1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển du lịch đà lạt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

129 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với cách đặt vấn đề như vậy, khi hội nhập kinh tế quốc tế cần lưu ý các vấn đề mấu chốt sau đây: Từ những phân tích trên có thể hiểu: hội nhập kinh tế quốc tế là hệ quả tất yếu của toàn

Trang 1

Më ®Çu

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trên phạm vi thế giới, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được, một hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân của nhiều quốc gia Du lịch là ngành kinh tế hấp dẫn, được ví như “Con gà đẻ trứng vàng” là ngành

“Công nghiệp không khói” được các quốc gia triệt để khai thác, tìm kiếm những lợi thế riêng cho mình, xúc tiến đầu tư để phát triển ngành du lịch Đồng thời du lịch cũng trở thành một yếu tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Do hiệu quả nhiều mặt như vậy, nên hầu hết các quốc gia kể cả các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật… đều chú trọng phát triển du lịch Nhiều nước trong giai đoạn đầu phát triển đã coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn Mặt khác sự phát triển kinh tế ở các nước không thể ở trạng thái riêng biệt mà vận động theo xu hướng hợp tác, hội nhập và tác động mạnh mẽ với nền kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Cho nên du lịch là nơi giao lưu về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế

Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đang từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới nhằm tạo ra bước phát triển nhanh và vững chắc Để góp phần khắc phục sự tụt hậu của nền kinh tế, tạo tích lũy vốn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước… Kinh tế

du lịch đã và đang có vai trò rất lớn trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước đ

Đà Lạt, từ lâu nổi tiếng là miền đất du lịch đầy hấp dẫn, được đến Đà Lạt là niềm mơ ước của nhiều người, Đà Lạt là điểm đến không thể thiếu trong hành trình du lịch không chỉ đối với khách du lịch trong nước mà còn đối với

Trang 2

du khách quốc tế Với những lợi thế của mình, Đà Lạt có những điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng của cả nước và quốc tế, góp phần xứng đáng trong chiến lược tổng thể phát triển ngành du lịch Việt Nam

Thời gian qua, ngành du lịch đã có những bước tiến nhất định và ngày càng tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội, nhịp độ tăng trưởng của du lịch Đà Lạt khá cao, bình quân trên 15% Các nguồn thu từ du lịch đã góp phần tích cực vào sự tăng trưởng chung, tạo được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành du lịch - dịch vụ Từ 56% năm 1995 - 59% năm 2000 - 62,5% năm 2003 và 67% năm 2005 Điều đó đã thể hiện sự khởi sắc của nền kinh tế dựa vào các lợi thế so sánh, trong đó phải kể đến lợi thế to lớn về vị trí địa lý, khí hậu và tiềm năng đa dạng các nguồn tài nguyên du lịch của địa phương

Tuy nhiên, du lịch Đà Lạt qua quá trình phát triển cũng đã bộc lộ những hạn chế tồn tại, đó là: Sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực kinh tế Nhà nước và dân doanh, cạnh tranh không lành mạnh làm hạn chế phát triển; phát triển tự phát, không ổn định và thiếu bền vững, chưa có được chiến lược phát triển phù hợp cả ở tầm vĩ mô lẫn ở tầm vi mô của từng doanh nghiệp; thiếu giải pháp hữu hiệu để mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường ngoài nước; chưa có chính sách đồng bộ và nhất quán đủ sức để thu hút đầu tư

Vì thế việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động của kinh tế du lịch Đà Lạt và đề xuất những phương hướng, giải pháp phù hợp nhằm huy động, khai thác mọi nguồn lực và phát huy tiềm năng du lịch của Đà Lạt, làm cho hoạt động của du lịch có hiệu quả, góp phần chuyển dịch nhanh hơn nữa cơ cấu kinh tế, sớm đưa

du lịch Đà Lạt lên vị trí tương xứng với tiềm năng và tầm vóc là một trung tâm

du lịch lớn của cả nước, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế…

Trang 3

là hết sức cần thiết và cấp bách mà chính quyền và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch thuộc các thành phần kinh tế hết sức quan tâm

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm đổi mới vừa qua, kinh tế du lịch của Việt Nam nói chung và Đà Lạt nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể Nhiều dự án đầu tư kể cả vốn trong nước và vốn nước ngoài đầu tư cho du lịch Nhiều đề tài nghiên cứu của các cấp, ngành, cơ sở và nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu

du lịch ở mỗi góc độ và khía cạnh khác nhau Chẳng hạn, tác giả Trần Quốc Nhật: Luận văn Thạc sĩ năm 1996 với đề tài: Phát triển du lịch ở Bà Rịa Vũng tàu Nguyễn Thị Hóa: Luận văn Thạc sĩ năm 2000 với đề tài: Kinh tế du lịch Thừa Thiên Huế Trần Ngọc Tư: Luận văn Thạc sĩ năm 2000 với đề tài: Phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc - Tiềm năng và giải pháp Hoàng Đức Cường: Luận văn Thạc sĩ năm 1999 với đề tài: Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An

Một số bài viết và tạp chí về du lịch như: Đỗ Quang Trương: Phát triển nhanh, bền vững và lành mạnh du lịch Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước (Tạp chí Cộng sản số 4, 1996) Đào Thùy Phi: Về định hướng du lịch năm 1996 - 2000 (Kinh tế và dự báo 1995, số 5) Bùi Xuân Nhật: Du lịch Việt Nam trước thời cơ mới và thách thức mới (Thương mại năm

1995 - số 8 kỳ 2) Trần Văn Hùng: Về hoạt động xuất khẩu và dịch vụ tại chỗ đối với khách du lịch nước ngoài tại Việt Nam (Thông tin kế hoạch số tháng 8/1994),

Song các luận văn, tạp chí và bài viết nêu trên chỉ nghiên cứu ở các địa phương khác hoặc du lịch nói chung ở những góc độ và khía cạnh khác nhau Ở

Đà Lạt cũng có một số tác giả viết và nghiên cứu về du lịch Đà Lạt nhưng cũng chưa làm nổi bật được tiềm năng to lớn và giải pháp phát triển du lịch Đà Lạt

Trang 4

trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Luận văn cố gắng khắc phục thiếu sót đó dưới góc độ Kinh tế chính trị học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập

- Đánh giá thực trạng, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong phát triển du lịch Đà Lạt hiện nay

- Khuyến nghị số giải pháp phát triển du lịch Đà Lạt trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị để chỉ ra những mối quan hệ kinh tế - xã hội trong việc phát triển du lịch tại Đà Lạt trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong phát triển du lịch Đà Lạt kể từ khi đổi mới (1986) đến nay

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường

lối chủ trương của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nguồn tư liệu: Luận văn khai thác nguồn tư liệu phong phú, bao gồm:

Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin; Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam; Các ấn phẩm (sách, tạp chí, …); Các luận văn, luận án; Tư liệu địa phương

- Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp truyền thống của chuyên ngành kinh tế chính trị, dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Sử dụng công cụ trừu tượng hóa Đồng thời sử dụng những tài liệu thống kê để thể hiện mục đích nghiên cứu

Trang 5

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ thêm những vấn đề cơ bản về tiềm năng và điều kiện phát triển du lịch nói chung và du lịch Đà Lạt nói riêng

- Đánh giá tiềm năng thế mạnh của du lịch Đà Lạt, chỉ ra những thành tựu và hạn chế cũng như nguyên nhân hạn chế trong phát triển du lịch Đà lạt những năm qua

- Đề xuất các quan điểm, phương hướng và những giải pháp cơ bản ở tầm vĩ mô và doanh nghiệp nhằm phát triển du lịch Đà Lạt trong thời gian tới

- Luận văn là tài liệu tham khảo để vận dụng tại địa phương trong việc hoạch định chính sách, là tư liệu tham khảo của các doanh nghiệp kinh doanh

du lịch tại Đà Lạt

7 Kết cấu luận văn: Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu

tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch trong điều

kiện hội nhập

Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch ở thành phố Đà Lạt hiện nay Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Đà Lạt trong

những năm tới

Trang 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Tầm quan trọng của phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế

1.1.1 Du lịch và những đặc trưng của hoạt động du lịch trong nền kinh tế

Du lịch là một hiện tượng gắn liền với đời sống kinh tế - xã hội qua các

thời đại Ngay từ thời cổ đại, với điều kiện kinh tế và kỹ thuật còn ở trình độ

rất thấp nhưng cũng đã có những hoạt động du lịch Bởi lẽ, con người dù ở bất cứ hoàn cảnh và điều kiện sinh sống như thế nào cũng không bao giờ chịu cố định ở một trạng thái, điều đó bắt nguồn từ nhu cầu tự nhiên của con người nhằm tránh sự đơn điệu, nhàm chán, mệt mỏi Đây là một thuộc tính tâm lý, biểu hiện sự đòi hỏi tất yếu về vật chất, tinh thần của con người, phản ánh mối liên hệ mật thiết và phụ thuộc giữa con người với thế giới xung quanh

Do những thay đổi và phát triển của môi trường tự nhiên, đặc biệt là những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… qua các thời đại, nhu cầu tự nhiên của con người, trong đó nhu cầu của du lịch cũng không ngừng thay đổi và phát triển Lúc đầu, đó chỉ là hiện tượng của từng cá thể rời khỏi nơi ở, nơi làm việc trong một thời gian ngắn để nghỉ ngơi, giải trí hoặc thăm viếng bạn bè trong địa phương hay trong vùng Những bắt nguồn từ nguyên nhân thay đổi của các điều kiện trên, hiện tượng đó ngày càng có sức cuốn hút mạnh mẽ và trở thành nhu cầu phổ biến của nhiều đối tượng dân cư

Vậy Du lịch là gì ? Có nhiều quan điểm khác nhau:

- “Du lịch là những hoạt động có liên quan đến việc di chuyển của một người hay đoàn người từ nơi thường trú đến địa điểm khác trong nội địa hoặc ra nước ngoài (bao gồm các dịch vụ ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí…)”

Trang 7

- Định nghĩa của hai giáo sư Hangiker & Kraff đã được Hội nghị lần thứ

V của các nhà khoa học trong lĩnh vực Du lịch của thế giới thừa nhận “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh doanh bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của cá thể ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc để hưởng lương”

Luật Du lịch Việt Nam được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 giải

thích: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [20, tr.10]

Trên lĩnh vực lý luận, các nhà nghiên cứu khoa học về du lịch của thế giới dưới các góc độ khác nhau cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch Tuy vậy, những sự khác nhau đó vẫn không thể phủ nhận bản chất của du

lịch, đó là: một nhu cầu tự nhiên của con người đồng thời là một nhu cầu mang tính xã hội

Du khách là gì? “Du khách là bất cứ ai ngủ một đêm tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên và mục đích của chuyến đi không phải là để kiếm tiền”

Khái niệm này rất khác nhau ở từng quốc gia nên khi sử dụng số liệu thống kê phải đặc biệt chú ý yếu tố cấu thành của nó Tổ chức du lịch thế giới đưa ra sơ đồ phân loại du khách như sau:

* Người đi đây đó (Travellers - Voyageurs):

- Không tính vào thống kê du lịch: Người làm việc ở vùng biên giới; Nhân viên của lực lượng quân sự; Dân tị nạn; Khách quá cảnh đại sứ quán; Những người nhập cư tạm thời hoặc thường xuyên; Nhân viên lãnh sự quán; Dân du cư

- Tính vào thống kê du lịch: Người đi thăm viếng (Visiteurs)

Trang 8

Với mục đích nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, sức khỏe, công việc, hội nghị, thể thao, thăm viếng gia đình, thăm viếng bạn bè,…

Chia ra du khách (Visiteurs), trên 24 giờ Có thủ tục xuất nhập cảnh đầy đủ: Người nước ngoài; Kiều dân ở nước ngoài; Thủy thủ đoàn, phi hành đoàn đến Người lữ hành (Excursionnists), dưới 24 giờ Có thủ tục xuất nhập cảnh đầy đủ: Người đi chơi trong ngày; Người đi trên các tàu; Thủy thủ đoàn, phi hành đoàn

Luật Du lịch Việt Nam được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 giải

thích:

- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp

đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

- Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chhức, cá nhân có liên quan đến du lịch

Nhu cầu du lịch: Trong thực tiễn cuộc sống, để tồn tại và phát triển con

người có vô số nhu cầu, mỗi nhu cầu đều hàm chứa một nội dung với những

đặc trưng cụ thể Đối với du lịch, đó là “Nhu cầu được đi đến một địa phương khác ngoài nơi cư trú của mình để nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, thưởng thức theo sở thích cá nhân, nhằm làm cho cuộc sống được thoải mái và thú vị hơn, giảm bớt những căng thẳng của công việc hằng ngày”

Đây chính là nhu cầu đặc trưng của mọi cuộc hành trình du lịch Trong trường hợp các nhu cầu này không được thực hiện thì có thể xem như chuyến

du lịch không thành công Chất lượng của cuộc hành trình du lịch cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ thoả mãn các nhu cầu đặc trưng đó

Những nhu cầu đặc trưng không tồn tại ở trạng thái độc lập mà được thể hiện trong các nhu cầu cụ thể Nói cách khác, khách du lịch thoả mãn nhu cầu

Trang 9

đặc trưng đó thông qua việc tiêu dùng các dịch vụ hàng hóa cụ thể Căn cứ vào

vị trí và tính chất của chúng, các nhu cầu được phân thành các nhóm sau:

Các nhu cầu chính và thứ yếu: gồm các nhu cầu đi lại, lưu trú và ăn

uống Chi phí cho những nhu cầu này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí mỗi chuyến du lịch Đồng thời đây cũng là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống

Các nhu cầu bổ sung: là những nhu cầu ngoài nhu cầu thiết yếu Trong

đó có một số nhu cầu đã được dự định trước khi đi, nhưng phần lớn nhu cầu này phát sinh trong quá trình du lịch Tỷ trọng chi phí cho nhu cầu bổ sung có xu hướng ngày càng tăng cao, thậm chí có trường hợp còn lớn hơn tỷ trọng chi phí cho nhu cầu chính và thiết yếu

Đặc điểm nhu cầu du lịch: Nhu cầu du lịch là một nhu cầu tương đối

trọn vẹn của cuộc sống con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình Trong đó bao gồm các nhu cầu thiết yếu, thứ yếu và các nhu cầu khác Có nhu cầu ở dạng vật chất cụ thể, nhưng cũng có những nhu cầu về văn hóa tinh thần.v.v…

Nhu cầu du lịch không những phong phú về nội dung mà còn đa dạng về hình thức và phương pháp thực hiện nó Bởi lẽ, khách du lịch thuộc nhiều dân tộc, khu vực, thành phần xã hội, độ tuổi và giới tính khác nhau Do môi trường kinh tế, xã hội, phong tục tập quán và tâm lý của họ khác nhau nên nhu cầu, thị hiếu và khả năng thanh toán của mỗi con người cũng không giống nhau

Mức độ thoả mãn nhu cầu du lịch phụ thuộc vào khả năng thanh toán (nhu cầu có khả năng thanh toán) của từng du khách Nhu cầu tự nhiên của từng con người nói chung là không có giới hạn nhưng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường thì mức độ thực hiện các nhu cầu đó lại phụ thuộc vào nguồn thu nhập và cách phân bố chi tiêu của mỗi người Du lịch chỉ là một trong số các nhu cầu đó mà thôi

Trang 10

Các hoạt động phục vụ du lịch tác động trực tiếp đến nhu cầu du lịch của

du khách một cách tích cực hoặc tiêu cực Sự hứng thú hay chán nản trong việc thực hiện các nhu cầu, kéo dài hay rút ngắn thời gian du lịch của du khách có nguyên nhân khách quan từ phía các hoạt động phục vụ du lịch Đó là mức độ gợi mở nhu cầu, các hoạt động thông tin quảng cáo, chất lượng phục vụ, giá cả các dịch vụ, hàng hoá… do các cơ sở du lịch thực hiện

Điều kiện thực hiện các nhu cầu du lịch: Du lịch là một nhu cầu tự

nhiên của con người Nhưng không phải bất cứ ai, với bất cứ lúc nào và ở đâu cũng có thể thực hiện được các nhu cầu đó Trái lại, để thực hiện các nhu cầu

du lịch, cần phải có một số điều kiện sau đây: có thời gian rỗi - là điều kiện cần thiết có của một cuộc hành trình du lịch, có khả năng thanh toán các khoản chi tiêu trong quá trình du lịch, có người tổ chức và cung ứng các dịch vụ du lịch

Sản phẩm du lịch và sự khác biệt của nó

- Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp những gì nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của du khách

- Sự khác biệt của sản phẩm du lịch:

Sản phẩm du lịch được bán cho du khách (người tiêu dùng) trước khi họ thấy sản phẩm đó Sản phẩm du lịch cơ bản là không cụ thể nên nó rất độc đáo Thực sự nó là một kinh nghiệm hơn là một món hàng vật chất cụ thể mà khách hàng tiềm tàng có thể kiểm tra trước khi mua Khách mua một sản phẩm du lịch phải tiêu pha thời giờ và tiền bạc trước khi sử dụng sản phẩm này

Các sản phẩm du lịch thường ở xa nơi khách hàng thường trú, do đó phải cần đến một hệ thống phân phối thông qua việc sử dụng các đơn vị trung gian (như cơ quan du lịch và đại lý du lịch)

Sản phẩm du lịch tạo ra sự tổng hợp các nguồn kinh doanh khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau (như: máy bay, khách sạn, tụ điểm vui chơi giải

Trang 11

Khách mua một sản phẩm du lịch thông thường ít trung thành hoặc không trung thành với một thương hiệu công ty, do đó tạo ra sự bất ổn về nhu cầu

Luật du lịch Việt Nam được công bố ngày 27 tháng 6 năm 2005 giải

Các thể loại du lịch chủ yếu:

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi, du lịch được phân ra: Du lịch quốc tế và du lịch nội địa

Căn cứ vào thành phần xã hội của khách, du lịch được phân ra: Du lịch cao cấp và du lịch đại chúng

Căn cứ vào nhu cầu và mục đích chuyến đi, du lịch được phân ra: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan, du lịch văn hóa, du lịch công vụ, du lịch hội nghị hội thảo, du lịch thể thao, du lịch du học, du lịch tôn giáo, du lịch chữa bệnh, du lịch thăm hỏi, du lịch quá cảnh v.v…

Căn cứ vào phương tiện giao thông, điều kiện lưu trú mà khách sử dụng,

du lịch được phân ra: du lịch xe đạp, du lịch mô - tô, du lịch ô - tô, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy, du lịch máy bay, du lịch ở khách sạn, du lịch ở motel, du lịch dã ngoại - cắm trại, du lịch ở resort, du lịch ở làng du lịch v.v…

Căn cứ vào thời gian, hình thức đi của khách, du lịch được phân ra: Du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày, du lịch theo đoàn, du lịch theo nhóm, du lịch cá nhân v.v…

1.1.2 Tầm quan trọng của phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập

Trang 12

1.1.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế, một khái niệm rộng lớn và phức tạp, một khái niệm có liên quan trực tiếp và là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế

Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình hình thành và phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau theo hướng mở rộng ra phạm vi toàn cầu trên

cơ sở khoa học - kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tính chất xã hội hóa sản xuất ngày càng gia tăng với sự phân công và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng

Do có nhiều cách tiếp cận, nên hội nhập kinh tế quốc tế còn có nhiều cách hiểu khác nhau:

Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là đấu tranh để dành thị

trường hàng hóa, dịch vụ, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm, tham gia phân công lao động quốc tế, để khai thác tiềm năng bên ngoài, kết hợp và phát huy tối đa nội lực nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh kinh tế và vị thế của quốc gia Mặc dù ý kiến này đã nêu lên được hội nhập kinh tế với mục tiêu mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, nâng cao sức mạnh kinh tế, vị thế quốc gia, song vấn đề chủ yếu của quá trình hội nhập chưa được đề cập đó là mở cửa nền kinh tế, điều chỉnh các chính sách, luật lệ, cơ cấu kinh tế cho thích ứng với tình hình và thông lệ quốc tế Nó cũng chưa phản ánh được tính chất hai mặt của hội nhập, không chỉ có mặt đấu tranh mà còn có mặt hợp tác

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình điều chỉnh chính sách kinh

tế, xây dựng một nền kinh tế thị trường vững mạnh để thực hiện tự do hóa trên các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác, tài chính, tiền tệ, đồng thời sẳn sàng tận dụng các ưu đãi của các thành viên khác đem lại cho mình để phát triển sản xuất, mở mang thị trường hàng hóa và đầu

tư ra nước ngoài Tuy đã nêu được mục tiêu của hội nhập là mở mang thị trường hàng hóa và đầu tư ra nước ngoài, tận dụng các ưa đãi để phát triển sản

Trang 13

xuất, chỉ ra một khía cạnh trong nội dung của hội nhập là điều chỉnh chính sách kinh tế, tự do hóa trên các lĩnh vực của nền kinh tế, song ý kiến này còn dàn trải, hơn nữa mới chỉ thấy mặt hợp tác mà chưa thấy có mặt đấu tranh

Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế với trọng tâm là mở cửa kinh tế, tham

dự phân công hợp tác quốc tế, tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước với bên ngoài, mở rộng không gian, môi trường để phát triển, để chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể có được trong quan hệ quốc tế Ý kiến này nhằm mở rộng không gian, môi trường để phát triển, song lại chưa nêu được phương thức và biện pháp tiến hành mở cửa của nền kinh tế Thực ra để mở cửa, hội nhập, các nước phải thực thi nhiều biện phát nhằm đổi mới, điều chỉnh kỹ thuật công nghệ, cơ cấu kinh tế, luật phát, chính sách kinh tế cho phù hợp với kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế Việc điều chỉnh, đổi mới càng nhanh, tốc độ, hiệu quả và mục tiêu hội nhập càng gần, chủ động và đúng hướng mà mỗi quốc gia theo đuổi

Có thể nói các ý kiến trên, mỗi ý kiến đều nhấn mạnh một khía cạnh nhất định Song vấn đề đặt ra là làm sao tìm ra những đặc trưng, đặc điểm cơ bản, cốt lõi mang tính hệ thống để từ đó đưa ra khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế có thể chấp nhận được Với cách đặt vấn đề như vậy, khi hội nhập kinh tế quốc tế cần lưu ý các vấn đề mấu chốt sau đây:

Từ những phân tích trên có thể hiểu: hội nhập kinh tế quốc tế là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế, là sản phẩm vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau diễn ra ở nhiều cấp độ, quy mô và phương thức mà trọng tâm là mở cửa kinh tế thông qua đổi mới và điều chỉnh các luật lệ, chính sách, cơ chế tập quán kinh doanh, cơ cấu kinh tế của mỗi nước cho phù hợp với thông lệ quốc tế, khu vực, nhằm tạo điều kiện huy động tốt nhất nội lực, ngoại lực, mở cửa không gian để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể có được trong quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 14

1.1.2.2 Quan điểm của Đảng ta về toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế

Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, nước ta đã gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa (SEV), tích cực tham gia phong trào không liên kết, nhóm 77, Liên Hợp Quốc… mà một trong những nội dung cơ bản là đấu tranh cho một trật tự kinh tế thế giới công bằng, thúc đẩy

quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước kể cả những nước tư bản

Bước vào thời kỳ đổi mới, chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta càng được thể hiện rõ nét và được thực hiện tích cực hơn

Đại hội lần thứ VI của Đảng đã chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nhằm đưa nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội

Để phục vụ cho việc thực hiện đường lối đổi mới, các Đại hội và các Hội nghị Trung ương tiếp theo, nhất là Nghị quyết 13 (tháng 5 năm 1988) của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 (tháng 3 năm 1990) đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới, đề ra các chủ trương và giải pháp với nội dung chủ yếu là đẩy lùi chính sách bao vây kinh tế, cô lập về chính trị đối với nước

ta, mở rộng quan hệ quốc tế Theo tinh thần đó, năm 1987 nước ta đã thông qua luật đầu tư nước ngoài, cho đến nay đã qua nhiều lần điều chỉnh và bổ sung với những quy định ngày một thông thoáng hơn

Đại hội lần thứ VII của Đảng đã mở ra một bước đột phá mới, đưa ra khẩu hiệu trong đường lối đối ngoại: Với chính sách đối ngoại mở rộng, chúng

ta tuyên bố rằng: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấu đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa

Trang 15

dạng hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”

Về toàn cầu hóa kinh tế, Đại hội lần thứ IX đã nhận định: “toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh

vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế… Các công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế Sự cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng”

Đại hội lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa với các quan

hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước cộng đồøng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [28, tr35-36]

Cụ thể hóa đường lối nói trên, ngày 27 - 11 - 2001, Bộ Chính trị ban hành Nghị Quyết số 07 - NG/TW về hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu, những quan điểm chỉ đạo và xác định một số nhiệm vụ cụ thể cần tập trung thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta trong những năm tới

Về mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết nêu rõ: “Chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế nhằm rộng mở thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Hội nhập kinh tế quốc tế thắng lợi, thực sự đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nghị quyết còn chỉ ra những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập:

Một là, Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần

phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự

Trang 16

chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, gữi gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường

Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá

trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh

và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc ứng xử tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp cụ thể, vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng đơn giản, nôn nóng

Bốn là, nhận thức đầy đủ những đặc điểm của nền kinh tế nước ta, từ đó

đề ra kế hoạch và lộ trình hội nhập hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia, tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường

Năm là, kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu

giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, đồng thời cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thưcï hiện ý đồ “Diễn biến hòa bình” đối với nước ta

Đại hội lần thứ X khẳng định “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn với nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế”, tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại

Tóm lại, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế như Đảng

ta nhận định, là xu thế khách quan và ngày càng có nhiều nước tham gia, mà

Trang 17

Việt Nam không ngoại lệ Từ nhận định đó Đảng đã có những chủ trương và quan điểm đúng đắn, toàn diện thông qua hàng loạt những điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, về nâng cao sức mạnh cạnh tranh, về luật pháp, chính sách và cơ cấu kinh tế sao cho vừa phù hợp với thực tế nước ta, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện rõ trong các điều khoản của các hiệp định song phương và đa phương mà chúng ta đang tích cực đàm phán và ký kết trong quá trình tiến đến gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Để làm được điều đó một cách có hiệu quả, mọi ngành, mọi cấp, đặc biệt đối với các nhà doanh nghiệp trong tất cả các thành phần kinh tế trong cả nước, cần có những hiểu biết tương đối đầy đủ những vấn đề cơ bản về tổ chức thương mại thế giới cũng như các tổ chức kinh tế quốc tế khác

1.1.2.3 Tầm quan trọng của phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Phát triển du lịch là hướng chiến lược quan trọng trong mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

Du lịch phát triển có ý nghĩa trên nhiều mặt: Kinh tế chính trị, văn hóa, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ mội trường sinh thái, phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc

Trong điều kiện hội nhập kinh tế, sự phát triển của du lịch là phương tiện, một công cụ quan trọng để mở rộng giao lưu với các nước, góp phần tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa đời sống kinh tế thế giới hiện nay

Ở nước ta, khi đánh giá vai trị của du lịch còn có những quan điểm khác nhau Nhìn chung có hai quan điểm

Loại thứ nhất, cho rằng du lịch chỉ là loại hình hoạt động vui chơi giải trí

của người giàu, là hiện tượng văn hóa đơn thuần, ý nghĩa về mặt kinh tế không đáng kể… từ đó ít quan tâm đầu tư phát triển hoặc có đầu tư nhưng lại nghiêng về phúc lợi công cộng

Trang 18

Loại thứ hai, cho rằng du lịch là ngành công nghiệp không khói, mang

lại lợi nhuận siêu ngạch, là “Con gà đẻ trứng vàng”, là “Ngành kinh tế mũi nhọn”, “ngành kinh tế động lực” v.v… từ đó đề cao vị trí ngành du lịch không đúng với bản chất thực của nó, dẫn đến tình trạng đầu tư phát triển tràn lan, không hoạch định phương hướng, mục tiêu cụ thể Hiện tượng “Khủng hoảng thừa” cơ sở kinh doanh du lịch, phát triển “Không cân đối” các loại hình du lịch… khá phổ biến Không ít đơn vị kinh doanh du lịch đang gặp phải khó khăn, bế tắc

Trong khi phê phán sự lệch lạc, thái quá của hai loại quan niệm về vai

trò, vị trí ngành du lịch nêu trên, chúng ta thừa nhận vấn đề phát triển du lịch ở

Việt Nam là phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Đảng, là điều kiện để khai thác, sử dụng có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch quý báu của đất nước, cùng với các nguồn lực khác đưa đất nước ta phát triển, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới

Ngày nay, trên thế giới, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và đang phát triển với tốc độ ngày càng cao Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 6,93%, về thu nhập 11,8%/năm Vốn đầu tư vào du lịch chiếm 7% tổng số vốn đầu tư toàn cầu, chi tiêu của người tiêu dùng cho du lịch chiếm 13% tổng chi tiêu cho tiêu dùng

trên thế giới Tổ chức du lịch thế giới (WTO) đánh giá: “Du lịch ngày nay trở thành một hiện tượng quan trọng nhất của đời sống hiện đại” và trở thành một

trong những ngành kinh tế hàng đầu trong nền kinh tế thế giới Tổ chức này dự báo năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới ước lên tới 1.006 triệu lượt khách, thu nhập từ du lịch đạt 900 tỷ USD và ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150 triệu chỗ làm việc, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Du lịch thực sự đã và đang khẳng định vị trí và ưu thế của mình trong tổng thể kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Du lịch không chỉ là

Trang 19

quốc nội (G.D.P) của nhiều nước, là đòn xeo thúc đẩy các ngành kinh tế khác, mà còn là “Phương thức hiệu quả nhất cho việc phân phối lại thu nhập giữa các nước và như thế cũng góp phần cho sự nghiệp phát triển cân bằng hơn của nền kinh tế thế giới…” như tuyên bố du lịch OSAKA 1994 nêu rõ

Trong quá trình phát triển, du lịch thế giới đã hình thành các khu vực lãnh thổ với các thị phần khách du lịch quốc tế khác nhau Năm 2000, Châu Âu là khu vực đứng đầu với 57,8% thị phần khách du lịch quốc tế Theo dự báo của WTO, đến năm 2010 thị phần đón khách du lịch quốc tế của khu vực Đông

Á - Thái Bình Dương đạt 22,08% thị trường toàn thế giới, sẽ vượt Châu Mỹ, trở thành khu vực đứng thứ 2 sau Châu Âu, và đến năm 2020 sẽ là 27,34% Trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, du lịch các nước Đông Nam Á (ASEAN) có vị trí quan trọng, chiếm khoảng 34% lượng khách và 38% thu nhập du lịch của toàn khu vực Theo dự báo của WTO, năm 2010 lượng khách quốc tế đến khu vực Đông Nam Á là 72 triệu lượt, với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn

1995 - 2010 là 6%/năm, so với 1 - 2% của thời kỳ 1998 - 2000 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực

Sự hình thành của ngành du lịch trên thế giới được lấy mốc từ khi xuất

hiện tổ chức du lịch đầu tiên trên thế giới tại nước Anh năm 1842 do giáo sư

Thomas Cook sáng lập Tổ chức này ban đầu xây dựng các chuyến du lịch bằng tàu thuỷ ở trong nước, sau mở rộng sang Paris, Ai cập, rồi tới châu Mỹ, châu Úc, Trung Đông và Ấn Độ, đến nay đã có trên 400 chi nhánh đại diện trên khắp năm châu

Khi du lịch đã phổ biến thành một nhu cầu xã hội, nhiều đơn vị kinh doanh du lịch ra đời thì một tổ chức du lịch mang tính toàn cầu đã được hình thành, đó là Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành IUOTO (International Union Official Travel Organization) được thành lập năm 1925 ở Hà Lan Đến năm 1975 do phong trào du lịch ở các nước phát triển cần một tổ chức có đủ thẩm quyền để giải quyết các vấn đề cấp nhà nước nên IUOTO được chuyển

Trang 20

thành Tổ chức du lịch thế giới WTO Đến nay WTO đã có trên 100 quốc gia là hội viên mà Việt Nam đã được tham gia từ năm 1981

Tầm quan trọng của sự phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới có thể được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, là một ngành kinh tế tổng hợp, do tính chất liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nên du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển, tạo được nguồn thu lớn, chiếm tỷ lệ trong GDP ngày càng cao

Sự phát triển của các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, y tế, giáo dục… trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện tiên quyết cho sự mở mang ngành kinh tế

du lịch Ngược lại sự phát triển của du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế cũng trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy các ngành kinh tế khác gia tăng

Sự phát triển của Du lịch sẽ mở ra thị trường rộng lớn đa dạng, phong phú cho các ngành kinh tế Trong tình hình của nước ta hiện nay, phát triển du lịch chính là tạo thị trường “xuất khẩu tại chỗ”, giới thiệu mặt hàng, mở rộng giao tiếp để ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, mở rộng quan hệ hợp tác sản xuất giữa các ngành kinh tế nước ta với các nước khác trên thế giới

Sự phát triển của Du lịch sẽ tạo điều kiện của các ngành kinh tế và các doanh nghiệp tận dụng các cơ sở vật chất hiện có, đổi mới công nghệ, tăng doanh lợi, cải thiện thu nhập cho người lao động, gia tăng tích lũy để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường được khả năng cạnh tranh trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế

Sự phát triển của du lịch sẽ góp phần làm cho nền kinh tế của một quốc gia tham gia rộng rãi vào sự phân công lao động của kinh tế thế giới Nói cách khác du lịch góp phần đáng kể thúc đẩy nền kinh tế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

Sự tăng trưởng của kinh tế du lịch sẽ làm tăng thu nhập ngoại tệ và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần quan trọng tạo nguồn vốn cho

Trang 21

đầu tư đầu tư phát triển đất nước, nhất là phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội trong đó có cơ sở hạ tầng phát triển du lich Là điều kiện cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm đưa quốc gia sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010 và trở thành nước công nghiệp năm 2020 Nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, bảo đảm được hiệu quả tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao Ở những nước có nền kinh tế kém phát triển như nước ta, họ coi du lịch như là phương thức chủ yếu để thu ngoại tệ đảm bảo sự thăng bằng trong cán cân thu chi ngân sách, đóng góp vào sự ổn định và phát triển xã hội, là một trong những điều kiện để đón nhận những tiến bộ kỹ thuật do cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đưa lại

Thứ hai, hoạt động du lịch càng trở nên nhộn nhịp và mang lại hiệu quả cao sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung trên phạm vi toàn thế giới

Du lịch là “Ngành xuất khẩu vô hình” Thông qua du lịch, du khách có

dịp mở rộng tầm hiểu biết sâu hơn về nền văn hóa, lịch sử, truyền thống trong bản sắc của mỗi dân tộc, tạo nên cầu nối thúc đẩy sự giao lưu chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc Các doanh nhân thông qua việc đi du lịch, một mặt để thỏa mãn nhu cầu nghĩ ngơi - giải trí sau những ngày làm việc căng thẳng, mặt khác còn để tìm kiếm và chớp lấy những cơ hội đầu tư tốt hơn

Thứ ba, du lịch phát triển càng tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, góp phần thúc đẩy và mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế

Thông qua hoạt động du lịch, nhân dân thế giới, nhất là các doanh nhân sẽ hiểu rõ đất nước Việt Nam đang là nơi đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập, bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang cần nguồn vốn đầu tư rất lớn vào nhiều lĩnh vực để phát triển kinh tế Việc đẩy nhanh nhịp độ phát triển của du lịch một mặt góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh kinh tế dịch vụ, mặt khác giới thiệu cho nhân dân thế giới hiểu biết sâu sắc hơn về một Việt Nam hòa bình ổn định, năng động và giàu

Trang 22

triển kinh tế, một điểm hẹn trong giao lưu văn hóa đặc sắc và đa dạng Thông qua hoạt động du lịch góp phần thực hiện tốt hơn chính sách mở cửa, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước

1.2 Những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch

Muốn phát triển du lịch của một nước, một địa phương cũng như của một doanh nghiệp đều phải có những điều kiện nhất định Đây là những điều kiện khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người Các điều kiện này có tác động đến quy mô, tốc độ, thể loại, nội dung và phương thức phát triển du lịch của một quốc gia, một địa phương và của từng doanh nghiệp cụ thể Có thể phân các điều kiện phát triển du lịch thành hai nhóm: các điều kiện ở tầm vĩ mô và điều kiện ở tầm doanh nghiệp

1.2.1 Các điều kiện ở tầm vĩ mô

Các điều kiện này tác động đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế, xã hội trên một địa bàn và trên toàn lãnh thổ Liên quan đến các điều kiện này bao gồm

Thứ nhất, các điều kiện riêng đặc trưng của phát triển du lịch, gồm:

nguồn tài nguyên du lịch, các cơ hội và sự kiện đặc biệt, điều kiện về thị trường du lịch Tuy nhiên cũng cần thừa nhận một thực tế là, không nhất thiết một quốc gia, một tỉnh, một huyện thị… có nhiều tài nguyên du lịch, thì nơi đó phát triển mạnh và thu hút nhiều khách du lịch Trên thế giới, rất nhiều quốc gia có nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, phong phú nhưng lượng khách du lịch đến không nhiều và du lịch ở đó cũng phát triển chậm Ở châu Á, nhiều nước giàu có về tài nguyên du lịch như Trung Quốc, Ấn Độ… nhưng du lịch phát triển mới ở mức độ nhất định và các nước đó trong một thời gian dài chưa coi

du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, hiện nay ở Trung Quốc quan điểm này đã thay đổi

Thứ hai, điều kiện kinh tế của quốc gia, trình độ phát triển của các

ngành nghề kinh tế có liên quan Chúng ta biết rằng, du lịch là ngành kinh tế

Trang 23

tổng hợp, do đó du lịch phát triển trong điều kiện các ngành kinh tế kỹ thuật khác phát triển Không thể nói du lịch phát triển trong lúc cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông, bưu điện, ngân hàng, điện, nước… vẫn ở trình độ thấp Bởi vì các ngành đó là đối tượng trực tiếp cung cấp các dịch vụ chủ yếu cho hoạt động du lịch Du lịch phát triển phải có những điều kiện về kinh tế - xã hội nhất định và không thể tự mình

“bứt phá” thoát ly các yếu tố nền tảng và tương hỗ khác Ngược lại sự phát

triển của Du lịch sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy các ngành kinh tế khác gia tăng

Thứ ba, điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch Liên quan

đến điều kiện nay là hệ thống giao thông, phương tiện và điều kiện đi lại thuận lợi, thông suốt Bên cạnh các điểm tham quan, du lịch còn phải có những

cơ sở dịch vụ, thu hút khách, tạo cơ hội cho họ nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, góp phần tái tạo sức lực sau những ngày căng thẳng về công việc Như vậy, cơ sở kết cấu hạ tầng du lịch phải làm cho hoạt động du lịch là một hệ thống liên hoàn, có tính thu hút cao

Thứ tư, điều kiện về cơ chế, chính sách, luật pháp và chính trị xã hội

Ngoài các yếu tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội, du lịch phát triển không chỉ dựa trên tiềm năng du lịch dồi dào, phong phú, mà còn phải dựa vào chính sách phù hợp, phải tạo được bầu không khí du lịch lành mạnh, có cơ chế liên doanh, liên kết với các hãng du lịch lớn và có uy tín, khai thác tốt các thị trường khách, có sản phẫm du lịch đặc thù và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ… tạo khả năng thu hút lớn

Tại các nước đang phát triển, nền kinh tế đang ở trình độ thấp, thời gian

qua phát triển “Du lịch đại chúng”, “Du lịch bình dân” là chủ yếu Nếu không

tính toán kỹ lưỡng và điều chỉnh kịp thời thì mức độ ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến phát triển bền vững, khả năng thu hồi vốn chậm, hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ và phá sản

Trang 24

Vấn đề đặt ra là nhận thức về khả năng, điều kiện phát triển du lịch nước ta như thế nào cho đúng, từ đó có định hướng, cơ chế chính sách phù hợp Đầu tư cái gì? ở đâu? loại hình nào? làm sao thu hút du khách ngày càng nhiều?… là một bài toán khó, nhiều ẩn số, cần bình tỉnh để tìm lời giải, không nên nóng vội và phải khách quan trong việc đánh giá các lợi thế cũng như những hạn chế, mặt trái của vấn đề Nhưng cũng không được thụ động, chần chừ, do dự làm mất đi những cơ hội tốt

1.2.2 Các điều kiện liên quan đến doanh nghiệp

Đây là những điều kiện đảm bảo cho sự sẳn sàng tổ chứcvận hành toàn bộ hoạt động kinh doanh du lịch Liên quan đến các điều kiện này phải kể đến những vấn đề then chốt như:

- Hệ thống các doanh nghiệp du lịch, tổ chức mạng lưới hoạt động kinh doanh du lịch,

- Điều kiện về cơ sở vật chất của doanh nghiệp du lịch

- Năng lực tổ chức quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ lao động làm việc trong ngành du lịch

Là quốc gia nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, sự phát triển của du lịch Việt Nam không nằm ngoài xu thế phát triển chung của du lịch khu vực Bên cạnh đó, do lợi thế về địa lý kinh tế - chính trị và tài nguyên, du lịch Việt Nam sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để tăng cường phát triển trong xu thế hội nhập của khu vực và thế giới: Lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông rộng với đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và đường hàng không Đây là tiền đế rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế Việt Nam có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào, người Việt Nam thông minh, cần cù, mến khách là những yếu tố quan trọng đảm bảo cho du lịch phát triển Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Việt Nam phong phú và đa dạng,

Trang 25

cao nguyên đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam sự đa dạng và phong phú về cảnh quan và các hệ sinh thái có giá trị cho phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là các hệ sinh thái biển - đảo, hệ sinh thái sông, hồ, hệ sinh thái rừng, hang động… Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài đứng thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á, đường bờ biển Việt Nam trải dài trên 3.260km qua 15 vĩ độ với 125 bãi biển có các điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghĩ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí, trong đó có nhiều bãi biển hấp dẫn như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Văn Phong - Đại Lãnh, Nha Trang, Phan Thiết, Long Hải, Vũng Tàu, Hà Tiên Đặc điểm hình thái địa hình vùng ven biển tạo ra nhiều vịnh đẹp có tiềm năng phát triển du lịch lớn như: Vịnh Hạ Long, Vịnh Văn Phong, Vịnh Cam Ranh… Trong đó Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Trong tổng số hơn 2.700 đảo lớn nhỏ ven bờ, nhiều đảo như Cái Bầu, Cát Bà, Tuần Châu, Cù Lao Chàm, Phú Qúy, Côn Đảo, Phú Quốc… với các hệ sinh thái phong phú, cảnh quan đẹp, là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm du lịch hấp dẫn [6, tr.6]

Với khoảng 50.000 km2 địa hình karst, Việt Nam được xem là nước có tiềm năng du lịch hang động, thác, ghềnh to lớn, trong đó có hơn 200 hang động đã được phát hiện, điển hình là động Phong Nha với chiều dài là 80 km, đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới

Nguồn nước khống phong phú cĩ ý nghĩa to lớn đối với phát triển du lịch Đến nay đã phát hiện được hơn 400 nguồn nước khống tự nhiên với nhiệt

độ 27oC đến 150oC Thành phần hĩa học của nước khống rất đa dạng, từ bicabonat natri đến clorua natri với độ khống cao cĩ giá trị đối với du lịch nghỉ dưỡng bệnh

Việt Nam cĩ hệ sinh thái động - thực vật ràng đa dạng Tính đến nay, cả nước đã cĩ 107 khu rừng đặc dụng trong đĩ cĩ 25 vườn quốc gia, 75 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hĩa - lịch sử - mơi trường với tổng diện tích là 2.092.466ha Đây là nguồn tào nguyên du lịch sinh thái quý giá, nơi bảo tồn

Trang 26

quý hiếm, trong đĩ cĩ Vườn Quốc gia Ba Bể với hồ thiên nhiên được đánh giá vào loại lớn trên thế giới đang được đề nghị UNESCO cơng nhận là di sản thiên nhiên thế giới

Tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam phong phú với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trong số khoảng 40.000 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng Tiêu biểu là quần thể di tích Triều Nguyễn ở Cố đơ Huế (Thừa Thiên Huế), đơ thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) là di sản văn hĩa thế giới và Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới đã được UNESCO công nhận

Ngồi các di tích lịch sử, văn hĩa, cách mạng, nhiều nghề thủ cơng truyền thống với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt văn hĩa, văn nghệ dân gian, ẩm thực được hịa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phong cảnh

cĩ giá trị triết học phương Đơng, đã tạo cho du lịch Việt Nam cĩ nhiều điều kiện khai thác thế mạnh về du lịch văn hĩa - lịch sử

Nhìn chung, tài nguyên du lịch Việt Nam vừa phân bố tương đối đều trên tồn quốc, vừa tập trung thành cụm gần các đơ thị lớn, các trục giao thơng quan trọng thuận tiện cho việc tổ chức khai thác, hình thành các tuyến du lịch bổ sung cho nhau giữa các vùng, giá trị sử dụng cho mục đích du lịch và sức hấp dẫn du khách cao

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân khách quốc tế đạt 11%/năm Năm 2004, nước ta đón 2,93 triệu lượt khách nước ngoài, tăng 20.5%

so với năm 2003, thu nhập du lịch đạt trên 26.000 tỷ đồng Năm 2005 con số tương ứng là 3,43 triệu lượt, tăng 17,06% so với năm 2004 và thu về 30.000 tỷ đồng, cao gấp 2 lần năm 1999 Kết quả thực hiện chương trình giai đoạn 2001

- 2005 khẳng định sự đầu tư của nhà nước cho du lịch đã đem lại hiệu quả trên nhiều mặt, cả kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, góp phần cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch Sản phẩm du lịch Việt Nam từ chổ chủ yếu được hình thành thụ động, thiếu chuyên nghiệp đã được cải thiện rõ rệt cả về chất lượng lẫn số lượng

Trang 27

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân khách quốc tế đạt 11%/năm Năm 2004, nước ta đón 2,93 triệu lượt khách nước ngoài, tăng 20,5%

so với năm 2003, thu nhập du lịch đạt trên 26.000 tỷ đồng Năm 2005 con số tương ứng là 3,43 triệu lượt, tăng 17,06% so với năm 2004 và thu về 30.000 tỷ đồng, cao gấp 2 lần năm 1999 Kết quả thực hiện chương trình giai đoạn 2001 -

2005 khẳng định sự đầu tư của nhà nước cho du lịch đã đem lại hiệu quả trên nhiều mặt, cả kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, góp phần cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch Sản phẩm du lịch Việt Nam từ chổ chủ yếu được hình thành thụ động, thiếu chuyên nghiệp đã được cải thiện rõ rệt cả về chất lượng lẫn số lượng

Trong tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam, Việt kiều về thăm thân nhân, lượng khách đến từ các nước cĩ thu nhập cao như Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Áo, Canada, Italia, Mỹ, New Zealand, Thủy Điển, Úc, Singapore tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng chung Bởi vậy, thu nhập ngoại tệ từ du lịch quốc tế

đã tăng khá Nếu năm 2003 đạt chưa được 1,6 tỷ USD thì năm 2004 đã đạt gần 2

tỷ USD Con số này cịn lớn gấp nhiều lần các loại dịch vụ khác, lớn hơn cả số lượng vốn ODA giải ngân

Sự ổn định chính trị - xã hội, các chính sách khuyến khích, những nỗ lực cải thiện mơi trường đầu tư và kinh doanh cộng với dịch vụ giá rẻ đang tạo lợi thế lớn cho phát triển du lịch Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta chưa khai thác đúng mức lợi thế này Hiện tại tổng số lượt khách quốc tế đến Việt Nam mới đứng hàng thứ 50 trên thế giới Tỷ lệ khách du lịch quốc tế đến nước tư so với dân số mới đạt 3,6% tức là 100 người dân Việt Nam mới cĩ 3,6 lượt khách quốc tế, cịn đứng thứ 94 trong tổng số 151 nước vùng lãnh thổ cĩ số liệu so sánh, trong khi nhiều nước và vùng lãnh thổ cĩ số khách đến cịn nhiều hơn dân số như Hồng Kơng 192,1%, Ma Cao 1.525,6%, Singapore 158,44%, Guam 831%, Papua New Guinea 5.130%, Aixolen 107,8%, Ailen 177,3%, Na Uy 100%, Hungari 152,5%,

Hy Lạp 118,4%, Bồ Đào Nha 120,3%, Tây Ban Nha 122,1%, Áo 211,7%, Pháp 128,2%, Lucxămbua 184,2%, Monaco 937,5%, Thụy Sỹ 158,8%, Síp 354,8%, Mandivơ 169,2% Chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam cũng cịn quá khiêm tốn, mới đạt khoảng 681 USD/lượt khách Lượng khách quay trở lại Việt

Trang 28

Nam lần thứ hai chỉ đạt trên dưới 20% Lượng khách của những nước giàu tuy tăng nhanh nhưng cịn chiếm tỷ trọng nhỏ Hiện nay, hệ thống sản phẩm và các loại hình dịch vụ du lịch của chúng ta cịn nghèo nàn, chất lượng chưa cao, mơi trường đầu tư du lịch chưa thực sự thơng thống, thủ tục rườm rà, vẫn cịn tình trạng lộn xộn trong kinh doanh, cơng tác quản lý và điều hành du lịch chưa đồng

bộ và chưa cĩ sự phối hợp thống nhất giữa các cấp Chất lượng đội ngũ hớng dẫn viên du lịch cịn hạn chế, chưa chuyên nghiệp Tình trạng bán hàng rong, ăn xin đeo bám khách tại các điểm du lịch vẫn chưa được khắc phục triệt để

Nhìn chung, xem xét điều kiện phát triển triển, nền du lịch của nước ta có những thuận lợi và khó khăn sau đây:

Về thuận lợi, Du lịch Việt Nam như các chuyên gia về du lịch trên thế giới trước đây thường cho rằng khó có thể phát triển kịp với các nước quanh khu vực thuộc khối Asean như hiện nay trong vòng hai thập kỷ tới Nhưng dù có khó khăn đến đâu với bàn tay khối óc của con người Việt Nam cộng với tiềm năng về du lịch vốn đã sẳn có từ lâu chưa được khơi dậy, bên cạnh đó Việt Nam cũng có nhiều lợi thế khách quan trong việc phát triển du lịch để thu hút đông đảo khách quốc tế vào thời gian tới, những lợi thế đó la :

+ Việt Nam là một thành phần của Đông Dương, một trong những khu vực du lịch đẹp của thế giới được quốc tế chú ý đến

+ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có nhiều bãi biển đẹp, có những

di tích lịch sử và một số danh lam thắng cảnh nổi tiếng được nhiều du khách quốc tế biết đến như Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, biển Nha Trang, cao nguyên Đà Lạt, đảo Phú Quốc…

+ Tình trạng chưa phát triển mạnh du lịch quốc tế trong quá khứ đã đưa điểm tham quan du lịch Việt Nam đi vào chu kỳ khởi đầu của cuộc sống, điều đó sẽ tạo cho du lịch Việt Nam phát triển mạnh trong vòng 20 năm tới, trong khi đó các nước khác, như Thái Lan chẳng hạn đã đi qua giai đoạn quá độ của trưởng thành để bước vào giai đoạn lão hóa

Trang 29

Du lịch Việt Nam cùng với du lịch các nước Đông Nam Á, với các sắc thái văn hóa vô cùng phong phú, sẽ hình thành một trung tâm du lịch lớn có sức thu hút mạnh đối với du khách thế giới

Những năm qua sự nghiệp đổi mới đất nước của Việt Nam đạt được những thành tựu quan trọng: Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quan hệ đối ngoại và việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng và thu nhiều kết quả tốt, kinh tế tiếp tục phát triển và duy trì được nhịp độ tăng trưởng khá, bình quân 6,94%/năm trong thời kỳ 1996 - 2000, đạt 7,05% giai đoạn

2001 - 2005 Hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là đường giao thông, cầu, cảng, sân bay, điện, nước, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm… được tăng cường Các ngành kinh tế, trong đó có các ngành dịch vụ, đều có bước phát triển mới tích cực Diện mạo của các đô thị được chỉnh trang, xây dựng hiện đại hơn Nông thôn Việt Nam cũng có những biến đổi sâu sắc Văn hóa, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên Khoa học và công nghệ có chuyển biến, phục vụ ngày càng tốt hơn cho sản xuất, phát triển các ngành kinh tế và đời sống Tình hình trên là nền tảng vững chắc cho du lịch Việt Nam phát triển Đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược phát triển du

lịch Việt Nam 2001 - 2010: Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi

nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cở của khu vực, phấn đấu sau năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP của ngành du lịch bình quân thời kỳ 2001 - 2010 đạt 11 - 11,5%/năm, đến năm 2010 khách quốc tế vào Việt Nam du lịch từ 5,5 - 6 triệu lượt người, khách nội địa từ 25 - 26 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt 4 - 4,5

Trang 30

Với chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì mọi tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật đều được phép tổ chức hoạt động kinh doanh các ngành nghề trong lĩnh vực du lịch, mở ra khả năng to lớn trong việc khai thác triệt để các nguồn lực, tạo sức mạnh tổng hợp cho công cuộc phát triển đất nước

Vừa qua, ngày 17/10/2006 Hội nghị Bộ trưởng Du lịch AFEC lần thứ 4 được tổ chức tại Việt Nam đã thông qua tuyên bố Hội An về thúc đẩy hợp tác

du lịch AFEC, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho phát triển du lịch Việt Nam trong hội nhập sắp tới

Tuy nhiên, du lịch Việt Nam cũng đang đứng trước những khó khăn

+ Khó khăn nội tại là Việt Nam mới có quy hoạch, chiến lược phát triển

du lịch quốc gia, cho từng vùng và cho mỗi địa phương cụ thể Do vậy thời gian qua việc phát triển du lịch vẫn còn phân tán và đơn điệu, mới tập trung vào xây dựng khách sạn, mà việc xây dựng khách sạn cũng chưa được tính toán kỹ lưỡng nên dẫn đến tình trạng xây dựng tràn lan, chất lượng khách sạn chưa cao Mặt khác sự chuẩn bị để hòa nhập với du lịch thế giới về nhận thức, tổ chức bộ máy, con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý điều hành du lịch chưa nhiều, chưa ngang tầm, có mặt chưa tốt Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý để thúc đẩy du lịch phát triển còn thiếu chặt chẽ, trong khi đó sự cạnh tranh du lịch trong khu vực lại rất gay gắt Mâu thuẩn giữa sự tăng trưởng khách du lịch với năng lực thỏa mãn nhu cầu du khách, giữa phát triển du lịch với phát triển kết cấu hạ tầng, giữa mở cửa thu hút khách với vấn đề an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội… là những trở ngại và thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch Việt Nam

+ Khó khăn ngoại tại là, trong vùng Đông Nam Á, bên cạnh các nước láng giềng như Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Việt Nam trông giống như người bà con vừa thoát khỏi cảnh nghèo túng, hoạt động

du lịch đã có những bước tiến nhất định Tuy nhiên ngành du lịch Việt Nam

Trang 31

thaùc caùc sạn phaơm du lòch tieăm naíng saún coù beđn trong ñeơ táo söï chuù yù haâp daên ñoâi vôùi du khaùch chöa phại laø cao, theđm vaøo ñoù giaù cạ caùc loái sạn phaơm vaø dòch vú du lòch lái ñaĩt khođng thua keùm gì caùc nöôùc lađn caôn coù ngaønh du lòch phaùt trieơn mánh Vì theâ ngaønh du lòch Vieôt Nam thaôt söï khoù khaín trong cánh tranh so vôùi caùc nöôùc bán trong khu vöïc Hay noùi moôt caùch khaùc, Vieôt Nam ôû khu vöïc Ñođng Nam AÙ cuõng gioâng nhö moôt cöûa haøng môùi môû cöûa, chöù chöa coù nhieău haøng baøy baùn giöõa khu thöông mái saăm uaât

Ñeơ phaùt trieơn du lòch, Vieôt Nam phại taôn dúng ñöôïc caùc ñieău kieôn thuaôn lôïi vaø khaĩc phúc ñöôïc nhöõng khoù khaín Coù nhö vaôy, du lòch Vieôt Nam môùi phaùt trieơn ñöôïc mánh meõ, thöïc hieôn ñöôïc vai troø cụa noù trong ñieău kieôn hoôi nhaôp kinh teâ quoâc teâ

1.3 Kinh nghiệm phât triển du lịch ở một số thănh phố lớn trong vă ngoăi nước

1.3.1 Kinh nghiÖm ph¸t triÓn du lÞch ị mĩt sỉ thµnh phỉ cña c¸c n-íc

§«ng Nam AÙ

1.3.1.1 Kinh nghieôm cụa Thaønh phoâ Chiang Mai - Thaùi Lan

Vôùi dieôn tích hôn 500.000km2 vaø ñòa hình ña dáng töø nuùi ñoăi, cao nguyeđn, ñeân ñoăng baỉng, sođng suoẩi, coông theđm vôùi thụ ñođ Bangkok laø nôi ñođ hoôi phaùt trieơn, Thaùi Lan laø vuøng ñaât lyù töôûng cho nhöõng chuyeân du lòch ÔÛ ñađy coù 8 vuøng tróng ñieơm du lòch, tính töø Baĩc xuoâng Nam laø: Chiang Rai, Chiang Mai, Kanchannaburi, Bangkok, Pattaya, Samui, Phuket vaø Krabi

Thaùi Lan laø moôt trong nhöõng quoâc gia coù ngaønh Du Lòch phaùt trieơn raât mánh thôøi gian qua ôû khu vöïc Ñođng Nam AÙ Ngaønh cođng nghieôp du lòch cụa Thaùi Lan ñaõ vöôït qua toât hôn cuoôc khụng hoạng ngaøy 11/9/2001 so vôùi nhieău nöôùc trong vuøng Chađu A - Thaùi Bình Döông Töø naím 2002, vôùi söï thaønh laôp Boô

Du Lòch vaø Theơ Thao, Thaùi Lan ñaơy mánh hôn nöõa ngaønh kinh doanh quan tróng naøy Du lòch Thaùi Lan ñaõ vöôït ngöôõng 10 trieôu löôït du khaùch quoâc teâ/naím vôùi doanh thu tređn 300 tyû bát, toâc ñoô taíng tröôûng bình quađn >7%/naím

Trang 32

Bên cạnh các kế hoạch nhằm theo đuổi mục tiêu không ngừng gia tăng lượng khách quốc tế, Tổng cục Du lich Thái Lan cũng đã triển khai tốt những chiến dịch liên tục để khuyến khích người dân Thái đi du lịch trong nước, lợi nhuận thu được từ du lịch nội địa cũng đạt trên 300 tỷ bạt

Với mục tiêu biến Thái Lan thành “Thủ phủ du lịch của Châu Á” nhà nước Thái đã mời 1.500 nhà báo quốc tế đến thăm Thái Lan như là một phần của chiến dịch quan hệ quốc tế Chiến dịch “Thái Lan kỳ diệu: Hãy Thể Nghiệm Sự Đa Dạng Nơi Đây” được triển khai với trọng tâm hướng vào khách từ các nước Trung Quốc, Nhật và Trung Đông Nhà nước Thái đã để ra một ngân sách du lịch 3,3 tỷ bạt cho tiếp thị và 3,5 tỷ bạt cho việc phát triển du lịch, trong đó có việc bảo dưỡng các khu du lịch

Du khách đến Thái Lan được tự do mang vào số lượng ngoại tệ không hạn chế, nhưng khi mang ra thì không được vượt quá số lượng mang vào khi khai báo Hải quan, hoặc không được vượt quá trị giá 10.000USD, đối với tiền của Thái Lan khi ra mỗi người có thể mang tối đa 50.000 bạt không cần xin phép trước Du khách được khuyến khích mở tài khoản ngoại tệ tại bất kỳ ngân hàng thương mại nào ở Thái Lan để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng tại đây, với tài khoản này sẽ không có một hạn chế nào trong việc ký thác hoặc rút tiền nếu nguồn tiền được gửi vào từ nước ngoài Du khách được mang ra các loại hàng hóa mua ở các quầy hàng miễn thuế, các loại đồ trang sức bằng đá quí, vàng & bạch kim…

Trong khuôn khổ kế hoạch phát triển du lịch, Luật Du lịch ra đời với tác dụng như một bản thiết kế cho ngành này Bộ Du lịch & Thể thao là cơ quan quốc gia ban hành các quy định quản lý và điều phối việc sử dụng ngân sách cho chương trình phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch Tổng cục Du lịch là

cơ quan trực thuộc tập trung vào các hoạt động tiếp thị và quảng cáo Cảnh sát

du lịch được thành lập năm 1982, phối hợp với Tổng cục du lịch để bảo vệ an ninh cho du khách ở Thái Lan

Trang 33

Trong chương trình phát triển chung của du lịch quốc gia, một trong 8 vùng du lịch trọng điểm của Thái Lan, chiếm thị phần du khách lớn nhất - đó là:

Thành phố CHIANG MAI: Được biết đến với cái tên mỹ miều “Đóa

hồng của miền Bắc”, Chiang Mai vẫn được ca tụng về vẻ đẹp thiên thiên và bản sắc văn hóa độc đáo của nó Thành phố này do đại đế Mengrai lập làm kinh đô của vương quốc Thái Lanna năm 1296 bằng cách sát nhập nhiều tiểu quốc đô thị Ngày nay Chiang Mai là trung tâm kinh tế, thông tin liên lạc, văn hóa và du lịch của miền Bắc Thái Lan

Cách Bangkok khoảng 700km, Chiang Mai nằm trên lưu vực sông Mae Ping, có độ cao trên mặt biển 310 mét Được bao quanh bởi nhiều rặng núi, Chiang Mai có diện tích khoảng 20.107km2 Địa hình ở đây chủ yếu là núi và rừng, một phần trong đó là những công viên quốc gia với hệ thực vật và động vật rất phong phú Bên cạnh những sản phẩm du lịch mà vùng miền nào của Thái Lan cũng có như về ẩm thực, các loại hoa quả nhiệt đới phong phú, cưởi voi, nhạc dan gian, hàng thủ công mỹ nghệ, dịch vụ mát - xa… Ở đây có rất nhiều điểm để du khách tìm hiểu về lối sống của các bộ tộc định cư trên các ngọn đồi cao Thành phố có rất nhiều điểm tham quan nổi tiếng có sức thu hút và lưu giữ du khách trong thời gian dài, như :

- Chùa Phra Sing, chùa Suan Dok, chùa Chiang Man, Chùa Chedi Luang, chùa Ku Tao… là những ngôi chùa rất cỗ, có chứa hài cốt hỏa táng của những người trong trong hoàng tộc

- Phố cổ Kum Kam được xây dựng từ thời vua Mengrai năm 1286, chung quanh có hào sâu bao bọc, có 20 di tích cổ, trong đó có chùa Chedi Liam, chùa Chang Kham, chùa Noi, chùa Pu Pia, chùa Ku Koa Chùa E Kang, chùa Hua Nong và chùa Pu Song

- Trung tâm văn hóa nghệ thuật Kad Suan Kaeo tọa lạc ở khu phố mua sắm Kad Suan Kaeo, được trang bị công nghệ hiện đại để trình diễn các loại hình văn hóa nghệ thuật của Thái Lan và của nước ngoài

Trang 34

- Bảo tàng côn trùng và kỳ quan thiên nhiên có những bộ sưu tập độc đáo các loại côn trùng nội địa và nước ngoài, cả những loại động vật hóa thạch

- San Kamphaeng là địa chỉ nổi tiếng về tơ tằm và làng dệt, cách trung tâm thành phố khoảng 13Km, khách du lịch đến đây để mua các loại hàng lưu niệm bằng vải và tơ lụa với chất lượng cao và giá rẻ

- Suối nước nóng San Kamphaeng cách trung tâm thành phố 36km, nằm giữa vùng cây cối và đồi núi xanh tươi và suối nước nóng Pong Duat Pa Pae cách trung tâm thành phố 40km, phun cao 4 mét trên mặt đất Nước ở những nơi này có hàm lượng lưu huỳnh cao có tác dụng chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe Ở đây có đầy đủ tiện nghi về chổ ở, hồ bơi, nhà hàng ăn uống… bên cạnh suối nước nóng Roong Arun và công viên hoa lệ

- Công viên quốc gia núi Suthep và núi Pui, có diện tích 262km²; Công viên quốc gia Nam Dang rộng 180km², hầu hết khu vực này là cao nguyên, núi

ở đây được bao phủ bởi rừng cây xanh tươi, là nguồn nước cho những nhánh sông và những con suối Là những điểm tuyệt vời để ngắm cảnh mặt trời mọc giữa những thung lũng mờ hơi mây vào buổi sáng sớm, là địa điểm lý tưởng để cắm trại

- Công viên quốc gia Lanna là một môi trường hoàn toàn hoang dã với cây rừng xanh ngắt, có diện tích 100.000ha, với thác nước Mon Hin Lai có 9 tầng nước đổ quanh năm

- Thác Mae Ya là một trong những thác nước đẹp nhất Chiang Mai, có dòng nước đổ xuống từ độ cao 280 mét trông như những tấm lụa trắng treo giữa nền cây rừng Thác Mok Fa, thác Mea Klang là những ngọn thác một tầng có nước đổ quanh năm giữa một vùng cây cối xanh tốt Môi trường thú vị ở đây là một nơi lý tưởng để nghỉ dưỡng Thác Mae Sa nổi tiếng với 8 tầng nước trong khung cảnh dễ thương đầy gió mát

Trang 35

- Nhiều điểm tham quan và thắng cảnh hấp dẫn khác như: làng Hmong Mae Sa Mai, Vườn bướm và Phong lan, vườn sinh vật hoàng hậu Sirikit, trại rắn Mae Sa, thap Naresuan, Bảo tàng các Bộ tộc, hang Chiang Dao, hang Bori Chinda, Trung tâm văn hóa Chiang Mai, làng dệt truyền thống…

Du lịch Chiang Mai nói riêng, Du lịch Thái Lan nói chung đã phát triển và đạt được những thành tựu vượt bật trên cơ sở khai thác tốt những tài nguyên phong phú của đất nước cùng với chiến lược phát triển du lịch quốc gia được đề cao và thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn

Bên cạnh đó những hoạt động của gái mại dâm, người môi giới, những tay buôn ma túy… ngoài vòng pháp luật nhưng vẫn được công nhận và bảo vệ, luôn đồng hành với hoạt động du lịch, được du khách nước ngoài biết đến như

là “sản phẩm đặc thù” Tuy nhiên với pháp luật và văn hóa Việt Nam không

thể chấp nhận những hoạt động này

1.3.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch SINGAPORE

Đảo quốc Cộng hòa Singapore có vị trí ở độ 1 Bắc vĩ tuyến, thuộc phía Nam châu Á, có diện tích 692,7km², dân số hơn 4,5 triệu người, trong đó người Hoa chiếm trên 76% [5] Quốc gia này bao gồm đảo Singapore và 58 đảo nhỏ khác Nhờ có một chính quyền hiệu quả và kiên định, Singapore đã trở nên một đất nước phồn thịnh, nổi trội về thương mại và du lịch, là một tấm gương cho các nước đang phát triển Mỗi năm có hơn 7 triệu du khách quốc tế đến viếng hòn đảo nhỏ bé này, gần gấp đôi dân số của quốc gia Đó là trung tâm hàng đầu của châu Á về tài chính và kinh doanh, là trung tâm lọc dầu lớn hàng thứ 3 thế giới Thành phố thủ đô, mang cùng tên gọi là Singapore, chiếm khoảng 1/3 diện tích của đảo chính

Mặc dù rất nhỏ về mặt địa lý, thành phố Singapore lại rất cường thịnh về kinh tế, đó là thành phố hiện đại nhất trong cả vùng Đông Nam Á trong hơn một thế kỷ qua Thành phố này là sự pha trộn về văn hóa và tôn giáo của Malaya, Trung Hoa, Ả Rập, Ấn Độ và Anh Quốc Với sự đan xen nhiều màu

Trang 36

sắc về mặt dân tộc đó, du khách đến viếng Singapore có thể tha hồ chọn lựa cho mình những nơi tham quan và ẩm thực vừa ý Một chương trình đặc kín những lễ hội truyền thống và những ngày lễ, tết rải ra quanh năm làm cho đất nước này thêm phần lôi cuốn Ngoài ra Singapore còn có những khách sạn sang trọng, những món ăn ngon và những món hàng tuyệt vời để mua sắm

Nằm ở đỉnh nhọn của bán đảo Malaya, với khí hậu nhiệt đới quanh năm ấm áp, Singapore có thể đón nhận tất cả các du khách, thương gia vào mọi mùa Cơ sở hạ tầng đầy đủ ở đây giúp cho du khách thưởng thức được những điểm tham quan và những thú vui hấp dẫn trong một môi trường an toàn, trong lành và xanh tươi Từ nhiều thế kỷ, Singapore đã là trục lộ giao thông giữa Đông và Tây Phi trường Changi đã từng được giải thưởng, ở đó có hệ thống truyền dẫn và thông tin liên lạc với trình độ công nghệ cao, có quan hệ với hơn

50 hãng hàng không và có tuyến bay đến các thành phố lớn trên khắp thế giới Hệ thống xe lửa, xe điện ngầm ở đây rất sạch sẽ, nhanh chóng và hiệu quả Ngoài ra, hải cảng hiện đại ở đây đã giúp cho Singapore trở thành một trong những trung tâm giao thương hàng đầu của vùng Đông Nam Á, là bến đổ trong bất kỳ hải trình nào của châu Á Trong thành phố, người ta không nhất thiết cần đến ô tô vì hệ thống giao thông công cộng ở đây rất tiện lợi và hiệu qua û(tắc xi, xe điện, xe buýt, thuyền và phà, thang cuốn…) Người ta cũng có thể đi bộ khi tham quan những điểm gần để có dịp khám phá hết những nét đặc trưng phong phú của thành phố này Tất cả những điểm hấp dẫn ở đây đều có tuyến

xe buýt đến tận nơi Thành phố chỉ cách đường xích đạo 100 km nên nhiệt độ của vùng nhiệt đới ở đây khá ổn định Lượng mưa cũng rải đều quanh năm Do đó, dù bạn đến đây vào bất kỳ mùa nào trong năm, khí hậu ấm áp vẫn luôn luôn chào đón bạn Ngay khi mới đến đây, du khách sẽ tiếp cận ngay với hàng loạt các công viên, các khu bảo tồn thiên nhiên và những vùng cây cối xanh tốt sum suê

Trong vòng mấy thập niên vừa qua, Singapore đã có một bước tiến

Trang 37

lấp tất cả Khách đến viếng Đất nước này sẽ có dịp khám phá một kho tàng phong phú vẫn còn được lưu giữ qua những thời kỳ lịch sử, trong đó có những công trình kiến trúc cổ xưa, những giá trị văn hóa và những truyền thống vẫn còn tồn tại được trong bối cảnh những thay đổi sâu rộng về địa lý và xã hội

Vốn thiếu những tài nguyên thiên nhiên đáng giá, sự thịnh vượng của Singapore nhờ vào chính sách thương mại rất tự do bên cạnh việc công nghiệp hóa được thực hiện hàng loạt và liên tục Hầu hết người dân Singapore sống trong những căn hộ cao cấp, với thu nhập bình quân đầu người trên 24.000 USD một năm Singapore là một địa điểm sạch sẽ và an toàn để du khách đến tham quan, với không khí hòa nhã, dễ chịu xếp vào loại hàng đầu và những nơi công cộng ở đây đều trong lành đến mức không có lấy một gợn khói Hoạt động y tế và giáo dục rất mạnh Nhà nước Singapore thiết lập những qui định rất nghiêm ngặt về mặt xã hội, việc hút thuốc lá và nhai kẹo cao su bị cấm hoàn toàn ở những nơi công cộng

Trung tâm thành phố Singapore là quận Thuộc Địa (Colonial District), bao quanh đó là từng khu nhỏ, mỗi khu vực có một phong vị riêng đặc trưng của nó, từ những hiệu bán hương liệu của khu tiểu Aán Độ (Little India) đến những đường phố hẹp của khu Hoa Kiều (Chinatown), nơi đó người ta còn có thể tìm được những nghệ nhân viết thư pháp hay những ông thầy lý số, hoặc là khu quảng trường Ả Rập (Arab Quarter) với những dãy hiệu buôn có bán những loại hàng vải và lụa rất đẹp

Phía Bắc thành phố là hai khu bảo tồn thiên nhiên, Bukit Tima và Trung tâm nước (Central Catchment Area), cùng với sự tráng lệ của vườn bách thú Singapore Dọc theo dãi bờ biển cát trắng là những nhà hàng bán các loại hải sản đặc trưng của vùng biển phía Đông Âm nhạc, sân khấu, những sinh hoạt về đêm, tất cả đều có đầy đủ ở mọi nơi trong thành phố này

- Những điểm tham quan và giải trí chính ở thành phố:

+ Công viên chim Jurong, là một trong những công viên chim lớn nhất

Trang 38

chim thuộc 600 loài khác nhau trên khắp thế giới, trong khung cảnh cây cối sum sê, tươi tốt

+ Khu săn đêm (Night Safari), Đây là một sở thú ban đêm hàng đầu thế

giới Ở đây có hơn 1.200 con thú và hơn 110 loài thú nước ngoài cho khách quan sát

+ Thiên đàng cá sấu Jurong, là một trại nuôi Cá Sấu thể hiện những đặc điểm đời sống của loài động vật lưỡng thê vừa sống dưới nước vừa sống trên cạn Ở đây hàng ngày đều có những tiết mục biểu diễn đấu vật của Cá Sấu

+ Vòi nước thịnh vượng (Foutain of wealth), hai điểm đặc biệt của vòi phun nước này: lớn nhất thế giới (Guiness book 1998)và gắn liền với một niềm tin có phần mê tín

+ Thành phố Đường Triều (Tang Dynasty city): Mở cửa từ 9 giờ sáng

đến 6 giờ 30 chiều Cơ sở này đã được đầu tư nhiều triệu đôla để mô phỏng lại kinh đô của nhà Đường trước kia, vốn là trung tâm của thời đại hoàng kim ở Trung Quốc từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 8

+ Công viên bướm, là một vườn nuôi hơn 2.500 con Bướm thuộc hơn 50 loại khác nhau, khoe sắc rực rỡ trong các lùm cây xanh Có khoảng 3.000 loài côn trùng đẹp và hiếm nhất thế giới, cùng với một phòng nuôi Đom Đóm

+ Pháo đài Siloso, là pháo đài duy nhất mà Singapore còn bảo trì để phục vụ khách tham quan Trong pháo đài có những hiện vật trưng bày phản ánh quá trình lịch sử từ thế kỷ thứ 19 đến cuộc chiến đấu bảo vệ Singapore năm 1942

+ Tháp Merlion, là tượng “Ngư Sư”, với đầu sư tử và mình cá, biểu tượng ngành du lịch Singapore

+ Thành phố đổ nát, để sống lại một thời đã qua và du hành vào những

bí ẩn của một nền văn hóa cổ, bạn có thể vào tham quan tại đây

+ Khu núi lửa, khu vực giả lập này đưa du khách tham quan vào một thế giới của động đất và núi lửa

Trang 39

+ Thành phố tuyết Singapore, là một môi trường giả lập khí hậu ôn đới với mùa Đông vĩnh viễn và tuyết có mặt ở khắp mọi nơi

+ Vườn bách thú Singapore, là một môi trường cho các loài thú sống đúng theo thói quen thiên nhiên, không có chuồng trại, tường rào để nhốt thú,

ở đây chỉ có hào ngăn cách để tránh nguy hiểm cho khách tham quan

+ Khu bảo tồn thiên nhiên Bukit Timah, là một trong số hai rừng nhiệt đới duy nhất trên thế giới nằm trong khuôn viên của một thành phố Trên diện tích 164 héc ta của khu bảo tồn này có số lượng tiêu bản thực vật nhiều hơn cả lục địa Bắc Mỹ

+ Các Viện bảo tàng: Bảo Tàng Học Sĩ Trung Hoa, Bảo Tàng Văn Minh Châu Á, Bảo Tàng Làng Tân Minh, Bảo Tàng Nghệ Thuật Singapore, Bảo tàng Không lực Cộng Hòa Singapore và Bảo tàng Lịch sử Singapore

Bên cạnh đó còn có: Nhiều Đền, Chùa, Nhà thờ, Nhà Nữ Hoàng (Empress Place), Nhà Tù Changi và cả Thế Giới Rồng Haw Par Villa, cùng một số điểm và khu vực đặc trưng ở Singapore như: Phố Ả Rập, Phố Hoa Kiều (Chinatown), Khu Tiểu Ấn Độ (Little India), Bến Tàu và Bến Clark, Đường Orchard…

1.3.2 Kinh nghiệm ph¸t triĨn du lÞch ë mét sè thµnh phè trong nước

1.3.2.1 Kinh nghiệm củaThành phố Hà Nội

Là thủ đô của đất nước, là một trong những thành phố cổ hấp dẫn bậc nhất của Châu Á Trong quá khứ, kể từ khi định đô và những thời kỳ kế tiếp, Thăng Long đã chính thức đi vào lịch sử là một đô thị tiêu biểu của Việt Nam Dưới chế độ cũ, trong khi nước ta nền nông nghiệp còn mang tính tự cung tự cấp nghèo nàn thì Thăng Long đã đi tiên phong trong việc phát triển kinh tế hàng hóa bằng việc hình thành 36 phố phường buôn bán và các nghề thủ công chuyên nghiệp Trải qua gần 1.000 năm với những biến động thăng trầm của lịch sử, Hà Nội thay đổi từng ngày nhưng vẫn giữ được bản sắc Đông Đơ - Thăng Long - Hà Nội

Trang 40

Hà Nội là địa bàn hội tụ dân cư nhiều địa phương đến làm ăn sinh sống, nhưng một khi họ đã hòa nhập với nhau tạo ra một môi sinh xã hội với đầy đủ bản sắc người Hà Nội hào hoa, phong nhã, lịch thiệp, mến khách và tính cách của văn hóa phương Đông

Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật mà còn là Thủ đô có điều kiện về kinh doanh du lịch, là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước Tổng cục Du lịch đã xác định vùng du lịch Bắc bộ gồm 23 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Hà Giang với Hà Nội là trung tâm của vùng, là tam giac động lực tăng trưởng cho ngành du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Hà Nội là tụ điểm các trục giao thông lớn của miền Bắc và cả nước, là nơi hội tụ của 6 tuyến đường sắt, 8 tuyến đường bộ, cách cảng Hải Phòng 100 km, lại có cảng hàng không quốc tế và nội địa, là đầu mối quan trọng nối các tỉnh miền Bắc với nhau, là thị trường gửi khách và thị trường nhận khách không chỉ đối với các tỉnh trong cả nước mà cả nhiều nơi khác trên thế giới

Số lượng khách quốc tế vào Thủ đô với nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích tham quan du lịch, nghỉ dưỡng ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 25%, chiếm tỷ lệ gần 30% so với cả nước Lượng du khách nội địa cũng có tốc độ tăng khá cao (>20%/năm), tuy nhiên chiếm tỷ lệ so với cả nước thì không đáng kể (khoảng 5%) [22] Hệ thống kinh doanh du lịch ngày càng phát triển với quy mô ngày càng lớn, nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh du lịch Là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, nhất là phát triển hệ thống đường hàng không, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc

Hệ thống cơ sở lưu trú phát triển nhanh chóng trong thời gian qua, phân bổ tập trung ở các quận nội thành, huyện Từ Liêm và Gia Lâm, nhiều khách

Ngày đăng: 16/03/2020, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm