1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng khẩu phần ăn hoàn chỉnh (total mix ration TMR) từ nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp sẵn có của địa phương có bổ sung men vi sinh vật trong chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại điện biên

73 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KHẨU PHẦN ĂN HOÀN CHỈNH TOTAL MIX RATION - TMR TỪ NGUYÊN LIỆU PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP SẴN CÓ CỦA

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KHẨU PHẦN ĂN HOÀN CHỈNH (TOTAL MIX RATION - TMR) TỪ NGUYÊN LIỆU PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG CÓ BỔ SUNG MEN VI SINH VẬT TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở NÔNG HỘ TẠI ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KHẨU PHẦN ĂN HOÀN CHỈNH (TOTAL MIX RATION - TMR) TỪ NGUYÊN LIỆU PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG CÓ BỔ SUNG MEN VI SINH VẬT TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở NÔNG HỘ TẠI ĐIỆN BIÊN

Ngành: Chăn nuôi

Mã số: 8.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Anh Khoa

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các

số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và các số liệu đã công bố trong luận văn này

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi xin cam đoan đều đã được cảm ơn đầy đủ

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 8 năm 2019

Học viên Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè, sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Mai Anh Khoa với cương vị giáo viên hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng đào tạo sau đại học - Đại học Thái Nguyên, Bộ phận quản lý sau đại học, khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Viện chăn nuôi đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin được dành những tình cảm, lời cảm ơn sâu sắc nhất tới toàn thể người thân trong gia đình, bạn bè thân thiết, đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 8 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Vị trí của con bò thịt trong hệ thống nông nghiệp nước ta 4

1.2 Lịch sử phát triển chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam 5

1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của bò 8

1.3.1 Chất khô và nhu cầu chất khô 8

1.3.2 Chất xơ và nhu cầu chất xơ 9

1.3.3 Chất bột đường và nhu cầu chất bột đường 10

1.3.4 Protein và nhu cầu protein 10

1.4 Đặc điểm sinh trưởng 10

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 11

1.6 Giới thiệu về chế phẩm AIG 15

1.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và các chế phẩm sinh học cho bò 16

1.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

1.7.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

Trang 6

2.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 21

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 21

2.2 Nội dung nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Nghiên cứu xác định thành phần dinh dưỡng, xây dựng hỗn hợp thân ngô, cỏ yến mạch, cỏ voi có bổ sung cám gạo và chế phẩm sinh học 22

2.3.2 Nghiên cứu khả năng tiêu hóa invitro của hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) cho bò thịt 22

2.3.3 Nghiên cứu thử nghiệm hỗn hợp hoàn chỉnh trên bò thịt giai đoạn 12 – 15 tháng tuổi 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Nghiên cứu xác định thành phần dinh dưỡng, xây dựng hỗn hợp thân ngô, cỏ yến mạch, cỏ voi có bổ sung cám gạo và chế phẩm sinh học 27

3.1.1 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn làm thí nghiệm 27

3.1.2 Công thức phối trộn các nguyên liệu thí nghiệm 28

3.1.3 Bổ sung chế phẩm sinh học AIG 30

3.2 Nghiên cứu khả năng tiêu hóa in vitro của hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) cho bò thịt 31

3.2.1 Tốc độ sinh khí in vitro của các loại thức ăn 31

3.2.2 Động thái sinh khí in vitro của các loại thức ăn 34

3.2.3 Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi 37

3.3 Nghiên cứu thử nghiệm hỗn hợp hoàn chỉnh trên bò thịt giai đoạn 12 – 15 tháng tuổi 39

3.3.1 Tăng khối lượng của bò thịt khi sử dụng TMR 39

3.3.2 Khả năng thu nhận VCK 47

3.3.3 Tiêu tốn VCK cho 1 kg tăng khối lượng 49

Trang 7

3.3.4 Tiêu tốn protein cho 1 kg tăng khối lượng 51

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Đề nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 23

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 25

Bảng 3.1 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn làm thí nghiệm 27

Bảng 3.2 Công thức phối trộn các nguyên liệu 29

Bảng 3.3 So sánh giá trị dinh dưỡng giữa TMR và TMR đã bổ sung AIG1% (%) 30

Bảng 3.4 Tốc độ sinh khí của các mẫu thức ăn (ml) 31

Bảng 3.5 Động thái sinh khí của mẫu thức ăn 35

Bảng 3.6 %OMD và năng lượng trao đổi ước tính tại thời điểm 24h 38 Bảng 3.7 Tăng khối lượng của bò thí nghiệm 40

Bảng 3.8 Khả năng thu nhận VCK của bò thí nghiệm 48

Bảng 3.9 Tiêu tốn VCK cho 1 kg tăng khối lượng (kg) 49

Bảng 3.10 Tiêu tốn protein cho 1 kg tăng khối lượng (gam) 51

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Lượng khí tích lũy trung bình khi lên men in vitro gas

production của các khẩu phần 31 Hình 3.2 Lượng khí sinh ra tích lũy tại thời điểm 3h và 24h của các

khẩu phần 33 Hình 3.3 Lượng khí tích lũy khi lên men in vitro gas production tại các

thời điểm khác nhau (ml) 34 Hình 3.4 Đặc điểm sinh khí khi lên men in vitro gas production của các

khẩu phần 36 Hình 3.5 Khối lượng bò của 2 khẩu phần qua các giai đoạn 43 Hình 3.6 Khả năng thu nhận VCK của bò thí nghiệm 48 Hình 3.7 Tiêu tốn VCK cho 1 kg tăng khối lượng qua các giai đoạn 50

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADF Xơ không tan trong dung môi axit

AIG Chế phẩm vi sinh bổ sung acid amin và các nhóm

dinh dưỡng thiết yếu cho vật nuôi

ME Năng lượng trao đổi

NDF Xơ không tan trong dung môi trung tính

NLTĐ Năng lượng trao đổi

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

VSV Vi sinh vật

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong vòng 10 năm qua, tốc độ tăng đàn bò thịt nước ta đạt trên 3% mỗi năm Tuy vậy bình quân số gia súc bao gồm cả trâu và bò trên đầu người vẫn còn rất thấp, khoảng 0,1 con/người Số lượng gia súc ít và khối lượng gia súc nhỏ nên sản lượng thịt trâu bò sản xuất mỗi năm tính trên đầu người cũng rất thấp, chỉ đạt 2,6kg thịt hơi Trong khi đó Úc 106,4kg, Argentina 76,9kg Canada 46,7kg, Mông Cổ 32,8kg Những năm gần đây nước ta nhập mỗi năm hàng chục ngàn tấn thịt bò từ Úc, Argentina, Mỹ và thịt trâu từ Ấn Độ Giá thịt bò nhập khẩu bán tại các siêu thị từ 150 ngàn đến 350 ngàn đ/kg Nhu cầu thịt bò chất lượng cao ngày càng gia tăng cùng với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế và mức thu nhập của người dân

So với ngành chăn nuôi bò sữa thì ngành chăn nuôi bò thịt nước ta phát triển chậm hơn Đến cuối năm 2006 cả nước có 1.620 trang trại chăn nuôi bò thịt quy mô từ 50 con đến trên 500 con Một số giống bò thịt thuần nhiệt đới như Brahman, Droughtmaster đã được nhập vào Việt Nam nuôi nhân thuần tại nhiều tỉnh trong cả nước Nhiều trang trại chăn nuôi bò thịt được đầu tư chuồng trại quy mô lớn, đúng kỹ thuật, hình thành đồng cỏ chất lượng cao để nuôi bò thịt giống thuần nhiệt đới và con lai với các giống bò thịt chuyên dụng nhiệt đới và ôn đới Chăn nuôi bò thịt theo hướng sản xuất hàng hóa đang hình thành ngày một rõ nét

Ở Việt Nam, nuôi dưỡng bò sữa, bò thịt vẫn theo phương thức cũ, nghĩa

là cho ăn riêng lẻ các loại thức ăn thô (chủ yếu là cỏ xanh) và các loại thức ăn tinh Với diện tích canh tác ngày càng thu hẹp, đất trồng cỏ bị hạn chế nên tình trạng thiếu cỏ xanh thường xảy ra, đặc biệt trong mùa khô Trong khi đó, một

số phụ phẩm cây trồng như thân ngô, ngọn mía, thân lạc…có thể sử dụng như một nguồn thức ăn thô cho bò thịt song do tính chất thu hoạch theo mùa vụ và

Trang 12

chưa có giải pháp dự trữ hợp lý nên khả năng sử dụng còn hạn chế Đề tài nhằm mục đích thử nghiệm sản xuất TMR cho bò thịt dựa trên nguồn phụ phẩm cây trồng để thay thế khẩu phần hiện tại với nguồn thức ăn thô chính là cỏ xanh

TMR là dạng hỗn hợp các loại thức ăn thô và thức ăn tinh được trộn lẫn với nhau theo một tỷ lệ được tính toán khoa học sao cho đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của gia súc Ở các nước có ngành chăn nuôi bò thịt tiên tiến, TMR đã được ứng dụng từ lâu Ưu điểm của TMR là gia súc không thể lựa chọn thức

ăn, tăng khả năng ăn vào, cải thiện hệ sinh thái dạ cỏ, từ đó tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn và cuối cùng là tăng khả năng sản xuất thịt của bò thịt Ở Việt Nam, thời gian gần đây quy mô và số lượng chăn nuôi phát triển, việc sử dụng TMR

là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu Đây là nhu cầu cần thiết đặt ra trong

nghiên cứu hiện nay, vì vậy đề tài: “Nghiên cứu xây dựng khẩu phần ăn hoàn

chỉnh (Total Mix Ration - TMR) từ nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp sẵn

có của địa phương có bổ sung men vi sinh vật trong chăn nuôi bò thịt ở nông

hộ tại Điện Biên” được tiến hành

2 Mục tiêu

- Xây dựng được hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh (TMR) từ nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp sẵn có của địa phương có bổ sung chế phẩm sinh học nhằm nâng cao khả năng tiêu hóa và sử dụng thức ăn của bò thịt

- Đánh giá được thành phần dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa thức ăn của hỗn hợp thức ăn tổng số (TMR) trong phòng thí nghiệm

- Xây dựng được các mô hình sản xuất và sử dụng TMR cho bò thịt từ nguồn sản phẩm và phụ phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Kết quả của đề tài sẽ góp phần làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu về

khẩu phần ăn hoàn chỉnh từ phụ phẩm nông nghiệp có bổ sung men vi sinh vật

cho bò thịt

Trang 13

- Kết quả của đề tài được ứng dụng trong chăn nuôi vỗ béo trâu bò thịt trong chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ quảng canh sang thâm canh sản xuất hàng hóa

- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo, làm tài liệu giảng dạy cho các cơ sở đào tạo, các cơ quan khuyến nông và bà con nông dân áp dụng

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vị trí của con bò thịt trong hệ thống nông nghiệp nước ta

Vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu với cây lúa nước là cây trồng chính,

vì thế vị trí con bò trong hệ thống nông nghiệp của nước ta cũng có vai trò rất khiêm tốn Trâu và bò được nuôi trong mỗi gia đình nông dân với mục đích trước hết là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như cày ruộng, lấy phân bón ruộng, sau đó mới sử dụng bò vào mục đích kéo xe, mà cũng chỉ một số ít nơi biết chế ra xe cho bò kéo Với mục đích cày ruộng nên trâu được nuôi nhiều ở vùng trũng, đất thịt nặng Bò được nuôi nhiều ở vùng trung du, ven biển đất cát nhẹ Nuôi trâu bò với phương thức chủ yếu là tận dụng nguồn thức ăn sẵn có

từ bãi cỏ tự nhiên và rơm rạ dự trữ cho mùa khan hiếm thức ăn Mùa đông ở miền Bắc và mùa khô ở miền Nam là thời gian bò bị thiếu hụt thức ăn trầm trọng và phải sống trong môi trường sống bất lợi như quá lạnh, quá nóng, bệnh dịch và thiếu nước Có những năm trâu bò đổ ngã lên tới trên 20% tổng đàn tại một số tỉnh vùng núi phía Bắc hay ở miền Trung Trong cuộc sống tự nhiên khắc nghiệt như vậy chỉ những con bò có khối lượng nhỏ mới có cơ hội tồn tại

vì chúng cần ít dinh dưỡng hơn cho duy trì sự sống Quá trình thích nghi và chọn lọc tự nhiên này đã hình thành nên giống trâu bò địa phương của ta nhỏ con, dễ nuôi, sinh ra để “cày ruộng”

Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp của nhà nước đã coi trâu bò là tư liệu sản xuất (như là máy cày vậy) Nhiều chính sách đã ban hành nhằm duy trì và phát triển đàn trâu bò

để tạo nguồn sức kéo cho nông nghiệp Việc giết mổ trâu bò là phạm pháp, những con trâu bò già không còn khả năng cày kéo khi đổ ngã muốn giết thịt cũng phải xin phép chính quyền địa phương Sự kiện giết mổ chia thịt trâu bò già thời đó là ngày vui hiếm hoi ở những vùng quê nghèo

Trang 15

Từ năm 1995, đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa, trâu bò cũng đang được chuyển dần từ mục đích cày kéo sang mục đích sản xuất thịt và sữa Mặc dầu vậy, một nước chủ yếu là nông nghiệp như nước

ta, với người nông dân, con trâu, con bò vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp với những lợi ích như sau:

- Tăng sản phẩm thịt, sữa cho xã hội, do vậy mà giảm nhập khẩu sữa bột, thịt đỏ (thịt trâu và bò) Tăng thu nhập từ bán bê giống, bò thịt cho người chăn nuôi

- Giải quyết sức kéo: kéo cày, kéo xe cho nhiều vùng chưa có điều kiện

cơ khí hóa

- Cung cấp nguồn phân bón hữu cơ cho trồng trọt

- Tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có, tận dụng được các phụ phế phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến như rơm rạ, thân cây ngô, hèm bia, vỏ quả dứa, ngọn và lá mía… và chuyển chúng thành thịt bò

- Chăn nuôi bò còn góp phần giải quyết việc làm cho lao động phụ hay lao động nhàn rỗi trong gia đình

1.2 Lịch sử phát triển chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam

Xét ở góc độ con giống, phương thức và mục đích chăn nuôi, thị trường sản phẩm, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có một nền chăn nuôi bò thịt đúng nghĩa Nghiên cứu lai tạo bò thịt ở nước ta có thể còn sớm hơn so với nghiên cứu lai tạo bò sữa, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã có một bước tiến dài

so với ngành chăn nuôi bò thịt

Nghiên cứu lai tạo bò thịt ở Việt Nam bắt đầu cách nay hơn 80 năm Mốc đáng ghi nhận nhất là vào những năm 20 của thế kỉ 20 giống bò Sind đỏ (Red Sindhi) được nhập vào nước ta từ Pakistan nuôi tại một số đồn điền của người Pháp, với mục đích lấy sữa và thịt phục vụ cho tầng lớp quý tộc người Pháp hồi

đó đang đô hộ Việt Nam Từ các đồn điền này chúng phát tán ra vùng xung quanh tạo ra con lai gọi là lai Sind Bò có màu sắc đẹp vóc dáng to cao, có u

Trang 16

yếm trông rất chắc chắn Ở phía Nam các giống bò u khác cũng lần lượt du nhập vào Việt Nam dưới nhiều hình thức như bò Ongle, Brahman… Con lai giữa

bò Vàng với các giống bò có u trên hơn hẳn bò Vàng về các tính trạng sản xuất chính Tầm vóc và hình dáng rất thích hợp cho kéo xe

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1980 ta nhập từ Pakistan hàng trăm

bò Sind và Sahiwal về nuôi Những con đực xuất sắc thuần chủng của giống này sinh ra ở Việt Nam được chọn lọc để sản xuất tinh tại Moncada (Ba Vì) Những con đực còn lại được nuôi làm đực giống nhảy trực tiếp bò Vàng Đến cuối những năm 1980 đàn bò lai đã lên đến khoảng 10% tổng đàn, tập trung chính ở những vùng ven đô, ven thị, nơi có nguồn thức ăn và người dân có truyền thống nuôi bò kéo xe lâu đời

Từ năm 1994-1998 chương trình Sind hóa (u hóa) đàn bò Vàng được tài trợ của Ngân hàng Thế giới đã nâng tỷ lệ bò lai lên 25% tổng đàn Phía Bắc, các tỉnh như Hà Tây, Hà Nội có đàn bò lai Sind chất lượng khá ở miền Trung, một số tỉnh có đàn bò lai Zebu chất lượng khá như Phú Yên, Bình Định Đàn

bò lai Sind chất lượng cao đã hình thành và tập trung nhiều ở Tây Ninh, Long

An, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tây Đây là nguồn nguyên liệu quý giá để lai tạo bò Việt Nam theo hướng thịt và sữa

Đến năm 1975 chúng ta bắt đầu có những nghiên cứu lai tạo bò địa phương (bò Vàng và bò lai Zebu) với bò chuyên dụng thịt Từ 1975-1978 thí nghiệm tiến hành tại nông trường Đồng Giao (Ninh Bình) Từ năm 1982-1985 thí nghiệm tiến hành tại nông trường Hà Tam (Gia Lai) Đã sử dụng tinh của những giống bò thịt ôn đới nổi tiếng như Charolais, Hereford, Limousin, Santa Gertrudis phối cho đàn cái lai Sind Trong điều kiện chăn nuôi còn khó khăn nhưng con lai F1 đều thể hiện khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với điều kiện nóng ẩm và thức ăn nghèo dinh dưỡng

Cuối những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỉ trước chúng ta có hẳn một chương trình cấp nhà nước do Viện Chăn nuôi chủ trì, có sự hỗ trợ của

Trang 17

dự án quốc tế UNDP-VIE 86/008 Tinh của nhiều giống bò chuyên dụng thịt

đã được đưa vào thử nghiệm lai tạo với bò cái lai Sind Các giống bò thịt ôn đới gồm có Charolais, Limousin, Hereford, Simmental, Santa Gertrudis Địa bàn lai tạo tiến hành chủ yếu ở miền Trung (Bình Định, Phú Yên, Gia Lai) Kết quả cho thấy con lai F1 Charolais được ưa chuộng hơn vì lớn nhanh, ngọai hình

và màu sắc đẹp Con lai F1 Simmental, Santa Gertrudis và Hereford ít được ưa chuộng vì màu lông có đốm trắng hoặc vằn như hổ, niêm mạc mắt và gương mũi có màu nâu đỏ hoặc hoe đỏ Những kết quả trên được trình bày chi tiết trong cuốn “Nuôi bò thịt ở Việt Nam, những kết quả nghiên cứu bước đầu” của

GS Lê Viết Ly, nhà xuất bản Nông nghiệp năm 1995

Từ năm 1995 đến năm 2000, nhiều đơn vị nghiên cứu đã quan tâm lai tạo bò thịt Một số giống bò kiêm dụng mới cũng được lai thăm dò như Tarentaise, Abondance (Đinh Văn Cải, Vương Ngọc Long, 1997) Chương trình hợp tác với ACIAR- Úc (Viện Chăn nuôi, 1997-2000) đã nghiên cứu sử dụng tinh giống bò thịt nhiệt đới của úc như Red Brahman, Droughtmaster, Red Belmon và Red Bragus phối cho bò cái địa phương để tạo con lai F1 Tại Madrak (Daklak) con lai F1 lúc 400 ngày tuổi của giống Droughtmaster đạt 140kg, giống Red Belmon 148kg và giống Red Brahman 124kg Tại Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) con lai F1 lúc 200 ngày tuổi giống Droughtmaster đạt 147kg, Red Brahman đạt 134kg, Red Bragus 134kg so với bò lai Sind là 106kg Con lai F1 của giống Red Brahman và Droughtmaster có màu từ vàng nhạt đến màu cam nhạt rất phù hợp với thị hiếu người chăn nuôi

Từ năm 2000 đến nay Nhà nước có dự án phát triển bò thịt triển khai trên quy mô 15 tỉnh của cả nước Nội dung chính của dự án là tiếp tục duy trì việc Sind hóa đàn bò Vàng Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho một số đơn vị nghiên cứu, sản xuất nuôi bò thịt thuần giống nhiệt đới và sản xuất tinh bò thịt

Đầu năm 2007 trong Hội nghị tổng kết chăn nuôi trang trại tại Bình Dương cho biết, cả nước có 1620 trang trại bò thịt, chủ yếu là trang trại nhỏ

Trang 18

Quy mô tổng đàn dưới 100 con chiếm 1269 trang trại, chỉ có 28 trang tại có quy mô tổng đàn từ 200 con trở lên (Báo cáo của Cục Chăn nuôi tháng 3-2007) Giống bò nuôi thịt trong trang trại và ngoài dân là bò ta Vàng, bò lai Sind chiếm

tỷ lệ trên 60%, chỉ có một tỷ lệ nhỏ giống thuần Brahman, Droughtmaster, còn lại là giống Lai Sind và một số con lai giữa bò thịt với bò địa phương Không

có trại nào nuôi bò thịt thuần giống cao sản ôn đới như Charolais, Hereford So với các ngành chăn nuôi khác như gia cầm, lợn, bò sữa thì ngành chăn nuôi bò thịt đang ở trình độ thấp hơn đáng kể

Để có một nền chăn nuôi bò thịt theo đúng nghĩa cần phải có sự thay đổi toàn diện từ con giống, phương thức nuôi dưỡng, đến hình thức tổ chức sản xuất hợp lí và gắn với thị trường tiêu thụ phù hợp

Trong khi chuyển dần đến một ngành sản xuất thịt bò chất lượng cao như vậy, quá trình sản xuất thịt bò cung cấp cho nhu cầu nội địa như đã hình thành

và tồn tại từ trước đến nay vẫn còn giữ một vai trò quan trọng và cần được từng bước nâng cao

Trong vòng 5 năm trở lại đây, số trang trại nuôi bò thịt tăng nhanh Nhiều

hô nông dân đã đầu tư nuôi bò lai Sind sinh sản để lai tạo bò thịt, bán bê giống,

bò thịt Nhiều trang trại đã đầu tư nuôi bò sinh sản với quy mô lớn cũng với mục đích bán bê giống và bò thịt Giá bò cái tơ giống lai Sind tại thời điểm

2005 khoảng 50 ngàn đ/kg khối lượng sống Nhà nước với các chương trình Sind hóa bò Vàng, các dự án phát triển nông thôn về phát triển chăn nuôi bò sinh sản bò thịt trong những năm gần đây là những dấu hiệu khởi đầu cần thiết

để phát triển một ngành chăn nuôi bò thịt chất lượng cao trong tương lai

1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của bò

1.3.1 Chất khô và nhu cầu chất khô

Vật chất khô của thức ăn có vai trò quan trọng không những chúng chứa đựng các chất dinh dưỡng của thức ăn mà còn duy trì sinh lý bình thường của quá trình tiêu hóa dạ cỏ Khả năng ăn vào lượng vật chất khô thức ăn của bò

Trang 19

phụ thuộc vào: Hàm lượng chất dinh dưỡng của thức ăn trong chất khô; hàm lượng chất khô của thức ăn; năng suất của con vật và khối lượng cơ thể

Dung tích dạ cỏ có hạn và thời gian thức ăn lưu lại ở dạ cỏ của mỗi loại thức ăn cũng khác nhau nên lượng chất khô thức ăn bò thu nhận trong ngày có giới hạn Ước tính khoảng 3% khối lượng cơ thể

Hàm lượng chất khô thấp, chất lượng thức ăn kém là nguyên nhân chính cản trở chất khô ăn vào và không thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng ở bò cao sản

Nhu cầu chất khô của bò thịt trong một ngày đêm bằng 2,5- 3,5% khối lượng cơ thể (tùy thuộc bò mẹ nuôi con hay bò tơ đang lớn) Thí dụ bò mẹ nuôi con tiết sữa 5 kg/ngày, khối lượng 300kg, nhu cầu vật chất khô bằng 3% khối lượng cơ thể, vậy số kg vật chất khô cần là:

300kg x 3/100 = 9 kg/ngày

Mùa mưa bò chỉ ăn cỏ non thì thường là thiếu chất khô, ngay cả khi chúng được ăn tự do đến no Thức ăn tinh và rơm có hàm lượng chất khô cao

vì thế được cho ăn kèm với cỏ xanh non

1.3.2 Chất xơ và nhu cầu chất xơ

Chất xơ được tiêu hóa nhờ vi sinh vật trong dạ cỏ cho ra các chất dinh dưỡng (các axit béo bay hơi) cho vật chủ và cho vi sinh vật phát triển Chất xơ cung cấp khoảng 60% nhu cầu năng lượng cho con vật Khi thiếu chất xơ (hàm lượng chất xơ thấp hơn 13% chất khô khẩu phần) sẽ sinh ra rối loạn tiêu hóa Khi hàm lượng xơ cao, khẩu phần sẽ thiếu năng lượng, thức ăn khẩu phần có tiêu hóa kém Vì vậy tỷ lệ chất xơ cần chiếm khoảng 17- 25% chất khô khẩu phần Tỷ lệ ADF không thấp hơn 21% chất khô khẩu phần Yêu cầu lượng xơ tối thiểu cho bò trưởng thành khoảng 2kg/con/ngày, tương đương với 25 kg cỏ tươi hoặc 6 kg rơm khô (tùy hàm lượng xơ trong cỏ và rơm)

Chất xơ có nhiều trong rơm, cỏ khô, thân lá cây già

Trang 20

1.3.3 Chất bột đường và nhu cầu chất bột đường

Chất bột đường gồm 2 thành phần chính là tinh bột và đường Chất bột đường được vi sinh vật phân giải nhanh trong dạ cỏ thành chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cho vật chủ và nguyên liệu cho vi sinh vật phát triển Hàm lượng chất bột đường chiếm khoảng 50-60% chất khô khẩu phần bò Thiếu nó thì khẩu phần thiếu năng lượng, tăng khối lượng của bò giảm và giảm sản lượng sữa Khi dư chất bột đường (khi ăn nhiều thức ăn tinh giàu chất bột đường) sẽ sinh rối loạn tiêu hóa, giảm khả năng tiêu hóa xơ, tăng lượng axit dạ cỏ dẫn đến bệnh (sản phẩm phân giải bột đường chủ yếu là axit lactic)

Thức ăn tinh, hạt ngũ cốc, rỉ mật giàu chất bột đường

1.3.4 Protein và nhu cầu protein

Protein là chất dinh dưỡng thiết yếu đối với bò Thiếu protein sẽ dẫn đến hậu quả sau:

Giảm sản lượng sữa Giảm khối lượng ở bò tơ Khả năng ăn vào giảm (khi protein thấp dưới 7% chất khô khẩu phần), ảnh hưởng đến lên giống và tỷ

lệ đậu thai ở bò cái

Giảm sức đề kháng đối với bệnh tật Bê con sinh ra có trọng lượng thấp Nhu cầu protein trong khẩu phần của bò thịt tùy thuộc vào giai đoạn sinh lý Bê con nhu cầu protein cao hơn bò tơ Bò mẹ nuôi con cần nhiều protein hơn so với bò cạn sữa Trung bình nhu cầu protein thô từ 13-15% chất khô khẩu phần

Protein có nhiều trong bột cá, khô dầu, hèm bia, xác đậu nành, cây họ đậu

1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Quá trình sinh trưởng phát triển của đàn bò vàng ở các địa phương là gần giống nhau Bê ở 3 tháng đầu tăng khối lượng nhanh, tháng thứ nhất đạt 390;

433 g/ngày, hai tháng tiếp theo khả năng tăng khối lượng giảm, tháng thứ ba chỉ đạt 321 và 338g/ngày

Trang 21

Từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 sự tăng trọng của bê đã giảm, điều này phù hợp với thực tế vì lượng sữa mẹ ngày càng giảm, trong lúc nguồn đinh dưỡng dựa hẳn vào tự nhiên, bê con lại đang chuyển dần từ chế độ tiêu hoá dạng men sang tiêu hoá dạng vi sinh vật dạ cỏ

Sau 6 tháng tuổi khối lượng của bê lại tăng dần và đến 60 tháng tuổi khối lượng bò tăng không đáng kể và ồn định Khối lượng tuyệt đối lúc này của bò đực là 237 - 3,14 kg, bò cái 196,39 - 1,62 kg

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

Khi nghiên cứu về quá trình sinh trưởng của vật nuôi, người ta thấy quá trình này chịu sự tác động của hai yếu tố chính đó là:

- Đặc điểm di truyền của giống

- Môi trường nuôi dưỡng và chọn lọc giống

Theo nhận xét của Ewald Sasimonski (1987) khối lượng của động vật phụ thuộc vào bản chất di truyền của loài, giống, tuổi, phụ thuộc vào tính biệt, yêu cầu thức ăn và thời tiết khí hậu

Yếu tố ảnh hưởng đầu tiên, chủ yếu trực tiếp tới khả năng sinh trưởng của con vật là yếu tố di truyền Thực tế cho thấy rằng: Các giống bò khác nhau

có khả năng sinh trưởng khác nhau Những giống bò thịt như: Hereford, Santagertrudis có tốc độ sinh trưởng nhanh, đạt 1.000 - 1.200 g/ngày Trong khi đó các giống kiêm dụng thịt, sữa như Zebu, Red Sindhi, Browrn Swiss chỉ đạt tăng trọng 600 – 800 gam/ngày

Khi so sánh giữa bò Russian Black Pied (RBP) với bò lai Holstein Friesian (HF + RBP), các tác giả Ertuer N.M; Koltosova I.Yu (1984) đã đánh giá: bò lai (HF + RBP) đã nặng hơn rõ rệt so với bò RBP ở 3,6,12 và 18 tháng tuổi Sự khác nhau trung bình là 11,2; 14,3; 17,5 và 21,6 kg

So sánh năng suất sinh trưởng của các giống thuần Charolais, Holstein Friesian, Mentbeliard; Aberdeen - Angus với con lai giữa bò cái Adma với chúng, Saint Martin G, Mesine O và cộng sự (1991) đã thấy có sự khác nhau

Trang 22

giữa giống thuần và giống lai, giữa con đực và con cái Khối lượng sơ sinh là 24,8±0,6 và 30,4±1,1kg đối với con đực 23,2±0,6 và 30,9±0,09 kg ở con cái Tăng khối lượng gam/ngày là 470±22 và 663±176 gam ở con đực; 453±18 và 669±44 gam ở con cái

So sánh khả năng sinh trưởng của bò F1 khi cho bò lai Zebu với bò Brown Swiss, Charolais, Chianina, Indobrazinlian, Limousine, Simmental dưới các điều kiện, quản lý thay đổi, các tác giả Montano M, Martiner G, Reynoso (1990) đã cho biết: Sinh trưởng của bò chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố Bò lai giữa Charolais và Chianina có khối lượng sơ sinh cao hơn 4% so với những con lai khác

Dashdamirov K.SH (1991) khi nghiên cứu bò đực Aberdeen Angus (AA), F1 Cuban Zebu (CZ) x (AA)và F2 CZ x AA đã thu được kết quả tương ứng là: Khối lượng sơ sinh trung bình là 29,9; 31,3 và 30,0 kg Khối lượng 6 tháng tuổi là 207,9; 281,6 và 293,8 kg Khối lượng 18 tháng tuổi là 405; 446,2

và 451,2kg Như vậy giữa các nhóm có sự sai khác rõ rệt

Sung Y.Y, Wang K.C và cộng sự (1988) nghiên cứu về năng suất của các giống bò Red Sindhi (RS) Santa Gertrudis (SG) và con lai của chúng với

bò Taiwan Yellow cho thấy: Khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa và khối lượng lúc 1 tuổi ở bò SG (27,6; 130,7 và 177,7kg) cao hơn rõ rệt so với những con bò khác Tốc độ sinh trưởng của bò Red Sindhi nói chung là thấp

Planas T (1983) khi nghiên cứu về năng suất sinh trưởng của 1.300 bê Zebu sinh ở Cu Ba vào những năm 1978-1980 đã cho biết: Hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh 3, 6, 9 và 12 tháng tuổi tương ứng là: 0,44±0,14; 0,16±0,07; 0,16±0,06; 0,11±0,25 và 0,16±0,06

Kentamies H (1983) đã tính được hệ số di truyền về tốc độ tăng trọng/ngày của bò Finnish Ayrsline và bò Finnish Friesian tương ứng là: 0,39±0,1 và 0,77±0,25

Trang 23

Theo Abasa K.P, Wilcox C.J và Oson T.A (1989) khi nghiên cứu trên 1.401 bò Gobra thì hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa,

độ dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh trưởng

Qua nghiên cứu thực tế cho thấy bò ở vùng ôn đới sinh trưởng, phát triển tốt hơn ở vùng nhiệt đới

Theo kết quả nghiên cứu của Johnson (1958-1961) về khả năng tăng trọng của bò cho thấy: ở vùng khí hậu nóng bò sinh trưởng chậm hơn so với bò

ở vùng ôn đới có nhiệt độ trung bình 10P 0 PC

Kết quả nghiên cứu tương tự, khi nuôi bò đực Hereford Angus trong điều kiện nóng ở Imperian valley (Mendel 1971, Johnson H.D, Roman Ponce H, trích dẫn, 1994) Strees nóng làm giảm sinh nhiệt nội sinh, giảm thu nhận thức

ăn cũng như đòi hỏi tăng sinh nhiệt và thay đổi tình trạng Hormore, giảm năng lực đạt được của bò đối với khả năng di truyền của chúng về mặt sinh trưởng

Nhiệt độ môi trường cao luôn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của bào thai Những bò cái chửa trong điều kiện đó đã đẻ bê có khối lượng sơ sinh nhỏ hơn rõ rệt (Johnson H.D trích dẫn 1994)

Chu kỳ chiếu sáng cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới tốc độ sinh trưởng của

Trang 24

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của bò tơ Boule, Zebu, Adama và Boule x Adama, các tác giả Poivery F.P Menissien F và cộng sự (1988) đã đánh giá sinh trưởng của bò trên 3 - 4 tháng tuổi phụ thuộc vào tính chất mùa vụ

Khi nghiên cứu về mùa vụ trên bò cái Gobra Zebu, tác giả Abassa K.P (1987) đã nhận xét : Mùa vụ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh sản của bò và khối lượng sơ sinh cũng như mức độ tăng trưởng của bê Những bò cái sinh ra từ tháng 10 đến tháng 3 có khối lượng trưởng thành nhỏ hơn so với những bê sinh

ra từ tháng 4 đến tháng 9

Ảnh hưởng của tính biệt và thiến tới tốc độ sinh trưởng của bò cũng khá

rõ rệt Nhiều nghiên cứu về hiệu quả phối giống của bò Hereford với đực Sahiwal, Charolais, Simmental, Jersey đã cho thấy: So với những con cái, con đực có khối lượng sơ sinh cao hơn 2kg, nặng hơn 15kg khi cai sữa và tăng trọng cao hơn 66 gam/ngày Bê lai với các giống Châu Âu có khả năng sản xuất cao hơn khi cho lai với giống Zebu

Khi nghiên cứu về năng suất sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của các giống bò Finnish Ayrsline (FA), Finish Friesian (FF), Finish (F) Charolais

và Hereford, tác giả Kentamies H (1983) đã nhận xét: Bò Charolais có khả năng tăng trọng cao nhất và tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò F1, FF và FA Tính biệt cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt

Dalatte J.T, Ougan H và cộng sự (1986) nghiên cứu cho thấy tính biệt cũng có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của bò Thí nghiệm ảnh hưởng của tính biệt đến năng suất sinh trưởng của bò Zebu trên các giống Arah, Fuleni đã nhận xét: Sự khác biệt giữa các giống là rõ rệt, tăng trọng/ngày bị ảnh hưởng bởi tuổi và tính biệt

Sử dụng các loại kích tố sinh trưởng cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của con vật Ngoài ra các yếu tố như bệnh tật, loại hình thần kinh, chăm sóc, quản lý đều có những ảnh hưởng nhất định tới khả năng sinh trưởng của vật nuôi

Trang 25

Johnson H.D và Roman Ponce H (1994) đã kết luận: Sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào dinh dưỡng, khí hậu, tình hình dịch bệnh…

Các tác giả Mwandotto B.A.J Carles HB, Cartwraight T.C (1998) đã nhận thấy: Giống, mùa vụ, tháng đẻ, tính biệt, tuổi cai sữa, thời tiết, khí hậu, lượng mưa tổng số và tuổi đẻ của đàn bò mẹ đã ảnh hưởng tới khối lượng cai sữa Những bê sinh trong các tháng từ tháng 7 đến tháng 12 nặng hơn 12kg so với những bê sinh trong các tháng từ tháng 1 đến tháng 6, do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường sống, nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn

1.6 Giới thiệu về chế phẩm AIG

- Nguồn gốc chế phẩm: là sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, được sản xuất bởi công ty cổ phần ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam

Vi khuẩn quang hợp: 109 CFU

Nấm men và xạ khuẩn: 109 CFU

Trang 26

trình phát triển sinh lý, sinh hóa, giảm mùi hôi phân từ 70-80%, nâng cao chất lượng thịt, trứng, sữa… cho xuất chuồng sớm hơn 7-15 ngày, đồng thời tạo ra dòng thực phẩm sạch

- Hướng dẫn sử dụng:

+ Gia súc (lợn, trâu, bò, dê…): Pha 5 ml với một lượng nước vừa đủ trộn với 10kg cám khô (cám công nghiệp) để cho ăn Pha 5 ml với 10-15 lít nước cho gia súc uống

+ Gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng…): Thời ký úm pha 5ml với 16-20 lít nước cho uống Thời kỳ trưởng thành: Pha 5 ml với 10-15 kg cám khô (cám công nghiệp) cho ăn Dùng 5ml AIG pha với 10-15 lít nước cho uống

+ Thức ăn thô xanh ủ chua: 10 ml với 10 kg cám gạo và 200 kg cỏ, rơm, cây ngô…tươi băm nhỏ (ủ trong 21 ngày)

Chú ý: Lắc điều trước khi sử dụng Không pha thức ăn khi còn nóng, pha xong để 15 phút tạo men rồi mới cho ăn Cho ăn (hoặc uống) cách nhật vào buổi chiều tối đối với vật nuôi lấy thịt Với gia cầm, thủy cầm lấy trứng cho ăn vào buổi sáng Lượng thức ăn (hoặc lượng nước uống) sử dụng để hòa trộn với sản phẩm phải bằng 30-50% tổng khẩu phần/ngày Khi cho ăn thì thôi cho uống

và ngược lại Không sử dụng chung AIG với thuốc kháng sinh Cách ly thuốc kháng sinh phòng bệnh với sản phẩm từ 8h-16h

1.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và các chế phẩm sinh học cho bò

1.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi bò thịt và áp dụng trong các gia đình nông dân ở các nước đang phát triển, các nhà khoa học chăn nuôi đã nghiên cứu việc sử dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò

Từ những năm 1970, việc nghiên cứu xây dựng các khẩu phần thích hợp cho từng đối tượng bò đã được Viện Chăn nuôi tiến hành với các kết quả khả quan, được tổng hợp trong cuốn “Nuôi bò thịt” do Lê Viết Ly, 1995 làm chủ biên

Trang 27

Nguyễn Quốc Đạt và CS, 1988 sử dụng tảng liếm urê - rỉ mật cho bò cái lai hướng sữa hậu bị nhận thấy bò được bổ sung tăng trọng 470 g/con/ngày

Vũ Văn Nội và cs, 1994 trong điều kiện chăn thả còn hạn chế, bổ sung thêm rơm ủ urê và bánh dinh dưỡng (MUB) có hàm lượng bột cá 20%, bê lai F1 hướng thịt tăng trọng đạt 402 - 429 g/con/ngày, trong khi nuôi quảng canh chỉ đạt 210 - 240 g/con/ngày

Lê Viết Ly (1995) nghiên cứu sử dụng bột hạt bông, rỉ mật, rơm xử lý 4% urê và rơm không xử lý urê bổ sung cho bò lai vào mùa khô cho thấy, sau

6 tháng thí nghiệm bò được bổ sung hạt bông, rỉ mật, rơm xử lý 4% urê tăng trọng bình quân 568 g/con/ngày và lô bổ sung hạt bông, rỉ mật và rơm không

xử lý urê tăng trọng 454 g/con/ngày, trong khi lô không bổ sung chỉ tăng trọng

157 g/con/ngày

Nguyễn Quốc Đạt và cs (1998) Nghiên cứu rơm ủ urê 4% trong 14 và 21 ngày cho thấy: Hàm lượng protein tổng số tăng cao nhất sau 14 ngày ủ (10,5%), sau 21 ngày tăng 6,43% protein thô Ủ rơm với 4% urê có ảnh hưởng rõ rệt đến cấu trúc xơ: xơ không hòa tan trong dung dịch trung tính giảm 2,04%, lignin giảm 2,81%; hemicellulose và cellulose tăng tương ứng là 0,51 và 0,25 trong vật chất khô Tác giả đề nghị nên sử dụng rơm ủ với 4% urê cho bò nên bắt đầu cho ăn từ ngày thứ 14 - 21

Người ta thường dùng urê như một nguồn amoniac để xử lý rơm Rơm

xử lý urê đã tăng được gấp đôi N tổng số (từ 3 - 5% lên 9 - 10%), tăng được gấp đôi protein ở ruột non, tỷ lệ tiêu hóa và lượng tiêu thụ thức ăn cũng tăng lên (Lưu Kỷ, 1996; Bùi Đức Lũng, 1999)

Trong những năm 1998 - 2000, tiểu phần “Nghiên cứu sử dụng các phế phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò thịt” của Dự án “Chăn nuôi bò thịt có lãi

ở Việt Nam” (Vũ Chí Cương và cs, 2001) đã cho thấy với khẩu phần vỗ béo bằng rỉ mật đường (45% chất khô của khẩu phần) kết hợp với hạt bông và rơm khô không cần cỏ xanh, bò lai Sind có thể tăng trọng trong giai đoạn vỗ béo từ

Trang 28

650 - 700 g/con/ngày, trong khi đó nuôi bò đại trà chỉ tăng trọng 300 - 400 g/con/ngày

Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly, 2001 cho biết khi thay thế 60% cỏ xanh hoặc 100% cỏ xanh bằng lá sắn ủ chua trong khẩu phần bò sữa, năng suất sữa

và chất lượng sữa vẫn đảm bảo như bò được ăn 100% cỏ tươi

Hoàng Thanh Vân (2002) nghiên cứu sử dụng men vi sinh ủ với bã sắn tươi (bã sắn 80%, cám gạo 20%, sunphatamon 3%, urê 0,5% với 2% nấm mục trắng và 1% nấm men) trong 44 giờ thu được sản phẩm sinh khối có hàm lượng protein thô là 7,2% tăng 3,9% so với trước khi ủ Khi sử dụng cho bò lai Sind (khẩu phần 5 kg/con/ngày) thì tăng trọng bình quân là 32,07 kg/60 ngày, tăng hơn lô đối chứng là 77,77%

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trạch, 2004 khi theo dõi sự biến đổi thành phần hóa học của rơm xử lý bằng urê và vôi với mức urê: 0%, 2%, 4%; mức CaO: 0%, 3%, 6% và thời gian ủ là 21 ngày, cho thấy hàm lượng N tăng lên rõ rệt, hàm lượng NDF, hemicellulose giảm

Vũ Chí Cương và cs, 2007 khi sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp như rơm, cây ngô sau thu hoạch, lõi ngô, bẹ bắp với khẩu phần rỉ mật cao (38%),

bò ở 4 lô thí nghiệm cho tăng khối lượng tương ứng: 583, 625, 795 và 839 g/con/ngày

Trần Thị Hoan, Nguyễn Thị Liên, Từ Trung Kiên, 2007 khi nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn ủ xanh đến năng suất, chất lượng sữa của bò sữa cho thấy:

Khi nuôi bò sữa bằng thức ăn ủ xanh với mức 10kg và 15kg trong khẩu phần ăn đã làm tăng sản lượng sữa, chất lượng sữa vẫn bảo đảm và không làm tăng chi phí thức ăn/1kg sữa Sản lượng trong 120 ngày và chi phí thức ăn cho 1kg sữa của các lô tương ứng như sau: Đối chứng: 1143,6kg và 2229 đồng; thí nghiệm 1: 1179,6kg và 2212 đồng; lô thí nghiệm 2; 1172 kg và 2249 đồng

Trang 29

Trong hai mức cho ăn cỏ ủ xanh thì mức 10/kg/con/ngày có năng suất, chất lượng sữa tốt hơn mức 15kg/con/ngày; chi phí thức ăn/1kg sữa cũng thấp hơn

Hàm lượng vật chất khô, lipit, khoáng tổng số, xơ tổng số của cỏ voi ủ xanh cao hơn đôi chút so với cỏ voi tươi nhưng hàm lượng protein của cỏ voi

ủ xanh thì lại thấp hơn so với cỏ voi tươi (2,85% so với 3,19%)

1.7.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Việc chế biến, bảo quản và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm gia súc, phụ phẩm thủy hải sản làm thức ăn chăn nuôi bằng phương pháp làm giảm độ pH đã được nghiên cứu từ rất sớm Các phương pháp sử dụng để bảo quản phụ phẩm là việc bổ sung vào trong đó các loại acid vô cơ hay hữu cơ và phương pháp sinh học

Nhiều nghiên cứu về các biện pháp xử lý thức ăn giàu xơ đã và đang được thực hiện ở một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, bằng các biện pháp vật lý, hóa học, sinh học để nâng cao chất lượng phụ phẩm bao gồm: xử lý xút NaOH theo phương pháp Beckman, phương pháp nhúng, xử lý bằng khí NH3 hoặc dùng NH3 lỏng (Leng, 2003)

Theo Floulker và Preston, 1978 (Nguyen Thi Loc và Cs, 2000), đánh giá ngọn lá sắn tươi là nguồn protein và xơ bổ sung vào một khẩu phần lỏng gồm nước và rỉ mật để vỗ béo bò, sinh trưởng tuyệt đối đạt trên 800 g/ngày, ngọn lá sắn là nguồn protein “thoát qua” tốt hơn dây lá khoai lang

Phương pháp hóa học được sử dụng đầu tiên ở Phần Lan năm 1920 bởi A.I Virtanen (dẫn theo Raa J and Gilderg, 1982), Ông đã sử lý thức ăn thô xanh bằng hỗn hợp acid Sulfuric và acid Clohydric Phương pháp này được phát triển vào những 1930 để bảo quản cá ở trạng thái ướt

Leng và Nolan (1984) đã sản xuất khối liếm urê - rỉ mật theo công thức 55% rỉ mật, 18% cám gạo, 15% urê khoáng, chất độn 12% sử dụng cho bò Zersey cho thấy: mỗi ngày bò ăn được 530g khối liếm và lượng rơm ăn vào nhiều hơn (6,8 kg chất khô/ngày so với đối chứng 6,4 kg chất khô/ngày) và tăng

Trang 30

Theo Preston và Leng (1987), rơm xử lý bằng cách ủ urê đã làm giảm lượng thức ăn tiêu tốn và tăng tiêu thụ rơm ủ Ở Sri Lanka, sử dụng rơm ủ urê làm thức ăn nuôi bò cũng đã được áp dụng (Schiere và Ibrahim, 1989)

Frands Dolberg và Peter Finlayson, 1990 (Vũ Văn Nội, 1994) đã tiến hành ủ rơm để nuôi bò thịt ở Trung Quốc, theo dự án FAO (1990-1992).Tác giả cũng sử dụng protein thoát qua dạ cỏ để nâng cao khả năng hấp thu protein (khô dầu bông) đã cho kết quả tăng trọng từ 608g ± 198 - 173g ± 90 so với

1027 con bò của 312 gia đình trong 12 làng tại 4 vùng Huaiyang, Shanshiu, Beixiang, Ding Xing

Preston (1995) đã nghiên cứu sử dụng sản phẩm phụ khác từ mía là: ngọn, lá và rỉ mật làm thức ăn cho động vật nhai lại

Các nghiên cứu của Preston (1995) về nuôi bò bằng các phụ phẩm nông công nghiệp với nguồn thức ăn là rỉ mật, hạt bông đã cho rằng: có thể sử dụng trên 70% rỉ mật (tính theo chất khô) trong khẩu phần vỗ béo bò thịt Rất nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy có thể sử dụng rỉ mật từ 30 - 50% hoặc cao hơn trong khẩu phần, bò có thể cho tăng khối lượng 600 - 1000 g/con/ngày

Các nghiên cứu của Chenost và Kayuli (1997), Leng (2003), Preston (1995) đã nghiên cứu sản xuất khối liếm urê - rỉ mật, khoáng và chất độn nuôi

bò tăng khối lượng bình quân trong 100 ngày nuôi vỗ béo đạt 865,8 g/con/ngày

và 921,4 g/con/ngày lần lượt ở bò cái và bò đực, bò tiêu thụ 6 - 6,4 kg thức ăn tinh cho 1kg tăng khối lượng

Chenost và Kayuli (1997) cho rằng tác động chính của biện pháp dùng urê phụ phẩm và thức ăn nhiều xơ sẽ gia tăng hệ số tiêu hóa 8 - 12 đơn vị, tăng lượng thức ăn nitơ lên 2 lần, năng lượng thức ăn ăn được lên 25 - 50% và tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Bò vàng Việt Nam tại địa phương

- Vật liệu nghiên cứu:

Sấy khô, nghiền các nguyên liệu thức ăn khẩu phần và thức ăn bổ sung được nghiền nhỏ đến kích thước ≤1mm

Mẫu thức ăn (khẩu phần ăn cơ sở) được xây dựng theo dạng hỗn hợp hoàn chỉnh, có mật độ dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu cho bò sinh trưởng theo tiêu chuẩn NRC (1996) (10-11 MJ/kgVCK và 12-14% protein thô) phối trộn tại Bộ môn Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Viện Chăn nuôi Nguyên liệu dùng để xây dựng khẩu phần cơ sở là các nguồn thức ăn sẵn có (thân ngô, cỏ voi, yến mạch, cám gạo) thường dùng trong các cơ sở chăn nuôi

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ năm 2018 đến năm 2019

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1 Nghiên cứu xác định thành phần dinh dưỡng, xây dựng hỗn

Trang 32

Nội dung 2 Nghiên cứu khả năng tiêu hóa invitro của hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) cho bò thịt

Nội dung 3 Nghiên cứu thử nghiệm hỗn hợp toàn chỉnh (TMR) vỗ béo

bò thịt giai đoạn 12 – 15 tháng tuổi

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu xác định thành phần dinh dưỡng, xây dựng hỗn hợp thân ngô, cỏ yến mạch, cỏ voi có bổ sung cám gạo và chế phẩm sinh học

- Các nguyên liệu cỏ voi, thân ngô, cỏ yến mạch được sử dụng sẵn có

của địa phương, cám gạo được thu mua từ các nhà máy và cơ sở xay xát gạo có

uy tín của tỉnh, chế phẩm sinh học AIG được mua

- Các nguyên liệu được băm, nghiền nhỏ

- Xác định các chỉ số dinh dưỡng của các nguyên liệu: tỷ lệ vật chất khô, protein, NDF, ADF,…

- Xác định tỷ lệ trộn của các nguyên liệu, tạo khẩu phần

- Bổ sung chế phẩm sinh học AIG để xây dựng khẩu phần ăn hoàn chỉnh (Total Mix Ration – TMR)

2.3.2 Nghiên cứu khả năng tiêu hóa invitro của hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) cho bò thịt

Sau khi xác định được vật chất khô của mẫu (khẩu phần cơ sở) và chế phẩm sinh học AIG sẽ được bổ sung vào khẩu phần cơ sở với 3 tỷ lệ khác nhau Mẫu phối trộn này được gọi là khẩu phần Như vậy sẽ có 4 khẩu phần (1 mẫu đối chứng,

và 3 mẫu thí nghiệm)

Trang 33

Sau khi phối trộn, tất cả các mẫu này sẽ được chia làm hai phần, một phần

đem phân tích thành phần hóa học, phần còn lại đưa vào làm thí nghiệm in vitro

gas production

Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên

Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày ở bảng 2.1

- Sử dụng các phương pháp phòng thí nghiệm thu mẫu các nguyên liệu

để phân tích thành phần hóa học và xác định giá trị dinh dưỡng bằng phương pháp thử mức tiêu hóa INVITRO trên thiết bị INCUBATOR và theo quy trình công nghệ của Hãng ANKOM -Mỹ, các chỉ tiêu phân tích được xác định như sau:

+ Phân tích vật chất khô được xác định bằng phương pháp sấy tới khối lượng không đổi trong tủ sấy Memmer của Đức theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN tương ứng

+ Xác định protein thô bằng phương pháp phân tích Nitơ trên hệ thống Kjeldahl tự động của Đức theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN tương ứng

+ Xác định xơ thô và các xơ thành phần ADF, NDF bằng thiết bị phân tích xơ Fiber system và thiết bị ANKOM 200/220 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN tương ứng

Nguyên lý của phương pháp như sau:

Phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa thực invitro trên thiết bị lên men yếm khí DAISYII incubator (Công nghệ ANKOM technology - 08 - 05) Đây

Trang 34

là thiết bị mô phỏng các điều kiện tương đồng như điều kiện dạ cỏ, nên là phương pháp tốt nhất để xác định tỷ lệ tiêu hóa thực

Xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME)

Dựa vào lượng khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ, kết hợp với thành phần hóa học của từng mẫu thí nghiệm để ước tính giá trị năng lượng trao đổi của chúng thông qua các phương trình của Vũ Chí Cương và cs (2008)

ME (kcal/kg VCK) = 1885 + (21*Gv24) + (2,49*DM) – (21,6*CP) Trong đó: Gv24 (ml) là thể tích khí trong xylanh chứa mẫu tại thời điểm

24 giờ sau ủ, CP (%) là tỷ lệ protein thô, DM (%) là tỷ lệ vật chất khô

Ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ

Dựa vào lượng khí sinh ra tại thời điểm 24h sau khi ủ, kết hợp với thành phần hóa học của từng mẫu thí nghiệm để ước tính giá trị năng lượng trao đổi của chúng thông qua các phương trình ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD

%) của Menke và Steingass (1979)

Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện qua bảng 2.2

Trang 35

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Khối lượng bắt đầu thí nghiệm kg 116,17 117,15

sung AIG 1%

- Khẩu phần ăn và chế độ nuôi dưỡng:

+ NTĐC: Bò được nuôi bằng TMR

+ NTTN: Bò được nuôi bằng TMR có bổ sung AIG 1%

- Quản lý gia súc thí nghiệm:

Bò được tẩy giun sán bằng Levisol 7,5% liều lượng 1ml cho 10 kg khối lượng cơ thể, được nuôi riêng mỗi con một ngăn chuồng để theo dõi cá thể

+ Tất cả bò thí nghiệm và đối chứng được nuôi nhốt và cung cấp thức ăn hàng ngày tại chuồng

+ Thức ăn cung cấp và thức ăn thừa được cân hàng ngày để xác định lượng thức ăn thu nhận

+ Khối lượng cơ thể được cân đầu thí nghiệm, cuối tuần thứ 4, tuần thứ

8 và khi kết thúc thí nghiệm

- Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của từng loại thức ăn + Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày (kg/con)

+ Khả năng tăng khối lượng

+ Tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng

+ Tiêu tốn protein/1 kg tăng khối lượng

Trang 36

- Phương pháp theo dõi:

+ Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn:

- Lượng thức ăn thu nhận: Thức ăn cung cấp và thức ăn thừa được cân

hàng ngày để xác định lượng thức ăn thu nhận

Chất khô ăn vào =[Thức ăn cho ăn x % chất khô] – [Thức ăn còn thừa x

%chất khô ]

+ Khả năng tăng khối lượng của bò: tất cả bò được cân vào buổi sáng liên tục trước khi cho bò ăn bằng cân điện tử Rudd weight - 1200 Tăng khối lượng của bò được tính theo công thức sau:

P tăng khối lượng (g/con/ngày) = (P2 - P1)/T x 1000g

Trong đó:

P: Tăng khối lượng của bò ở giai đoạn thí nghiệm (g/con/ngày)

P1: Khối lượng bò lần cân trước (kg)

P2: Khối lượng bò lần cân sau (kg)

T: Thời gian theo dõi (ngày)

- Tiêu tốn vật chất khô cho 1 kg tăng khối lượng: Được xác định bằng

cách lấy tổng lượng vật chất khô thu nhận/tổng số kg tăng khối lượng của bò Công thức như sau:

T = A/ P

Trong đó:

T: Tiêu tốn vật chất khô cho 1 kg tăng khối lượng (kg)

A: Tổng khối lượng vật chất khô thu nhận cả giai đoạn (kg)

P: Khối lượng tăng cả giai đoạn (kg)

2.3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập, số liệu được tính toán thô trên bảng Excel sau đó xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) trên phần mềm Minitab 14

Ngày đăng: 16/03/2020, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w