Do vậy việc xây dựng một quan hệ sản xuất mới tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển là một việc làm tối quan trọng của
Trang 2MỤC LỤC
5 Phát triển kinh tế ngành, vùng:……… ….11
LỜI MỞ ĐẦU
Với tiền thân là nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải chống chịu với hai cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng khó theo kịp xu hướng kinh tế của thế giới Sau khi giành được độc lập, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì trệ đó, nước ta lại xây dựng nền sản xuất kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, vẫn sử dụng những chính sách kinh tế cũ không còn phù hợp, khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, đi sau những nền kinh tế khác hàng chục thập kỉ Do vậy việc xây dựng một quan hệ sản xuất mới tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển là một việc làm tối quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Năm 1986, tại Đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã có quyết định quan trọng trong việc đổi mới nền kinh tế, thay thế nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bằng nền kinh tế sản xuất hàng hóa Và từ đó, nền sản xuất hàng hóa đã trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước; giúp nền kinh tế của nước ta từng bước hội nhập với sự đi lên không ngừng của khu vực và thế giới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Trang 3Đảng và Nhà nước đã sớm xác định vai trò then chốt của sản xuất hàng hóa trong
sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà
Bởi vậy, em chọn vấn đề “Sự ra đời và phát triển – thực trạng của nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình
NỘI DUNG
I SẢN XUẤT HÀNG HÓA - ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, NHỮNG ĐẶC TRƯNG VÀ ƯU THẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
a) Khái niệm sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế phân biệt với sản xuất tự cung tự cấp ở thời kì đầu của lịch sử loài người Ở thời kì đó, sản phẩm của sự lao động được tạo ra chỉ để phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của chính người sản xuất ra chúng Nhưng do sản xuất ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng cao làm cho sản xuất tự cung tự cấp dần dần bị chuyển hóa thành sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa đã tồn tại từ trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế
độ phong kiến, sau đó là chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa tồn tại trên cơ sở của sự trao đổi hàng hóa và là nền tảng cho mọi nền kinh tế
b) Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Trang 4Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất: Phân công lao động xã hội.
Xuất hiện phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội vào các ngành nghề khác nhau trong đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định, phân công lao động xã hội sẽ kéo theo sự chuyên môn hóa sản xuất
Phân công lao động xã hội xuất hiện là cơ sở cho sự ra đời sản xuất hàng hóa vì khi có phân công lao động xã hội thì xuất hiện mâu thuẫn chủng loại sản phẩm mà mọi người sản xuất ra thì ít trong khi nhu cầu tiêu dùng lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau
Vì thế, tất yếu sẽ xuất hiện việc trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau Có trao đổi sản phẩm dấn đến có trao đổi hàng hóa và dẫn đến việc sản xuất hàng hóa Đó cũng chính là điều kiện cần cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa
Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản
xuất:
Sự tách biệt này sẽ làm cho người sản xuất có quyền độ lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm Những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau
Nguyên nhân tạo ra sự tách biệt về kinh tế là do : chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
Trang 52 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
a) Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là
cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa
Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là giá trị sử dụng
b) Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Sự phát triển sản xuất hàng hóa làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ dẫn đến xóa bỏ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động
Tính tách biệt về kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất, kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Sản xuất hàng hóa quy mô lớn có ưu thế so với sản xuất tự cấp tự túc về quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ, về khả năng thỏa mãn nhu cầu…
Sản xuất hàng hóa là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưu văn hóa, tạo điều kiện nâng cao, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
xã hội Sự phát triển sản xuất hàng hóa đã thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và trên thế giới
II THỰC TRẠNG CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở NƯỚC TA, ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM
Trang 61 Nền sản xuất hàng hóa ở nước ta giai đoạn từ năm 1975 cho đến nay
Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
Việt Nam ta bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước Tình hình thế giới vẫn không ổn định, thêm vào đó là một số chính sách kinh tế không hợp lý của nhà nước đã dẫn đến nền kinh tế kém phát triển Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách hợp lý nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế
Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Nhưng vào đầu thập kỷ 90, khi bước vào thực hiện chiến lược 10 năm 1991 – 2000, đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội; chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ; Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận nước ta; các thế lực thù địch tìm cách chống phá ta về nhiều mặt
Tuy nhiên, dù có nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhìn chung việc thực hiện Chiến lược 1991-2000 đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (2,07 lần) Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3 công nghiệp từ 22,7% tăng lên 33,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%
Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm được triển khai thực hiện trong tình hình chính trị, xã hội nước ta cơ bản ổn định Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp về tình hình chính trị và an ninh quốc tế, những biến động giá cả trên thị trường quốc tế, sự chống phá của các thế lực thù địch đã gây nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh tế – xã hội của nước ta
Trang 7Trong hoàn cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện nhiệm vụ do Đại hội đề ra Công cuộc phát triển kinh tế – xã hội đã được những thành tựu quan trọng Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm tăng bình quân 7,5%/năm Năm
2017 GDP ước đạt 5007,9 nghìn tỉ đồng GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016. Mức tăng trưởng năm 2017 vượt mục tiêu đề ra 6,7% và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2016, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện Trong mức tăng 6,81% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã có sự phục hồi đáng kể với mức tăng 2,90% (cao hơn mức tăng 1,36% của năm 2016), đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,00%, đóng góp 2,77 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,44%, đóng góp 2,87 điểm phần trăm
2 Ưu điểm và nhược điểm của sản xuất hàng hóa ở Việt Nam
a) Ưu điểm:
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, giá rẻ Năm 2015, trên 60% người Việt Nam ở độ tuổi lao động (15-64 tuổi) Giai đoạn 2011-2020, lực lượng lao động Việt Nam tăng 1%/năm.Với mức tăng nguồn lao động hiện nay, mỗi năm nước ta có thêm hơn 1 triệu lao động
Người lao động nước ta cần cù, sáng tạo, có kinh nghiệm sản xuất phong phú gắn liền với truyền thống dân tộc được tích luỹ qua nhiều thế hệ
Nguyên vật liệu ở nước ta rẻ, lại rất dồi dào,( nhất là nguyên liệu cho các ngành sản xuất thực phẩm, vật liệu xây dựng…) Giảm chi phí sản suất sẽ làm giảm giá cả của hàng hóa, sẽ làm cho hàng hóa tăng thêm sức cạnh tranh về giá
b) Nhược điểm
Trang 8Nguồn nhân lực của nước ta tuy dồi dào nhưng chất lượng thấp, chủ yếu là lao động thủ công, tác phong công nghiệp còn hạn chế
Phần lớn các doanh nghiệp đều phải tự đào tạo nghề cho công nhân Công nhân không lành nghề dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, năng suất lao động không cao, sản phẩm làm ra sẽ không nhiều trong cùng một đơn vị thời gian
Tốc độ đổi mới công nghệ và trang thiết bị còn chậm, chưa đồng đều và chưa theo một định hướng phát triển rõ rệt Sự lạc hậu về công nghệ và kĩ thuật sẽ tạo ra chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định
Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam có đặc điểm là hàm lượng tri thức và và công nghệ trong sản phẩm không cao, điều đó làm giảm đi chất lượng của sản phẩm
Chủ yếu các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất Các sản phẩm là thế mạnh của nước ta vẫn thì vẫn phải nhập nguyên liệu như dệt may, da giày, thực phẩm/ Nhiều sản phẩm có giá thành không ổn định cũng là do phụ thuộc vào tính chất bấp bênh của nguồn nguyên liệu
Từ những hạn chế trên cần phải có một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới, nhất là trong thời kì hội nhập như hiện nay
III GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu:
Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu
Đổi mới hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế
Trang 9Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước ở một số ngành then chốt để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng Chuyển đổi hợp tác xã cũ theo luật hợp tác để đạt hiệu quả thiết thực
2 Đẩy mạnh phân công lao động xã hội
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội lực và ngoại lực là chìa khóa thành công trong cuộc sống xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Nội lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển Có phát huy được nội lực thì mới thu hút và sử dụng có hiệu quả ngoại lực Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất nguồn lực của Nhà nước
Ngoại lực có vai trò quan trọng cho sự phát triển Kết hợp tốt nội lực và ngoại lực sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp xây dựng đất nước Muốn phát huy tốt ngoại lực, cần phải có một chiến lược tổng thể, nhất quán và môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, trước hết là có một hệ thống thể chế, chính sách đồng bộ, một nền hành chính minh bạch, hiệu lực, hiệu quả
3 Đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thông pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế
Tiếp tục cả thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực
Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng
Trang 10Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đối với công nghệ và quản lý
Phát huy tính năng động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế
Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư với nước ngoài
4 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất song song với phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ
Coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung quan trọng nhất của toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phải ưu tiên cho mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn đồng thời ây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
Dựa chủ yếu vào các nguồn nội lực, khơi dạy và huy động các nguồn sức mạnh tiềm tàng của tất cả các lực lượng, các thành phần kinh tế
Phát triển kinh tế phải đi liền và kết hợp chặt chẽ với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nông thôn với củng cố an ninh và bảo
vệ Tổ quốc
5 Phát triển kinh tế ngành, vùng
Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao
Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, xuất khẩu và thị trường nội địa đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái