1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

khóa luận bệnh ORT Tình hình mắc bệnh hen phức hợp(ORT) trên gà thịt tại trại gà công ty Sunjin Vina, xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và hiệu quả điều trị.

45 509 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 105,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình mắc bệnh hen phức hợp(ORT) trên gà thịt tại trại gà công ty Sunjin Vina, xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và hiệu quả điều trị. Trại gà giống bố mẹ thuộc công ty Sunjin Vina được khánh thành vào ngày 15042014 tại xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Trại được xây dựng trên quy mô diện tích 2,7 ha với kinh phí 40 tỷ đồng Vị trí địa lý: Trại gà công ty Sunjin Vina được xây dựng tại xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom. Phía Bắc giáp với hồ Trị An, huyện Định Quán. Phía Nam giáp với huyện Thống Nhất, phía Tây giáp với xã Cây Gáo và giáp xã Quang Trung ở phía Đông. Địa hình đất đai: gồm đất đen điển hình, tầng đá sâu và đất nâu thẫm tầng đá nông, là những loại đất giàu mùn, đặc biệt là giàu lân, thích hợp cho trồng các loại cây công nghiệp. Giao thông: Địa bàn có Quốc lộ 1A và Quốc lộ 20 đi qua, các tuyến đường giao thông liên xã và liên huyện được bố trí gần khu vực trại khá thuận lợi. Khí hậu thủy văn: Xã Bầu Hàm nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao khá đồng đều trong năm. Khí hậu được chia thành hai mùa rõ rệt với mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm gần 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau. Nhiệt độ cao khá đồng đều trong năm. Trung bình cả năm đạt 2426 0C, trong đó tháng có khí hậu thấp nhất rơi vào khoảng 210C và tháng cao nhất đạt từ 33350C . Độ ẩm trung bình năm từ 7582%, các tháng trong mùa mưa có độ ẩm cao nhất, dao động trong khoảng 8993%. 1.1.1.Cơ sở vật chất và trang thiết bị của trại Bao gồm năm hệ thống chính: Hệ thống nhà xưởng, hệ thống chiếu sáng, hệ thống máng ăn núm uống tự động, hệ thống làm mát và hệ thống phòng cháy chữa cháy. Hệ thống nhà xưởng: Trong đó khu sản xuất bao gồm hai dãy chuồng hậu bị dùng để nuôi gà từ 019 tuần tuổi và ba dãy chuồng gà sinh sản nuôi gà giai đoạn sinh sản tới khi loại thải Khu hậu bị: Bao gồm hai dãy chuồng A1 và A2 mỗi chuồng có diện tích 750m2 và có công suất định mức 15000 gà mỗi lần nhập nuôi. Khu sinh sản: Bao gồm ba dãy chồng B1, B2 và B3, mỗi chuồng có diện tích 1625m2 với công suất hoạt động từ 1400015000 gà chuồng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Chăn nuôi Thú y

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Tình hình mắc bệnh hen phức hợp(ORT) trên gà thịt tại trại gà công ty Sunjin Vina, xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và hiệu quả điều trị.

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Thế Lớp: Thú y 48C

Giáo viên hướng dẫn: TS.Trần Quang Vui

Bộ môn: Ký sinh - Truyền nhiễm

Năm 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại Học Nông Lâm Huế và thời gian thực tập tại trại gà công ty Sunjin Vina tại xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tôi

đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tập thể

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu nhà trường toàn thể các thầy côgiáo khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại Học Nông Lâm Huế, đặc biệt là thầy giáo,

TS.Trần Quang Vui đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn: Quý lãnh đạo công ty Sunjin Vina, anh Nguyễn Mạnh Cường quản lý trại đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về thực tập làm việc tại trại Do hạn chế về mặt thời gian và khả năng của bản thân nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự thông cảm và ý kiến đóng góp của quý thầy cô, cơ quan và bạn đọc để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành biết ơn trước sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 03 tháng 03 năm 2019

Sinh viên thực hiệnNguyễn Văn Thế

Trang 4

PHẦN 1 PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 TỔNG QUAN CƠ SỞ THỰC TẬP

Trại gà giống bố mẹ thuộc công ty Sunjin Vina được khánh thành vào ngày

15/04/2014 tại xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Trại được xây dựng trên quy mô diện tích 2,7 ha với kinh phí 40 tỷ đồng

- Vị trí địa lý: Trại gà công ty Sunjin Vina được xây dựng tại xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom Phía Bắc giáp với hồ Trị An, huyện Định Quán Phía Nam giáp với huyện Thống Nhất, phía Tây giáp với xã Cây Gáo và giáp xã Quang Trung ở phía Đông

- Địa hình đất đai: gồm đất đen điển hình, tầng đá sâu và đất nâu thẫm tầng đá nông,

là những loại đất giàu mùn, đặc biệt là giàu lân, thích hợp cho trồng các loại cây công nghiệp

- Giao thông: Địa bàn có Quốc lộ 1A và Quốc lộ 20 đi qua, các tuyến đường giao thông liên xã và liên huyện được bố trí gần khu vực trại khá thuận lợi

- Khí hậu thủy văn: Xã Bầu Hàm nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao khá đồng đều trong năm Khí hậu được chia thành hai mùa rõ rệt với mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm gần 90% lượng mưa hàng năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau Nhiệt độ cao khá đồng đều trong năm Trung bình cả năm đạt 24-26 0C, trong đó tháng có khí hậu thấp nhất rơi vào khoảng 210C và tháng cao nhất đạt từ 33-

350C Độ ẩm trung bình năm từ 75-82%, các tháng trong mùa mưa có độ ẩm cao nhất, dao động trong khoảng 89-93%

1.1.1.Cơ sở vật chất và trang thiết bị của trại

Bao gồm năm hệ thống chính: Hệ thống nhà xưởng, hệ thống chiếu sáng, hệ thống máng ăn núm uống tự động, hệ thống làm mát và hệ thống phòng cháy chữa cháy

Hệ thống nhà xưởng: Trong đó khu sản xuất bao gồm hai dãy chuồng hậu bị dùng để nuôi gà từ 0-19 tuần tuổi và ba dãy chuồng gà sinh sản nuôi gà giai đoạn sinh sản tới khi loại thải

Khu hậu bị: Bao gồm hai dãy chuồng A1 và A2 mỗi chuồng có diện tích 750m2 và có công suất định mức 15000 gà mỗi lần nhập nuôi

Khu sinh sản: Bao gồm ba dãy chồng B1, B2 và B3, mỗi chuồng có diện tích 1625m2

với công suất hoạt động từ 14000-15000 gà/ chuồng

Trang 5

Khu chuồng gà thịt: là chuồng hở, với diện tích 725m2 dùng để nuôi thử nghiệm gà thịt với công suất hoạt động từ 5000-6000 gà trên một lứa.

Hệ thống máng ăn và núm uống tự động:

+ Máng ăn: Kiểu máng tròn phần trên đựng thức ăn, treo ngang lưng gà Máng ăn của

gà trống cao hơn máng của gà mái với 5 khe trống đảm bảo mật độ máng phù hợp là 5con/ máng, đối với gà mái là 16 khe với mật độ phải đảm bảo là 15 con/máng Thức

ăn được chuyển từ silo sau đó chảy vào hệ thống chuyền thức ăn tự động chạy vòng quanh các máng ăn trong chuồng và đổ đầy thức ăn vào máng

+ Máng uống: Gồm những núm uống và máng hứng nước ở mỗi núm Tốc độ nước được điều chỉnh bởi van điều chỉnh áp lực nước tùy theo từng độ tuổi Mật độ núm uống phải đảm bảo từ 10-12 con/núm

Hệ thống làm mát: là hệ thống kết hợp giữa các tấm làm mát cooling pad và hệ thống quạt hút

+ Hệ thống tấm làm mát: là các tấm cooling pad được đặt ở đầu chuồng kết hợp với bơm tự động khi nhiệt độ trong chuồng lên cao, hệ thống bơm sẽ bơm nước vào các tấm làm mát, các tấm làm mát này có chức năng giữ nước sau đó hệ thống quạt hút sẽ hoạt động, kéo hơi nước từ các tấm làm mát để làm mát chuồng

+ Hệ thống quạt hút: mỗi chuồng trung bình có 8 quạt hút, nhiệm vụ là hút không khí

ẩm từ các tấm làm mát để làm mát chuồng

Hệ thống chiếu sáng: bao gồm hệ thống đèn được lắp trên trần chuồng, tùy vào độ tuổi và giai đoạn mà có chế độ chiếu sáng khác nhau Ví dụ như đối với gà mái sinh sản thời gian chiếu sang phải đạt từ 14- 15 giờ/ ngày với cường độ ánh sáng khoảng 40LUX

Hệ thống phòng cháy chữa cháy: Bao gồm hệ thống bình chữa cháy được đặt tại các dãy chuồng, khu sinh hoạt cũng như khu quản lý và kho trứng Xung quanh trại luôn

có hệ thống các vòi nước chữa cháy sẵn sàng hoạt động khi có hỏa hoạn

1.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của trại

- Cơ cấu tổ chức: tổ chức nhân sự của trại gồm 16 người trong đó có 1 quản lý, 1 kỹ thuật, 1 nhân viên văn phòng, 1 nấu ăn, 1 làm vườn, 1 lái xe và 10 công nhân

- Hoạt động của trại:

+ Sản xuất trứng giống phục vụ nhu cầu trứng giống cho nhà máy ấp, ấp nở thành congiống thương phẩm cung cấp cho thị trường

+ Thử nghiệm các dòng gà thịt Sasso nhằm đánh giá khả năng sản xuất của dòng mới

1.1.3 Cơ cấu đàn và sản phẩm

- Cơ cấu con giống: Trại gà Sunjin Vina tập trung sản xuất giống gà Sasso Đây là giống gà xuất xứ từ Pháp có đặc điểm ngoại hình , khả năng phát triển cũng như chất

Trang 6

lượng thịt tốt Gà giống được nhập về 3 lần/ năm, mỗi lần nhập với số lượng khoảng

10000 con

-Cơ cấu đàn: Trại gà Sunjin Vina nuôi 100% gà giống Sasso bố mẹ nhằm sản xuất trứng giống Cơ cấu đàn đối với gà hậu bị khoảng 10000 con/ lứa nuôi Trong đó gà trống thường là các giống T8, T9, CT8 và T44, đối với gà mái thường là dòng gà mái SA10 Một năm trại gà giống nuôi khoảng 30000 gà hậu bị Đối với đàn gà sinh sản, mỗi chuồng có khoản 10000 con trong đó có từ 1000-1500 trống đảm bảo tỷ lệ trống/ mái phải đạt 1 trống/ 8-10 mái Thời gian khai thác trứng kéo dài từ tuần thứ 20 cho đến khi loại thải vào lúc 75- 80 tuần tuổi Đối với đối tượng gà thịt, hàng năm trại tổ chức nuôi thử nghiệm khoảng 4000-6000 gà nhằm đánh giá khả năng sản xuất của con giống mới

Sản phẩm: Sản phẩm chính của trại gà Sunjin Vina đó là trứng giống Trứng giống sau khi được đưa vào lò ấp nở thành công, gà con thương phẩm sẽ được đem đi nuôi thương phẩm tại các trang trại của công ty và xuất bán ra thị trường Ngoài ra gà thịt

và gà đến giai đoạn loại thải sẽ được xuất bán gà thịt ra thị trường

1.2 CÁC QUY TRÌNH SẢN XUẤT

1.2.1 Quy trình úm gà

Chuẩn bị chuồng úm: Chuồng úm cần được vệ sinh sạch sẽ, vệ sinh tiêu độc khử trùng bằng dung dịch sát trùng kết hợp giữa formon, kali pemanganat và rắc vôi bột tại nền chuồng Chuồng úm phải đảm bảo đủ diện tích để mật độ gia cầm nuôi trong chuồng úm phù hợp

Chất độn lót: Thông thường sử dụng chất độn lót là trấu do dễ kiếm, giá thành rẻ và khả năng hút ẩm tốt Chất độn chuồng phải đảm bảo độ dày từ 10-15 cm để đảm bảo hút ẩm

và giữ ấm cho gà con trong quá trình úm Chất độn sau khi được rải xong cần được sát trùng bằng các dung dịch sát trùng như formon 0,2% hoặc Iodine

Chuẩn bị dụng cụ úm gà: Bao gồm các dụng cụ và thiết bị:

Thiết bị sưởi ấm: Có nhiều thiết bị sưởi ấm dùng để úm gà con có thể là dùng đèn cao áp,

lò sưởi than… Tại trại gà giống công ty Sunjin Vina, thiết bị sưởi ấm được dùng là hệ thống sưởi bằng khí gas bao gồm 2 máy tạo nhiệt kết nối với các bình ga nhằm thổi không khí nóng làm ấm chuồng úm

Máng ăn, máng uống: Máng ăn là hệ thống máng ăn tự động, một ô chuồng rộng 175 métvuông cần khoảng 75-85 máng ăn Tuy nhiên trong giai đoạn từ 1-7 ngày tuổi, gà con chưa sử dụng được máng ăn tự động nên cần dùng loại máng tròn và vải bạt để rải thức

ăn rồi sau đó mới sử dụng máng tự động Máng uống là hệ thống máng uống tự động cấu tạo gồm một núm uống phía trên và một đĩa hứng nước ở dưới Tốc độ, áp lực và độ cao của máng uống được điều chỉnh phù hợp theo từng giai đoạn của gà con

Trang 7

Hệ thống chiếu sáng: Hệ thống đèn của chuồng úm phải đảm bảo được số giờ chiếu sáng

và cường độ chiếu sáng thích hợp theo từng giai đoạn phát triển của gà

Bảng 1.1Quy trình chiếu sáng tại trại gà Sunjin Vina

Tuổi gia cầm Số giờ chiếu sáng Cường độ sáng(LUX)

Úm gà: Thời gian úm là khoảng 21 ngày đối với gà giống và 14 ngày đối với gà thịt, mật

độ úm là 50 con/ m2 và được chia thành các giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ 1 đến 7 ngày tuổi: Trong giai đoạn này gà được cho ăn tự do, nước uống của gà được pha thêm một số các loại kháng sinh, vitamin và amino acid để chống stress

và phòng ngừa một số bệnh thường gặp Giai đoạn này gà ăn cám CN20 là loại cám chuyên dụng cho gà con, kích thước hạt cám nhỏ, hàm lượng protein, vitamin và khoáng cao phù hợp phục vụ khả năng tăng trưởng nhanh của gà con Trong giai đoạn này nhiệt

độ chuồng úm cần ổn định từ 33-34 độ C và đảm bảo độ ẩm từ 65-80%

Giai đoạn 2: Từ 7 đến 14 ngày tuổi: Trong giai đoạn này gà được cho ăn có định lượng, tiến hành cân gà, theo dõi nhằm tính toán lượng thức ăn đủ đáp ứng sinh trưởng của gà Giai đoạn này gà cũng được chuyển sang ăn máng ăn tự động, nước uống pha thêm một

số loại vitamin và amino acid nhằm tăng khả năng sinh trưởng Nhiệt độ chuồng úm đảm bảo khoảng 30-32 độ C và độ ẩm duy trì mức 70-80% Sau giai đoạn này, gà thịt sẽ được chuyển lên chuồng nuôi gà thịt và gà giống sẽ chuyển sang giai đoạn thứ 3

Giai đoạn 3: Từ 14 đến 21 ngày tuổi: Gà giai đoạn này được ăn theo chế độ 4-3 tức là bốn ngày cho ăn luân phiên với ba ngày nghỉ ăn nhằm mục đích tạo cho diều gà có thể

Trang 8

tích chứa thức ăn lớn, phục vụ cho quá trình sinh sản sau này Nước uống luân phiên pha kháng sinh và vitamin Giai đoạn này chuyển sang sử dụng cám CN21 sử dụng đến tuần thứ tám Nhiệt độ chuồng úm giai đoạn này khoảng 27-30 độ C và độ ẩm duy trì mức 70-80%.

Nhận xét quy trình: Quy trình úm gà của trại được thực hiện tốt, đảm bảo yêu cầu nghiêmngặt về vệ sinh sát trùng, chuẩn bị chuồng trại và thực hiện tốt các kĩ thuật úm, nhờ đó gàtrong giai đoạn úm sinh trưởng tốt, đồng đều nhau và có tỷ lệ chết rất thấp, đa số trường hợp chết diễn ra vào những ngày đầu tiên trong quy trình úm Thức ăn, nước uống và thuốc hỗ trợ phù hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng của gà Nhược điểm của quy trình làsưởi ấm gà trong giai đoạn úm còn bất hợp lí, phần cuối chuồng dễ bị lạnh do máy tạo nhiệt phân bố nhiệt không đồng đều gây hiện tượng gà co cụm tại các vị trí thiếu nhiệt Thứ hai đó là quy trình úm gà sử dụng tương đối nhiều các loại kháng sinh như

Ampiciline và Doxycycline nhằm mục đích giảm thiểu bệnh trên gà con cũng như kích thích khả năng sinh trưởng; tuy nhiên việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi là vấn đềcần được giải quyết nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng

1.2.2 Quy trình mổ khám gà

-Lựa chọn gà và địa điểm mổ khám :

Lựa chọn những con có triệu chứng điển hình và hay bị ốm, thường thực hiện ở trên nhiều con Nơi mổ khám phải dễ vệ sinh, tẩy uế sát trùng

Cần phải có các biện pháp an toàn sinh học, luôn mang găng tay khẩu trang, mặt

nạ, kính phòng hộ

-Khám tổng thể

Khám thể trạng chung: khối lượng, điểm thể trạng, con vật béo hay gầy

Khám vùng đầu: quan sát xem con vật có chảy nước mắt, nước mũi, sưng phù đầu,màu sắc kích thước mào và tích, dịch nhầy chảy ra ở miệng

Khám lông da: lông óng mượt hay bị xù, khô, vùng da lông có xuất huyết hay hoại

tử hay không

Từ đó có thể chẩn đoán được các bệnh:

+ Phù thũng quang hốc mắt và sưng: Viêm phế quản truyền nhiễm, bệnh hô hấp

do Mycoplasma, Coryza

+ Sưng hoặc xung huyết mào tích: Tụ huyết trùng

+ Nghẹo cổ: Tụ huyết trùng hoặc Newcastle

- Mổ khám:

Bước 1: Giết gà

Có thể sử dụng các phương pháp như: bẻ cổ, cắt tiết hay dùng kim hủy não

Trang 9

Bước 2: Làm ướt lông trước khi mổ bằng nước pha thuốc sát trùng để hạn chế pháttán mầm bệnh trong lúc mổ, lưu ý không làm ướt lông vùng đầu để kiểm tra các khoang mũi, miệng, mắt.

Bước 3: Thông dò khoang hầu họng, quan sát mắt

Mở mỏ con vật, cắt mép rồi từ từ cắt dọc cổ xuyên thực quản Tại đây quan sát khoang miệng, hầu tìm kiếm các dấu hiệu bất thường như các điềm chảy máu, lở loét, dịch nhầy trong các khoang

Quan sát phần đầu: Cắt ngang mỏ chổ lỗ mũi sau đó bóp mũi quan sát xem có dịchchảy ra hay không, tiếp đó luồn kéo cắt qua mặt để quan sát xoang cạnh mũi và xoang dưới mắt Tiếp tục cắt hai bên mí mắt rồi lật lên để quan sát phần giác mạc.Bước 4: Chuẩn bị xác, mở xác con vật và những quan sát ghi nhận đầu tiên:

Cắt da vùng háng và lột ra sau đó bẻ chân sau đó cắt da vòng qua bụng và lột da phía trên để lộ phần thịt ức ra bên ngoài

Tạo lỗ khuyết áo cuối chạc xương đòn sau đó cắt xuyên chạc xương đòn rồi cắt các xương sườn

Bước 5: Khám các hệ thống cơ quan trong cơ thể gia cầm

+ Kiểm tra cơ: chủ yếu kiểm tra cơ ngực và cơ đùi xem bề mặt cơ có bị khô hay không, có xuất huyết ở các cơ kể trên không

+ Kiểm tra hệ thống hô hấp:

Túi khí: có màu trong hay đục, có xuất huyết hay phủ fibrin không

Khí quản: có dịch nhầy hay không, có xuất huyết, tụ huyết, có giun hay khôngPhổi: cứng hay mềm, có bị xuất huyết hay hoại tử không

+ Kiểm tra hệ tuần hoàn

Kiểm tra tim xem có tích nước bao tim, xuất huyết hay có phủ fibrin hay không.+ Kiểm tra hệ thống tiêu hóa

Thao tác cắt ngang ống tiêu hóa ở đoạn giữa diều và dạ dày tuyến rồi cắt cho đến hết trực tràng Sau đó tách gan ra khỏi đường tiêu hóa để phơi bày ống tiêu hóa ra

Dạ dày tuyến và dạ dày cơ: quan sát niêm mạc và chất chứa, lưu ý ghi nhận nhữngbệnh tích loét và xuất huyết

Không tràng, hồi tràng, trực tràng và manh tràng: quan sát hệ thống niêm mạc và chất chứa lưu ý bệnh tích hoại tử và xuất huyết

+ Kiểm tra các cơ quan phụ thuộc đường tiêu hóa

Gan và túi mật: quan sát hình dáng, màu sắc, kích thước và độ rắn chắc của gan mật, lưu ý đến các bệnh tích xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan

Tụy tạng: quan sát màu sắc, kích thước và độ rắn chắc

+Kiểm tra hệ tiết niệu và sinh dục:

Tiết niệu: quan sát màu sắc, kích thước, những thay đổi trên bề mặt thận

Sinh dục:

Con mái: quan sát buồng trứng và ống dẫn trứng, chú ý dến những bệnh tích như trứng non, méo mó, ống dẫn trứng biến dạng

Trang 10

Con trống: quan sát tinh hoàn về vị trí màu sắc và kích thước.

+ Khám hệ thống thần kinh

Quan sát và lấy mẫu dây thần kinh đùi để chuẩn đoán bệnh Marek

Lấy mẫu não bằng cách cắt hộp sọ bằng kéo sắc sau đó lấy bán cầu não và tiểu nãora

+ Khám hệ vận động

Chân: quan sát sự vẹo chân, viêm khớp, xuất huyết hay mưng mủ bàn chân

Khớp: quan sát vẻ ngoài của khớp và mở nó ra, lưu ý các hiện tượng chảy

dịch,lắng đọng fibrin…

+ Khám các cơ quan liên quan đến hệ thống miễn dịch

Lách: tách lách ra khỏi ruột sau đó quan sát hình dáng màu sắc, kích thước và độ rắn chắc của lách

Túi Fabricius: quan sát hình dáng, kích thước và màng nhày của túi

Tuyến giáp trạng: nằm ở dưới da dọc theo tĩnh mạch cổ

Lưu ý đến sự thoái hóa sau 10-20 tuần tuổi của tuyến giáp trạng và túi Fabricius.-Hoàn tất quá trình mổ khám

Thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn sinh học như: mọi chất thải, nước rửa, xácgia cầm phải được tiêu hủy đúng cách Sau khi mổ khám cần dọn rửa và lau chùi dụng cụ mổ khám, khu vực mổ khám bằng thuốc sát trùng

Tiến hành ghi thông tin mẫu bệnh phẩm, viết báo cáo về việc mổ khám gia cầm.Thu dọn rác và tiêu hủy

Nhận xét quy trình: Quy trình mổ khám gia cầm tại trại có nhiều điểm mới như thao tác chuẩn bị gà để mổ khám hay kiểm tra hệ thống thần kinh, nhất là ở vùng não Đây là một quy trình hoàn thiện nhằm chẩn đoán và xác định bệnh

1.2.3 Quy trình vắc xin tại trại

Với tiêu chí “ Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, trại gà giống Sunjin Vina thực hiện nghiêm ngặt quy trình vắc xin phòng bệnh trên các đối tượng gà hậu bị, gà đẻ và

gà thịt nhằm đảm bảo bảo vệ một cách toàn diện nhất cho đàn gà trong quá trình phát triển Quy trình vắc xin của trại được thể hiện ở Bảng 1.2 và bảng 1.3

Bảng 1.2 Quy trình vắc xin phòng bệnh trên đối tượng gà giống công ty Sunjin

Vina

Ngày tuổi Tuần tuổi Loại vắc xin Phòng bệnh Nhà sản

xuất Đường đưa thuốc

phun

Trang 11

7 1 IB-4/91 IB Intervet Uống

Trang 12

ức

Bảng 1.3 Quy trình vắc xin phòng bệnh trên gà thịt công ty Sunjin Vina

Ngày tuổi Tuần tuổi Vắc xin Phòng bệnh Nhà sản

xuất

Đường đưa thuốc

Q Marek+ cầu trùng Merial Phun khí dung

tiêm da cổ

Intervet Cho vào

nước uống

Nhận xét quy trình: Do đặc thù là sản xuất gà giống nên quy trình vắc xin của trại được thực hiện rất nghiêm ngặt, đầy đủ, phòng ngừa được đa số các loại bệnh phổ biến trên gà.Quy trình vắc xin tại trại phòng ngừa một số bệnh có tính chất mới, chỉ phổ biến vài năm trở lại đây như: Coryza, viêm thanh khí quản truyền nhiễm ILT…

1.2.4 Quy trình vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại trại

Công tác vệ sinh phòng bệnh là một trong những khâu quan trọng quyết định đến thành quả chăn nuôi Trại gà Sunjin Vina thực hiện rất nghiêm ngặt những quy trình này, bao gồm: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và chuồng nuôi, vệ sinh khử trùng chuồng trống, vệ sinh xử lý chất thải chăn nuôi

- Vệ sinh cá nhân

Trang 13

Nội quy trại nghiêm ngặt tuyệt đối không cho người ngoài vào trại Trại có khunhà ở, khu ăn uống riêng Trước khi vào khu chuồng trại, người tham quan, kỹ thuật, công nhân phải đi qua hố sát trùng, sau đó tắm sạch sẽ và thay đồ bảo

hộ Trước khi bước vào chuồng, công nhân, cán bộ kĩ thuật phải thực hiện nhúng ủng vào chậu sát trùng đặt trước cửa chuồng

- Vệ sinh môi trường

Định kì một tuần một lần thực hiện phun sát trùng toàn trại bằng dung dịch sát trùng Prophyl 75 Khu vực chuồng nuôi thực hiện phun sát trùng ba ngày một lần cùng với đó là thực hiện sát trùng định kì toàn bộ dụng cụ chăn nuôi, chất độn lót, vệ sinh hệ thống quạt hút, miếng lót gà đẻ nhằm khống chế và tiêu diệtmầm bệnh ngoài môi trường và trong chuồng nuôi

- Vệ sinh khử trùng chuồng trống

Sau mỗi đợt xuất bán gà hoặc di chuyển gà hậu bị lên chuồng đẻ, tiến hành vệ sinh sát trùng chuồng trống nhằm mục đích chuẩn bị nhập lứa mới vào nuôi Trước tiên, thực hiện tháo dỡ sàn nhựa, di chuyển sàn nhựa vào khu vực riêng

để tiến hành vệ sinh Phân gà và trấu độn chuồng được thu mua làm phân bón Sau khi phân được dọn xong, tiến hành vệ sinh toàn bộ chuồng, sàn nhựa, hệ thống quạt bằng vòi xịt cao áp Máng ăn, máng uống được vệ sinh rồi ngâm vào bể sát trùng, sau đó tến hành phơi khô Sau khi vệ sinh xong, tiến hành lắp lại sàn nhựa sau đó thực hiện phun sát trùng toàn bộ chuồng nuôi Diện dích sàn và nền xi măng được rải vôi bột và phun thêm sát trùng trước khi đưa trấu vào

- Vệ sinh xử lý chất thải

Đối với chất thải rắn, chủ yếu là trứng vỡ và xác gà chết, những chất thải này được thu gom vào cuối ngày rồi tiến hành đem chôn với trấu và vôi tại hố chônchất thải rắn của trại

Chất thải lỏng của trại rất ít, được dẫn theo hệ thống đường ống chất thải đổ về

hố chất thải lỏng

1.3 NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ THỰC HIỆN

1.3.1 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh tại trại

Chẩn đoán và điều trị bệnh là công việc thường xuyên, có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe vật nuôi Trong quá trình thực tập, bản thân tôi đã được học hỏi, quan sát và thực hiện công tác chẩn đoán, điều trị một số bệnh xảy ta trong quá trình nuôi dưỡng đàn

gà Phương pháp chẩn đoán được thực hiện bằng cách theo dõi thường xuyên đàn gà, kịp

Trang 14

thời phát hiện những triệu chứng, biến đổi bất thường trên các cá thể trong đàn như: ủ rũ, mệt mỏi, giảm ăn uống, ít hoạt động, thân nhiệt cao thì chúng tôi tiến hành tập trung theo dõi và chẩn đoán bệnh Trong thời gian thực tập tôi đã chẩn đoán và điều trị được một số bệnh xảy ra như sau.

Bệnh E.coli trên gà:

Triệu chứng: Gà có dấu hiệu ủ rũ, xệ cánh, uống nhiều nước, ăn ít, phân loãng Đặc biệt nhiều con có triệu chứng thở hổn hển như thiếu oxy

Điều trị: tách những con bị bệnh vào một ô chuồng riêng, sử dụng kháng sinh

Doxycicline 50% hòa nước cho gà uống kết hợp cùng điện giải, vitamin và acid amin tăng cường sức đề kháng cho gà bệnh

Bệnh ORT trên gà:

Triệu chứng: triệu chứng bệnh rất đa dạng, chủ yếu là mệt mỏi, ủ rũ, dịch mũi, miệng tiết

ra nhiều, gà thường ngáp và thở dốc kết hợp cùng triệu chứng sưng mặt

Điều trị: sử dụng thuốc Bio Genta-tylo tiêm cơ ức với liều 0,1 ml/con/ ngày trong ba ngày liên tục đối với gà nhỏ, 0,2ml/con đối với gà lớn kết hợp thêm với Bromhexine longđờm pha vào nước uống có bổ trợ thêm vitamin, điện giải và aminoacid

Trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh, tôi đã tham gia các công việc như sau:

+ Chẩn đoán, tách những con bị bệnh ORT: 174 con

+ Điều trị gà bị E.coli: thực hiện trên 35 con, bao gồm tách riêng những con bị bệnh, pha thuốc, mổ khám bệnh tích

+ Điều trị gà bị ORT: thực hiện tiêm thuốc trên 54 con, tiến hành pha thuốc và theo dõi đàn gà bệnh

Trang 15

Ngày Loại vắc xin Số lượng (con) Đường cấp

Trang 16

10/09/2018 Cầu trùng 4878 Khí dung phun vào

14/10/2018 Viêm thanh khí quản

truyền nhiễm ILT

1.3.3 Vệ sinh sát trùng chuồng trại

Trong quá trình thực tập tại trại, tôi đã tham gia các công việc vệ sinh, sát trùng tại trại như sau:

- Vệ sinh kho trứng: thực hiện định kì 2 tuần một lần, bao gồm sắp xếp xe đẩy,

lau sàn và tiến hành xịt sát trùng toàn bộ kho

- Vệ sinh sát trùng chuồng hậu bị và chuồng gà thịt: được tiến hành định kì 1 lần

một tuần, thường thực hiện ngay sau khi tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh nhằm giảm thiểu mầm bệnh phát tán từ vắc xin ra môi trường

- Vệ sinh sát trùng toàn khu vực trại: tiến hành 1 tháng một lần, công việc bao

gồm pha dung dịch sát trùng, phun sát trùng toàn bộ diện tích trại

- Vệ sinh miếng lót ổ đẻ: tiến hành định kì 2 tuần một lần, bao gồm các công

việc như thu dọn, ngâm, rửa tấm lót, ngâm thuốc sát trùng sau đó đem phơi nắng và đưa vào kho lưu trữ

- Vệ sinh dãy chuồng sau khi xuất bán: thực hiện từ 23/11/2018 đến 06/12/2018

bao gồm các công việc như: xịt sàn, vệ sinh các tấm sàn nhựa, lắp sàn, đổ trấu cũng như phun xịt sát trùng toàn bộ khu vực chuồng

PHẦN 2

Trang 17

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành chăn nuôi có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm thiết yếu không thể thiếu đối với nhu cầu đời sống của con người Chủ trương của Nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho xuất khẩu

Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất đã giúp chúng ta

xử lý và khống chế bệnh dịch Mặt khác khi mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu

về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà xã hội quan tâm, do đó mà ngành chăn nuôi nói chung làm sao phải tạo ra nhiều số lượng củng như chất lượng sản phẩm tốt, việc đó đòi hỏi phải có những biện pháp hợp lí để đáp ứng nhu cầu của xã hội

Chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gà có vai trò quan trọng trong cơ cấu ngànhchăn nuôi ở nước ta hiện nay Chăn nuôi gia cầm có đóng góp rất lớn trong cung cấp thựcphẩm, sản xuất trứng, cung cấp các phụ phẩm cho công nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao Hiện nay chăn nuôi gia cầm ở nước ta đang phát triển mạnh, song song với sự pháttriển vượt bậc đó vẫn còn tồn tại nhiều thách thức như: giá thức ăn cao, giá cả thị trường không ổn định, tồn dư kháng sinh và đặc biệt là dịch bệnh xảy ra trên đàn gia cầm đã và đang diễn biến rất phức tạp gây nên thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi

Những năm gần đây, bệnh Hen phức hợp(ORT) đã và đang gây nên những thiệt hại

cho chăn nuôi gà tại Việt Nam Theo những nghiên cứu củaRoepke và cộng sự vào năm

1998, ORT có thể gặp trên gà và gà tây ở mọi lứa tuổi, gà mắc ORT thường có tỷ lệ chếttrong khoảng 1 - 15% trong pha cấp tính; nhưng, tỷ lệ mắc ORT trong một số trường hợp

có thể tăng cao cùng với tỷ lệ chết đối với gà thịt có thể lên đến tới 50% Các triệu chứng ban đầu bao gồm vảy mỏ và kèm theo dịch nhày; ở một số trường hợp có hiện tượng trụy

hô hấp nặng, khó thở, vươn cổ và viêm xoang mũi Các triệu chứng sẽ kéo theo các hiện tượng giảm ăn và giảm uống nước Ở đàn gà tây giống, cũng thấy có hiện tượng giảm đẻ

và tăng tỷ lệ trứng ấp nở không đạt tiêu chuẩn Vi khuẩn ORT được xác định là một trongnhững nguyên nhân gây ra các triệu chứng thần kinh hoặc liệt do viêm màng não, viêm xương và viêm tủy xương ở gà và gà tây Đây là một loại bệnh mới xuất hiện tại Việt Nam với tỷ lệ mắc bệnh cao, đặc biệt là ở các trang trại chăn nuôi tập trung, gây thiệt hại

Trang 18

về kinh tế lớn cho người chăn nuôi Cùng với đó, vấn đề nghiên cứu ORT ở nước ta vẫn chưa được xem trọng đúng mức, nguồn tài liệu về bệnh và các phương pháp phòng chữa bệnh còn ở mức hạn chế khiến cho công tác chẩn đoán và phòng trị bệnh còn nhiều khó khăn.

Xuất phát từ những thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tình hình mắc

bệnhHen phức hợp (ORT) trên gà thịt tại trại gà công ty Sunjin Vina, xã Bầu Hàm, huyệnTrảng Bom, tỉnh Đồng Nai và hiệu quả điều trị

2.1.2 Mục tiêu của đề tài

Điều tra tình hình mắc bệnh ORT tại trại gà công ty Sunjin Vina, xã Bầu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Tìm hiểu hiệu quả điều trị bệnh theo phác đồ của trại để làm cơ sở cho việc phòng và trị bệnh ORT hiệu quả

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà

Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lýcủa bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp

Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém Túi lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí có cấu trúc túi kín (giống nhưbóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra màthành Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào)

và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra) Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ

Các cặp túi khí hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau Các túi khí to nhất là nhữngphần tiếp theo của các phế quản chính Túi bên phải lớn hơn túi bên trái Cả hai túi có bọctịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực

và kéo dài tới gan.Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ

3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản Theo đường đi, các túi khí này tạo thêm các bọc,tỏa vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túikhí cổ Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào haixương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ bavào giữa các cơ và vai ngực Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực

và tim Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm lớn hơn thể tích của phổi

10 - 12 lần

Trang 19

Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quánóng hoặc quá lạnh Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làmviệc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường Gà hô hấp kép, đó là các đặcđiểm điển hình của cơ quan hô hấp Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vàophổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trìnhtrao đổi khí lần thứ nhất Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép vàđẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai.

Tần số hô hấp ở gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Tính biệt, độ tuổi, khả năng sản xuất,trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ,độ ẩm, thành phần trong không khí, áp suất khí quyển…) Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong cáctrạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể

Dung tích thở của phổi gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạonên hệ thống hô hấp thống nhất Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằngtổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ Các thể tích bổ sung và dự trữ củadung tích ở trong thực tế không đo được Không xác định được cả thể tích không khí lưulại.Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuếch tán, quá trình nàyphụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí và trong máu gà Trong khí quyển hoặctrong những chuồng nuôi thông tốt thường có: O2 là 20,94 %; CO2 là 0,03 %; nitơ và cáckhí trơ khác (acgon, heli, neon…) 79,93 %

Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5 % oxi và 5 - 6,5 % cacbonic Trongchăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lýnhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2, H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ýnghĩa vô cùng to lớn

2.2.2 Căn bệnh

Vi khuẩn ORT là một rRNA thuộc liên họ V bao gồm: Cythophaga - Flavobacterium – Bacteroides phylum và có liên quan chặt chẽ với 2 loại vi khuẩn khác gây bệnh trên gia cầm gồm: Riemerella anatipestifer và Coenonia anatine Trước đây, vi khuẩn được chỉ định giống Pasteurella, Kingella gồm 28 đơn vị phân loại hoặc là vi khuẩn gram âm, đa hình thái trước khi được đề xuất đổi tên thành Ornithobacterium rhinotracheale – ORT.

Bệnh Hen phức hợp (ORT) ở gà đã được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1981 trên đàn gàtây 5 tuần tuổi nuôi tại phía Bắc nước Đức (Chin và cs., 2008) Bệnh xảy ra ở mọi lứatuổi, là một bệnh khó phòng, khó điều trị và gây thiệt hại lớn về kinh tế Cho đến nay, cáccông trình nghiên cứu đã xác định 18 serotype của vi khuẩn ORT và được đánh dấu từ A đến R (Chin và cs., 2008; Hafez và cs., 2011) Trongđó, phổ biến nhất là serotype A

Trang 20

(97% các chủng phân lập từ gà và 61% các chủng phânlập từ gà tây) (Van Empel và cs., 1997) Việc thử nghiệm các loại vắc xin phòng bệnhchưa mang lại sự ổn định cao (Van Empel và cs., 1998) Mặt khác, sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh cũng chưa mang lại hiệu quả do vi khuẩn kháng lại một số loại kháng sinh đặcbiệt là và Polymycin B (Van Empel, 1998).

2.2.3 Dịch tễ học

- Loài mắc bệnh

Vi khuẩn ORT được phân lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới chủ yếu ở gà thịt và gà tây, và ít xuất hiện ở các loài gia cầm khác như gà lôi, chim bồ câu, vịt, ngan, ngỗng,chim cút, đà điểu, quạ và mòng biển (Chin và cs., 2008) Ở gà thương phẩm, tất cả các lứa tuổi đều nhạy cảm với bệnh tuynhiên hay gặp nhất ở gà trưởng thành

(Chin và cs., 2008), tỉ lệ tử vong thường làkhoảng 1 - 15%, nhưng có thể lên đến 50% Triệu chứng điển hình là ho, khó thở, chảynước mắt, nước mũi (Chin và cs., 2008)

- Mùa vụ phát bệnh

Với bản chất là bệnh Hen phức hợp nên bệnh có tính chất lây lan rất nhanh, đặc biệt ở những vùng chăn nuôi gà tập trung ORT hay gặp nhất ở gà giò và gà lớn thường xảy ravào mùa đông, mùa xuân và thời điểm giao mùa trong năm khi nền nhiệt có sự biến đổinhiều Tuy nhiên, với phương thức chăn nuôi gà công nghiệp tập trung với mật độ caonhưng chưa đảm bảo được an toàn sinh học như một số nơi hiện nay thì bệnh ORT có thểxảy ra bất cứ thời điểm nào trong năm (Lopes và cs., 2002)

Trang 21

Ở gà bệnh có thể tìm thấy vi khuẩn ORT trong phổi, túi khí, chất tiết của đường hô hấpnhư: nước mũi, nước mắt, dịch nhầy khí quản và ở hai bên phế quản (Back và cs., 1997)

- Phương thức truyền lây

Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gà chủ yếu qua đường hô hấp, sinh sôi và phát triển ởniêm mạc đường hô hấp, sau đó đến cư trú ở cơ quan đích là phổi, hai phế quản gốc vàgây nên bệnh tích đặc trưng của bệnh ORT ở đó ORT xuất hiện và truyền ngang thôngqua sự tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với mầm bệnh có trong không khí hay nước uống

Do đó, các chuồng hở, sự thông thoáng của chuồng nuôi tạo điều kiện cho quá trình phát tán bệnh trở nên dễ dàng hơn Bệnh lây truyền từ gà bệnh cho gà khoẻ qua tiếp xúc trựctiếp Gà bệnh bài thải mầm bệnh ra ngoài không khí qua chất tiết đường hô hấp (hắt hơi)

và từ đó lây cho gà khoẻ bằng đường hít thở Ngoài ra, mầm bệnh có thể lây lan theođường gió, qua dụng cụ chăn nuôi, xe vận chuyển, động vật mang mầm bệnh và conngười cũng đóng vai trò lớn trong sự truyền lây của bệnh ORT Ở những vùng chăn nuôi

gà tập trung theo hình thức công nghiệp nhưng không đảm bảo các điều kiện vệ sinh như môi trường bị ô nhiễm (mùi phân, độ thông thoáng kém…) hoặc nuôi gà nhiều độ tuổikhác nhau trong cùng một khu vực luôn là điều kiện tốt cho bệnh ORT bùng phát và lâylan với tốc độ nhanh Ngoài ra, vi khuẩn này có những bằng chứng cho thấy chúng có khảnăng truyền dọc Thêm nữa, ORT cũng được phân lập từ buồng trứng, ống dẫn trứng,trứng nở, trứng đã thụ tinh, trứng không được thụ tinh, trứng chết phôi và chết bệnh trong

vỏ của gà và gà tây (Back và cs., 1998) Tuy nhiên, khi tiêm ORT vào trứng gà có phôi, phôi được giết ở ngày thứ 9 nhưng không phân lập được ORT từ trứng đó Như vậy, cóthể thấy rằng ORT không truyền qua trứng trong quá trình ấp (Nguyễn Vũ Sơn và cs.,2014)

2.2.4 Vi khuẩn ORT

- Hình thái học

Vi khuẩn ORT là trực khuẩn dạng dùi trống, ngắn với kích thước đường kính 0,2 - 0,9µm

và dài 0,6 - 5µm ( Chin và cs., 2008) Đôi khi thấy vi khuẩn dạng hình que dài hay tạo thành chuỗi dài (Chin và Charlton, 1998) Trong môi trường dạng lỏng, chúng rất dài có thể dài tới 15µm (Hafez, 1996)

- Sức đề kháng của vi khuẩn

Trang 22

Các chủng vi khuẩn ORT bị vô hoạt hoàn toàn bởi dung dịch 0,5% dung dịch chứa

formic và glyoxyl axit; dung dịch 0,5% có chứa hợp chất aldehyde-based

(20% glutaraldehyed) sau 15 phút Các dung dịch hỗn hợp này cũng có thể vô hoạt ORTtrong thời gian 15 phút ở trong điều kiện ống nghiệm (Hafez và cs., 2003)

Vi khuẩn ORT có thể lan truyền theo chiều ngang bằng cách tiếp xúc trực tiếp hoặc giántiếp thông qua con đường không khí hoặc nước uống Do đó, các chuồng hở, sự thôngthoáng của chuồng nuôi tạo điều kiện cho sự phát tán mầm bệnh trở nên dễ dàng hơn.ORT được tìm thấy khi chúng tồn tại 1 ngày ở điều kiện 37°C, 6 ngày ở 22°C, 40 ngày ở 4°C và ít nhất là 150 ngày ở âm 12°C (Hafez và cs., 2003) Vi khuẩn ORT có thể tồn tạilâu hơn ở ngoài môi trường có nhiệt độ thấp khi con vật bị mắc bệnh, nhất là về mùađông Tuy nhiên, nó không thể tồn tại ở điều kiện 42°C trong vòng 24 giờ

- Đặc tính nuôi cấy

Vi khuẩn ORT có thể phân lập được trên môi trường thông thường, môi trường khôngchọn lọc hoặc môi trường thạch Chocolate agar Vi khuẩn phát triển trong điều kiện hiếu hoặc yếm khí tùy tiện ở 37°C với thời gian 24 giờ; nhưng tốt nhất là ủ đĩa nuôi cấy trong

tủ ấm với thời gian từ 48 - 72 giờ có bổ sung 7,5 - 10% CO2 Đám khuẩn lạc nhỏ bằngđầu đinh gim xuất hiện (đường kính khuẩn lạc khoảng 1 - 2 mm), có màu xám đến xámtrắng, lồi, rìa sắc gọn Là vi khuẩn gram âm bắt màu đỏ fucsin, đa hình thái Phản ứngcatalase âm tính, oxidase dương tính Khi nuôi cấy vi khuẩn ORT một cách thuần khiếtthì chúng có mùi đặc trưng, giống như mùi của axit butyric Đây là dấu hiệu cần thiếttrong quá trình kiểm tra và khẳng định đó là vi khuẩn ORT

Trong các mẫu thu được, chúng thường bị mắc một số vi khuẩn khác như: E.coli,

Proteus sp hoặc Pseudomonas sp Vì vậy, chúng thường phát triển rất nhanh và xâm lấn

rộng làm cho việc xác định sự có mặt của vi khuẩn ORT rất khó khăn Do vậy, cần bổsung 10 £g/ml gentamycin môi trường thạch máu trong quá trình nuôi cấy, phân lập vikhuẩn ORT Hoặc, bổ sung 5 £g/ml gentamycin và polymyxin B vào trong môi trườngthạch máu cũng cho hiệu quả cao (Van Empel, 1997) Bởi, trong các nghiên cứu trướcđây người ta đã chỉ ra rằng: hầu hết các chủng vi khuẩn ORT phân lập được đều khángvới kháng sinh gentamycin (Back và cs., 1997) Vi khuẩn không có khả năng phát triểntrên môi trường thạch MacConkey Mặt khác, vi khuẩn có khả năng phát triển tốt trên

Ngày đăng: 14/03/2020, 17:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w