Nhằm mục đích nghiên cứu sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia ASEAN, học viên nhận thấy lý thuyết về các giai đoạn phát triển đầu tư mô hình IDP - Investm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ HỒNG NGỌC
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ CỦA ASEAN THEO MÔ HÌNH IDP VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, được thực hiện một cách trung thực và khách quan Các trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được ai khác công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào trước đây
Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Hồng Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ kinh tế quốc tế này được thực hiện tại Trường Đại học Kinh
tế, ĐHQGHN Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sự cảm kích sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế và quý thầy cô của Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, những người đã hướng dẫn cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh, cán bộ hướng dẫn khoa học đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Văn phòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế và Phòng Đào tạo của nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thủ tục để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình và bạn
bè đã luôn động viên, hỗ trợ và khích lệ tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2016
Học viên
Lê Hồng Ngọc
Trang 5đã nhận diện một số điều kiện cần thiết và đưa ra một số hàm ý cho Việt Nam để phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài lên các trình độ phát triển cao hơn
Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài, mô hình IDP, ASEAN, Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
5 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC GIAI ĐOAN PHÁT TRIỂN CỦA ĐẦU TƯ THEO MÔ HÌNH IDP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiếp cận từ mô hình IDP 5
1.1.1 Nghiên cứu IDP của các nhóm quốc gia 5
1.1.2 Nghiên cứu IDP của các quốc gia ASEAN 11
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 14
1.2 Cơ sở lý luận về các giai đoạn phát triển của đầu tư theo mô hình IDP 16
1.2.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài 16
1.2.2 Mô hình OLI các yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài 18
1.2.3 Mô hình IDP các giai đoạn phát triển đầu tư 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Phương pháp nghiên cứu 34
2.1.1 Quy trình nghiên cứu 34
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2 Số liệu sử dụng trong nghiên cứu 36
2.2.1 Nguồn số liệu 36
2.2.2 Thống kê mô tả số liệu 37
2.2.3 Xử lý số liệu 38
Trang 72.3 Mô hình sử dụng trong kiểm định giả thiết 42
2.3.1 Mô tả mô hình ước lượng và các biến số 42
2.3.2 Quy trình ước lượng mô hình 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ CỦA CÁC QUỐC GIA ASEAN THEO MÔ HÌNH IDP 44
3.1 Các kết quả ước lượng mô hình IDP 44
3.2 Sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia ASEAN 47
3.3 Một số đánh giá và bình luận 50
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHO SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HAI CHIỀU CỦA VIỆT NAM 55
4.1 Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 55
4.1.1 Chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 55
4.1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 57
4.2 Một số bình luận 60
4.2.1 IDP của Việt Nam trong khu vực ASEAN 60
4.2.2 Sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 63
4.3 Hàm ý cho sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 65
4.3.1 Nhận diện một số vấn đề cần thiết để phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của Việt Nam 65
4.3.2 Một số hàm ý cho Việt Nam 67
PHẦN KẾT LUẬN 73
1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của luận văn 73
2 Một số hạn chế của luận văn 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
3 CEE Các quốc gia Trung và Đông Âu
5 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
7 GDPpc Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người
8 IDP Con đường (các giai đoạn) phát triển của đầu tư
9 IFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
10 MENA Các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi
11 NOI Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ròng
12 NOIpc Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ròng bình quân đầu người
13 NOIP Vị thế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ròng
14 OFDI Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
15 TNC Công ty xuyên quốc gia
16 UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Xác định vị thế IDP của các quốc gia ASEAN 12
2 Bảng 1.2 Các cách thức thâm nhập thị trường của TNC 18
4 Bảng 3.1 Kết quả ước lượng mô hình IDP của khu vực
ASEAN và các cụm quốc gia
45
5 Bảng 3.2 Kết quả kiểm định White của các mô hình 46
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Đồ thị IDP được đề xuất bởi Dunning 23
2 Hình 1.2 Đồ thị IDP được phát triển bởi Narula 24
3 Hình 1.3 Chỉ số IPI trong từng giai đoạn IDP 33
5 Hình 2.2 Sơ đồ hình cây kết quả phân cụm Ward 40
6 Hình 2.3 Biểu đồ phân tán của khu vực ASEAN và
các cụm quốc gia
41
7 Hình 3.1 IDP khu vực ASEAN giai đoạn 1990 - 2015 48
8 Hình 3.2 Mối quan hệ OFDI và GDPpc của một số
quốc gia năm 2004
51
9 Hình 3.3 IDP ASEAN trong hai cuộc khủng hoảng kinh tế
1997 và 2008
52
10 Hình 4.1 Tổng vốn FDI đăng ký được cấp phép của
Việt Nam giai đoạn 1989 - 2015
58
11 Hình 4.2 Tổng vốn FDI đăng ký được cấp phép của
Việt Nam phân theo ngành kinh tế lũy kế đến 31/12/2015
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN) được thành lập vào năm 1967, là một liên minh chính trị - kinh tế - văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, nhằm mục tiêu củng cố sự đoàn kết và hợp tác phát triển giữa các quốc gia thành viên Với 5 thành viên sáng lập, đến nay ASEAN đã trở thành một thị trường lớn, đa dạng với 10 thành viên ASEAN được đánh giá là khu vực có nhiều tiềm năng trở thành một động lực tăng trưởng kinh tế thế giới quan trọng, tham gia đáng kể vào dòng chảy thương mại và đầu tư quốc tế Đến nay, ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu phát triển trên mọi lĩnh vực - đặc biệt là kinh tế, khiến khu vực này có được sức hấp dẫn lớn, thu hút được nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài Đồng thời, sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội cũng tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các quốc gia thành viên
Sự phát triển của hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài) đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ sự phát triển của các quốc gia ASEAN trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế
Hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào và ra cấu thành đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia, có sự tương tác với nhau và quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của nền kinh tế Nhằm mục đích nghiên cứu sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia ASEAN, học viên nhận thấy lý thuyết về các giai đoạn phát triển đầu tư (mô hình IDP - Investment Development Path) đề xuất bởi nhà kinh tế học John H Dunning vào những năm 1980, là một cách tiếp cận lý thuyết phù hợp và hữu ích để nghiên cứu thực chứng sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế
Trong số nhiều lý thuyết và mô hình giải thích hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, mô hình IDP (vốn là sự mở rộng của thuyết chiết trung - mô hình OLI) là một cách tiếp cận được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu quốc tế gần đây Mô hình IDP đưa ra giả thuyết rằng đối với một quốc gia, quá trình phát triển đầu tư
Trang 12trực tiếp nước ngoài có mối quan hệ mang tính hệ thống với sự phát triển kinh tế, theo cách thức quốc gia đó trải qua năm giai đoạn phát triển (được đánh số I, II, III,
IV và V - một số tài liệu gọi là “năm hình thái phát triển”) có thể được mô tả định tính hoặc định lượng Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia (Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Trung Quốc…) và nhóm quốc gia (Trung Đông và Bắc Phi, Trung và Đông Âu) sử dụng
mô hình IDP và cho kết quả phù hợp với lý thuyết này Đặc biệt, tại Châu Âu đã có không ít nghiên cứu thực chứng về con đường phát triển đầu tư của nhóm các quốc gia Trung và Đông Âu nhằm phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều và đánh giá các điều kiện, khả năng phát triển xa hơn của hoạt động này Vậy quá trình phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia ASEAN có thể được lý giải bằng mô hình IDP không? Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, học viên nhận thấy sự cần thiết trong việc ứng dụng mô hình IDP
để nghiên cứu thực tiễn phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia ASEAN Với tư cách là một quốc gia thành viên, Việt Nam có thể rút ra được những vấn đề gì từ nghiên cứu thực chứng này nhằm thúc đẩy hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của quốc gia?
Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Các giai đoạn phát triển đầu tư của
ASEAN theo mô hình IDP và hàm ý cho Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính: Đưa ra một số hàm ý cho sự phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào và ra của Việt Nam từ những phân tích về sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia ASEAN
Câu hỏi nghiên cứu chính : Từ phân tích và so sánh về sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia ASEAN, luận văn rút ra được những hàm ý gì cho sự phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam?
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Trang 13Thứ nhất, tổng thuật tài liệu và tổng hợp thông tin để khái quát được một
khung lý thuyết nghiên cứu các giai đoạn phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhóm quốc gia dựa trên tiếp cận từ mô hình IDP
Thứ hai, thu thập và xử lý số liệu để kiểm định giá trị của mô hình IDP trong
trường hợp của các quốc gia ASEAN, qua đó bình luận về sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia này
Thứ ba, kiểm tra sự phù hợp của mô hình IDP đối với trường hợp của Việt
Nam; qua đó đưa ra một số bình luận và hàm ý nhằm phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam Những bình luận xoay quanh sự phát triển của hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (vào và ra) nhằm mục đích nhận diện một số vấn
đề và các điều kiện cần thiết Việt Nam cần phải có được để thúc đẩy hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia lên những trình độ, giai đoạn phát triển cao hơn Cuối cùng, một số hàm ý được đưa ra cho Việt Nam nhằm tập trung khắc phục các vấn đề được nhận diện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của các quốc gia ASEAN
Phạm vi nghiên cứu: Hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (vào và ra) của các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1980 - 2015
4 Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa được một khung cơ sở lý luận của mô hình
IDP về các giai đoạn phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài (hai dòng vào và ra) của quốc gia
Thứ hai, luận văn đã chỉ ra sự phù hợp của mô hình IDP trong trường hợp của
một số quốc gia ASEAN và lý giải các trường hợp quốc gia ASEAN không được giải thích bằng mô hình này Qua đó, luận văn phân tích sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia ASEAN đặt trong sự so sánh để thấy được sự khác biệt trong trình độ phát triển cũng như chỉ ra những điểm giống và khác của mô hình IDP trong lý thuyết và trong nghiên cứu thực chứng
Trang 14Thứ ba, luận văn đã chỉ ra sự phù hợp của mô hình IDP đối với trường hợp
của Việt Nam cũng như các đặc điểm phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam Việt Nam hiện đang ở giai đoạn II của quá trình phát triển theo
mô hình IDP - là một nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng (đầu tư vào nhiều hơn đầu tư ra) Luận văn đã nhận diện được một số hạn chế và điều kiện Việt Nam còn thiếu để có thể thúc đẩy nền kinh tế và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều lên các giai đoạn và trình độ phát triển cao hơn Từ đó, luận văn đưa ra một số hàm ý tập trung vào những vấn đề Việt Nam cần phải giải quyết về phía chính phủ (trình độ phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học
- công nghệ, chính sách hỗ trợ đầu tư, hội nhập khu vực) và doanh nghiệp (năng lực, khả năng cạnh tranh và chiến lược cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài)
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm bốn chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về các giai đoạn phát triển của đầu tư theo mô hình IDP
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu các giai đoạn phát triển đầu tư của các quốc gia ASEAN theo mô hình IDP
Chương 4 Hàm ý cho sự phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều của Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
CỦA ĐẦU TƯ THEO MÔ HÌNH IDP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiếp cận từ mô hình IDP
Trên thế giới đã có nhiều công trình ứng dụng mô hình IDP trong nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia Đối tượng nghiên cứu ban đầu là một quốc gia (Ấn Độ, Trung Quốc, Romania, Bồ Đào Nha, Phần Lan…) sau đó được mở rộng ra một nhóm quốc gia (Trung Đông và Bắc Phi, Trung và Đông Âu) Việc nghiên cứu sự phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhóm quốc gia được các tác giả thực hiện thông qua hai cách (1) coi tất cả các quốc gia trong nhóm như “một” quốc gia (sử dụng số liệu tổng hợp hoặc số liệu sẵn có của nhóm) để xem xét; và (2) phân cụm các quốc gia trong nhóm dựa trên sự tương đồng ở mức độ nhất định về trình độ phát triển kinh tế hoặc mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài để so sánh và đánh giá Xét về phương pháp nghiên cứu, các công trình tiếp cận từ mô hình IDP chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc kiểm định mô hình được đề xuất trong lý thuyết Ngoài ra, một vài công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, đối chiếu các đặc điểm phát triển của quốc gia với các đặc trưng trong từng giai đoạn IDP để đưa ra kết luận về sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia đó
Trong phạm vi khả năng của học viên, những công trình dưới đây được tổng thuật theo vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu IDP của các nhóm quốc gia
1.1.1.1 Nghiên cứu về nhóm các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi
Bài báo “Foreign Direct Investment and Development in MENA Countries”
(Divarci và cộng sự, 2005) nghiên cứu mô hình IDP trong trường hợp của từng quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA) và của toàn khu vực MENA nói chung
Trang 16Bài báo sử dụng phần mềm Stata 8 với số liệu lượng FDI và mức GDP hiện hành của 20 quốc gia MENA trong giai đoạn 1980 - 2003 từ cơ sở dữ liệu của UNCTAD Đầu tiên, nhóm tác giả phân tích hiệp phương sai để lựa chọn kỹ thuật ước lượng IDP cho từng quốc gia trong mẫu được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) Ước lượng IDP toàn khối MENA sử dụng số liệu tổng hợp Hai phương trình được sử dụng có dạng:
NOI = β0 + β1GDP + β2GDP2 + ε (1) NOI = β0 + β1GDP3 + β2GDP5 + ε (2) Theo quan điểm của nhóm tác giả, phương trình (2) nâng bậc của biến GDP ước lượng tốt hơn (1) đối với các quốc gia có tốc tăng trưởng IFDI nhanh hơn tốc
độ tăng trưởng GDP, thể hiện qua độ dốc của đồ thị lớn hơn Nhóm tác giả kỳ vọng giá trị của β1 âm và β2 dương để củng cố mối quan hệ giữa FDI và NOI của một số quốc gia (mối quan hệ được minh họa bằng đồ thị hình chữ U)
Kết quả nghiên cứu cho thấy lý thuyết IDP đúng trong trường hợp của các quốc gia Ai Cập, Oman, Quata, Sudan và Tunisia (giai đoạn II, NOI âm, OFDI < IFDI), Bahrain, Thổ Nhĩ Kỳ (giai đoạn III, NOI âm nhưng đã mức độ âm đã giảm)
và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (giai đoạn IV, NOI dương, OFDI > IFDI) Kết quả nghiên cứu toàn khối MENA cũng phù hợp với cách tiếp cận từ mô hình IDP trong việc xác định sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của khối đã đạt đến giai đoạn II (nhận đầu tư ròng)
Nhóm tác giả chỉ ra rằng, nhìn chung MENA vẫn là một khu vực thu hút IFDI
do tài nguyên thiên nhiên dồi dào và các chính sách thuận lợi được các chính phủ quốc gia thông qua (ví dụ như chính sách tư nhân hóa) Trong khi IFDI phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, OFDI với lượng thấp cho thấy sự thiếu hụt các lợi thế sở hữu của các doanh nghiệp nội địa (ownership advantages) Bản chất sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của Ai Cập, Quata và Tunisia ở giai đoạn II được nhóm tác giả cho rằng là sự phát triển tự nhiên các lợi thế O và L của các quốc gia này (lợi thế sở hữu của các doanh nghiệp nội địa được cải thiện) Bahrain và Thổ Nhĩ Kỳ đã chuyển sang giai đoạn III khi các lợi thế cạnh tranh ở thị trường nước
Trang 17ngoài và đặc biệt là ở các ngành truyền thống được cải thiện so với giai đoạn II Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đã có được những đặc điểm của một quốc gia ở giai đoạn IV (NOI dương, OFDI > IFDI), trở thành một quốc gia đầu tư ra nước ngoài ròng, có sự cải thiện của các lợi thế cạnh tranh trên thị trường nước ngoài
1.1.1.2 Nghiên cứu IDP của nhóm các quốc gia Trung và Đông Âu
Bài báo “FDI-assisted Development in the light of the Investment
Development Path Paradigm: Evidence from Central and Eastern European Countries” (Boudier-Bensebaa, 2008) nghiên cứu trường hợp của các quốc gia
Trung và Đông Âu (CEE) Tác giả sử dụng số liệu lượng FDI và GDP danh nghĩa,
số liệu về dân số từ các cơ sở dữ liệu UNCTAD, WB, IMF của 27 quốc gia CEE để ước lượng phương trình có dạng:
NOIPpc = α + β1GDPpc + β2GDPpc2 + μ Tuy nhiên do toàn bộ các quốc gia CEE không phải là một nhóm đồng nhất (về quy
mô, các nguồn lực sản xuất, quá trình ổn định kinh tế vĩ mô…), tác giả đã phân cụm các quốc gia thành 5 cụm sử dụng phương pháp phân tích phân cụm tích tụ liên kết thứ bậc Ward Kết quả kiểm định cho thấy sự phù hợp với lý thuyết IDP, chỉ ra rằng
sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia CEE nhìn chung ở giai đoạn I và II Nghiên cứu khẳng định các quốc gia CEE kém phát triển nhất có sự tương đồng với các quốc gia CEE phát triển hơn về trình độ phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng không có sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế
Bài báo “Foreign Direct Investment of Central and Eastern European
Countries and the Investment Development Path Revisited” (Gorynia và cộng sự,
2010) nghiên cứu trường hợp của 10 quốc gia Trung và Đông Âu (CEE10) trong giai đoạn 1990 - 2008 (hai thập kỷ các quốc gia này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ) Mục đích của nghiên cứu là quan sát và giải thích những đặc tính của quốc gia trong các giai đoạn IDP và liên hệ với
mô hình IDP theo lý thuyết Số liệu từ UNCTAD và Văn phòng thống kê trung ương Ba Lan được sử dụng để tính toán các chỉ số và mô tả dưới dạng biểu đồ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một nửa các quốc gia CEE10 đã tiến vào giai đoạn III
Trang 18trong khi nửa còn lại ở giai đoạn II hoặc đang tiếp cận dần với giai đoạn III Nhóm tác giả chỉ ra quá trình phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số quốc gia CEE10 có chịu tác động từ sự gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) (chuyển từ giai đoạn II sang giai đoạn III) và từ khủng hoảng kinh tế
Tác động của việc gia nhập EU đến quá trình phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia Trung Âu cũng được chính nhóm tác giả nhấn mạnh trong
bài báo “Investment Development Path of Central European Countries: A
Comparative Analysis” (Gorynia và cộng sự, 2010) đối với bốn quốc gia Trung Âu
(Cộng hòa Séc, Hungari, Ba Lan và Slovakia) Bên cạnh việc xem xét kỹ hơn bốn quốc gia, nghiên cứu khẳng định rằng tác động chính của sự gia nhập EU đã đẩy các quốc gia này tiến lại gần hơn giai đoạn III thông qua việc thúc đẩy OFDI Tuy nhiên, tác động này chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn, trên thực tế là không quá một năm (năm 2005) sau khi các quốc gia đã trở thành thành viên chính thức Thêm vào đó, tác động này xuất hiện với một xu thế đáng ngạc nhiên rằng tác động tích cực của việc gia nhập càng mạnh mẽ đối với một quốc gia phát triển thì tác động “ngược” xảy ra sau đó do sự tăng tốc độ tăng trưởng âm của NOI bình quân đầu người càng mạnh Hậu quả là các quốc gia này vẫn chỉ có thể nằm trong giai đoạn II mà không tiến vào giai đoạn III
Luận văn “Analysis of the Investment Development Path in the Central and
Eastern European Countries: Can they move further?” (Tomas, 2014) phân tích
con đường phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia CEE Số liệu được cập nhật đến năm 2012 cho phép tác giả kiểm tra tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008/09 lên giá trị thực chứng của mô hình IDP Tác giả phân cụm hai nhóm quốc gia theo trình độ phát triển để ước lượng phương trình có dạng:
NOIPpc = β0 + β1GDPpc + β2GDPpc2 + μ Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia CEE phù hợp với lý thuyết IDP; nhưng đối với các cụm thì
lý thuyết IDP phù hợp hơn với các quốc gia phát triển hơn Trái ngược với thời kỳ trước khủng hoảng, các quốc gia CEE đã không đạt được đến giai đoạn III; điều này
Trang 19có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng có thể đã kéo lùi sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các yếu tố xác định OFDI đối với nước chủ đầu tư trên các cấp độ doanh nghiệp (quy mô và thời gian hoạt động, khả năng sinh lợi nhuận, năng suất lao động, tài sản vô hình, nghiên cứu và phát triển, năng lực công nghệ) và cấp độ quốc gia (quy mô và nhu cầu thị trường, độ mở của đầu tư
và thương mại, rủi ro chính trị, hiệu suất thể chế, lãi suất, tỷ giá hối đoái, ổn định kinh tế vĩ mô, công nghệ, vốn nhân lực)
Bài báo “The Limitation of Investment Development Path Theory - European
Union Case” (Iacovoiu và Panait, 2014) nhấn mạnh vào tính ứng dụng của lý thuyết
IDP khi xem xét kết quả nghiên cứu thực chứng của mô hình Điểm đặc biệt là nhóm tác giả đã phân định các giai đoạn IDP của quốc gia dựa trên giá trị GDP bình quân đầu người, cụ thể: Giai đoạn I với mức dưới 2.500 USD; giai đoạn II với mức 2.500
- 10.000 USD; giai đoạn III với mức 10.000 - 25.000 USD; giai đoạn IV với mức 25.000 - 36.000 USD; giai đoạn V với mức trên 36.000 USD Nhóm tác giả nghiên cứu trường hợp 27 quốc gia EU, cho kết quả phù hợp với lý thuyết IDP
1.1.1.3 Nghiên cứu IDP của nhóm các quốc gia khác
Không chỉ xem xét IDP của nhóm quốc gia theo khu vực địa lí, các tác giả còn tiến hành nghiên cứu IDP đối với nhóm các quốc gia dựa trên các tiêu chí khác như nhóm các quốc gia mới phát triển hay nhóm các nước xuất khẩu dầu mỏ
Bài báo “The Investment Development Path of Newly Developed Countries”
(Jose và Mellina, 2005) nghiên cứu sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia mới phát triển, vốn là các quốc gia đạt đến giai đoạn IV theo lý thuyết IDP Nhóm tác giả cho rằng tiêu chí chính trong việc phân biệt các quốc gia ở giai đoạn
I, II, III là dòng IFDI; giai đoạn IV là dòng OFDI và giai đoạn V là NOI dao động quanh mức 0 (OFDI và IFDI đều ở mức cao) Với mục đích tập trung nghiên cứu giai đoạn IV, nhóm tác giả đưa ra một số giả thuyết: Các quốc gia ở giai đoạn IV có một sự tích lũy tài sản thâm dụng tri thức nhất định, khoảng trống về công nghệ có mối quan hệ với mức FDI và sự tăng trưởng mạnh OFDI là yếu tố khác biệt của giai đoạn IV Nhóm tác giả khẳng định các quốc gia này, trước đây là các nền kinh tế
Trang 20kém phát triển hơn trong những năm 1980, đã trải qua một quá trình chuyển đổi cơ cấu sâu sắc mà chính sự chuyển đổi này đã khuyến khích sự đa quốc gia hóa của các doanh nghiệp trong nước Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách: Chính phủ các quốc gia ở giai đoạn III cần nó một môi trường ưu đãi hơn cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; khi đạt đến giai đoạn IV, các doanh nghiệp cần có môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho một hệ thống công nghệ và khoa học hiệu quả
để có thể bắt kịp các doanh nghiệp của quốc gia ở giai đoạn V Chính phủ cần phải
có các chính sách ngắn hạn (giảm chi phí giao dịch trong hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ) và dài hạn (giáo dục, hiện đại hóa cơ sở vật chất) để nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khác với những nghiên cứu về IDP của các quốc gia phát triển và đang phát
triển, công trình “Investment development path in petroleum exporters” (Vavilov,
2007) nghiên cứu trường hợp của các nền kinh tế chuyển đổi giàu tài nguyên và nghèo tài nguyên nhằm giải thích sự khác biệt trong bản chất đặc tính của các nền kinh tế này Dựa trên phân tích ba lợi thế OLI, tác giả nhấn mạnh rằng tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia không phụ thuộc vào trình độ phát triển của quốc gia đó; quốc gia giàu tài nguyên được kỳ vọng nhận nhiều IFDI hơn các quốc gia có cùng trình độ phát triển, chủ yếu là ở các giai đoạn IDP đầu Thêm vào đó, các quốc gia giàu tài nguyên có điều kiện phát triển nền công nghiệp liên quan đến tài nguyên với công nghệ sẵn có, điều có thể được sử dụng hiệu quả thông qua OFDI Với số liệu từ UNCTAD và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) của các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới (13 quốc gia Trung và Đông Âu, 12 quốc gia Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập - bao gồm 5 nước xuất khẩu dầu mỏ chính là Nga, Kazakhstan, Turkmenistan, Azerbaijan, Uzbekistan và 7 quốc gia khác), tác giả sử dụng bốn mô hình ước lượng có dạng:
NOIt = αt + βtGDPcapt + γtGDPcapt2 + ξtNOIt = αt + βtGDPt + γtGDPt2 + ξtNOIt = αt + βtGDPt3cap + γtGDPcapt5+ ξtNOIt = αt + βtGDPt3 + γtGDPt5 + ξt
Trang 21Kết quả cho thấy hai dạng hàm bậc hai và đa thức đều có thể giải thích tốt trường hợp của các nền kinh tế chuyển đổi Tuy nhiên, mô hình IDP không cho thấy tầm quan trọng đáng kể đối với các quốc gia giàu tài nguyên (xuất khẩu nhiều dầu mỏ) như đối với các quốc gia nghèo tài nguyên Kết quả này cũng tương tự đối với những quốc gia sản xuất dầu mỏ lớn trên thế giới
Như đã đề cập, một số công trình nghiên cứu IDP của một nhóm quốc gia sử dụng cách thức phân cụm để tiến hành kiểm tra giá trị của mô hình Bài báo
“Testing IDP Hypothesis by Cluster Analysis: Which Countries in Which Stages?” (Yasar và cộng sự, 2015) kiểm tra giá trị của mô hình IDP thông qua phân tích phân cụm của hầu hết các quốc gia trên thế giới Sử dụng số liệu từ UNCTAD, WB (Ngân hàng thế giới) và mô hình ước lượng có dạng:
NOI = β0 + β1GDP + β2GDP2 + ε Nhóm tác giả đã tiến hành phân tích 108 quốc gia trong thời kỳ 1980 - 1989, 129 quốc gia trong thời kỳ 1990 - 1999, 123 quốc gia trong thời kỳ 2000 - 2005 và 135 quốc gia trong thời kỳ 1980 - 2005 Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự phù hợp của mô hình IDP trong việc xác định sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia trên thế giới Nghiên cứu cho ra một bảng nhận biết và danh mục cụm các quốc gia theo năm giai đoạn phát triển IDP trong từng thời kỳ nghiên cứu
1.1.2 Nghiên cứu IDP của các quốc gia ASEAN
Bài báo “Malaysia’s Investment Development Path” (Ramasamy, 1998) sử
dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong việc đánh giá các mô hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia dựa trên khung lý thuyết IDP Sau khi xem xét tình trạng IFDI của Malaysia từ góc độ lịch sử phát triển, tác giả phân tích OFDI của quốc gia này trong mối quan hệ với trình độ phát triển kinh tế Dựa trên phân tích số liệu và so sánh các đặc điểm phát triển FDI và GDP của quốc gia với các đặc trưng trong từng giai đoạn IDP, tác giả khẳng định Malaysia đã ở cuối giai đoạn III từ năm
1997 và đang ở bước chuyển giao vào giai đoạn IV Malaysia kỳ vọng nhận được FDI của các quốc gia ở các giai đoạn IDP cao hơn với mục đích chiến lược và của các quốc gia ở giai đoạn IDP thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị trường và tài sản
Trang 22chiến lược Tác giả nhấn mạnh rằng các nhà hoạch định chính sách của Malaysia cần phải lựa chọn kế hoạch một cách kỹ lưỡng để thu hút nhiều IFDI hơn Đây là một nghiên cứu cũ, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập khu vực ASEAN ngày nay nhưng
là một trong số rất ít các công trình nghiên cứu IDP của quốc gia ASEAN
Bài báo “FDI and Economic Growth: Causality for the EU and ASEAN”
(Moudatsou và Kyrkilis, 2011) có đề cập đến mô hình IDP như một lý thuyết giải thích mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế trong trường hợp của 16 quốc gia EU và 4 quốc gia ASEAN Nhóm tác giả nghiên cứu ba phương án (1) FDI được dẫn dắt bởi tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà đã thu hút FDI); (2) tăng trưởng kinh tế được dẫn dắt bởi FDI (FDI cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà); và (3) mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Kết quả thực nghiệm cho thấy phương án (1) đúng với trường hợp 16 quốc gia EU và 2 quốc gia ASEAN (Philipines và Singapore) Trong khi đó, 2 quốc gia ASEAN còn lại (Indonesia và Thái Lan) là minh họa cho phương án (3) Vì thế, nhóm tác giả khẳng định rằng mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào đặc trưng của từng quốc gia
Công trình “Testing IDP Hypothesis by Clustering Analysis: Which Countries
in Which Stages?” (Yasar và cộng sự, 2015) đã được đề cập ở trên là một nghiên cứu
tiến hành xác định vị thế đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lý thuyết IDP của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có các quốc gia ASEAN Tuy không tập trung vào bất
kỳ một quốc gia ASEAN cụ thể nhưng kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cũng đã giới thiệu các giai đoạn IDP của các quốc gia trong từng thời kỳ Cụ thể:
BẢNG 1.1 Xác định vị thế IDP của các quốc gia ASEAN
Trang 23 Quốc gia dịch chuyển lên giai đoạn IDP cao hơn so với thời kỳ trước
Quốc gia dịch chuyển ngược lại giai đoạn IDP thấp hơn so với thời kỳ trước Theo kết quả nêu trên, có thể nhận thấy trừ Brunei (không kiểm định), đa số các quốc gia ASEAN đều không nằm ở giai đoạn I, chứng tỏ các quốc gia này đều đã
có một lượng IFDI và OFDI nhất định Một số quốc gia phát triển đạt đến các giai đoạn cao như Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái Lan (giai đoạn
IV hoặc V) Các quốc gia Campuchia, Lào và Việt Nam phát triển ở giai đoạn IDP thấp hơn (giai đoạn II) Bên cạnh đó, việc thay đổi các giai đoạn IDP của các quốc gia trong từng thời kỳ cho thấy có sự dịch chuyển tiến lên và/hoặc lùi lại trên quỹ đạo IDP: Myanmar đã đạt đến giai đoạn III trong thời kỳ 1990 - 1999 nhưng lùi trở lại giai đoạn II trong thời kỳ 2000 - 2005; Singapore đã đạt đến giai đoạn V trong thời kỳ 1990 - 1999 và cũng lùi trở lại giai đoạn IV vào năm năm sau đó; Việt Nam cũng tương tự lùi lại giai đoạn II sau khi đạt được giai đoạn III giai đoạn 1990-1999 Điều này phù hợp với nhấn mạnh của Dunning rằng các quốc gia không chỉ tiến lên các giai đoạn cao hơn mà còn có thể lùi ngược trở lại các giai đoạn trước đó
Luận án “Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam vào Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào trong điều kiện hội nhập quốc tế” (Phùng Thanh Quang,
2016) đã ứng dụng mô hình IDP trong đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố vĩ
mô tới dòng vốn OFDI của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Lào Tác giả nhận định rằng, con đường phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có những đặc trưng
Trang 24khác biệt nên chỉ số GDP bình quân đầu người riêng nó không phải là một thước đo hoàn chỉnh Vì thế bên cạnh biến số GDP bình quân đầu người (PGDP), tác giả đã
bổ sung thêm các biến số khác (tỷ lệ chi khoa học công nghệ trên tổng chi ngân sách nhà nước RDSB - mô tả trình độ phát triển khoa học công nghệ; và IFDI) vào
mô hình để nghiên cứu dòng OFDI của Việt Nam sang Lào Sử dụng phương pháp OLS và số liệu từ Tổng cục thống kê, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học công nghệ, tác giả đã ước lượng mô hình có dạng:
E(OFDI/PGDPi,IFDIi,RDSBi) = β1 + β2PGDPi + β3IFDIi + β4RDSBi + β5PGDPi-2
+ β6IFDIi-2 + β7RDSBi-2Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mỗi 1 triệu USD IFDI vào Việt Nam sẽ làm tăng 0,0115 triệu USD OFDI của Việt Nam vào Lào (hiệu ứng tràn của IFDI) Tuy nhiên, tác động của tăng trưởng kinh tế (thông qua biến GDP bình quân đầu người) đến lượng vốn OFDI vào Lào của Việt Nam là không rõ ràng Nhìn chung, sự phát triển kinh tế của Việt Nam đã có tác động tích cực đến dòng vốn OFDI của Việt Nam vào Lào Thông qua phân tích một số yếu tố vĩ mô nêu trên, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách trong việc phát triển khoa học công nghệ và khuyến khích dòng vốn IFDI vào Việt Nam nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo ra sức cạnh tranh giúp các doanh nghiệp Việt Nam có đầy đủ các điều kiện để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang Lào
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Đa số các công trình ứng dụng mô hình IDP đối với quốc gia hoặc nhóm quốc gia sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích mối quan hệ giữa quá trình phát triển kinh tế và sự phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua ước lượng cơ bản có dạng NOI = α + β1GDP + β2GDP2 + μ có hoặc không có
sự điều chỉnh các biến theo dân số
Các kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều quốc gia và nhóm quốc gia có sự phát triển của hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với mô hình IDP, cho thấy tính ứng dụng của mô hình này trong nghiên cứu thực chứng Tuy nhiên, vì mô hình mang tính khái quát lý luận nên trong thực tiễn, quá trình phát triển hai dòng đầu tư
Trang 25trực tiếp nước ngoài của một vài quốc gia có sự khác biệt so với lý thuyết, mang tính đặc trưng của quốc gia Các kiểm định thực chứng cũng chỉ ra các hạn chế của
mô hình về biến số và dạng hàm ước lượng
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu IDP của các nhóm quốc gia, học viên nhận thấy rằng đã có không ít công trình nghiên cứu IDP của một số nhóm quốc gia trên thế giới (Trung Đông Bắc Phi, Trung và Đông Âu) nhằm đưa ra bức tranh tổng thể về sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn khu vực nói chung và của từng quốc gia trong khu vực đó nói riêng Những nghiên cứu này có giá trị về mặt chính sách khi chỉ ra thực trạng phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia và những điều kiện cần thiết để từ đó đề xuất chính sách thúc đẩy hoạt động này phát triển lên các giai đoạn cao hơn
Tuy nhiên, trong phạm vi hiểu biết của học viên, chưa có một công trình tương
tự đối với nhóm quốc gia ASEAN Mới chỉ có một công trình (Yasar và cộng sự, 2015) đã xác định được các giai đoạn IDP của từng quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1980 - 2005 cũng như chỉ ra có sự dịch chuyển giữa các giai đoạn nhưng không cung cấp kết quả ước lượng để mô tả giá trị quỹ đạo IDP của quá trình phát triển Sự phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia ASEAN không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nhưng tiếp cận nghiên cứu ứng dụng mô hình IDP thì cho đến nay mới chỉ có một công trình nghiên cứu định tính trong trường hợp của Malaysia (Ramasamy, 1998)
Nhận thấy khoảng trống nghiên cứu này, học viên sẽ tiến hành ứng dụng mô hình IDP để phân tích sự phát triển đầu tư của các quốc gia ASEAN Những điểm học viên kế thừa từ các nghiên cứu trước đây để áp dụng trong luận văn bao gồm phương pháp nghiên cứu định lượng (phương pháp phân tích phân cụm với kỹ thuật phân cụm tích tụ liên kết thứ bậc Ward), mô hình ước lượng dạng hàm bậc hai được Dunning đề xuất với hai biến số cơ bản NOI và GDP có sự điều chỉnh theo dân số Việc phân cụm các quốc gia dựa trên tiêu chí trình độ phát triển kinh tế và dòng FDI hai chiều cho phép học viên phân tích và so sánh giữa các quốc gia ASEAN để rút ra hàm ý cho Việt Nam
Trang 261.2 Cơ sở lý luận về các giai đoạn phát triển của đầu tư theo mô hình IDP
1.2.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải là một khái niệm mới trong lĩnh vực kinh tế quốc tế Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đầu tư trực tiếp nước ngoài là khoản đầu tư bao gồm một mối quan hệ dài hạn, phản ảnh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của chủ thể của một nền kinh tế đối với một doanh nghiệp ở tại một nền kinh tế khác Khái niệm này chỉ ra rằng chủ đầu
tư có sức ảnh hưởng lớn với việc kiểm soát và quản lý doanh nghiệp ở nước ngoài Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư được thực hiện để thu về lợi nhuận dài hạn thông qua hoạt động của doanh nghiệp ở bên ngoài nền kinh tế quốc gia của chủ đầu tư; trong đó, nhà đầu tư tìm kiếm sự kiểm soát và quản lý trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Từ hai định nghĩa trên, có thể thấy hai đặc điểm cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài là (1) sự di chuyển vốn qua biên giới, và (2) sự quản lý vốn và kiểm soát khoản đầu tư trực tiếp của chủ đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấu thành từ hai dòng di chuyển vốn đầu tư trực tiếp: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào (IFDI) và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) Cả hai dòng FDI này đều nắm giữ những vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển.Vì vậy, khi nghiên cứu sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia, cần phải xem xét cả hai dòng đầu tư vào và ra Trong phạm vi luận văn này, khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” được hiểu là đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều bao gồm cả hai dòng vốn vào và ra của nền kinh tế quốc gia
1.2.1.2 Một số lý thuyết kinh tế về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những đối tượng nghiên cứu cơ bản của kinh tế quốc tế Một số nhà kinh tế học dựa trên những cách tiếp cận khác nhau
đã khái quát quan điểm thành các lý thuyết kinh tế về FDI Tuy có nhiều cách phân
Trang 27nhóm các lý thuyết, cách thức phân nhóm lý thuyết phổ biến và có tính khái quát nhất là chia thành các lý thuyết kinh tế vi mô và vĩ mô
Nhóm lý thuyết kinh tế vi mô giải thích nguyên nhân tại sao một công ty xuyên quốc gia (TNC) tiến hành đầu tư ra nước ngoài (hay nguyên nhân hình thành hoạt động đầu tư quốc tế từ góc độ doanh nghiệp) Những lý thuyết này cho rằng đầu tư quốc tế (mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài) là kết quả của quá trình
sử dụng các lợi thế độc quyền của doanh nghiệp nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên quy
mô toàn cầu; hình thành do sự không hoàn hảo (thất bại) của thị trường cạnh tranh
mà chủ yếu là do cấu trúc độc quyền, dẫn đến việc TNC khai thác những lợi thế này
để mở rộng sản xuất quốc tế Một số lý thuyết tiêu biểu như lý thuyết tổ chức công nghiệp (theory of industrial organization), lý thuyết nội vi hóa (internalization theory), lý thuyết chu kỳ sản phẩm (theory of product life cycle)… Do tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp, nhóm lý thuyết này chỉ đề cập đến các lợi thế về vốn, công nghệ, sản phẩm, tri thức… mang tính chiến lược của doanh nghiệp mà không đề cập đến các yếu tố khác của quốc gia cũng có tác động lớn đến sự hình thành FDI Nhóm lý thuyết kinh tế vĩ mô giải thích hiện tượng di chuyển vốn ra nước ngoài do sự chênh lệch về hiệu quả của các yếu tố sản xuất Nhóm lý thuyết này
có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cận từ sự chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn (mô hình MacDougall - Kemp về luồng di chuyển vốn từ quốc gia có năng suất cận biên của vốn thấp sang quốc gia có năng suất cận biên của vốn cao); tiếp cận
từ tỷ xuất lợi nhuận giữa các quốc gia; tiếp cận từ sự phân tán rủi ro trong đầu tư (theory of risk diversification)… Phần lớn các lý thuyết này dựa trên mô hình thương mại cổ điển giữa hai quốc gia với hai yếu tố sản xuất (vốn và lao động); trong khi trong thực tiễn, hoạt động đầu tư của các TNC hiện nay có liên quan đến nhiều yếu tố khác (công nghệ, tri thức, kỹ năng…) của TNC và môi trường đầu tư giữa các quốc gia (điều kiện tự nhiên, chính trị, chính sách pháp luật, văn hóa - xã hội…) Không có nhiều lý thuyết về đầu tư quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cấp độ vĩ mô xem xét sự phát triển hoạt động đầu tư của quốc gia một cách toàn diện
Trang 28Thuyết chiết trung (eclectic paradigm) của nhà kinh tế học John H Dunning là một trường hợp lý thuyết kết hợp các yếu tố vi mô và vĩ mô trong mô hình OLI nghiên cứu các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Mô hình chiết trung bao gồm ba yếu tố: Lợi thế sở hữu và lợi thế nội vi hóa của doanh nghiệp, lợi thế vị trí địa lí của quốc gia Vì thế, thuyết chiết trung được công nhận là “khuôn khổ chung cho việc phân tích các hoạt động của các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế.” (Phùng Xuân Nhạ, 2013, trang 74) Một trong số những phát triển lý thuyết của thuyết chiết trung là lý thuyết về các giai đoạn phát triển của đầu tư (mô hình IDP) đã khái quát quá trình phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài
và sự thay đổi các giai đoạn phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia Một số lý thuyết mới về hoạt động quốc tế hóa sản xuất của TNC cũng giải thích hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là: Lý thuyết phân mảnh (đầu tư quốc tế
là một phương thức phân mảnh sản xuất, trong đó một số công đoạn được TNC di chuyển ra nước ngoài để giảm chi phí sản xuất), tiếp cận mạng công nghiệp (TNC thông qua các mối quan hệ của mạng lưới nước ngoài trong việc mở rộng toàn cầu, thâm nhập thị trường và/hoặc hội nhập quốc tế để vượt qua các bất lợi trong quá trình quốc tế hóa) (Phùng Xuân Nhạ, 2013)
1.2.2 Mô hình OLI các yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm về đầu tư quốc tế, Dunning đã hình thành
mô hình OLI (còn gọi là thuyết chiết trung) nhằm đưa ra cách giải thích đầy đủ (mang tính “chiết trung”) hơn về sự hình thành và phát triển của đầu tư quốc tế Theo nội dung mô hình OLI, một TNC sẽ tiến hành thâm nhập thị trường nước ngoài bằng FDI khi TNC có được đủ ba điều kiện:
Thứ nhất, lợi thế sở hữu O (ownership advantages): Bao gồm nhãn hiệu hàng
hóa, kỹ thuật sản xuất, kỹ năng kinh doanh, năng suất theo quy mô… Lợi thế O là những lợi thế cạnh tranh của TNC đang tìm cách tiến hành FDI Lợi thế O càng lớn thì TNC càng có xu hướng tiến hành sản xuất ở nước ngoài Trong nghiên cứu mới nhất của mình, Dunning phân loại lợi thế O thành lợi thế về quyền sở hữu và/hoặc tài sản vô hình, lợi thế chính phủ và tài sản bổ sung và các tài sản thể chế
Trang 29Thứ hai, lợi thế vị trí địa lí L (location advantages): Bao gồm sự sẵn có của
các nguyên vật liệu thô, mức lương thấp, các ưu đãi về thuế hoặc thuế quan Lợi thế
L là sự hấp dẫn của quốc gia hoặc khu vực đối với các hoạt động gia tăng giá trị của TNC Lợi thế L càng bất động về tài nguyên thiên nhiên hoặc tài sản nhân tạo mà TNC cần để kết hợp sử dụng với các lợi thế cạnh tranh của nó thì địa điểm càng hấp dẫn và TNC càng có xu hướng lựa chọn làm nơi sử dụng lợi thế O của nó
Thứ ba, lợi thế nội vi hóa I (internalization advantages): Bao gồm lợi thế riêng
khi TNC tự sản xuất thay vì sản xuất thông qua một thỏa thuận với bên ngoài như nhượng quyền hoặc liên doanh TNC có thể tổ chức khai thác các năng lực cốt lõi của nó Lợi ích ròng của việc nội vi hóa các thị trường hàng hóa trung gian xuyên biên giới càng lớn, TNC càng có xu hướng quyết định tự tham gia vào quá trình sản xuất ở nước ngoài hơn là thuê ngoài Bên cạnh đó, nội vi hóa các tài sản đảm bảo đối với một số tài sản vô hình của TNC vốn không dễ dàng chuyển giao hoặc trao đổi trên thị trường và tránh được sự sao chép
BẢNG 1.2 Các cách thức thâm nhập thị trường của TNC
Cách thức thâm nhập/Lợi thế Lợi thế O Lợi thế I Lợi thế L
Nguồn: Dunning, 1981
Theo Dunning, ba lợi thế nêu trên được chia thành hai nhóm: Yếu tố đẩy (lợi thế O và I) và yếu tố kéo (lợi thế L) Đây là những lợi thế có sự thay đổi theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của quốc gia Trong ba lợi thế, lợi thế L “có ý nghĩa quan trọng đối với nước chủ nhà trong việc thu hút FDI vì đây là yếu tố nằm trong tầm kiểm soát của nước chủ nhà.” (Phùng Xuân Nhạ, 2013, trang 74)
Bên cạnh ba lợi thế lý giải các điều kiện chính thúc đẩy TNC tiến hành đầu tư quốc tế, chiến lược đầu tư trực tiếp nước ngoài của các TNC còn có thể được giải thích bằng bốn động lực đầu tư trực tiếp nước ngoài (four seekings)
Trang 30Thứ nhất, tìm kiếm thị trường (market seeking): Liên quan đến việc củng cố
các thị trường nước ngoài, hỗ trợ các kênh thương mại và thiết lập các thị trường mới khi đã sẵn có tiếp cận với những nguồn nguyên vật liệu thô Đây là động lực phổ biến nhất đối với TNC đến từ các quốc gia đang phát triển và là đặc trưng của hoạt động quốc tế hóa trong giai đoạn phát triển ban đầu của TNC do có sự dễ dàng trong việc tiếp cận thị trường, các hiệu ứng tràn xuyên biên giới (cross-border spillovers) và các yếu tố tương đồng về thị trường Các thị trường tìm kiếm thường trong khu vực lân cận của nước chủ đầu tư đến từ các nền kinh tế đang phát triển
Thứ hai, tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên (natural resource seeking): Động lực
chính dẫn dắt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài này nhằm củng cố các nguồn cung dài hạn về tài nguyên thiên nhiên (dầu khí tự nhiên, khoáng sản…) Những TNC tìm kiếm tài nguyên là các doanh nghiệp hoạt động trong ngành sơ cấp hoặc từ các ngành khác có sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên Vì tầm quan trọng của việc đảm bảo nguồn cung tài nguyên thiên nhiên, đây là động lực chính của phần lớn TNC đến từ các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là từ các quốc gia nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên Địa điểm đầu tư không được cân nhắc dựa vào sự gần gũi, tương đồng địa lí mà bởi sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên
Thứ ba, tìm kiếm hiệu quả (efficiency seeking): Thường được thực hiện chủ
yếu bởi các TNC đến từ các quốc gia tương đối phát triển hơn, tập trung ở một số ngành công nghiệp (điện tử, dệt may…) TNC mở rộng các chuỗi giá trị sản xuất thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những quốc gia đang phát triển nơi có chi phí sản xuất thấp Động lực này tương đối không quan trọng đối với các TNC đến
từ các quốc gia đang phát triển Đầu tư tìm kiếm hiệu quả phụ thuộc vào bản chất của sản phẩm và hình thức sản xuất toàn cầu của TNC
Thứ tư, tìm kiếm tài sản chiến lược (strategic/created asset seeking): Đầu tư
trực tiếp nước ngoài tìm kiếm tài sản chiến lược nhằm tăng hoặc củng cố những lợi thế cạnh tranh sẵn có hoặc có được những lợi thế cạnh tranh mới (ví dụ như nhãn hiệu hoặc cơ sở hạ tầng sản xuất chiến lược) Động lực này tương đối thứ yếu đối với TNC từ quốc gia đang phát triển và các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm
Trang 31mục đích tìm kiếm tài sản chiến lược “thuần túy” không nhiều do yếu tố tiên quyết đối với TNC là nó phải có được những khả năng cao cấp để hấp thụ những tài sản chiến lược này Do phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài tìm kiếm tài sản chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao khả năng hấp thụ của TNC, rất hiếm khi động lực này là chính yếu đối với các TNC của các quốc gia đang phát triển
1.2.3 Mô hình IDP các giai đoạn phát triển đầu tư
1.2.3.1 Bản chất của mô hình IDP
Lý thuyết các giai đoạn phát triển của đầu tư (Investment development path - IDP) được đề xuất vào những năm 1980 bởi nhà kinh tế học John H Dunning IDP được chính Dunning đánh giá là “một trong số những ứng dụng đầu tiên của thuyết chiết trung.” (Dunning, 2001, trang 180) Lý thuyết này là hình thức động của thuyết chiết trung tĩnh
IDP trong các nghiên cứu nước ngoài có nhiều cách gọi: “model” (mô hình),
“hypothesis” (giả thuyết), “paradigm” (thuyết, trường phái, mô hình), “theory” (lý thuyết) hay “approach” (cách tiếp cận) Trong rất ít công trình nghiên cứu ứng dụng IDP tại Việt Nam, các tác giả gọi tên “mô hình IDP” (Nguyễn Hải Đăng, 2012 và Phùng Quang Thanh, 2016) và đây cũng là cách gọi tắt phổ biến
Tuy nhiên, cần phải làm rõ về bản chất của IDP Trong những nghiên cứu của mình, Dunning đã chỉ ra rằng IDP là “một cách tiếp cận động” (dynamic approach) (Dunning và Narula, 1981, trang 5) trong phạm vi thuyết chiết trung Yasar và cộng
sự (2015) cho rằng IDP “nổi lên” như một cách tiếp cận động không chỉ với thuyết chiết trung của Dunning mà còn là lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon Nhiều tác giả cũng quan niệm rằng bản chất mô hình IDP là một “cách tiếp cận lý thuyết” (theoretical approach) và từ góc độ các nhà nghiên cứu kinh tế học, các tác giả này
đã tiếp cận từ mô hình IDP để kiểm chứng giá trị và sự phù hợp của mô hình trong các nghiên cứu thực chứng nhiều trường hợp trên thực tế
Dựa trên các quan điểm tiếp cận của các tác giả và sự vận dụng IDP trong các công trình, học viên kế thừa quan điểm của Dunning: IDP là một cách tiếp cận mang tính lý thuyết, và có tên gọi ngắn gọn là “mô hình IDP”
Trang 321.2.3.2 Nội dung cơ bản của mô hình IDP
Mô hình IDP tìm kiếm mối quan hệ mang tính hệ thống giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (bao gồm cả OFDI và IFDI) với các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau của một quốc gia Trong đó, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ròng (NOI) của một quốc gia được tính bằng chênh lệch giữa OFDI và IFDI và GDP được sử dụng như một chỉ tiêu biểu hiện trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó
Các quốc gia có xu hướng trải qua năm giai đoạn khác nhau của sự phát triển kinh tế và các giai đoạn này có thể được phân loại theo xu hướng của quốc gia đó là nước đi đầu tư ròng và/hoặc nước nhận đầu tư ròng Về cơ bản, mô hình là sự mở rộng các điều kiện được Duning đưa ra về sự quốc tế hóa hoạt động của các TNC ở cấp độ vĩ mô để giải thích động thái đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia
Sự phát triển này được mô tả bằng sự dịch chuyển trên quỹ đạo IDP từ giai đoạn thấp tiến lên các giai đoạn cao hơn Tuy nhiên, Dunning cũng nhấn mạnh rằng, tất cả các quốc gia không phải đều trải qua cả năm giai đoạn Việc dịch chuyển dọc theo đường IDP khi trình độ phát triển của quốc gia thay đổi hàm ý rằng các quốc gia không chỉ tiến lên trên đường IDP mà còn có thể di chuyển lùi lại khi có sự suy giảm trình độ phát triển kinh tế Một số quốc gia có thể “nhảy cóc” bỏ qua một hoặc một số giai đoạn trong quá trình phát triển
Giả thuyết cơ bản là khi một quốc gia phát triển, cấu hình các lợi thế OLI của quốc gia đó thay đổi Đồng thời sự thay đổi các dòng FDI có sự tác động trở lại, thay đổi cấu trúc nền kinh tế của quốc gia Các điều kiện tạo ra sự thay đổi và tác động của chúng đến quỹ đạo phát triển của quốc gia là có thể xác định được Điều kiện tiên quyết để có thể áp dụng lý thuyết này là quốc gia đó phải hội nhập với các thị trường vốn toàn cầu
Nhằm lượng hóa mối quan hệ, Dunning đã sử dụng hàm ước lượng có dạng:
NOI = α + β1GDP + β2GDP2 + ε trong đó:
NOI: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ròng của quốc gia
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội của nền kinh tế
Trang 33GDP là biến giải thích duy nhất Do trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia bao gồm nhiều biến cấu trúc, Dunning sử dụng GDP (ban đầu là GNP) như là một chỉ tiêu đại diện Các biến có thể được điều chỉnh theo dân số (sử dụng các giá trị bình quân đầu người: NOIpc = α + β1GDPpc + β2GDPpc2 + ε) NOI được tính bằng cách lấy giá trị của OFDI trừ đi IFDI
HÌNH 1.1 Đồ thị IDP được đề xuất bởi Dunning
Nguồn: Dunning và Narula, 2001
Đây là tư tưởng cơ bản của lý thuyết được Dunning cũng như nhiều tác giả cho đến nay lựa chọn nghiên cứu nhằm mô hình hóa bản chất IDP của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, một số công trình có sự phát triển mô hình ước lượng bằng cách lựa chọn các hàm đa thức (bậc cao hơn bậc hai) hoặc bổ sung thêm một số biến cấu trúc khác Những thay đổi và bổ sung này tùy thuộc vào các mục đích nghiên cứu khác nhau của từng tác giả
1.2.3.3 Năm giai đoạn phát triển của đầu tư theo mô hình IDP
Các quốc gia có xu hướng trải qua năm giai đoạn phát triển từ khi là một nước nhận đầu tư ròng cho đến khi là một nước đi đầu tư ròng Ý tưởng ban đầu của Dunning là IDP chỉ bao gồm bốn giai đoạn phát triển, nhưng sau này đã được phát triển thêm giai đoạn thứ năm để có được sự điều chỉnh phù hợp hơn với thực tế phát triển của các quốc gia trên thế giới
Trang 34Mỗi giai đoạn mô tả đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ròng của quốc gia (giá trị âm/dương của NOI), đặc điểm cơ bản của OFDI và IFDI, lợi thế O và L, vai trò của chính phủ trong việc phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều
HÌNH 1.2 Đồ thị IDP được phát triển bởi Narula
Nguồn: Narula và Dunning, 2010
a) Giai đoạn I
Quốc gia ở giai đoạn I có mức NOI âm (OFDI < IFDI) hoặc bằng 0 do không
có OFDI, không có IFDI hoặc nếu có thì mức IFDI không đáng kể Vì vậy, đây là một nước nhận đầu tư ròng và trong thực tế là nước tiền công nghiệp hóa, kém phát triển nhất trên thế giới
Đối với các quốc gia có sự xuất hiện của IFDI, chủ yếu IFDI chảy vào các ngành sản xuất sơ cấp, các ngành hỗ trợ sản xuất hàng tiêu dùng giản đơn và các ngành thâm dụng lao động Mục đích của những khoản đầu tư này là tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên, do đó các nhà đầu tư thông thường sẽ xuất khẩu hàng hóa hoặc liên kết không góp vốn (không đầu tư trực tiếp) vào thị trường Một lượng vốn được nhập khẩu chủ yếu dưới hình thức viện trợ quốc tế để cải thiện cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà
Trang 35Lợi thế L của nước chủ nhà là rất hạn chế; chủ yếu là cơ sở hạ tầng không đầy
đủ, lực lượng lao động chất lượng thấp, thể chế về thương mại và luật pháp chưa phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, tồn tại một số bất ổn chính trị và/hoặc bất ổn kinh tế, trình độ khoa học - công nghệ thấp…
Lợi thế O của doanh nghiệp chưa phát triển đủ để tiến hành OFDI Đặc biệt các doanh nghiệp không có sự tích tụ về khoa học - công nghệ
Trong giai đoạn này, chính phủ cần có sự can thiệp ở mức độ nhất định trong việc nâng cấp nền kinh tế theo hai cách (1) cung cấp cơ sở hạ tầng cơ bản, nâng cấp vốn nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo và/hoặc (2) thi hành các chính sách kinh
tế - xã hội như bảo hộ nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu… để cải thiện lợi thế cạnh tranh của quốc gia
b) Giai đoạn II
Bước vào giai đoạn II, NOI giảm và vẫn giữ giá trị âm (OFDI < IFDI) nhưng
đã có dấu hiệu tăng (giảm mức âm) vào cuối giai đoạn IFDI bắt đầu tăng nhưng vẫn còn ở mức rất thấp, chủ yếu chảy vào các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, cơ sở
hạ tầng, các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu, các ngành thâm dụng lao động trình độ thấp và các ngành công nghiệp nhẹ OFDI tuy đã xuất hiện nhưng không đáng kể Quốc gia vẫn là một nước nhận đầu tư ròng
Các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành IFDI cũng như một số ít doanh nghiệp của nước chủ nhà tiến hành OFDI nhằm mục tiêu tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên
và tìm kiếm thị trường nhằm né tránh các rào cản thương mại vào các nước kém phát triển hơn Một vài doanh nghiệp lớn đầu tư sang các thị trường ở giai đoạn IDP cao hơn nhằm tìm kiếm thị trường hoặc tài sản chiến lược, nhưng còn rất hạn chế Lợi thế L của quốc gia có sự cải thiện Tăng trưởng kinh tế nhanh, thị trường nội địa mở rộng về quy mô và sức mua tương đương, hoạt động hiệu quả hơn tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nền kinh tế quốc gia đã mở cửa cho các nhà đầu tư Cơ sở hạ tầng được cải thiện tốt hơn về hệ thống giao thông và thông tin liên lạc Nguồn cung lao động giá rẻ dồi dào, được chính phủ tạo thuận lợi cho việc đào tạo và chuyển giao tri thức, công nghệ Thu nhập bình quân đầu người tăng
Trang 36Lợi thế O của doanh nghiệp gia tăng thông qua sự tích lũy kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong quá trình mở cửa thị trường Doanh nghiệp đã có được một vài lợi thế sở hữu hữu hình nhưng những lợi thế này không đủ để doanh nghiệp tiến hành OFDI Một số rất ít tập đoàn kinh tế lớn thực hiện OFDI tại các thị trường liền
kề về địa lí để tìm kiếm tài sản chiến lược Nếu chính sách thúc đẩy công nghệ của chính phủ có hiệu quả thì lợi thế sở hữu của doanh nghiệp sẽ được nâng cấp, ban đầu là trong các ngành phụ trợ để sản xuất được nhiều hơn những sản phẩm thâm dụng công nghệ và/hoặc tri thức; qua đó tăng khả năng đầu tư ra tìm kiếm thị trường hoặc tìm kiếm tài sản chiến lược về công nghệ Một số doanh nghiệp nhờ vào những lợi thế sở hữu sẵn có đã có thể tham gia vào các chuỗi sản xuất quốc tế của các TNC trên thế giới
Chính phủ đóng vai trò tác động đến FDI thông qua các yếu tổ đẩy như trợ cấp xuất khẩu, phát triển công nghệ, chú trọng phát triển giáo dục - đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển hệ thống giao thông vận tải và công nghệ thông tin Nhiều tác giả cho rằng, những đặc điểm của giai đoạn II là sự phát triển
tự nhiên các đặc điểm trong giai đoạn I
c) Giai đoạn III
NOI tăng dần mặc dù vẫn mang giá trị âm (OFDI < IFDI) Lượng IFDI tăng nhưng tốc độ tăng trưởng bắt đầu giảm do thị trường nội địa mở rộng hơn đã làm giảm lợi thế cạnh tranh trong các ngành thâm dụng lao động OFDI tăng đáng kể về lượng và tốc độ tăng trưởng Trên thế giới, các quốc gia ở giai đoạn II là những nước được cho là “mới nổi” hoặc mới công nghiệp hóa, nhưng vẫn là những nước nhận đầu tư ròng IFDI được thực hiện nhằm mục đích tìm kiếm tài nguyên hoặc tìm kiếm thị trường các quốc gia ở giai đoạn IDP thấp hơn Một số FDI đã hướng đến các thị trường ở giai đoạn IDP cao hơn tìm kiếm hiệu quả và tìm kiếm tài sản chiến lược
Lợi thế L của nước chủ nhà phát triển khi nền kinh tế phát triển, các ngành thâm dụng công nghệ gia tăng Mức lương nội địa tăng làm giảm lợi thế cạnh tranh trong các ngành thâm dụng lao động Thu nhập bình quân tăng Tốc độ công nghiệp
Trang 37hóa tăng mạnh và quá trình chuyên môn hóa diễn ra rộng rãi hơn, làm tăng sức cạnh tranh của thị trường nội địa
Lợi thế O hữu hình trở nên ít quan trọng hơn khi các doanh nghiệp phát triển lợi thế cạnh tranh riêng tạo ra các lợi thế vô hình mới (sự đổi mới công nghệ, marketing…) và tài sản độc quyền (nhãn hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền…) cho phép doanh nghiệp cạnh tranh Doanh nghiệp bắt đầu tiến hành OFDI tìm kiếm hiệu quả và tìm kiếm tài sản chiến lược Việc chuyển giao tri thức cho phép doanh nghiệp gia tăng khả năng cạnh tranh, ít phụ thuộc hơn vào các chính sách nhưng vẫn cần đến sự hỗ trợ của chính phủ Một vài doanh nghiệp đạt đến tầm TNC, thiết lập nhiều chi nhánh ở các thị trường nước ngoài Do có sự thay đổi cấu hình OLI, doanh nghiệp đổi hướng từ sản xuất sử dụng lao động giá rẻ sang sản xuất hiệu quả
sử dụng vốn nhân lực và công nghệ, chuyển giao nhiều tài sản sở hữu của mình sang các thị trường quốc gia ở giai đoạn IDP cao hơn để tận dụng và nâng cao khả năng cạnh tranh
Chính phủ thúc đẩy đầu tư trong các ngành có lợi thế sở hữu lớn (thu hút đầu
tư vào các ngành có nhu cầu gia tăng lợi thế sở hữu, khuyến khích hiệu ứng tràn, khuyến khích đầu tư ra đối với các ngành có lợi thế địa lí thấp), tăng chi tiêu cho giáo dục và đào tạo nghề, tiếp tục hướng đến việc giảm thiểu các thất bại thị trường
và các ngành công nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thúc đẩy hội nhập và cạnh tranh của các doanh nghiệp
d) Giai đoạn IV
NOI bắt đầu vượt qua ngưỡng 0 và nhận giá trị dương (OFDI > IFDI) Quốc gia trở thành nước đầu tư ròng; tuy có sự gia tăng về lượng của cả IFDI và OFDI nhưng tốc độ tăng trưởng IFDI thấp hơn tốc độ tăng trưởng OFDI OFDI ở giai đoạn này chảy theo hai hướng (1) vào các quốc gia ở giai đoạn IDP thấp hơn nhằm tìm kiếm thị trường và tìm kiếm hiệu quả (từ lao động giá rẻ) để duy trì lợi thế cạnh tranh, đối phó với các rào cản thương mại; và (2) vào các quốc gia ở giai đoạn IDP cao hơn nhằm tìm kiếm tài sản chiến lược thông qua các hoạt động mua lại, sáp nhập, liên doanh chiến lược…
Trang 38Lợi thế L của nước chủ nhà chủ yếu dựa trên các tài sản như cấu trúc thị trường, lao động chất lượng cao, trình độ khoa học - công nghệ cao Chi phí sử dụng vốn thấp hơn chi phí sử dụng lao động đã tạo ra lợi thế trong các ngành thâm dụng vốn
Sự tăng trưởng thương mại của quốc gia kéo theo xu hướng gia tăng các TNC toàn cầu hóa thương mại và sản xuất Doanh nghiệp phát triển các lợi thế sở hữu sẵn
có và ngày càng trở nên cạnh tranh hơn Doanh nghiệp đã bắt đầu toàn cầu hóa, trở thành TNC và tham gia vào mở rộng thị trường quốc tế Đối với doanh nghiệp hiện nay thì lợi thế tài sản bổ sung trở nên quan trọng hơn so với lợi thế về quyền sở hữu và/hoặc các tài sản vô hình Doanh nghiệp tăng cường tiến hành OFDI do mất đi lợi thế cạnh tranh ở chính thị trường nước nhà và di chuyển sản xuất sang các thị trường khác
hính phủ tiếp tục vai trò giám sát và vận hành, giảm thiểu các thất bại thị trường và duy trì tính cạnh tranh của nền kinh tế; đặc biệt chú trọng tạo thuận lợi cho thị trường hoạt động hiệu quả bằng cách nâng cấp tài sản trong các ngành công nghiệp non trẻ và xóa bỏ các ngành công nghiệp hoạt động thất bại, kém hiệu quả Trên thực tế, các quốc gia ở giai đoạn IV là các nước phát triển ở trình độ cao được gọi bằng cái tên là “nhà đầu tư đi sau” (late investor country), là những quốc gia mới công nghệ hóa hoặc mới phát triển gần đây, sở hữu không nhiều tài sản tri thức hoặc tài sản vô hình thâm dụng công nghệ Các nghiên cứu trường hợp của Ai Len, Niudilân… chỉ ra rằng quốc gia có sự phát triển GDP và cấu trúc cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tốt vẫn đối mặt với mức FDI thấp dẫn đến NOI âm Đây không phải
là dấu hiệu tiêu cực mà là sự tăng trưởng theo số mũ về lượng OFDI trong những thời kỳ ngay sau đó
đ) Giai đoạn V
NOI dao động quanh mức 0, nhận giá trị lúc âm lúc dương phụ thuộc vào những biến động trong ngắn hạn của một số yếu tố của nền kinh tế (tỷ giá hối đoái, chu kỳ kinh tế…) và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp IFDI và OFDI đều tăng trưởng và thường xuyên ở mức cao Quốc gia trở thành nước đi đầu tư ròng
Trang 39Trên thực tế, các quốc gia đạt đến trình độ V là các nước công nghiệp hóa hiện đại, dẫn đầu về đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và là các quốc gia phát triển nhất thế giới (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh…) Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm mục đích tìm kiếm thị trường và tìm kiếm tài sản chiến lược (tri thức, kinh nghiệm) hoặc tìm kiếm hiệu quả (thông qua mua bán và sáp nhập) tại các thị trường ở giai đoạn thấp hơn Sản xuất có xu hướng chuyên môn hóa tại các quốc gia
ở giai đoạn IV và V
FDI trở nên không còn phụ thuộc vào lợi thế L mà phụ thuộc nhiều hơn vào chiến lược của các TNC Các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia phụ thuộc vào công nghệ và khả năng tổ chức công nghệ Thị trường các quốc gia ở giai đoạn V có nhiều sự tương đồng trong trình độ phát triển nên lợi thế L trở nên không còn quan trọng
Doanh nghiệp không ngừng toàn cầu hóa và tiến hành giao dịch trên phạm vi toàn cầu, dần dần làm mờ đi tính quốc tịch của nó Một doanh nghiệp càng quốc tế hóa thì tài sản của nó càng ít phụ thuộc vào các điều kiện tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của nước chủ đầu tư và phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng quản lý có hiệu quả các lợi thế sẵn có và khả năng gia tăng lợi nhuận Nhà đầu tư tiến hành chuyển đổi từ việc tối ưu hóa các lợi thế sở hữu sẵn có sang mua bán các lợi thế mới
Như đã đề cập, Dunning bổ sung thêm giai đoạn V để tương ứng với tình hình phát triển của các quốc gia Tại giai đoạn V, giá trị tuyệt đối của GDP không còn là chỉ số đáng tin cậy biểu thị cho trình độ phát triển của một quốc gia Thay vào đó, nhiều chỉ số khác được xem xét đến, ví dụ như xu hướng giao dịch quốc tế hóa thông qua các hoạt động của TNC Khi có sự tương đồng về cấu trúc lợi thế L, NOIP của các quốc gia trở nên tương tự và cân bằng nhau Giai đoạn này khó có sự phân biệt rõ ràng mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và trình độ phát triển kinh tế Mối quan hệ này trở nên ít tin cậy khi sự thành công trong việc củng cố vị thế đầu tư quốc gia phụ thuộc vào khả năng các doanh nghiệp của quốc gia đó trong quá trình điều hành và thực hiện các hoạt động sản xuất trên thị trường nước ngoài
Trang 401.2.3.4 Một số hạn chế của mô hình IDP
Lý thuyết IDP không tránh khỏi một số hạn chế trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm Những hạn chế lớn nhất được nhiều tác giả chỉ ra là:
a) Hạn chế trong các biến số của mô hình
Mô hình ban đầu đề xuất bởi Dunning chỉ sử dụng hai biến số là NOI và GDP,
có hoặc không có sự điều chỉnh theo dân số
Thứ nhất, biến số NOI không phải là một chỉ tiêu hoàn chỉnh để phân tích tác
động từ những sự thay đổi mang tính cấu trúc của FDI (Duran và Ubeda, 2001) Sự biến động giá trị của NOI trong từng giai đoạn cũng có điểm hạn chế: NOI nhận giá trị gần với 0 là đặc điểm của các quốc gia ở giai đoạn I (không có hoặc có rất ít IFDI) và giai đoạn V (có mức IFDI và OFDI rất cao) Một sự gia tăng trong NOI (OFDI tăng hoặc IFDI giảm), điều thường được cho là sự gia tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, có thể là do quá trình thôi đầu tư hoặc đầu tư ngược gây giảm IFDI, vốn là sự giảm giá trị của môi trường đầu tư quốc gia Vì thế, nhiều tác giả đề xuất phân tích riêng biệt IFDI và OFDI với số liệu tuyệt đối và tương đối bên cạnh NOI để đánh giá tốt hơn các luồng FDI
Thứ hai, biến số GDP (hoặc GDP bình quân đầu người) riêng nó là một chỉ
tiêu không đầy đủ để đo lường trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia Vì vậy, nhiều tác giả đã đề xuất thêm một số biến cấu trúc và phi cấu trúc vào mô hình để phản ánh không chỉ mức độ phát triển kinh tế mà còn là nét riêng biệt của quốc gia b) Hạn chế trong hàm ước lượng
Dunning sử dụng hàm ước lượng bậc hai trong mô tả định lượng mô hình IDP Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu thực chứng, một vài sự không tương đồng về thống kê (khuyết tật của mô hình ước lượng) được phát hiện như hàm bậc hai xuất hiện dưới các dạng khác nhau đối với các mẫu khác nhau và mô hình xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroscedasticity); đặc biệt trong trường hợp của các nước đang phát triển cho thấy hiện tượng này lớn hơn so với trường hợp của các nước phát triển Bên cạnh đó, nếu mẫu số liệu quá nhỏ, ước lượng có thể cho ra kết quả các hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê