Trận động đất sóng, thần lịch sử đầu năm 2011 đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Nhật Bản cũng như các đối tác kinh tế như Việt Nam, đặc biệt là tình hình đầu tư và việc hợp tác của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐỖ ĐĂNG CHÍNH
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM SAU THẢM HỌA ĐỘNG ĐẤT,
SÓNG THẦN TẠI NHẬT BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐỖ ĐĂNG CHÍNH
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM SAU THẢM HỌA ĐỘNG ĐẤT,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “Hoạt động kinh doanh của các
Công ty Nhật Bản ở Việt Nam sau thảm họa động đất, sóng thần tại Nhật Bản” là công trình nghiên cứu riêng của tôi
Các số liệu trong khóa luận đƣợc sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong khóa luận này chƣa từng đƣợc công bố tại bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn để bảo vệ tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Có được kết quả này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể quý Thầy Cô giáo trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong khóa học vừa qua Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Việt Khôi đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo, các phòng ban, các anh chị cán bộ công nhân viên tại Công ty cổ phần các hệ thống viễn thông VNPT - Fujitsu đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình hoàn thành luận văn này
Những lời cảm ơn sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 4
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước 4
1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài 7
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 8
1.2.1 Các khái niệm, vai trò của hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp 8
1.2.2 Nội dung của hoạt động kinh doanh 10
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh 24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29
2.1 Cách tiếp cận 29
2.1.1 Tiếp cận hệ thống 29
2.1.2 Tiếp cận theo quan điểm duy vật biện chứng 29
2.2 Khung khổ phân tích 29
2.3 Tổng quan phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 31
2.3.2 Phương pháp duy vật biện chứng 32
2.3.3 Phương pháp so sánh 33
2.3.4 Phương pháp kế thừa 33
2.3.5 Phương pháp phân tích và tổng hợp 34
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA THẢM HỌA ĐỘNG ĐẤT, SÓNG THẦN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ CÔNG TY NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM 36
3.1 Công ty cổ phần các hệ thống viễn thông VNPT-Fujitsu 36
Trang 63.1.1 Lịch sử hình thành, đặc điểm kinh doanh và chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Công ty 36 3.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010 – 2015 45 3.1.3 Thực trạng ảnh hưởng của thảm họa động đất sóng thần năm 2011 tới hoạt động kinh doanh của Công ty 48
3.2 Công ty Toyota 69
3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 69 3.2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh sau thảm họa động đất sóng thần của Công
ty Toyota 73
3.3 Công ty Canon 76
3.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 76 3.3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Canon sau thảm họa đông đất sóng thần 78
3.4 Đánh giá chung ảnh hưởng của thảm họa động đất sóng thần tới Công ty Nhật Bản tại Việt Nam 79
3.4.1 Một số giải pháp cơ bản đã được thực hiện 79 3.4.2 Hạn chế trong hoạt động kinh doanh của một số công ty Nhật Bản tại Việt Nam 83
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 -
2020 854.1 Giải pháp nâng cao hoạt động kinh doanh của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 85
4.1.1 Lập kế hoạch chuẩn bị ứng phó trong tình huống thiên tai 85 4.1.2 Xây dựng, hoàn thiện chiến lược và kế hoạch kinh doanh 89 4.1.3 Hoàn thiện công tác thu thập xử lý thông tin xác định nhu cầu thị trường mở rộng kinh doanh 90 4.1.4 Tạo lập nền văn hoá doanh nghiệp 92
4.2 Một số kiến nghị 97
Trang 74.2.1 Kiến nghị với nhà nước 97
4.2.2 Kiến nghị đối với đối tác liên doanh, góp vốn 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮTSTT CHỮ VIẾT TẮT NGUYÊN NGHĨA
19 TNS Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nelson Sofrest
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Báo cáo kết quả kinh doanh cua VFT từ 2009 – 2011 55
2 Bảng 3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh của VFT từ 2012 – 2015 56
3 Bảng 3.3 Số lượng cán bộ công nhân viên vủa Công ty VFT 64
4 Bảng 3.4 Phân loại cán bộ công nhân viên theo giới tính 65
5 Bảng 3.5 Chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty VFT 66
6 Bảng 3.6 Nguồn hình thành vốn sản xuất kinh doanh của VFT 72
7 Bảng 3.7 Cơ cấu tài sản sản xuất kinh doanh của VFT 73
10 Bảng 4.2 Khung phương án di dời và bảo vệ tài sản 96
11 Bảng 4.3 Khung phương án duy trì thông tin liên lạc trong
tình huống thiên tai
97
12 Bảng 4.4 Khung phương án khách hàng và nhà cung cấp 97
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, Nhật Bản đã và đang là một trong những đối tác kinh tế, thương mại hàng đầu của Việt Nam kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đã tham gia đầu tư và làm ăn kinh doanh với Việt Nam Gần đây, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản phát triển nhanh trên mọi lĩnh vực, theo phương châm đối tác chiến lược Với tiềm năng thị trường lớn và môi trường pháp lý, kinh tế ngày càng thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam
có thể tìm thấy nhiều cơ hội xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản Tuy nhiên, Nhật cũng là quốc gia chịu nhiều thiên tai với tần suất liên tục và sức công phá mạnh Thảm họa động đất sóng thần đầu nãm 2011 ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế Nhật
và đồng thời tác động đến các đối tác kinh tế như Việt Nam
Hiện nay, Nhật Bản là một trong những nước có nguồn vốn ODA và FDI vào Việt Nam cao nhất Nhật Bản bắt đầu hỗ trợ ODA dành cho Việt Nam từ năm 1992
và kể từ đó Nhật Bản luôn là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Trong hợp tác ODA Nhật Bản hỗ trợ cho các nước đang phát triển trên thế giới, thì hợp tác với Việt nam có quy mô lớn nhất và Việt Nam cũng là đối tác quan trọng nhất của Nhật Bản về ODA Cho đến nay, có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản tham gia vào các dự
án ODA và tiến hành chuyển giao kỹ thuật, kinh nghiệm của phía Nhật Bản cho Việt Nam Xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là một yếu tố quan trọng để cải thiện môi trường đầu tư và góp phần thúc đẩy đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam Trận động đất sóng, thần lịch sử đầu năm 2011 đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Nhật Bản cũng như các đối tác kinh tế như Việt Nam, đặc biệt là tình hình đầu tư và việc hợp tác của các công ty Nhật Bản với doanh nghiệp Việt Nam khi mà Nhật Bản phải tập trung vốn để xây dựng lại đất nước
Ở một góc độ nào đó, khi gặp thiên tai, Nhật Bản sẽ phải tập trung nguồn lực
để khắc phục hậu quả Vì vậy có thế ảnh hưởng đến dòng vốn vào Việt Nam, ảnh
Trang 12hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam Đây
là một vấn đề tương đối nóng và nổi bật trong thời gian gần đây không chỉ đối với Nhật Bản mà đối với cả các nước có quan hệ song phương, đa phương, khu vực với Nhật Bản Và vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ phải đối phó với tình trạng thiếu vốn như thế nào Những cam kết đã ký với doanh nghiệp cũng như Việt Nam ra sao Mức độ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam như thế nào Đó chính là những câu hỏi cần phải giải đáp Tuy nhiên cho đến nay chưa có bất kỳ tài liệu nào nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm họa thiên nhiên này đến các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam Vì vậy, tác giả
chọn đề tài: “Hoạt động kinh doanh của các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam sau thảm họa động đất, sóng thần tại Nhật Bản” có thể đánh giá nội dung nghiên cứu
mới và phù hợp
2 Câu hỏi nghiên cứu
Tác giả chọn đề tài “Hoạt động kinh doanh của các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam sau thảm họa động đất, sóng thần tại Nhật Bản” nhằm trả lời cho các
câu hỏi sau:
Ảnh hưởng của động đất sóng thần tại Nhật Bản từ năm 2011 đến hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần các hệ thống viễn thông VNPT – Fujitsu (VFT) và một số Công ty Nhật Bản tại Việt Nam như thế nào?
Công ty VFT tại Việt Nam cần đưa ra những giải pháp nào nhằm khắc phục những khó khăn trong hoạt động kinh doanh do ảnh hưởng của động đất, sóng thần?
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm cung cấp một cái nhìn khách quan và thực tế về ảnh hưởng của trận động đất, sóng thần tại Nhật Bản và những hệ lụy đối với tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam – cụ thể qua hoạt động kinh doanh của các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam Từ đó thấy được mối quan hệ giữa những tai ương từ thiên nhiên đến với Nhật và sự biến động tình hình
Trang 13đầu tư vào các dự án của Nhật Bản tại Việt Nam cũng như tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Việt có hợp tác với các công ty Nhật Bản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh của các Công ty Nhật Bản là hệ quả sau thảm họa động đất, sóng thần tại Nhật Bản
từ năm 2011 đến nay
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Công ty cổ phần các hệ thống viễn thông VNPT – Fujitsu (VFT) và một số Công ty Nhật Bản tại Việt Nam
+ Thời gian: Số liệu được tổng hợp từ năm 2009 đến năm 2015
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về ảnh hưởng của thảm họa động đất sóng thần đối với hoạt động kinh doanh của các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam
Chương 4: Giải pháp nâng cao hoạt động kinh doanh của các Công ty Nhật Bản tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của động đất sóng thần đến hoạt động kinh doanh của các Nhật Bản ở Việt Nam nói riêng cũng như các Công ty Nhật Bản nói chung Tác giả đưa ra một số đề tài nghiên cứu
về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản, Việt Nam dưới nhiều giác độ khác nhau như:
Đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ trên mạng điện thoại cố định của VNPT Hà Nội“ năm 2010 của Trương Thanh Tú Đề tài đã nêu ra được lý thuyết cơ bản về kinh doanh, kinh doanh dịch vụ trên mạng điện thoại cố định hữu tuyến, lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên tác giả vẫn chưa đưa ra được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ trên mạng điện thoại cố định hiện nay
Đề tài: “Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel chi nhánh Vĩnh Long“ năm 2008 của Trương Công An Tác giả đã đưa ra được những khái niệm chung về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, chỉ ra được thực trạng của hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra chưa phù hợp và chưa đánh giá đầy đủ được tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đề tài: “Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Nissei Electric Hà Nội“ năm 2008 của Nguyễn Thanh Hương
Bên cạnh đó, đã có rất nhiều bài báo viết về thảm họa động đất sóng thần ở Nhật và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Nhật Bản nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam, như sau:
Trang 15Bài báo “Động đất tại Nhật Bản ảnh hưởng đến ODA? ’’ trên bbc.co.uk được đãng vào thứ tư ngày 16 tháng 3 năm 2011 đã viết: Động đất và sóng thần tại Nhật Bản làm ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam Chuyên gia trong vùng dự tính nguồn ODA và FDI của Nhật sẽ được đưa về Nhật trong năm nay để phục vụ công cuộc tái thiết Điều này làm những nước phụ thuộc nhiều vào dòng vốn của Nhật bị ảnh hưởng Là cường quốc kinh tế đứng thứ ba thế giới, sự hưng thịnh hay suy giảm của ngoại thương Nhật Bản đang ảnh hưởng đến giá cả nhiều mặt hàng trên thế giới Nhật dẫn đầu thế giới về công nghệ xe hơi và điện tử Nhiều nhà máy công nghệ cao nằm trong vùng bị ảnh hưởng của động đất và sóng thần đang tạm đóng cửa Nhiều dây chuyền lắp xe hơi tạm ngưng hoạt động do thiếu phụ tùng Giới kinh doanh tại Á châu đang nhắc tới việc khan hiếm một số mặt hàng điện tử, hoặc thời gian giao hàng sẽ lâu hơn, do sản xuất bị gián đoạn Thành phố Sendai, vùng gần với tâm điểm của động đất là nơi có nhiều nhà máy sản xuất chip của một số tập đoàn điện tử hàng đầu của Nhật Trong số này có Toshiba, Hitachi, Canon, Sony và Fujitsu
Bài báo “Thiên tai tác động xấu và sâu đến kinh tế Nhật” trên vietnamplus.vn được đãng vào ngày 14 tháng 3 năm 2011 đã viết: Thảm họa động đất và sóng thần xảy ra hôm 11/3 tại khu vực Đông Bắc Nhật Bản có thể sẽ tác động xấu đến nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này ở mức độ sâu và lâu dài hơn dự tính Động đất và sóng thần đã phá hủy một số sân bay và hải cảng chủ chốt, trong khi cõ sở hạ tầng giao thông thuộc các khu vực bị ảnh hưởng ở Đông Bắc Nhật Bản bị tàn phá nặng
nề Nhiều tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản cho biết họ đã phải ngừng mọi hoạt động Các nhà chế tạo ôtô Toyota, Nissan và Honda đã thông báo tạm ngừng toàn
bộ hoạt động sản xuất ở trong nước ít nhất cho tới đầu tuần này Hãng sản xuất các sản phẩm điện tử cũng đã tạm ngừng các hoạt động ở trong nước Nhà kinh tế Janwillem Acket, thuộc hãng phân tích Julius Baer, nhận xét: "Trận động đất ngày 11/3 sẽ làm đình đốn nhiều hoạt động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, trong bối cảnh tình trạng thiếu điện có thể dẫn đến sự giảm mạnh các hoạt động sản xuất." Kinh tế Nhật Bản đã giảm 1,3% trong quý 4/2011 Theo kết quả khảo sát do
Trang 16hãng Reuters tiến hành trước khi xảy ra thảm họa chiều 11/3, kinh tế nước này trong quý 1/2011 có thể tăng trưởng 0,5% so với quý trước đó hoặc gần 2% so với cùng
kỳ năm ngoái Theo ước tính của ngân hàng Myrrill Lynch (Mỹ), các khu vực bị ảnh hưởng bởi động đất và sóng thần chiếm tới 7,8% GDP của Nhật Bản, so với mức tỷ trọng 12,4% của những vùng bị ảnh hưởng trong trận động đất Kobe năm
1995
Bài báo “Động đất và sóng thần tại Nhật Bản sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Châu Á” trên baomoi.com được đăng vào ngày 16 tháng 3 năm 2011 đã viết: tình trạng khó khăn của nền kinh tế Nhật Bản sau thảm họa động đất và sóng thần sẽ lan tỏa khắp châu Á trong những tuần tới, làm xáo trộn thêm bức tranh kinh tế của khu vực, trong bối cảnh các nước đang phải vật lộn với việc giá dầu và lương thực tăng cao Nhật Bản vẫn là một phần quan trọng của kinh tế khu vực dù gần đây đã mất vị trí
là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Nhật Bản là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất đối với một số khu vực của châu Á và là nguồn tạo doanh thu du lịch quan trọng Bên cạnh đó, Nhật Bản còn là đối tác thương mại quan trọng nhất của khu vực Do đó, thương mại giữa Nhật Bản và các nước châu Á khác có thể sẽ giảm mạnh trong ngắn hạn và cùng với các vấn đề khác như lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng trong thời gian tới của châu Á sẽ chậm lại
Báo cáo phân tích doanh nghiệp của phòng phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội “đánh giá tác động của thảm họa động đất và sóng thần tại Nhật Bản đến ngành cao su tự nhiên của Việt Nam” viết về thảm họa động đất sóng thần của Nhật Bản đã ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam cụ thể là ngành cao su Tuy nhiên, những ảnh hưởng đó cũng dần được cải thiện và tác động nhỏ dần Việc xuất khẩu gặp ít khó khăn
Đối với một số các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, về tác động của thảm họa sóng thần lên hoạt động kinh doanh hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống, chỉ ra hiện trạng, ảnh hưởng và những
đề xuất những giải pháp để phát triển hoạt động kinh doanh của Các doanh nghiệp
Trang 17Nhật Bản tại Việt Nam sau thảm họa động đất sóng thần Vì vậy, việc nghiên cứu tác động của thảm họa động đất sóng thần lên hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam là điều cấp thiết và thiết thực nhất
1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Có rất nhiều các bài báo chính thống trên thế giới đưa tin về mức độ ảnh hưởng của thảm họa động đất sóng thần tại Nhật Bản năm 2011 Có thể kể đến một
số bài viết như sau:
Bài báo “Japan earthquake and tsunami: list of impacts of disaster” trên trang
nhật báo The Daily Telegraph (telegraph.co.uk) được đăng ngày 06/04/2011 đã
miêu tả đây là thảm họa thiên nhiên đắt đỏ nhất thế giới từ trước đến nay Trận động đất và sóng thần đã làm thiệt hại nghiêm trọng đến đường giao thông, nhà cửa, các nhà máy và cơ sở hạ tầng khác, cũng như tác động mạnh mẽ lên thị trường tài chính toàn cầu và tâm lý kinh doanh Đồng Yên Nhật ban đầu tăng vọt lên mức cao kỷ lục
so với đồng Đô la Mỹ khiến cho các nước G7 phải có sự can thiệp đầu tiên trong vòng 11 năm để trợ giúp các nước có nền kinh tế xuất khẩu phụ thuộc vào Nhật Bản
Bài báo “Japan's economy heads into freefall after earthquake and tsunami”
trên The guardian của Anh (theguardian.com) được đăng ngày 13/11/2011 đã thông
báo mức độ ảnh hưởng của trận động đất sóng thần đến nền kinh tế Nhật ngày càng nghiêm trọng với hàng trăm nhà máy đóng cửa trên toàn nước Nhật, dự báo từ các nhà kinh tế rằng thảm họa này có thể đẩy Nhật Bản vào suy thoái Ngân hàng Nhật Bản cũng phải bơm hàng tỷ Yên vào nền kinh tế để ngăn chặn thảm họa và phục hồi nền kinh tế mong manh của đất nước Các nhà phân tích cho biết một trong những
ưu tiên hàng đầu của Ngân hàng trung ương Nhật Bản là thúc đẩy các Ngân hàng thương mại cho vay mềm, để đảm bảo rằng những khách hàng trong vùng bị ảnh hưởng vội vàng rút tiền gửi tiết kiệm ra Ngân hàng trung ương Nhật Bản cũng dự kiến sẽ phát hành nhiều tiền mặt hơn nữa, một phần để ngăn chặn việc đồng Yên
Trang 18Nhật tăng lên quá nhiều Các doanh nghiệp và nhà đầu tư Nhật Bản ở nước ngoài đang chạy đua để đưa tài sản của họ về quê hương bao gồm cả việc bán Đô la Mỹ
và ngoại tệ khác để chuẩn bị cho các chi phí tái thiết nền kinh tế Nhật Bản Điều này sẽ làm cho đồng Yên tăng giá Điều đáng sợ là nó sẽ khiến cho giá hàng xuất khẩu từ Nhật sẽ tăng lên và khả năng phục hồi nền kinh tế dựa vào xuất khẩu của Nhật càng ít có hy vọng
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Các khái niệm, vai trò của hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Các khái niệm
Khái niệm kinh doanh: Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong
điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức
và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất
Khái niệm hoạt động kinh doanh
Ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khă năng kinh doanh
Hoạt động kinh doanh là những hoạt động phù hợp và nằm trong khuôn khổ của pháp luật của các tổ chức, cá nhân, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua việc cung cấp hàng hóa dịch vụ trên thị trường, đồng thời hoạt động kinh doanh còn để tìm kiếm lợi nhuận
Vì vậy, hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh
có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
Trang 19+ Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan
hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận
1.2.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hoạt động kinh doanh
- Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi phải nâng cao hoạt động kinh doanh
Như chúng ta đã biết, trong thực tế mọi nguồn lực đưa vào sản xuất kinh doanh đều có giới hạn Không có nguồn lực nào là vô tận, tất cả đều là hữu hạn Chính vì thế, nếu chúng ta sử dụng nguồn nhân lực một cách lãng phí, không tiết kiệm thì chúng sẽ nhanh chóng trở nên cạn kiệt và biến mất Trong khi đó, dân số thế giới ngày càng tăng làm cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn và không có giới hạn Do vậy, nguồn lực, của cải đã khan hiếm nay lại càng khan hiếm hơn, trong điều kiện đó việc nâng cao hoạt động kinh doanh là một vấn đề hàng đầu đối với bất
kỳ hoạt động kinh doanh nào Mọi doanh nghiệp khi bước vào hoạt động kinh doanh đều phải cân nhắc các phương án kinh doanh, xem phương án nào có hiệu quả hơn vì nguồn nhân lực của doanh nghiệp như vốn, lao động, kỹ thuật đưa vào sản xuất kinh doanh đều có giới hạn, nếu không tiết kiệm đầu vào chắc chắn doanh nghiệp sẽ đi tới thua lỗ, phá sản
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật là điều kiện thuận lợi để nâng cao hoạt động kinh doanh
Áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho phép doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực đầu vào một cách hợp lý, tiết kiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức, quản lý diễn ra một cách chính xác, đúng đắn Điều này cho phép
Trang 20các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn những phương án kinh doanh tối ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, đem lại nhiều lợi ích nhất
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật không chỉ đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh mà cả lợi ích công cộng Ngày nay, kết quả của tăng trưởng kinh
tế chính là sự áp dụng thành công các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra với tốc độ như vũ bão, đặc biệt là đối với các nước Châu á chậm phát triển như Việt Nam Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh với nhau và những ngành nghề nào, thị trường nào càng có mức lợi nhuận cao thì cạnh tranh càng gay gắt, quyết liệt hơn
- Nâng cao hoạt động kinh doanh chính là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
Hoạt động kinh doanh là điều kiện sống còn để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, nếu hoạt động kinh doanh không ngừng được nâng cao thì kết quả thu được ngày càng tăng, điều đó có nghĩa là thu nhập của người lao động cũng tăng theo Khi người lao động có thu nhập cao, họ sẽ có điều kiện để chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân và gia đình, mặt khác nhờ có thu nhập cao mà người lao động sẽ hăng say làm việc hơn làm cho năng suất lao động ngày càng tăng Điều đó
sẽ giúp cho doanh nghiệp ngày càng nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh
và làm ăn ngày càng tấn tới Suy cho cùng thì nâng cao hoạt động kinh doanh cũng chính là nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động và ngược lại
1.2.2 Nội dung của hoạt động kinh doanh
Nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh bao gồm một loạt các hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh như nghiên cứu nhu cầu thị trường, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ, huy động nguồn lực phục vụ cho kinh doanh và quản lý các yếu tố về vốn, chi phí
Trang 211.2.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường
Nền kinh tế thị trường không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp mà còn tăng khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường, nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí ẩn và không ngừng thay đổi Do vậy để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng với sự phân tích thu thập thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh doanh Bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp nhà kinh doanh có thể đạt được hiệu quả cao và thực hiện được các mục đích của mình, đó cũng là khâu mở đầu cho hoạt động kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp
Cơ chế thị trường làm cho hàng hoá phong phú, cung luôn có xu hướng lớn hơn cầu, bán hàng ngày càng khó khăn, mức độ rủi ro cao, các doanh nghiệp muốn thành công thì phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, mọi hoạt động kinh doanh đều hướng vào khách hàng
Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng, yêu cầu về quy cách, chất lượng, mẫu mã… hiểu rõ thị hiếu, phong tục tập quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và mỗi khu vực, tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp là một tác nhân trên thị trường Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trường doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một kế hoạch kinh doanh phù hợp, trong kế hoạch đó doanh nghiệp nhất thiết phải xác định rõ những phần thị trường (đặc biệt là thị trường trọng điểm) để khai thác những cơ hội hấp dẫn do thị trường đó mang lại nhiều hơn là những phần thị trường khác Dù doanh nghiệp đang ở bước đầu định vị thị trường để tiến hành kinh doanh hay doanh nghiệp muốn phát triển thị trường truyền thống của mình sâu, rộng hơn nữa thì các doanh nghiệp đều phải tiến hành nghiên cứu thị trường Đây là một bước bắt buộc
Trang 22trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường là để tìm hiểu thêm về nhu cầu của thị trường, những thay đổi mới trên thị trường để đáp ứng kịp thời, những sản phẩm, chiến lược kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh…Thông qua các phương pháp nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ nhận ra vị trí của mình trên thị trường, nhận ra được phần thị trường cần chiếm lĩnh hay cần phát triển
từ đó có phương hướng và đề ra các biện pháp đúng đắn để mở rộng và phát triển thị trường một cách thích hợp Để tiến hành nghiên cứu thị trường cần tiến hành như sau:
Hình 1.1: Các bước nghiên cứu thị trường
- Trước hết đó là phát hiện vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu: Trong
giai đoạn đầu doanh nghiệp và nhà nghiên cứu phải xác định rõ vấn đề cũng như mục tiêu nghiên cứu Việc xác định rõ vấn đề sẽ đảm bảo tới 50% sự thành công trong các cuộc nghiên cứu Ở cấp công ty các mục tiêu có thể đề ra một cách chung nhất nhưng ở cấp đơn vị thành viên, các bộ phận chức năng thì mục tiêu phải được
cụ thể hoá để người lãnh đạo các đơn vị này xác định được hướng tập chung nhất cần nghiên cứu
- Thu thập thông tin: Nghiên cứu thị trường không thể không dựa vào các
thông tin Những thông tin cần thiết sẽ giúp cho các bước nghiên cứu thị trường
Phát hiện vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu
Thu thập thông tin
Ra quyết định
Xử lý thông tin
Trang 23được tiến hành thuận lợi hơn cũng như giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí về thời gian và tài chính không cần thiết Thông tin gồm có thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp.Thông tin sơ cấp là những thông tin mới hoàn toàn chưa qua phân tích,
xử lý của bất kì một cơ quan cá nhân nào Còn thông tin thứ cấp là những thông tin được phân tích kĩ lưỡng Trong khi thu thập thông tin, doanh nghiệp đều có thể sử dụng hai loại thông tin này, phân tích thông tin thứ cấp để có thể nhận định đúng đắn về mục tiêu và khả năng thị trường Phân tích thông tin sơ cấp để doanh nghiệp xác định bước đi tiến bộ, độc đáo Các thông tin thường được nghiên cứu là: thông tin về môi trường kinh doanh, thông tin về nhu cầu người tiêu dùng với mặt hàng nào đó, đối thủ cạnh tranh, người cung cấp hàng hoá…
- Xử lý thông tin: Sau khi thu thập, doanh nghiệp phải tiến hành xử lý thông
tin Xử lý thông tin là phân tích những loại thông tin cần thiết để đưa ra một kết quả, một đánh giá cụ thể về nhu cầu thị trường, những cơ hội cần khai thác và nguy
cơ phòng tránh.Việc xử lý thông tin rất quan trọng, nếu thông tin được xử lý không đúng mục tiêu nghiên cứu sẽ không đạt được và quan trọng nhất là dẫn đến sai lầm trong ra quyết định Ra quyết định là bước khẳng định sự thành công hay thất bại trong kinh doanh Để xử lý thông tin doanh nghiệp thường tổng hợp các số liệu thành bảng biểu, phân tích các chỉ tiêu như sự phân bố tần suất, mức trung bình và mức độ phân tán…để đưa ra quyết định
- Ra quyết định: Việc xử lý thông tin chính là lựa chọn, đánh giá thị trường,
đưa ra các quyết định phù hợp với công tác phát triển thị trường Khi đưa ra các quyết định phù hợp với công tác phát triển thị trường Khi đưa ra các quyết định cần phải có cân nhắc đến các mặt mạnh yếu của doanh nghiệp cũng như những thuận lợi hay khó khăn khi thực hiện quyết định Ngoài ra doanh nghiệp cũng đồng thời phải
có những biện pháp khắc phục những điểm yếu, đặt được khách hàng vào vị trí trung tâm cho hoạt động phát triển thị trường của doanh nghiệp
Nghiên cứu thị trường bao gồm nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết thị trường:
Trang 24- Nghiên cứu khái quát thị trường: Nghiên cứu khái quát thị trường thực chất
là nghiên cứu vĩ mô Đó là nghiên cứu tổng cung hàng hoá, tổng cầu hàng hoá, giá
cả thị trường của hàng hoá, chính sách của Chính phủ về hàng hoá đó (kinh doanh
tự do, kinh doanh có điều kiện, khuyến khích kinh doanh hay cấm kinh doanh)
Nghiên cứu tổng cầu hàng hoá là nghiên cứu tổng khối lượng hàng hoá và cơ cấu loại hàng hoá tiêu dùng thông qua mua sắm hoặc sử dụng với giá cả thị trường trong một khoảng thời gian nhất định Tổng khối lượng hàng hoá chính là quy mô của thị trường Nghiên cứu quy mô thị trường phải nắm được số lượng người hoặc đơn vị tiêu dùng, số lượng các loại hàng hoá, số lượng của một loại hàng hoá được tiêu thụ Thông qua nghiên cứu quy mô thị trường doanh nghiệp xác định cho mình loại hàng hoá kinh doanh, khách hàng và phạm vi thị trường của doanh nghiệp Khi nghiên cứu tổng cầu và cơ cấu hàng hoá doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu trên môi trường địa bàn, đặc biệt là thị trường trọng điểm, ở đó tiêu thụ lượng hàng lớn
và giá thị trường của hàng hoá đó trên địa bàn từng thời gian
Nghiên cứu tổng cung hàng hoá là nghiên cứu để xác định xem khả năng sản xuất trong một thời gian, các đơn vị sản xuất, kinh doanh có khả năng cung ứng cho thị trường tổng số bao nhiêu hàng, khả năng nhập khẩu bao nhiêu, khả năng dự trù (tồn kho) xã hội bao nhiêu Giá cả bán hàng của doanh nghiệp sản xuất, giá hàng nhập khẩu Nghiên cứu giá cả thị trường doanh nghiệp phải tìm được chênh lệch giá bán và gía mua Thông qua nghiên cứu tổng cung, doanh nghiệp xác định vai trò và
vị trí của mình cũng như của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, từ đó có phương hướng biện pháp để phát triển thị trường thích hợp Nghiên cứu chính sách của Chính phủ về loại hàng kinh doanh cho phép kinh doanh tự do, kinh doanh có điều kiện, khuyến khích kinh doanh hoặc cấm kinh doanh Đó là chính sách thuế, giá các loại dịch vụ có liên quan Qua nội dung nghiên cứu này, doanh nghiệp xác định được môi trường kinh doanh và các điều kiện để đáp ứng yêu cầu của môi truờng
đó, những thuận lợi cũng như khó khăn của môi trường
Trang 25Ngoài những vấn đề trên, nghiên cứu khái quát thị trường còn cần phải nghiên cứu động thái của cầu, cung trên từng địa bàn và trong từng thời điểm
- Nghiên cứu chi tiết thị trường : Nghiên cứu chi tiết thị trường thực chất là nghiên cứu đối tượng mua bán hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh, cơ cấu thị trường hàng hoá và chính sách mua bán của các doanh nghiệp có nguồn hàng lớn Nghiên cứu chi tiết thị trường phải trả lời được câu hỏi: Ai mua hàng? Mua bao nhiêu? Cơ cấu của loại hàng? Mua ở đâu? Mua hàng dùng làm gì? Đối thủ cạnh tranh? Nghiên cứu chi tiết thị trường phải nghiên cứu nhu cầu và yêu cầu của khách hàng về loại hàng mà doanh nghiệp kinh doanh và phải xác định tỷ trọng thị trường doanh nghiệp đạt được (thị phần của doanh nghiệp) và thị phần của các doanh nghiệp khác cùng ngành, so sánh về chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, mẫu
mã, mấu sắc và các dịch vụ phục vụ khách hàng của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác…để đổi mới thu hút khách hàng mua hàng của doanh nghiệp mình
Để nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp người ta thường dùng các phương pháp như sau:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu văn phòng là cách nghiên cứu thu thập các thông tin qua các tài liệu như sách báo, tạp chí, tạp chí quảng cáo, bản tin kinh tế, thông tin thị trường, tạp chí thương mại, niên giám thống kê và các loại tài liệu có liên quan đến các loại mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh, sẽ kinh doanh cần nghiên cứu: khả năng cung ứng, khả năng hàng tồn kho xã hội, nhu cầu của khách hàng, giá thị trường của loại hàng và khả năng biến động Nghiên cứu tại bàn cho phép doanh nghiệp nhìn được khái quát thị trường mặt hàng cần nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường: Đây là phương pháp trực tiếp cử cán bộ đến tận nơi để nghiên cứu Cán bộ nghiên cứu thông qua việc trực tiếp quan sát, thu thập các thông tin và số liệu ở đơn vị tiêu dùng lớn, ở khách hàng hoặc ở các đơn vị nguồn hàng bằng cách điều tra trọng điểm, điều tra trọn mẫu, điển hình, toàn bộ hay tham quan, phỏng vấn các đối tượng, gửi phiếu điều tra, hội nghị khách
Trang 26hàng hay qua hội chợ, triển lãm…Nghiên cứu tại hiện trường giúp doanh nghiệp có những nhận xét về thị trường một cách sinh động, thực tế, hiện thực
Một khâu không thể thiếu được trong chiến lược phát triển thị trường là dự báo thị trường nó được coi là tiền đề của kế hoạch kinh doanh.Thông thường có ba loại dự báo: dự báo ngắn hạn, dự báo trung hạn và dự báo dài hạn Tuỳ theo phương pháp thu thập thông tin và yêu cầu dự báo về thị trường hàng hoá người ta lựa chọn những phương pháp dự báo khác nhau Tuy nhiên, mọi dự báo chỉ là những tiên đoán, có tính khả thi hay không phụ thuộc phần lớn ở cơ sở của các dự báo đó và kĩ năng thực hành của doanh nghiệp
Đó là toàn bộ thông tin cơ bản và cần thiết mà một doanh nghiệp phải nghiên cứu để phục vụ cho quá trình ra quyết định đúng đắn, tối ưu nhất Để nắm bắt được những thông tin đó doanh nghiệp phải coi công tác nghiên cứu thị trường là một hoạt động không kém phần quan trọng như hoạt động quản lý, nghiệp vụ bởi vì công tác nghiên cứu thị trường không trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như mua, bán… nhưng kết quả của nó ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên đây chưa phải là một giải pháp có thể giải quyết được mọi vấn đề của doanh nghiệp nhưng nó vốn là một hoạt động không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào
Công tác nghiên cứu thị trường được tiến hành một cách khoa học sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được:
- Lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và lựa chọn sản phẩm kinh doanh cũng như các chính sách duy trì, cải tiến hay phát triển sản phẩm
- Nhu cầu hiện tại, tương lai và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường, xác định được mục tiêu của doanh nghiệp
- Tìm được nguồn hàng, các đối tác và bạn hàng kinh doanh, lựa chọn kênh phân phối và các biện pháp xúc tiến phù hợp
Trang 27Trên cơ sở nghiên cứu thị trường và đánh giá khả năng tiềm lực của mình, doanh nghiệp lựa chọn hình thức kinh doanh, mặt hàng, thị trường và người cung cấp
1.2.2.2 Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn đưa vào kinh doanh
Kinh doanh tức là đầu tư tiền của, sức lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm kiếm lời, yêu cầu đối với doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh là phải có các nguồn lực bao gồm nguồn lực về tài chính và con người
Các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động đưa vào kinh doanh bao gồm vốn vô hình như sự nổi tiếng về nhãn hiệu, uy tín, kinh nghiệm và trình độ của cán bộ công nhân viên Đây là nguồn quan trọng nhưng việc tích lũy đòi hỏi thời gian lâu dài, nguồn này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và mở rộng quan hệ với bạn hàng, khách hàng và đơn vị có liên quan
Nguồn vốn hữu hình bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động Tài sản cố định bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh như văn phòng, cửa hàng, hệ thống kho, các trang thiết bị, phương tiện vận chuyển…nguồn này góp phần tạo nên sức mạnh, uy thế của doanh nghiệp và giúp cho hoạt động kinh doanh thuận lợi Tài sản lưu động bao gồm vật liệu đóng gói, bao bì, nhiên liệu, dụng cụ và các khoản tiền mặt, ngân phiếu, tiền nhờ thu…
Trong một doanh nghiệp kinh doanh, vốn là vấn đề quan trọng và được quan tâm nhiều nhất Không có vốn hoặc quá ít vốn doanh nghiệp không thể kinh doanh
có hiệu quả được Vốn lớn giúp doanh nghiệp thanh toán cho người cung cấp đúng hẹn, tránh nợ đọng tràn lan, tạo dựng niềm tin và củng cố các quan hệ với đơn vị nguồn hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức trả tiền trước để có được nguồn hàng ổn định nhất là khi nhu cầu thị trường căng hoặc có thể áp dụng hình thức thanh toán chậm với khách hàng để duy trì thu hút thêm khách Ngoài ra còn khắc phục hiện tượng dự trữ quá ít hoặc không có dự trữ, tránh tình trạng không đủ đáp ứng nhu cầu khách
Bên cạnh yếu tố vốn kinh doanh thì yếu tố con người cũng góp phần không nhỏ trong kinh doanh Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh là
Trang 28quan trọng tuy nhiên nguồn vốn thì có hạn nhất là trong điều kiện huy động vốn khó khăn Sử dụng và khai thác nguồn vốn này có hiệu quả phụ thuộc vào tài năng, kinh nghiệm và trình độ quản lý, bộ máy điều hành của doanh nghiệp hay nói tóm lại đó
là nhờ vào yếu tố con người Đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp là phần cơ bản quan trọng, nếu bộ phận này thực hiện tốt chức năng của mình doanh nghiệp mới tồn tại
và phát triển được, ngược lại nó chỉ có tác dụng hình thức thì hoạt động của doanh nghiệp không thể có hiệu quả được
1.2.2.3 Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ
Các hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp thương mại bao gồm công tác: tạo nguồn, dự trữ, phân phối, bán hàng và thực hiện các hoạt động dịch vụ
a) Công tác tạo nguồn
Doanh nghiệp thương mại thực hiện nhiệm vụ cung ứng cho sản xuất, tiêu dùng những hàng hoá cần thiết, phù hợp nhu cầu Để hoàn thành nhiệm vụ đó thì doanh nghiệp phải tổ chức công tác tạo nguồn
Công tác tạo nguồn là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn hàng có khối lượng và cơ cấu thích hợp với nhu cầu Thông qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xác định được nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ, xác định được các nguồn hàng, khả năng cung ứng của họ, tổ chức ký kết hợp đồng, đặt hàng, mua
từ nguồn hàng trôi nổi trên thị trường, nguồn hàng do liên doanh liên kết với đơn vị sản xuất để khai thác, chế biến, nguồn hàng tự tổ chức sản xuất, nhận đại lý, ký gửi
Để nắm vững thị trường nguồn hàng, hạn chế bị động trong lựa chọn đối tác giao dịch, các doanh nghiệp phải nghiên cứu khả năng cung ứng của từng loại hàng hoá Đó là xác định số lượng, nhà cung ứng trong và ngoài nước, khả năng cung ứng của các nhà cung cấp trong hiện tại và tương lai Khi nghiên cứu về nhà cung cấp doanh nghiệp phải tìm hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, lĩnh vực và phạm
vi kinh doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên, liên kết kinh doanh và đặt mua, nghiên cứu về vốn, kỹ thuật, uy tín của nhà cung cấp Đồng thời doanh nghiệp cũng phải tìm xem nguồn nào thoả mãn được các yêu cầu Nguồn
Trang 29hàng đó phù hợp về mặt số lượng nghĩa là nó có thể đáp ứng đúng số lượng hàng hoá mà công ty cần theo yêu cầu, đáp ứng theo yêu cầu về chất lượng, kịp thời gian, đảm bảo hiệu quả cao Ngoài ra nó còn phải thoả mãn các điều kiện khác của doanh nghiệp như phù hợp với điều kiện vận chuyển, giao nhận, thanh toán…
Mục đích của công tác tạo nguồn mua hàng là để bán hàng, mua là tiền đề cơ
sở của hoạt động bán, để thực hiện mục tiêu kinh doanh đó là lợi nhuận vì vậy mua hàng có ý nghĩa rất lớn, khi mua hàng doanh nghiệp cấn phải chú ý:
- Phải hiểu rõ thị trường và thương mại, khi mua phải tuân thủ các quy luật của lưu thông :
+ Mua của người chán bán cho người cần
+ Mua nơi giá thấp, bán nơi giá cao
+ Mua tận gốc bán tận ngọn
- Khi mua hàng phải lập kế hoạch thu mua có cơ sở khoa học:
+ Mua phải bán được và có lợi nhuận
+ Cơ cấu thu mua phải phù hợp với nhu cầu
+ Phải xác định được khối lượng mặt hàng chủ lực
+ Số lượng mua theo kế hoach phải lớn hơn hoặc bằng số lượng bán ra theo
kế hoạch (Khối lượng lớn hoưn ở mức có giới hạn)
- Doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin kịp thời, lựa chọn cơ hội mua hàng tốt nhất
b) Hoạt động dự trữ
Doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ lưu thông hàng hoá, trong quá trình vận động đưa hàng từ sản xuất đến tiêu dùng thường xuyên có một bộ phận hàng hoá đang trên đường vận chuyển, ở các kho của doanh nghiệp thương mại hoặc được giữ lại chờ tiêu dùng, bộ phận hàng hoá này gọi là dự trữ
Trang 30Mục đích của dự trữ ở doanh nghiệp thương mại là để đảm bảo bán hàng diễn ra liên tục, đều đặn, sẵn sàng phục vụ khách hàng ngay khi có nhu cầu, tạo dựng niềm tin, uy tín với khách hàng, tạo điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh
Thông thường ở doanh nghiệp thương mại có 2 loại dự trữ là dự trữ thường xuyên và dự trữ bảo hiểm Dự trữ thường xuyên là lượng dự trữ chủ yếu nhằm thoả mãn thường xuyên, đều đặn nhu cầu của khách hàng Dự trữ bảo hiểm là bộ phận
dự trữ đề phòng khi có trường hợp công tác thu mua tạo nguồn không theo đúng kế hoạch về thời gian, số lượng, chủng loại để đáp ứng nhu cầu
Ngoài ra với doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng có tính thời vụ về sản xuất, lýu thông, tiêu dùng thì có bộ phận dự trữ thời vụ
Dự trữ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dự trữ không đủ mức cần thiết có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động kinh doanh, mặt khác dự trữ quá nhièu dẫn đến tình trạng ứ đọng hàng hoá, vốn chậm lưu chuyển Vì vậy việc xác định đúng đắn mức dự trữ có ý nghĩa lớn, cho phép giảm các chi phí về bảo quản hàng hoá, giảm hao hụt, mất mát, bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục, thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, tránh dự trữ quá nhiều Khi tiến hành xác định mức dự trữ doanh nghiệp cần phải xác định được đại lượng tối đa, tối thiểu căn cứ trên cơ sở tính toán các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua, bán trong kỳ
Để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách đều đặn, kịp thời, tránh tình trạng thiếu hàng, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong kinh doanh dự trữ phải tuân theo nguyên tắc:
+ Hàng hoá dự trữ cần phải kiểm tra đều đăn, định kỳ, kịp thời bổ sung hàng hoá khi dựu trữ ở mức giới hạn thấp nhất
+ Phải sắp xếp hàng hoá theo nguyên tắc dễ thấy dễ lấy dễ kiểm tra
+ Phải sắp xếp hàng hoá theo nhóm khác nhau
+ Quy định mức dự trữ thấp nhất và cao nhất
Trang 31c) Công tác tổ chức phân phối và bán hàng
Bán hàng là khâu quan trọng mấu chốt, là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân
và thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp đó là lợi nhuận Đồng thời bán hàng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng chi phối các hoạt động nghiệp vụ khác như tạo nguồn, dự trữ, dịch vụ…
Bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ H- T nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị dụng nhất định Đứng dưới giác độ nghệ thuật, người ta xem bán hàng là một quá trình tại đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo nhu cầu và đáp ứng ước muốn của họ trê cơ sở thoả mãn quyền và lợi ích của cả hai bên Mở rộng hoạt động kinh doanh phụ thuộc lớn vào tốc độ bán hàng nhanh hay chậm, hàng hoá bán được đồng nghĩa với việc doanh nghiệp còn tồn tại
và phát triển, ngược lại doanh nghiệp sẽ không thực hiện được mục tiêu của mình điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ mất dần vị thế trên thị trường
Đối với kinh doanh thương mại hoạt động bán hàng tổ chức tốt có thể làm tăng tiền bán ra và chỉ thông qua bán hàng cho người tiêu dùng giá trị của sản phẩm dịch vụ mới được thực hiện do đó mới có điều kiện thực hiện mục đích của doanh nghiệp
Bán hàng chỉ là một phương pháp giao tiếp trong kinh doanh cho phép các thượng vụ phù hợp với yêu cầu của khách trong quá trình mua bán Người bán hàng
có thể đáp ứng yêu cầu của người mua và quan sát phản ứng của họ, một nhân viên bán hàng thành cong phải là người có kinh nghiệm đánh giá khách hàng và có thể điều chỉnh nội dung thực hiện bán cho phù hợp với yêu cầu của người mua
Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp thương mại bao gồm các cửa hàng và
hệ thống đại lý được bố trí rộng và thuận tiện đề phục vụ khách hàng, tuy nhiên khi xây dựng mạng lưới kinh doanh doanh nghiệp cần phải bố trí phù hợp với quá trình vận động của hàng hoá từ nguồn hàng đến nơi tiêu dùng, mạng lưới cửa hàng phải được bố trí ở những nơi đông dân cư, những địa điểm thuận lợi cho mua bán, phải
Trang 32tính đến hiệu quả của từng điểm bán cũng như của toàn bộ doanh nghiệp, tránh sự diệt trừ lẫn nhau
Đối với hoạt động bán hàng doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc: + Khối lượng mặt hàng và chất lượng hàng hoá phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng
+ Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ trong quá trình bán
+ Áp dụng phương pháp bán và quy trình bán hoàn thiện đảm bảo năng suất lao động, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng không ngừng nâng cao, vì vậy đối với nhân viên bán hàng phải chọn những người tinh thông về nghiệp vụ hàng hoá,
có khả năng tuyên truyền giới thiệu, phải biết sử dụng các phương tiện, dụng cụ trong quá trình phục vụ khách tạo không khí vui vẻ thực sự có thể nắm bắt được tâm lý khách hàng và đáp ứng thoả đáng nhu cầu
+ Làm tốt công tác quảng cáo, kết hợp quảng cáo với bán hàng làm cho hoạt động quảng cáo phát huy tác dụng thúc đẩy bán hàng
Đối với doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt vì vậy phải tuân thủ nguyên tắc:
+ Kinh doanh những hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của khách hàng
+ Phải lôi cuốn khách hàng rồi mới nghĩ đến cạnh tranh
+ Khi làm lợi cho mình phải chú ý đến lợi ích của khách hàng
+ Tìm kiếm và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường
+ Nhận thức và nắm bắt cho được nhu cầu của thị trường để đáp ứng đầy đủ Tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh, đặc điểm, tính chất, điều kiện vận chuyển doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức bán hàng thông qua các kênh khác nhau như tổ chức bán trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua mạng lưới bán lẻ, bán qua trung gian hay môi giới
Trang 33Phân phối hàng hóa thực chất là quá trình chuyển hàng hoá vào các kênh bán hàng một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí lưu thông, đáp ứng tối đa yêu cầu của thị trường đảm bảo lợi nhuận và uy tín với khách
Đối với hoạt động phân phối hàng hoá để đem lại kết quả cao doanh nghiệp cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc hiệu quả kinh tế thể hiện qua doanh thu và chi phí làm sao đạt được lợi nhuận cao nhất
+ Nguyên tắc đồng bộ liên tục: Khi phân phối hàng hoá phải tính đến nhiều yếu tố như giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản
+ Nguyên tắc ưu tiên: Trong trường hợp có sự mất cân đối cục bộ mà doanh nghiệp không thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm thì cần phải cân nhắc lựa chọn phương án tốt nhất
Quản trị vốn, chi phí, nhân sự trong kinh doanh
Quản trị doanh nghiệp thương mại phải chú ý đến quản trị vốn, chi phí và nhân sự, đây là yếu tố ảnh hưởng đén kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự ra đời, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua vốn kinh doanh cho phép biết được tiềm lực của doanh nghiệp, vốn kinh doanh quyết định quy mô kinh doanh, mặt hàng kinh doanh
Vốn của doanh nghiệp thương mại là thể hiện bằng tiền của tì sản lưu động, tài sản cố định Quản trị vốn kinh doanh thực chất là thực hiện sử dụng vốn trong kinh doanh và theo dõi được kết quả sử dụng vốn lãi hay lỗ qua đó đưa ra biện pháp khắc phục
Bất kỳ doanh nghiệp nào dù hoạt động trong phạm vi lớn hay nhỏ đều quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn Vì vậy quản lý tốt vốn kinh doanh nhằm tăng vòng quay vốn nhanh tạo ra sự linh hoạt trong kinh doanh
Trang 34Vốn kinh doanh có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng khi được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh, sử dụng nó một cách đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả vì vậy quản lý vốn là cần thiết
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
Thông thường người ta phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thành các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan, các yếu tố chủ quan là các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể kiểm soát hoặc điều chỉnh được nó, các yếu tố khách quan là các yếu tố mà doanh nghiệp không thể điều chỉnh và kiểm soát được
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan
Là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được nó tác động liên tục đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được các nhân tố này, xu hướng hoạt động và sự tác động của các nhân tố đó lên toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các nhân tố khách quan bao gồm các yếu tố chính trị, luật pháp, văn hoá, xã hội, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và quan hệ kinh
tế, đây là những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được đồng thời nó có tác động chung đến tất cả các doanh nghiệp trên thị trường Nghiên cứu những yếu
tố này doanh nghiệp không nhằm để điều khiển nó theo ý kiến của mình mà tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của mình
- Yếu tố chính trị và luật pháp: Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việc hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khác Hệ thống pháp luật
Trang 35hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tránh tình trạng gian lận, buôn lậu…
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường
- Yếu tố kinh tế: Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, ngành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả ngành hàng khác Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay
xu hướng phát triển của các ngành hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm:
• Hoạt động ngoại thương: Xu hướng đóng mở của nền kinh tế có ảnh hưởng các cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế quốc gia về công nghệ, nguồn vốn
• Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích lũy, tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư,
• Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng đến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp
• Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
- Các yếu tố văn hoá xã hội: Có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người tiêu dùng Thông qua yếu tố này cho phép các doanh nghiệp hiểu biết ở mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ qua đó lựa chọn các phương thức kinh doanh cho phù hợp
Trang 36Thu nhập có ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản phẩm và chất lượng đáp ứng, nghề nghiệp tầng lớp xã hội tác động đến quan điểm và cách thức ứng xử trên thị trường, các yếu tố về dân tộc, nền văn hoá phản ánh quan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm, điều đó vừa yêu cầu đáp ứng tính riêng biệt vừa tạo cơ hội đa dạng hoá khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
- Yếu tố kỹ thuật công nghệ: ảnh hưởng đến yêu cầu đổi mới công nghệ trong thiết bị, khả năng sản xuất sản phẩm với chất lượng khác nhau, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh, lựa chọn và cung cấp công nghệ
- Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng: Các yếu tố điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ, bảo quản hàng hoá Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chế khả năng đầu tư, phát triển kinh doanh, đặc biệt với doanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối…
- Yếu tố khách hàng: Khách hàng là những Người có nhu cầu và khả năng thanh toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau tùy theo từng lứa tuổi, giới tính mức thu nhập, tập quán …Mỗi nhóm khách hàng có một đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ Do đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp
- Đối thủ cạnh tranh: Bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản phẩm của doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì mới
có khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường Cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn, nâng cao được tính năng động của doanh nghiệp
Trang 37- Người cung ứng: Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, Người cung ứng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không phải nhỏ, điều đó thể hiện trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá cả, thời gian, điạ điểm theo yêu cầu …
1.2.3.2 Các yếu tố chủ quan
Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để khai thác các cơ hội kinh doanh Tiềm năng phản ánh thực lực cuả doanh nghiệp trên thị trường, đánh giá đúng tiềm năng cho phép doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận dụng được các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao
Các yếu tố thuộc tiềm năng của doanh nghiệp bao gồm: Sức mạnh về tài chính, tiềm năng về con Người, tài sản vô hình, trình độ tổ chức quản lí, trình độ trang thiết bị công nghệ, cơ sở hạ tầng, sự đúng đắn của các mục tiêu kinh doanh và khả năng kiểm soát trong quá trình thực hiện mục tiêu
- Sức mạnh về tài chính thể hiện trên tổng nguồn vốn (bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động) mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng quản lí có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh Sức mạnh tài chính thể hiện ở khả năng trả nợ ngắn hạn, dài hạn, các tỉ lệ về khả năng sinh lời của doanh nghiệp
- Tiềm năng về con Người: Thể hiện ở kiến thức, kinh nghiệm có khả năng đáp ứng cao yêu cầu của doanh nghiệp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp trung thành luôn hướng về doanh nghiệp có khả năng chuyên môn hoá cao, lao động giỏi có khả năng đoàn kết, năng động biết tận dụng và khai thác các cơ hội kinh doanh, …
- Tiềm lực vô hình: Là các yếu tố tạo nên thế lực của doanh nghiệp trên thị trường, tiềm lực vô hình thể hiện ở khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn, chấp nhận
và ra quyết định mua hàng của khách hàng.Trong mối quan hệ thương mại yếu tố tiềm lực vô h́nh đã t ạo điều kiện thuận lợi cho công tác mua hàng, tạo nguồn cũng
Trang 38như khả năng cạnh tranh thu hút khách hàng, mở rộng thị trường kinh doanh
…Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp có thể là hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường hay mức độ nổi tiếng cuả nhãn hiệu, hay khả năng giao tiếp và uy tín của Người lãnh đạo trong các mối quan hệ xã hội …
- Vị trí địa lí, cơ sở vật chất của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp thu hút sự chú ư cuả khách hàng, thuận tiện cho cung cấp thu mua hay thực hiện các hoạt động dự trữ Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp thể hiện nguồn tài sản
cố đinh mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh bao gồm văn phòng nhà xưởng, các thiết bị chuyên dùng … Điều đó thể hiện thế mạnh của doanh nghiệp, quy mô kinh doanh cũng như lợi thế trong kinh doanh …
Trang 39CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu có vai trò, ý nghĩa quan trọng quyết định đến kết quả và thành công của luận văn Do đó, tác giả mong muốn đi sâu vào trình bày phương pháp nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu trong chương 2
2.1 Cách tiếp cận
2.1.1 Tiếp cận hệ thống
Theo cách tiếp cận này, thảm họa động đất và sóng thần tại Nhật Bản là một vấn đề trọng tâm đối với thế giới và Việt Nam Do những vai trò đặc biệt của nền kinh tế Nhật đối với nền kinh tế thế giới Do đó, sự tác động của thảm họa động đất sóng thầntại Nhật đến sự phát triển đến nền kinh tế phải đặt trong tổng thể tác động lên toàn nền kinh tế và có mối liên hệ chặt chẽ với các chính sách, đường lối và chủ trương phát triển của các TNCs có vốn của Nhật Bản tại Việt Nam và tập đoàn VNPT
2.1.2 Tiếp cận theo quan điểm duy vật biện chứng
Theo cách tiếp cận này, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của trận động đất sóng thần tại Nhật Bản năm 2011 đến tình hình hoạt động kinh doanh của một số doanh nhiệp TNCs có vốn của Nhật Bản tại Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty VFT Từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho Công ty VFT đóng góp vào sự phát triển của Công ty và tập đoàn VNPT Đồng thời đặt trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều rủi ro từ biến đổi khí hậu
và ô nhiễm môi trường
2.2 Khung khổ phân tích
Nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu nội dung của hoạt động kinh doanh của của Công ty Cổ phần các hệ thống viễn thông VNPT – Fujitsu Việt Nam
Trang 40Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm 03 nội dung chính: Một là, hoạt động nghiên cứu thị trường Hai là, huy động và sử dụng hợp lý các nguồn đưa vào kinh doanh Ba là, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ
Để làm rõ được vấn đề này Người viết đã lập kế hoạch và tuân theo quy trình nghiên cứu bao gồm các bước được mô phỏng như sõ đồ bên dưới:
Hình 1.2: Quy trình nghiên cứu
Phân tích thực trạng tổ chức các hoạt động nghiệp vụ tại Công ty VFT từ sau thảm họa động đất sóng thần tại Nhật Bản
Tổng quan tình hình nghiên cứu nội dung hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
Khoảng trống nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Xác định khung phân tích
Áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị với nhà nước nhằm nâng
cao hoạt động kinh doanh của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam