân tố thứ nhất đến từ phía các nhà tài trợ
Chiến lược, chính sách viện trợ của nhà tài trợ: Các nhà tài trợ sử dụng ODA để xây dựng tầm ảnh hưởng và sự ủng hộ chính trị Nhà kinh tế Alberto Alesina - ĐH Harvard và David Dollar - Ngân hàng Thế giới nhận định rằng “Viện trợ nước ngoài phụ thuộc phần lớn vào lý do chính trị và chiến lược, sau đó mới là nhu cầu kinh tế và chính sách của nước nhận” [6] Điều này giải thích tại sao Nhật Bản dành nhiều viện trợ phát triển cho các nước đang phát triển ở châu Á Lý do là Nhật Bản muốn củng cố địa vị, tầm ảnh hưởng của mình tại khu vực này đồng thời tạo điều kiện để các công ty Nhật mở rộng thị trường kinh doanh tại các nước tiếp nhận viện trợ Bên cạnh
đó, nghiên cứu của Alesina và Dollar cũng cho rằng viện trợ là cách các nước lớn “mua” sự ủng hộ chính trị của các nước đang phát triển tại các cuộc họp ở Liên Hợp Quốc [6] Ví dụ điển hình là trường hợp của Israel và Mỹ Theo Alesina và Dollar “Bản thân Israel đã là nước giàu” nhưng mỗi năm nước này vẫn nhận được một khoản viện trợ chiếm tới 1/3 tổng số viện trợ nước ngoài của Mỹ [6] Đây chính là một trong những đồng minh thân cận và luôn ủng
hộ Mỹ trong các vấn đề được đưa ra bàn bạc tại Liên Hợp Quốc Trung Quốc cũng được cho rằng đã sử dụng ODA như một công cụ để thao túng Campuchia trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2012 dẫn đến sự chia rẽ của
Trang 29các nước ASEAN trong vấn đề biển Đông Việc sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi như một công cụ chính trị sẽ khiến việc sử dụng ít hiệu quả hơn các viện trợ thông thường bởi lẽ trong trường hợp này, viện trợ không được sử dụng vào các ưu tiên phát triển quốc gia
Tình hình kinh tế, chính trị của các nhà tài trợ: Ngoài mục đích chính trị, ODA còn là nỗ lực của các nước viện trợ hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hợp Quốc “chung tay góp sức vì một thế giới tốt đẹp hơn” Những sự nỗ lực ấy được thể hiện thông qua các hội nghị, các thỏa thuận và cam kết cấp quốc tế dưới sự chủ trì của Liên Hợp Quốc và sự tham gia của các nước thành viên DAC Năm 1969 các tổ chức DAC và OECD đã xác định mục tiêu của các nước này là dành 0,7% GDP của từng thành viên cho viện trợ phát triển ở nước ngoài Năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh Rio De Zannezo một công ước quốc tế đã được thông qua, theo đó viện trợ cho các nước nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm ít nhất 0,7% tổng sản phẩm xã hội GDP của các quốc gia công nghiệp phát triển Năm 2005, Phiên họp toàn thể Cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 60 tháng 9/2005 kêu gọi các quốc gia, cộng đồng quốc tế cam kết mạnh mẽ và cụ thể hơn như hoàn thành MDGs đúng hạn vào 2015; các nước phát triển phải tăng hỗ trợ tài chính và kỹ thuật và có
kế hoạch thực hiện nghĩa vụ giành 0,7% GNP cho ODA; phấn đấu tăng thêm
50 tỷ USD cho ODA vào năm 2010 Cùng năm 2005, 15 nước EU thuộc DAC cũng đã cam kết đạt mục tiêu ODA cung cấp là 0,51% GNI vào năm 2010 [31] Những nước thành viên DAC khác cũng đã đạt được nhiều mục tiêu cam kết về viện trợ Như vậy, có thể thấy GDP và GNP của các nước phát triển có tác động đáng kể đến lượng ODA và vốn vay ưu đãi cũng như thời hạn giải ngân Nếu các nước viện trợ trong điều kiện kinh tế, xã hội ổn định, lượng ODA và vốn vay ưu đãi sẽ được giữ ở mức ổn định Có thể dễ dàng nhận thấy trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, ODA và vốn vay ưu đãi có chiều hướng
Trang 30giảm Điền hình là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009 mà một số nước đã không hoàn thành theo dự kiến mức ODA đã cam kết (phần lớn là do sự sụt giảm GNI của các nước này) Việc không giải ngân ODA và vốn vay ưu đãi đúng lộ trình cam kết sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng của nước tiếp nhận
Nhóm nhân tố thứ hai từ phía các nước nhận viện trợ: Burnside and Dollar (1997), trong tác phẩm “Viện trợ, Chính sách và tăng trưởng” (Aid, Policies, and Growth), cho rằng hiệu quả của viện trợ phụ thuộc vào hoàn cảnh trong đó có môi trường kinh tế, chính trị, chính sách của chính phủ và năng lực hấp thu vốn ODA và vốn vay ưu đãi Sangkijin (2012) qua nghiên cứu “Xem xét lại các hiệu ứng và các chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): phân tích apnet” đã phân tích hiệu quả sử dụng vốn ODA tại các nước nhận viện trợ, trên cơ sở phân tích dữ liệu thu hút và sử dụng ODA tại
117 quốc gia trong suốt 28 năm 1980-2008 Kết quả phân tích cũng cho cho thấy hiệu quả kinh tế ODA của các nước đang phát triển khác nhau tùy thuộc vào điều kiện chính trị (ví dụ, minh bạch quốc gia), và điều kiện kinh tế của từng quốc gia (ví dụ, mức thu nhập) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một khi mức độ minh bạch của một quốc gia đạt đến một điểm nhất định, hiệu ứng cận biên ròng kinh tế ODA cho các quốc gia giảm, thì ODA tác động có hiệu quả đến sự phát triển kinh tế xã hội của các Quốc gia nhận viện trợ
Môi trường kinh tế và chính trị: Chính trị và kinh tế vĩ mô ổn định
sẽ tạo môi trường thuận lợi trong việc thu hút và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi để đáp ứng nhu cầu phát triển
Chính sách của nước nhận viện trợ đối với ODA và vốn vay ưu đãi: Viện trợ hoạt động tốt trong môi trường chính sách tốt, có những ảnh hưởng chính sách quan trọng đối với cộng đồng các nhà tài trợ, các cơ quan viện trợ
đa phương và các nhà hoạch định chính sách ở các nước tiếp nhận Về mặt
Trang 31phát lý, thực tế đã chỉ ra rằng nước nhận tài trợ với mức độ minh bạch và trách nhiệm cao, khung pháp lý đầy đủ, sẽ bảo đảm cho sự hiệu quả của ODA
và vốn vay ưu đãi Về chính sách điều hành kinh tế,tại các nước có chính sách tài khóa, tiền tệ, thương mại, chính sách nhận viện trợ tốt,ODA và vốn vay ưu đãi có tác động tốt đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại ODA và vốn vay ưu đãi phát huy rất ít tác dụng ở những quốc gia có chính sách kém Các nhà nghiêncứu còn cho rằng tác động của viện trợ đến tăng trưởng phụ thuộc vào
cơ chế ưu đãi, khuyến khích Theo Burnside và Dollar, tại một đất nước cho chính sách trung bình, tác động của viện trợ đến tăng trưởng không đáng kể Cùng ý kiến như vậy, Isham và Kaufmann, (1999); Islam et all, (1997); Kaufmann và Wang, (1995), đều cho rằng chất lượng của viện trợ phụ thuộc rất lớn vào môi trường chính sách Thậm chí, ở góc độ các chương trình, dự
án tài trợ, dự án thành công hay thất bại phụ thuộc vào môi trường chính sách hơn cả thiết kế dự án (Isham và Kaufmann, 1999)
Năng lực hấp thu vốn ODA và vốn vay ưu đãi: Năng lực hấp thu nguồn vốn này của các nước nhận viện trợ thể hiện ở tỷ lệ dải ngân, tính bền vững của các dự án sử dụng nguồn vốn này, chiến lược quy hoạch và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi, trình độ quản lý
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi
Tuyên bố Paris (2008) đã chỉ ra 5 tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi với 12 chỉ số cụ thể như sau:
Tính làm chủ: Tính làm chủ thể hiện ở việc các nước tiếp nhận ODA
và vốn vay ưu đãi có chiến lược phát triển quốc gia rõ ràng, đóng vai trò chủ động trong việc điều phối vốn vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo định hướng phát triển quốc gia Các nước tài trợ và cho vay ưu đãi cần tôn trọng vai trò lãnh đạo của nước đối tác và hỗ trợ tăng cường năng lực để các nước đối tác có thể thực hiện vai trò làm chủ của của mình
Trang 32 Sự tuân thủ:
Một là, các nhà tài trợ cần tuân thủ chiến lược phát triển của các nước đối tác Đề xuất hỗ trợ đưa ra cần dựa trên chiến lược phát triển quốc gia và những đánh giá định kỳ tiến độ thực hiện các chiến lược này Bên cạnh đó, tuyên bố Paris đề xuất các nhà tài trợ nên rút lại các điều kiện bất cứ khi nào
có thể để các nước đối tác có thể sử dụng vốn hoàn toàn theo định hướng phát triển của mình Các nhà tài trợ chỉ nên đưa vào các điều kiện khác khi có luận chứng đầy đủ và phải được thực hiện một cách minh bạch có sự tham vấn chặt chẽ với các nhà tài trợ và các bên liên quan khác
Hai là, các nhà tài trợ cần tuân thủ thể chế và quy trình thủ tục của các nước đối tác ở mức cao nhất có thể trong tất cả các lĩnh vực gồm quản lý tài chính công, kế toán, kiểm toán, đầu thầu, mua sắm, các khung kết quả và giám sát.Trong trường hợp việc sử dụng hệ thống của nước đối tác là không khả thi, các nhà tài trợ cần có các biện pháp giúp nước tiếp nhận vốn có thể cải cách, củng cố hệ thống thể chế, quy trình thủ tục; hơn là là tạo ra các cấu trúc riêng để quản lý, thực hiện các chương trình tài trợ và làm tổn hại đến hệ thống của nước đối tác
Để thực hiện được điều này, các nước tiếp nhận vốn cần tăng cường năng lực quản lý tài chính công, tăng cường hệ thống đấu thầu quốc gia, phát hành các báo cáo kíp thời, minh bạch và đáng tin cậy
Tính hài hòa:
Mỗi dự án phát triển sử dụng viện trợ và vốn vay ưu đãi có một hoặc nhiều các nhà tài trợ Do đó, các nhà tài trợ cần có các thỏa thuận chung về lập kế hoạch, tài trợ, giải ngân, giám sát, đánh giá và báo cáo Đơn giản hóa các thủ tục và làm việc cùng nhau giúp tránh các nhiệm vụ và đánh giá trùng lặp
Trang 33Tuyên bố Paris khuyến khích các nhà tài trợ hợp tác cùng nhau Mỗi nhà tài trợ nên sử dụng tối đa các lợi thế so sánh của riêng mình và trong điều kiện thích hợp, ủy quyền cho nhà tài trợ chính thực hiện các chương trình, hoạt động và các nhiệm vụ thay mình
Các nước tiếp nhận vốn cần đưa ra các quan điểm rõ ràng về lợi thế so sánh của các nhà tài trợ và cách thức làm thế nào để đạt được sự bổ trợ của các nhà tài trợ đồng thời tham gia đối thoại với các nhà tài trợ về xây dựng các thỏa thuận và lập kế hoạch
Quản lý dựa vào kết quả: Tiêu chí này chỉ ra rằng việc quản lý các nguồn lực và việc ra quyết định được thực hiện theo định hướng kết quả Do
đó, các nước tiếp nhận ODA và vốn vay ưu đãi cần thiết lập các khung khổ đánh giá và báo cáo dựa vào kết quả Các nhà tài trợ cần phối hợp với các nước đối tác để tăng cường năng lực quản lý dựa vào kết quả
Các nhà tài trợ và nước đối tác phối hợp đánh giá tiến độ thực hiện các cam kết dựa trên mục tiêu quốc gia
Bảng 2.1: Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi theo
Tuyên bố Paris Tính làm chủ
Trang 341 Các nước có các chiến lược phát triển quốc gia với các ưu tiên chiến lược
7 Viện trợ và vốn vay ưu đãi được giải ngân theo lộ trình cam kết
8 Các tài trợ song phương không bị ràng buộc sử dụng các dịch vụ cung cấp bởi nhà tài trợ
Quản lý dựa vào kết quả
11 Các nước có khung giám giát minh bạch, có thể đo lường để đánh giá tiến
độ và kết quả thực hiện
Chia sẻ trách nhiệm
12 Thường xuyên đánh giá tiến độ thực hiện các cam kết viện trợ
Trang 35Tóm tắt chương 1:
Tổng quan tình hình nghiên cứu: ODA và vốn vay ưu đãi được phân thành các mảng đề tài: các nghiên cứu tổng quan về ODA và vốn vay ưu đãi (khái niệm, hình thức, vai trò của ODA và vốn vay ưu đãi), các nghiên cứu đánh giá và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA Hiện nay nghiên cứu về hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam còn nhiều chỗ trống cần bổ sung Do đó, cần có các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi, từ đó đưa
ra giải pháp sử dụng nguồnvốn này một cách hiệu quả
Cơ sở lý luận: ODA được hiểu là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc các khoản vay ưu đãi mà các Chính phủ, các tổ chức quốc tế dành cho các nước đang phát triển với mục đích phát triển kinh
tế, nâng cao phúc lợi xã hội Tuy theo phương thức cung cấp, nguồn vốn, mục đích sử dụng, các điều kiện mà ODA phân thành các loại khác nhau Vốn vay
ưu đãi là hình thức cung cấp vốn vay có điều kiện ưu đãi hơn, so với vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay Theo mục đích sử dụng, vốn vay ưu đãi được phân ra làm 5 loại khác nhau trong khi theo hình thức vay, vốn này được chia thành 2 loại Bên cạnh vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế xã hội như nâng cao chất lượng cơ
sở hạ tầng, phát triển con người, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải cách thể chế, luật pháp, hỗ trợ bảo vệ môi trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, cân bằng cán cân thanh toán thì ODA và vốn vay ưu đãi cũng có những tác động tiêu cực nếu như nguồn vốn này không được sử dụng có hiệu quả Các nhân
tố ảnh hưởng đến ODA gồm có 2 nhóm chính: (i) từ phía các nhà tài trợ và (ii) từ phía các nước nhận viện trợ trong đó, tổng quát lại, có 3 yếu tố chính là chính trị, môi trường chính sách và chiến lược của cả nhà tài trợ và nước nhận
Trang 36viện trợ Tuyên bố Paris đã đƣa ra 5 tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA
và vốn vay ƣu đãi gồm có: tính làm chủ, sự tuân thủ, sự hài hòa, quản lý dựa vào kết quả và chia sẻ trách nhiệm
Trang 37CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn sâu Ủy ban quốc hội, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan Các câu hỏi phỏng vấn dựa trên cơ sở các tiêu chí đánh giá hiệu quả được đưa ra bởi Tuyên bố Paris
Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu, báo cáo
đi trước, các trang web của Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính, OECD, Cơ
quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc, Cơ quan hợp tác quốc tế Thái Lan
2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Tổng hợp tài liệu từ các nghiên cứu, báo cáo đã có, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này để làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi,
Phân tích, so sánh các nghiên cứu đi trước để tìm ra các khoảng trống, đi sâu nghiên cứu về hiệu quả vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi vào Việt Nam
Tổng hợp các số liệu về ODA và vốn vay ưu đãi từ các nghiên cứu, báo cáo, các trang web của Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về ODA và vốn vay ưu đãi tại Việt Nam giai đoạn 2000-
2015, tập trung nghiên cứu sâu dòng vốn từ các nhà tài trợ mới nổi
Tổng hợp, phân tích, so sánh các ý kiến thu được từ các cán bộ ban, ngành thông qua phỏng vấn sâu để từ ra đưa ra các đánh giá về hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam: những mặt thành công, những mặt còn tồn tại hạn chế, hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng, để tìm ra giải pháp sử dụng hiệu quả các nguồn vốn này
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study)
Đề tài tập trung nghiên cứu một case study điển hình (dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông), phân tích hiệu quả của dự án dựa trên các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của tuyên bố Paris, để có góc nhìn thực tiễn và sâu hơn
2.4 Phỏng vấn sâu
Số liệu ODA từ các nhà tài trợ mới nổi chưa có nhiều, chủ yếu là những nhận định từ góc độ những cán bộ làm công tác quản lý ODA nên học viên lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu Học viên đã triển khai một cuộc khảo sát nhỏ để thu thập dữ liệu về các vấn đề liên quan đến ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi vào Việt Nam giai đoạn 2000-2015 Do hạn chế
về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu không thể tiến hành phỏng vấn hết tất
cả các đối tượng liên quan (các vụ/cục quản lý ODA tại các bộ, ngành, các phòng quản lý ODA/kinh tế đối ngoại tại các Sở tại tất cả các địa phương, các ban quản lý dự án ODA…) Trong nghiên cứu này, học viên đã lấy mẫu khảo sát bao gồm những cán bộ đang công tác trong Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, các cơ quan quản lý dự án ODA và vốn vay ưu đãi tại Hà Nội
Quá trình thực hiện phỏng vấn sâu:
Thứ nhất, học viên giới thiệu các mục tiêu và nội dung của nghiên cứu cũng như bảng câu hỏi
Thứ hai, người trả lời khảo sát được thông báo về quyền lợi của mình,
tự quyết định có tham gia trả lời phỏng vấn hay không và rút khỏi các cuộc khảo sát nếu không thấy phù hợp
Nội dung của bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên các tiêu chí đánh giá hiệu quả của Tuyên bố Paris để có được những ý kiến về hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi, từ đó đưa ra các giải phápgiúp sử dụng các nguồn vốn vay một cách có hiệu quả Tuyên bố Paris
Trang 39đưa ra 5 tiêu chí đề đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi Tuy nhiên, tác giả nhận thấy Việt Nam đã thể hiện được tính làm chủ của mình (tiêu chí 1) Trong các nghị định, thông tư chính phủ, các báo cáo hàng năm, Việt Nam đều đưa ra định hướng, chính sách rõ ràng trong việc thu hút và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi cho từng thời kỳ nhằm hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Điển hình như Đề án “Định hướng thu hút , quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2001-2015, 2006-2010, 2011-2015”, Nghị định số 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn Ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tiến
độ thực hiện, nâng cao tiến độ, hiệu quả các chương trình, dự án trọng điểm
và đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng Vì vậy, luận văn chủ yếu tập trung vào 4 tiêu chí còn lại của tuyên bố Paris Nội dung câu hỏi được thiết kế dựa trên 4 tiêu chí này
Nội dung của phiếu phỏng vấn sâu như sau:
(1) Sự tuân thủ:
Kế hoạch giải ngân ODA từ các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan có bao gồm trong kế hoạch ngân sách hàng năm của Việt Nam và có được phê duyệt bởi các nhà chức trách có thẩm quyền không?
Giải ngân vốn được thực hiện như thế nào theo lịch trình đã thỏa thuận trong khuôn khổ năm tài chính và dài hạn?
Số vốn ODA được giải ngân chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong kế hoạch ngân sách hàng năm của Việt Nam
Tỷ lệ ODA cho ngân hàng thương mại và trực tiếp cho các dự án?
Trang 40 Các nhà tài trợ mới nổi có sử dụng hệ thống quản lý tài chính công (PFM) của Việt Nam để giải ngân ODA và thực hiện dự án không?
Các nhà tài trợ mới nổi sử dụng hệ thống thủ tục quy trình của Việt Nam ở mức độ nào? Ông/Bà có nhận xét gì về thủ tục quy trình này?
Các nhà tài trợ mới nổi (như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,…) không có khuôn khổ để đánh giá hiệu quả của Tuyên Bố Paris được áp dụng cho các nhà tài trợ truyền thống (OECD), vậy Việt Nam đã thiết lập những tiêu chí nào để đánh giá hiệu quả các dự án sử dụng ODA từ các nhà tài trợ mơi nổi chưa?
(2) Tính hài hòa:
Việc hợp tác giữa các nhà tài trợ mới nổi và Việt Nam diễn ra như thế nào?
(3) Quản lý dựa vào kết quả:
Ông/Bà nghĩ gì về chất lượng tham vấn quốc tế, đặc biệt là tham vấn từ các nhà tài trợ mới nổi?
Giải ngân cho các danh mục dự án và các dự án tài trợ bởi các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam có được thực hiện theo kế hoạch không?
Bên tiếp nhận liên quan nên được tham gia như thế nào trong việc quản lý dự án được tài trợ bởi các nhà tài trợ mới nổi?
Giữa các nhà tài trợ mới nổi, ai là người tài tạo ra các lựa chọn thay thế (tương tự với trường hợp các nhà tài trợ truyền thống hay không)?
Có những khó khăn nào trong việc quản lý tài chính các các dự án ODA? Trong trường hợp vốn đầu tư cho dự án ODA tăng lên?
Quy trình thực hiện, giải trình và thông qua các dự án diễn ra như thế nào?