(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn, Lào Cai
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN PHƯƠNG VĂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
HOÀNG LIÊN, VĂN BÀN, LÀO CAI
Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên- 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày… tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc PGS.TS Trần Quốc Hưng (người hướng dẫn khoa học) đã tận tình
hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn, Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn Hoàng Liên Văn Bàn, Phòng Nông nghiệp huyện Văn Bàn, Phòng Tài Nguyên
và Môi trường huyện Văn Bàn, UBND xã Nậm Xé, UBND xã Nậm Xây, UBND xã Liêm Phú cùng các cơ quan đơn vị đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Thái Nguyên, ngày… tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Văn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu chung, mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Địa điểm và thời gian tiến hành 3
5 Ý nghĩa của đề tài 3
5.1 Ý nghĩa trong học tập và nhiên cứu khoa học 4
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Những khái niệm 5
1.1.2 Sinh kế bền vững 8
1.1.3 Khung phân tích sinh kế bền vững 10
1.1.4 Tiêu chí đánh giá chung 18
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 19
1.2.1 Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới và Việt Nam 19
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 26
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 26
1.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội 31
Trang 51.3.3 Hiện trạng Bảo tồn ĐDSH tại Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn 33
1.3.4 Hiện trạng khai thác phục vụ sinh kế tại Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn 34
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Nội dung nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.2.2 Phương pháp xử lý thống kê 42
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Hiện trạng sinh kế của cư dân sinh sống tại Khu bảo tồn Hoàng Liên – Văn Bàn 44
3.1.1 Các hoạt động sinh kế 44
3.1.2 Đánh giá hoạt động sinh kế dựa vào khung sinh kế bền vững của DFID 48
3.2 Đánh giá ảnh hưởng các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến tài nguyên rừng KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 57
3.2.1 Ảnh hưởng của khai và sử dụng đất của người dân tại khu vực nghiên cứu 57
3.2.2 Đánh giá các nguồn và sinh kế mà người dân sống dựa vào rừng tại khu vực nghiên cứu 58
3.2.3 Đánh giá những ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến tài nguyên rừng KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 62
3.2.4 Tác động đến sinh kế do thể chế, chính sách 63
3.2.5 Đánh giá ảnh hưởng sinh kế đến hệ sinh thái KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 64
3.2.6 Đánh giá tính bền vững của hoạt động sinh kế 68
3.3 Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển Sinh kế bền vững ở KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 71
3.3.1 Quan điểm phát triển sinh kế bền vững 71
3.3.2 Nhóm giải pháp về kinh tế 72
3.3.3 Nhóm giải pháp về văn hóa, xã hội 76
3.3.4 Nhóm giải pháp về môi trường, sinh thái 77
Trang 6KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTĐL Taiwania cryptomerioides Bách tán Đài Loan
DFID Department for International
Development
Vụ Phát triển Quốc tế Anh
VNGO&CC The Network of Vietnamese
NGOs and Climate Change
Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và biến đổi khí hậu
KBTTN Nature reserve Khu bảo tồn thiên nhiên
IFAD International Fund for
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các hoạt động xâm phạm vào rừng ở vùng đệm Khu BTTN 45
Bảng 3.2 Nguồn lao động các xã trong KBT 49
Bảng 3.3 Quan hệ của các tổ chức liên quan đến cộng đồng 53
Bảng 3.4 Hiện trạng diện tích các loại đất loại rừng 54
Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn 54
Bảng 3.5 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 55
Bảng 3.6 Diện tích đất bình quân các loại của các hộ gia đình 57
Bảng 3.7 Nguồn gốc đất đai các hộ gia đình 58
Bảng 3.8 Thu nhập bình quân các nhóm hộ từ trồng lúa và cây ngắn ngày 59
Bảng 3.9 Thu nhập bình quân các nhóm hộ từ chăn nuôi 60
Bảng 3.10 Thu nhập bình quân các hộ gia đình từ rừng 60
Bảng 3.11 Thu nhập bình quân các hộ gia đình từ các nghề tự do 61
Bảng 3.12.Cơ cấu nguồn thu nhập từ các hộ gia đình 62
Bảng 3.13 Đặc điểm khu rừng KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 65
Bảng 3.14 Đặc điểm khu rừng ô dạng bản KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 66
Bảng 3.15 Đánh giá tính bền vững của hoạt động sinh kế 68
theo từng lĩnh vực 68
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững 11 Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc hoạt động quản lý, bảo vệ rừng của các nhóm hộ, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương miền núi thường đi đôi với mở rộng diện tích canh tác, phát rừng làm nương rẫy, điều này ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học Để đảm bảo cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, phát triển tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thành lập hệ thống các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Các khu KBTTN ở Việt Nam thường nằm ở vùng sâu, vùng xa và gần với những cộng đồng dân tộc thiểu số, nơi mà tỷ lệ đói nghèo ở mức cao, cuộc sống người dân còn nhiều khó khăn và phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Theo tổ chức Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc
tế (IUCN, 2008): “Người dân nghèo thường là đối tượng phụ thuộc nhiều nhất vào môi trường và cũng là đối tượng trực tiếp và gián tiếp sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó, họ là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi môi trường bị suy thoái hoặc khi quyền tiếp cận của họ đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên bị hạn chế hoặc không được chấp thuận” Khi các KBTTN thành lập thì người dân sống trong và xung quanh KBTTN không được phép hoặc bị hạn chế khai thác tài nguyên trong khu bảo tồn, đặc biệt là tài nguyên sinh vật Điều đó tác động lớn tới sinh kế của họ, buộc người dân phải thay đổi phương thức sản xuất lương thực, thực phẩm, của cải vật chất để duy trì, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Những người dân buộc phải khai thác tài nguyên ở khu vực không được phép Thậm chí, xuất hiện tâm lý cho rằng các tài nguyên đó giờ không còn là của họ nữa, khi vắng mặt lực lượng bảo vệ họ tranh thủ khai thác tối đa, làm cho nguồn tài nguyên đa dạng sinh học không còn khả năng tự phục hồi Mỗi cộng đồng dân cư có những đặc trưng riêng, nhu cầu riêng, những thích ứng kinh
tế, cũng như những ứng xử văn hóa và có những tập tục sống, tập quán canh tác,
có mối liên kết mang tính xã hội khác nhau
KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn được thành lập năm 2007 có mức độ đa dạng sinh học được đánh giá là cao Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn nằm trong
Trang 11phạm vi hành chính của 03 xã thuộc huyện Văn Bàn là Nậm Xây, Nậm Xé và xã Liêm Phú Dân số có 7.901 người, 1.507 hộ Mật độ trung bình là: 30 người/km2, mật độ cao nhất là xã Liêm Phú (66 người/km2) và thấp nhất xã Nậm Xé (7 người/km2)
Các công trình thủy điện Nậm Xây Luông, Nậm Xây Luông 4+5, Nâm Xây Luông 3, Nậm Khắt và một số công trình Thủy điện khác cũng được xây dựng và đưa vào sử dụng, bên cạnh hiệu quả về kinh tế xã hội, cũng làm cho tiểu khí hậu thay đổi, tác động lớn đến các dòng suối, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây Cuộc sống của họ khó khăn hơn, càng thúc đẩy người dân khai thác rừng và các tài nguyên rừng để phục vụ sinh kế
Để bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học đồng thời đảm bảo cuộc sống và nhu cầu của cộng đồng dân cư sống ở Khu bảo tồn thiên nhiên cần có những định hướng sinh kế phù hợp với từng cộng đồng dân cư và phù hợp với điều kiện tự nhiên ở lãnh thổ họ sinh sống Cho đến hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện để cung cấp luận cứ khoa học nhằm xây dựng và phát triển sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng đệm KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực
trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, Lào Cai” Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở
giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược, chính sách hỗ trợ đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn
2 Mục tiêu chung, mục tiêu nghiên cứu cụ thể
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ gia đình tiếp cận các nguồn lực phát triển sinh kế Trên cơ sở
đó đưa ra những giải pháp nâng cao và đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân
cư để giảm áp lực vào việc phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Đánh giá thực trạng các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn
Trang 12- Phân tích các tác động của hoạt động sinh kế của người dân đến tài nguyên rừng vùng đệm KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn
- Đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, Lào Cai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân sinh sống trong vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn;
- Công tác quản lý của một số cán bộ có liên quan đến hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên cứu (cán bộ UBND xã Nậm Xây, Nậm Xé, Liêm Phú; cán bộ UBND huyện Văn Bàn; và Cán bộ Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn)
- Các giải pháp góp phần tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư trong các xã Nậm Xây, xã Nậm Xé,
xã Liêm Phú thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn; Những ảnh hưởng của hoạt động sinh kế tới tài nguyên rừng; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp sinh kế bền vững cho khu vực này
4 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Tại các xã thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên
- Văn Bàn
Đề tài được tiến hành trong thời gian hai năm 2018-2019,trongđó:
- Năm 2018: Thu thập số liệu và điều tra bổ sung hoàn chỉnh số liệu Các số liệu về kinh tế xã hội, khí hậu, hiện trạng sử dụng đất năm 2017, hiện trạng rừng năm
Trang 135.1 Ý nghĩa trong học tập và nhiên cứu khoa học
- Giúp học viên kiểm chứng lại kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế và
có thể tích luỹ được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai
- Nắm được các phương pháp nghiên cứu, biết cách thu thập dữ liệu xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng
- Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những khái niệm
Những khái niệm chính được sử dụng trong luận văn có mối liên hệ logic và
hệ thống, để tập trung vào nội dung nghiên cứu là đề xuất được giải pháp tăng cường sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân sinh sống tại Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn, cụ thể:
Ý tưởng về sinh kế được đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của Chambers vào những năm 1980 Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của Ellis, Barret và Reardon… Có rất nhiều định nghĩa về sinh kế như sau:
Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để đảm bảo phương tiện sinh sống
Sinh kế có thể được diễn tả như là sự kết hợp của các nguồn tài nguyên được
sử dụng và các hoạt động được thực hiện để sống Các tài nguyên đó có thể bao gồm
cả các khả năng và kỹ năng của con người (vốn con người), đất đai, tiền tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), và các dịch vụ hỗ trợ chính thức hoặc không chính thức cho các hoạt động (vốn xã hội) (Farrington và cs, 1999)
Trong nhiều nghiên cứu của mình, Ellis (2010) cho rằng sinh kế bao gồm những tài sản, những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội) và theo đó các quyết định về sinh
kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay nông hộ
Sinh kế (livelihood): Có nghĩa là nghề nghiệp hoặc việc làm và cũng có nghĩa
là con đường để kiếm sống Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (DFID, 1999)
Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình
Trang 15Chiến lược sinh kế (livelihoods strategy): Là sự phối hợp các hoạt động và lựa
chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu kiếm sống:
- Sự chọn lựa chiến lược sinh kế phụ thuộc vào việc tiếp cận các loại vốn nào;
- Mỗi chiến lược sinh kế cần một sự kết hợp các loại vốn khác nhau Tuy nhiên mỗi loại vốn có thể sử dụng cho nhiều chiến lược khác nhau (Bộ Tài Nguyên & MT, CCWG, 2015)
Sinh kế bền vững (sustainable livelihood): Tiếp tục được hoàn thiện nội hàm
bởi DFID Sinh kế bền vững là sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên (DFID,
1999, 2007)
Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach): là một cách
cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của người nghèo Nó dựa trên các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người nghèo và các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố này
Nó có thể được sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện có để tạo ra sinh kế bền vững Cách tiếp cận này đưa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đưa ra một bộ các nguyên tắc hướng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói (Carney, 2009)
Vườn Quốc gia (National Park): Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12
ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2009, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật số 35/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 VQG phải có các tiêu chí chủ yếu sau đây:
- Có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên;
- Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
- Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục;
Trang 16- Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái
Theo nghị định 156/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp Vườn quốc gia đáp ứng các tiêu chí sau đây:
- Có ít nhất 01 hệ sinh thái tự nhiên đặc trưng của một vùng hoặc của quốc gia, quốc tế hoặc có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có trên 05 loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
- Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí;
- Có diện tích liền vùng tối thiểu 7.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái rừng
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh (Species-habitat conservation area): Theo nghị
định 156/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp Khu bảo tồn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
- Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
- Phải bảo đảm các điều kiện sinh sống, thức ăn, sinh sản để bảo tồn bền vững các loài sinh vật đặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
- Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục;
- Có diện tích liền vùng đáp ứng yêu cầu bảo tồn bền vững của loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Vùng đệm (buffer zone): là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh
giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng (Luật Lâm nghiệp, 2017)
Cộng đồng (community): Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt
Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán (Luật Lâm nghiệp, 2017)
Trang 171.1.2 Sinh kế bền vững
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ, nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp thủy sản) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người
hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo( Nguyễn Bá Long, 2006) Vì mục tiêu này, chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh kế cho người dân vùng đệm
Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là
sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế
hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế
Kể từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro ở Brazil năm 1992, Phát triển bền vững đã trở thành xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực hướng tới Theo đó, trong phát triển nông thôn xuất hiện xu hướng phát triển sinh kế bền vững bao gồm cả các mục tiêu giảm nghèo (Bộ TN &
MT và CCWG, 2015)
Trước đây, hoạt động sinh kế được hiểu là những phương tiện kiếm sống nhằm phục vụ nhu cầu cơ bản của cuộc sống (Ví dụ: thực phẩm, chỗ ở, quần áo, thuốc men ) Khái niệm về sinh kế bền vững cũng được hiểu là những nỗ lực để xoá đói giảm nghèo (Krantz, 2001) Tuy nhiên, các khái niệm đó chưa bao quát được hết mọi khía cạnh của hoạt động sinh kế, đặc biệt là các nguồn lực làm hạn chế hoặc tăng cường khả năng của con người
Khái niệm về sinh kế bền vững được Chambers và Conway (1992)mở rộng hơn Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể được đứng đầu và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế
Trang 18tiếp; đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn (Chambers & Conway, 1992)
Dựa trên nền tảng nghiên cứu điển hình của Chambers và Conway, đã có rất nhiều lập luận được điều chỉnh cho khái niệm sinh kế bền vững Đặc biệt quan trọng
là đóng góp của Scoones và các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) tại trường Đại học Sussex, Vương quốc Anh; Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID)
Tổ chức DFID đã xây dựng khung sinh kế bền vững như là một công cụ nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể (Hình 1)
Scoones (1998) định nghĩa hoạt động sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những khủng hoảng; duy trì, tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên”
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai.Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động(Nguyễn Bá Long, 2006)
Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nguồn tài nguyên thiên nhiên (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
Như vậy, sinh kế bền vững là sinh kế:
- Có thể phục hồi và đối mặt với các cú sốc và khủng hoàng;
- Không quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ bên ngoài;
- Duy trì và bảo tồn được tài nguyên;
- Không bị suy yếu và suy giảm theo thời gian (Bộ TN & MT và CCWG, 2015)
1.1.3 Khung phân tích sinh kế bền vững
Từ những năm 80 của thế kỷ XX Cục phát triển quốc tế Anh (DFID, 2001) đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững nhằm giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo cơ hội Khung sinh kế bền vững của DFID là một công cụ trực quan gồm năm hợp phần chính là bối cảnh tổn thương; Các loại vốn sinh kế; Chính sách, thể chế và tiến trình; Các chiến lược sinh kế; Và các kết quả sinh
kế Theo lý thuyết sinh kế mà DFID đưa ra, với một cộng đồng hay nhỏ hơn là một
hộ gia đình đều có 5 loại nguồn vốn tạo thành một ngũ giác sinh kế và ngũ giá này sẽ
bị thay đổi khi có các điều kiện bên ngoài tác động vào Tuy nhiên, tuỳ vào khả năng ứng phó của cộng đồng hay hộ gia đình trước các tác nhân tác động mà khả năng phát triển sinh kế có thể đi theo hướng tốt hơn hay tồi tệ đi Năm nguồn vốn bao gồm Vốn
xã Hội (S), Vốn Tài chính (F), Vốn con người (H), Vốn vật chất (P), và Vốn tự nhiên(N)
KẾ
KẾT QUẢ SINH KẾ
- Tăng thu nhập
- Tăng mức sống
- Giảm tình trạng dễ bị tổn thương
- Cải thiện an ninh lương thực
Trang 20hộ nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn khác Đó là do họ không có khả năng tiếp cận với những nguồn lực có thể giúp họ tự bảo vệ trước các tác động xấu
(2) Các loại vốn sinh kế
* Vốn con người
Vốn con người là tổng hợp các kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khỏe Tất cả tập hợp này tao thành những điều kiên giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau để đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở mức độ hộ gia đình vốn con người chính là số lượng và chất lượng lao động sẵn có Vốn con người thay đổi tùy theo quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe (DFID, 2001) Vốn con người của hộ nông dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như:
- Số lượng và cơ cấu nhân khẩu của một hộ/gia đình (tỷ lệ giữa người trong độ tuổi lao động và người không thuộc diện lao động, giới tính);
Kiến thức của các thành viên trong gia đình (trình độ học vấn và chuyên môn,
Trang 21Sức khoẻ tâm lý và sinh lý của các thành viên trong gia đình, đời sống tâm linh
và tình cảm của họ;
Khả năng lãnh đạo và các kỹ năng trong sản xuất;
Quỹ thời gian của các cá nhân trong hộ ̣và khả năng sử dụng thời gian một cách hiệu quả
- Hình thức phân công lao động cho cả người lớn và trẻ em
Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong viêc sử dụng các loại vốn khác
để đạt được các kết quả sinh kế tốt hơn cho các hô ̣gia đình
* Vốn xã hội
Có một số quan điểm khác nhau về vốn xã hội và vai trò của nó:
Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin,
sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng (DFID, 2001)
Vốn xã hội có liên quan tới các tổ chức, các mối quan hệ, và các chuẩn mực
đã định hình chất lượng và số lượng của các tương tác trong một xã hội Ngày càng
có thêm nhiều bằng chứng cho thấy sự gắn kết xã hội là rất quan trọng để phát triển sinh kế bền vững Vốn xã hội không chỉ là tổng số những thể chế làm cơ sở cho sự vững chắc xã hội mà còn là chất kết dính họ lại với nhau (World Bank Documents, 1999)
Vốn xã hội là tất cả những mối tiếp cận và kết nối chủ động giữa những cá nhân: lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau và cùng chia sẻ những giá trị, hành vi gắn kết con người, những thành viên trong các mạng lưới cá nhân và những cộng đồng và có thể diễn ra những hành động cùng hợp tác (Cohen and Prusak, 2001)
Như vậy vốn xã hội là toàn bộ những niềm tin xã hội, sự hiểu biết lẫn nhau, các chuẩn mực và những mạng lưới xã hội mà hô ̣ gia đình có thể sử dụng để giải quyết và hoàn thành các chiến lươc sinh kế nhắm đạt được mục tiêu sinh kế mà hộ đã
đề ra
Vốn xã hội của hộ nông dân thể hiện qua các chỉ tiêu:
Trang 22Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng, hội đồng niên (được lập nên do có chung mối quan hệ hoặc cùng sở thích);
Các cơ chế hợp tác trong sản xuất và trên thị trường (ví dụ các hợp tác xã và các hiệp hội);
Những luật lệ, quy ước của thôn, bản về các hành vi ứng xử, sự trao đổi và quan hệ qua lại trong cộng đồng;
Các sự kiện, lễ hội và niềm tin xuất phát từ truyền thống, tôn giáo;
Những cơ hội để tiếp cận thông tin như các cuộc họp thôn, câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ phụ nữ;
Những cơ hội tham gia và tạo ảnh hưởng đến các công việc của địa phương như tham gia vào các tổ chức đoàn thể và chính quyền xã;
Những cơ chế hoà giải mâu thuẫn của địa phương
* Vốn tự nhiên
Vốn tự nhiên thể hiện nguồn vốn tài nguyên thiên nhiên hữu ích cho sinh kế bao gồm các nguồn lực và dich vu ̣ (ví du ̣ như chu kỳ dinh dưỡng, bảo vê ̣ xói mòn) Có một sự khác biệt lớn trong các nguồn tạo nên vốn tự nhiên, từ hàng hóa công cộng vô hình như không khí cho tới sự đa dạng sinh học hay đối với tài sản đươc chia để sử dụng trực tiếp cho sản xuất như cây trồng, đất đai (DFID, 2001) Như vâỵ, vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế
Vốn tự nhiên của hộ nông dân được thể hiện qua các chỉ tiêu:
Các nguồn tài sản chung (các khu đất bảo tồn của xã, các khu rừng cộng đồng, khu cảnh quan sinh thái, sông, hồ, );
Các loại đất của hộ gia đình (đất ở, đất trồng cây theo mùa vụ, đất lâm nghiệp, đất vườn của hộ, );
Nguồn cung cấp thức ăn và nguyên liệu từ tự nhiên và do con người sản xuất ra;
Đa dạng sinh học (các nguồn gen thực vật và động vật từ nuôi, trồng của hộ và từ rừng tự nhiên);
Các khu vực chăn thả và các nguồn cây thức ăn gia súc cho sản xuất chăn nuôi; Các nguồn nước và việc cung cấp nước cho sinh hoạt hàng ngày, thuỷ lợi, nuôi trồng thuỷ sản
Trang 23Các yếu tố khí hậu và những may rủi về thời tiết
Giá trị cảnh quan cho việc quản lý các nguồn tài nguyên và giải trí
Vốn tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế của những người thu môt phần hay tất cả từ các hoat đông khai thác tài nguyên cơ bản (trồng trot, đánh bắt cá, thu thập trong rừng, khai thác khoáng sản ) Tuy nhiên, tầm quan trọng của vốn tự nhiên còn lớn hơn nhiều vì không ai có thể sống sót mà không cần tới các nhu cầu thiết yếu từ môi trường và thực phẩm được sản xuất từ nguồn vốn tự nhiên Sứ c khỏe (vốn con người) ngày càng bi ̣ ảnh hưởng với những nơi bi ̣ô nhiễm không khí do các hoạt động hoặc do các thảm họa từ tự nhiên (ví dụ như cháy rừng) Cho dù hiểu biết về mối liên hệ giữa các loại vốn hạn chế thì) mọi người đều biết sức khỏe và sự hanh phúc của mọi người phu ̣huôc vào các hoạt đông liên tục của các hệ sinh thái phức tạp nhưng điều này thường bị coi nhẹ cho đến khi tác động có hại của nó thể hiện rõ ràng
* Vốn tài chính
Vốn tài chính ngụ ý các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình Vốn tài chính bao gồm nguồn dự trữ tài chính và dòng tài chính (DFID, 2001)
Dự trữ tài chính: Tiết kiệm là một loại vốn tài chính được ưa chuộng do nó không kèm theo trách nhiệm liên quan và không phải dựa vào những nguồn khác Tiết kiệm có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản khác như vật nuôi, đồ trang sức Các nguồn tài chính cũng có thể có được qua các đơn vị hoạt động tín dụng
Dòng tiền theo định kỳ: Cộng thêm với nguồn thu nhập thường xuyên, các dòng tiền theo định kỳ thường là lương hưu hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiền thân nhân gửi về
Vốn tài chính của hộ nông dân được thể hiện qua các chỉ tiêu:
Thu nhập tiền mặt thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm, việc làm và tiền của thân nhân gửi về
Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ các nguồn chính thức (ví dụ ngân hàng) và các nguồn phí chính thức (ví dụ chủ nợ, họ hàng )
Trang 24Tiết kiệm (bằng tiền mặt, gửi ngân hàng hay các dự án tiết kiệm) và những dạng tích luỹ khác như gia súc, vàng, đất đai, công cụ sản xuất
Khả năng tiếp cận thị trường và các hệ thống tiếp thị sản phẩm của hộ gia đình qua các loại hình và địa điểm khác nhau
Các hoạt động tạo thu nhập phụ như thu lượm lâm sản ngoài gỗ
Những chi trả từ phúc lợi xã hội (như lương hưu, một số miễn trừ chi phí) và một số dạng trợ cấp của nhà nước
* Vốn vật chất
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa (như máy móc, nguyên vât liêu,…) mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế (DFID, 2001)
Vốn vật chất của hộ nông dân được thể hiện qua:
Nhà ở, nơi trú ngụ và các dạng kiến trúc khác như chuồng trại, khu vệ sinh
(3) Chính sách, thể chế và những tác động của chúng lên sinh kế
Các chính sách và thể chế bao gồm nhiều yếu tố liên quan có những tác động mạnh lên mọi khía cạnh của sinh kế Rất nhiều trong số những yếu tố này có liên quan đến môi trường, quy định, chính sách và các dịch vụ do nhà nước thực hiện Những vấn đề đó cũng bao gồm cả các cơ quan cấp địa phương, các tổ chức dựa vào cộng đồng và những hoạt động của khu vực tư nhấn (DFID, 2001)
Các chính sách và thể chế là phần quan trọng trong khung sinh kế bởi chúng định ra:
- Khả năng người dân tiếp cận các nguồn vốn sinh kế, những chiến lược sinh
kế, những cơ quan ra quyết định và các nguồn lực ảnh hưởng
- Nhưng điều khoản quy định cho việc trao đổi giữa các loại thị trường vốn sinh kế
- Lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một số hoạt động sinh kế nhất định
(4) Chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử dụng
và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ
Trang 25thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh kế; quy mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết
để kiếm sống; họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ
có như thế nào để làm được những điều trên (NACA, 2006)
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người
ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố, ví dụ như căn
cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, sự an toàn của đời sống vật chất (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống trong trạng thái dễ bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo
vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc, (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong
sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định
Trang 26thu hoạch mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực (Nguyễn Hồng Phương,
Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- Sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường: Sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
❖ Cách tiếp cận khung sinh kế bền vững của DFID
Khung sinh kế bển vững DFID là một công cụ trực quan hoá được DFID xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ XX nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích
là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh
kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề khó khăn hay những yếu tố tạo cơ hội [37] Khung sinh kế DFID bao gồm năm hợp phần chính: Bối cảnh tổn thương; Các nguồn lực sinh kế; Chính sách và thể chế; Các chiến lược, hoạt động sinh kế và các Kết quả sinh kế (Hình 1)
Khung sinh kế bền vững của DFID đưa ra được nhiều giới học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi Khung phân tích này được trình bày chi tiết và có
hệ thống trong Các bản hướng dẫn sinh kế bền vững (Sustainable livelihoods Guidance Sheets) do DFID công bố vào năm 1999, để thúc đẩy các chính sách, hành động vì sinh kế bền vững và giảm nghèo Khung sinh kế bền vững đề cập đến các yếu
tố và thành tố hợp thành sinh kế đó là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các quy trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài
Việc sử dụng cách tiếp cận khung sinh kế bền vững này sẽ “giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào, vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế”
Trang 271.1.4 Tiêu chí đánh giá chung
Việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động sinh kế bền vững nhằm: xác định xem hoạt động sinh kế đó đã bền vững chưa, và là cơ sở hỗ trợ cho việc giám sát và đánh giá tính thích ứng của mô hình theo thời gian Đặc biệt, các tiêu chí này khi được xây dựng sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách cũng như người dân trong việc ra quyết định về đầu tư triển khai và nhân rộng
Nhiều tác giả (Scoones, 1998; DFID, 1999, 2007) đều thống nhất đưa ra một
số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế:
- Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập
- Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực,cải thiện phúc lợi
- Bền vững về môi trường: được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên đất, nước, rừng, thủy sản…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường) và có khả năng thích ứng trước những tổn thương và cú sốc từ bên ngoài
- Bền vững về thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như hệ thống pháp luật được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động
có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để các sinh kế được cải thiện một cách liên tục theo thời gian (Nguyễn Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012)
Trong bối cảnh BĐKH toàn cầu hiện nay, sinh kế thích ứng hay sinh kế chống chịu được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu để ứng phó với BĐKH và tăng cường hiệu quả của hoạt động sinh kế cho cộng đồng dân cư.Về cơ bản, đó là sinh kế
có khả năng chống chịu với các tác động từ thời tiết cực đoan, giảm thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra và phát huy được các mặt có lợi do BĐKH mang lại cũng như giảm phát thải khí nhà kính Ở Việt Nam, các tiêu chí để đánh giá một mô hình, giải pháp sinh kế thích ứng, bền vững hiện nay là: (i) Thích ứng với BĐKH, (ii) Có thể giảm
Trang 28phát thải khí nhà kính, (iii) Có hiệu quả và bền vững về môi trường, về kinh tế và xã hội, và
(iv) có khả năng nhân rộng (Bộ TN&MT và VNGO&CC, 2016)
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.2.1 Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới
Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế Chambers và Conway sinh kế là: “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” (Chambers và Conway, 1992, tr.6) Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng… nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình
Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên” (Scoones, 1998, tr.5)
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế
“bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người”(DFID, 2001, tr.5) Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn giống với khái niệm về sinh kế của Chambers và Conway (1992) và Scoones (1998)
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau
và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện Cùng trên quan điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú
Trang 29sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân
tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này
Trên cơ sở phát triển và kết hợp một số thay đổi so với Khung sinh kế bền vững của DFID tổ chức IFAD đã xây dựng khung sinh kế bền vững mới (Hamilton and Townsley, 2004) Khung sinh kế mới nhấn mạnh hơn việc lấy con người làm trung tâm Khung sinh kế bền vững này trở thành một công cụ tương đối trực quan
và dễ thực hiện Khung này bắt đầu bằng chinh người nghèo và các nguồn vốn sinh
kế của họ vì việc phân tích lấy “con người làm trung tâm”
Khung sinh kế bền vững IFAD phát triển và kết hợp một số thay đổi so với khung sinh kế bền vững DFID (Hamilton and Townsley, 2004) như:
- Ít “tuần tự” hơn: Sự sắp xếp hàng ngang trong khung sinh kế bền vững DFID tạo ra sự liên tiếp tuần tự và làm cho mối liên kết quan trọng giữa các yếu tố trong khung sinh kế ít rõ ràng, khó thể hiện đứợc tầm quan trọng cũng nhứ mức độ tác động khác nhau của các yếu tố
- Đặt người nghèo làm trung tâm: Mặc dù việc tiếp cận sinh kế bền vững SLA (service-level agreement) phần lớn được phát triển nhứ một công cụ để hỗ trợ đạt các mục tịêù xóa nghèo đói thiên niên kỉ, sự thất bại của khung sinh kế nàỹ đứợc thừa nhận trong các lần góp ý Khung sinh kế mới cố gắng giải quyết địều này bằng việc đặt ngứời nghèo làm trung tâm của sơ đồ và sắp xếp các yếu tố khác trong khuôn khổ mối quan hệ với họ
Trang 30- Nhấn mạnh yếu tố đời sống tinh thần trong sinh kế: Các nguồn vốn sinh kế không chỉ là những yếu tố nhìn thấỹ đứợc mà còn chịù tác động lớn bởị đời sống tinh thần cùa người dân Điều này quan trọng và ảnh hưởng tới mong muốn và hành động của họ nhứ một thứ tài sản về “tôn gịáo” haỹ “tinh thần” Các ỹếu tố nhứ giới tính, tuổi tác, đẳng cấp, trình độ, được đặt cạnh trùng tậm là người nghèo như những yếu
tố ảnh hưởng tới quan hệ của ngứời nghèo các yếu tố khác trong khung sinh kế
Sử dụng cách tiếp cận dựa trên nguồn lực, UNDP nhấn mạnh việc khuyến khích, thúc đẩy người dân tham gia sử dụng và quản lý nguồn lực một cách bền vững, qua đó có thể xóa đói giảm nghèo Giống nhứ DFID, UNDP tập trung vào địểm mạnh của người dân chứ không phải là nhu cầu của họ Các chính sách và thể chế chính trị, các vấn đề ảnh hứởng tớị đời sống của họ đứợc xem xét và giải quyết thông qua các hành động cụ thể (Carney et al., 1999)
Cách tiếp cận của CARE tương tự như DFID ở chỗ nhấn mạnh đến mối quan
hệ năng động giữa các khía cạnh khác nhau của khung sinh kế bền vững CARE quan tâm nhiều hơn đến an ninh sinh kế hộ gia đình, khung sinh kế được CARE xây dựng với nhiều yếu tố xoay quanh hộ gia đình, nhấn mạnh các yếu tố xuất phát từ chính người dân và lấy người dân làm trung tâm (Carney et al., 1999)
Trên cơ sở khung sinh kế bền vững nêu trên, năm 2004, IMM đã sửa đổi lại
để áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng ven biển” (MARD, 2008) Trong khung phân tích này, sinh kế của các hộ gia đình ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sử dụng để thực hiện các chiến lược sinh kế
1.2.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cùng với các hoạt động được đầu tư cho nghiên cứu về sinh kế
và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu Năm 2010, MONRE và UNDP đã xuất bản tài liệu về “Xây dựng khả năng phục hồi: Chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động BĐKH ở miền Trung Việt Nam”
Một số công trình nghiên cứu, hỗ trợ hoạt động sinh kế ở Việt Nam:
Trang 31- “Dự án sinh kế nông thôn bền vững ở Bình Định” do cơ quan phát triển quốc
tế NewZealand (NZAID) tài trợ tiến hành từ 2009 - 2013; Dự án "Cải thiện sinh kế các tỉnh ven biển miền Trung" do ADB tài trợ từ nguồn quỹ đặc biệt của Chính phủ
Nhật Bản kéo dài từ 4/2004 - 3/2005; Dự án “Quản lý tổng hợp các hoạt động vùng
đầm phá” (IMOLA) của Thừa Thiên Huế,…
- Nghiên cứu “Tác động của Đô thị hóa và công nghiệp hóa đến sinh kế nông
dân” được thực hiện bởi TS Nguyễn Văn Sửu - Trường Đại học khoa học xã hội
nhân văn tại một làng ở ven đô Hà Nội;
- Đề tài “Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng cồn bãi
huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu, đứng đầu
là PGS.TS Hoàng Mạnh Quân (Trường Đại học Nông lâm Huế) năm 2009
- Dự án “Sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển - LMPA”
- Cuốn sách “Sinh kế bền vững cho các Khu bảo tồn biển Việt Nam” đã được
hoàn thành bởi một nhóm tác giả, đứng đầu là Angus McEwin và đã được xuất bản năm 2007
Tại Việt Nam, những nghiên cứu về chính sách hỗ trợ người nghèo nói chung, cộng đồng DTTS nói riêng cũng đã được tiếp cận dưới góc độ SKBV
Theo báo cáo tổng hợp của ngân hàng thế giới (2012), giảm nghèo ở Việt Nam đạt được những kết quả ngoạn mục, tuy nhiên giảm nghèo của nhóm đồng bào DTTS diễn ra với tốc độ chậm hơn Cụ thể đồng bào DTTS chiếm dưới 15% tổng dân số cả nước nhưng lại chiếm 47% tổng số người nghèo vào năm 2010 Trên toàn quốc, có 66% đồng bào DTTS sống ở dưới mức chuẩn nghèo vào năm 2010 Báo cáo của Ngân hàng thế giới cho thấy, có 34% người DTTS không thuộc diện nghèo theo chuẩn nghèo Câu hỏi đặt ra là tại sao 1/3 DTTS đã thoát nghèo? Đa dạng hóa sinh kế chính là chiến lược cốt lõi để thoát nghèo của các đồng bào DTTS
Trong báo cáo của Oxfam và ActionAid (2013), thông thường con đường đi lên của hộ DTTS thường bắt đầu từ việc đảm bảo an ninh lương thực dựa trên cây lương thực, hoa màu ngắn ngày và làm thuê gần nhà Sau khi đã vượt ngưỡng "đủ ăn" đa số hộ DTTS có lợi thế đất đai sẽ đa dạng hóa để tăng thu nhập nông nghiệp bằng cách kết hợp trồng cây hàng hóa ngắn ngày và dài ngày và phát triển chăn nuôi
Trang 32Bước tiếp theo một số hộ sẽ từng bước thâm canh một số loại cây hàng hóa nhằm tăng thu nhập theo cách "lấy ngắn nuôi dài" Một số hộ sau quá trình thâm canh sẽ tiếp tục đa dạng hóa nông nghiệp ở mức cao hơn để đảm bảo d̀ng tiền và tăng thu nhập bền vững hơn Một số ít hộ khác tìm cách tăng thu nhập phi nông nghiệp bằng cách đi làm ăn xa hoặc xuất khẩu lao động (XKLĐ), đầu tư vào thương mại – dịch
vụ, phát triển nghề truyền thống Trong quá trình vươn lên, hộ DTTS thành công đầu
tư cho giáo dục với hy vọng thế hệ sau có nghề phi nông nghiệp ổn định với thu nhập cao hơn Chiến lược đa dạng hóa thường dựa vào sự phân công lao động hợp lý giữa các thành viên trong hộ
Đa dạng hóa kết hợp chăn nuôi, cây hàng hóa ngắn ngày và dài ngày là chiến lược tăng thu nhập phổ biến của gia đình DTTS Tại Đăk Nông, đa số người Mạ kết hợp giữa trồng ngô, sắn, làm thuê và chuyển dần sang trồng cà phê
Tại Hà Giang, người Nùng, Hmông kết hợp giữa lúa, ngô, trồng rau và chăn nuôi Tại Nghệ An, người Thái kết hợp trồng lúa, chăn nuôi và làm thuê Tại các địa phương khác cũng có nhiều mô hình đa dạng hóa, như kết hợp lúa – chè ở Lào Cai, lúa–rau ở Điện Biên, lúa – hoa màu và lúa – tôm ở Trà Vinh… giúp nhiều hộ DTTS thoát nghèo (Oxfam và ActionAid, 2012)
Tại Nghệ An, một số hộ dân tộc Thái và Hmông đã thâm canh cây chanh leo (có liên kết với doanh nghiệp chế biến) bên cạnh các cây lúa, ngô truyền thống Tại Đăk Nông nhiều hộ dân tộc Mạ đã chuyển sang chuyên canh cà phê, giảm dần diện tích lúa, ngô (bắp), sắn (mỳ), điều và giảm chăn nuôi Quá trình chuyển đổi diễn ra
từ từ từng bước, tăng dần diện tích cà phê và tăng dần đầu tư cho cà phê khi đến tuổi thu hoạch Nhóm người Mạ tại thôn B’Sre B, xã Đăk Som (Đăk Glong, Đăk Nông) tổng kết con đường đi lên của một hộ thành công gồm 4 người và có 2 mẫu đất, đó là chuyển đổi dần từ trồng ngô/ sắn và làm thuê sang chuyên canh cà phê trong v̀ng 6 năm
Một số hộ DTTS sau quá trình thâm canh sẽ quay lại chiến lược đa dạng hóa nông nghiệp ở mức độ cao hơn Hộ DTTS thành công lúc này đã có tiềm lực kinh tế nhất định, có thể thử nghiệm cây con mới có giá trị cao, mặc dù mức đầu tư cao hơn hoặc thời gian hoàn vốn lâu hơn (ví dụ trồng ca cao, cao su, cây ăn trái, nuôi nhím…)
Trang 33Tiếp tục đa dạng hóa c̀n nhằm giảm rủi ro, đảm bảo d̀ng tiền Tại xã Quảng Khê (Đăk Glong, Đăk Nông), một số người Mạ bắt đầu kết hợp giữa thâm canh cà phê với các cây trồng mới như chè, dâu tằm, cây ăn trái… nhằm giảm sự phụ thuộc vào độc canh
cà phê, có nguồn thu nhập thường xuyên để đảm bảo cuộc sống hàng ngày, tránh vay
nợ lớn trong năm (cây cà phê cho thu nhập 1 năm 1 lần vào cuối vụ) Mô hình chè –
cà phê đang mở ra một hướng đi mới cho người Mạ hướng đến mô hình SKBV hơn
Báo cáo Ngân hàng thế giới (2012) cho thấy, những hộ DTTS khá giả đều cố gắng đầu tư cho con cái đi học ít nhất hết cấp 3, nhiều trường hợp cho đi học trung cấp, cao đẳng, đại học Tại bản Tân Tiến, xã Quyết Tiến (Quản Bạ, Hà Giang) – một “điểm sáng” giảm nghèo khá nổi tiếng, đa số thanh niên Hmông sau khi tốt nghiệp cấp 3 chọn con đường đi học trung cấp, cao đẳng với mong muốn có một công việc phi nông nghiệp tốt với thu nhập ổn định Xu hướng tích cực hiện nay là ngay cả hộ nghèo DTTS cũng ngày càng quan tâm đến giáo dục của con cái, với hy vọng thế hệ sau sẽ có cuộc sống tốt hơn
Năm 2017, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu “Chuyển đổi
sinh kế và vấn đề tín dụng ở một số tộc người thiểu số tại Tây Nguyên và Miền núi phía Bắc Việt Nam” Nghiên cứu thức hiện tại huyện Lâm Hà và huyện Lăk ở khu vực Tây
Nguyên; huyện Võ Nhai và Mai Sơn khu vực Phía Bắc, kết quả đưa ra được hiện trạng kinh tế của dân tộc thiểu ở Tây Nguyên và phí Bắc Việt Nam từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm mục tiêu tăng trưởng sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu
Đào Thị Lưu, Lê Văn Hương (2013) “Tác động của thiên tai đến sinh kế các
dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai” Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam; Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016) “Tiếp cận lý thuyết khung sinh kế bền vững
DFID trong nghiên cứu sinh kế của người mạ ở Vườn quốc gia Cát Tiên” Trường
Đại Học Đồng Nai; Nguyễn Quốc Nghi (2016) “Đánh giá sự tổn thương do Biến đổi
khí hậu tác động đến sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Cà Mau”, trường
Đại học Cần Thơ; Lê Anh Tuấn, Hoàng Thị Thủy, Võ Văn Ngoan (2014) “Ảnh hưởng
của Biến đổi khí hậu tới sinh kế người dân Đồng bằng Sông Cửu Long”; Đinh Thị
Hải Yến (2014) “Ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến sinh kế của cộng đồng dân cư
Trang 34ven biển tỉnh Khánh Hòa, trường Đại học Nha Trang”; Phạm Khánh Ly (2011)
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp sinh kế của người dân vùng đệm
khu rừng văn hóa lịch sử xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”, Học
Viện Nông Nghiệp Việt Nam; Đinh Thị Hà Giang (2017) “Nghiên cứu đề xuất giải
pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, Đại Học Quốc Gia Hà Nội; Lê Văn Hưng (2018)
“Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân trên đảo Cát
Bà - thành phố Hải Phòng”, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
1.2.1.3 Những nghiên cứu tại Khu Bảo tồn Hoàng Liên – Văn Bàn
Những nghiên cứu đã được tiến hành tại KBT Hoàng Liên - Văn Bàn chủ yếu tập trung khảo sát tính ĐDSH và bảo tồn các nguồn gen quý
“Nghiên cứu một số yếu tố sinh thái – môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố của cây Pơ mu (Fokienia hodginsii) tại Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai” Mục đích của đề tài Đánh giá hiện trạng bảo tồn và nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái – môi trường tới sự phân bố của cây Pơ mu tại Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn, kết quả đạt được phân vùng sinh thái cây Pơ
mu trong KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn và mối quan hệ giữa cây Pơ mu với các yếu
tố sinh thái môi trường ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển cũng như vị trí phân bố của cây tại khu vực nghiên cứu, nghiên cứu đưa ra nguyên nhân dẫn đến suy giảm loài chủ yếu là do hoạt động khai thác của con người gây suy giảm nghiêm trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năn tái sinh cũng như bảo tồn loài, từ những kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây Pơ mu trên địa bàn nghiên cứu
Lê Trọng Đạt (2009) “Khảo sát loại Vượn đen tuyền Nomascus concolor tại Khu bảo tồn Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (cùng các ghi nhận khác về động vật)”, kết quả khảo sát cho thấy hiện nay chỉ còn khoảng 2-5 đàn Vượn với tổng số từ 5-11 cá thể Vượn đen tuyền ở KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn so sánh
sơ qua với giai đoạn khảo sát trước đây thì thấy số lượng cá thể Vượn có sự giảm sút mạnh, nghiên cứu đã đưa ra được khu vực phân bố của Vượn đen tuyền tại KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn và khuyến nghị giải pháp bảo tồn loài trong khu vực
Trang 35Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai thực hiện năm 2013 “Nghiên cứu bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioide Hayata) đang có nguy cơ tuyệt chủng tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” Những kết quả đạt được đã xác định được khu phân bố tự nhiên của loài Bách tán Đài Loan với diện tích khoảng 30 ha, số cây còn lại là 97 cây thuộc diện quản lý của KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn; Xây dựng được quy trình bảo tồn tại chỗ loài Bách tán Đài Loan dựa trên nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, đặc điểm tái sinh, đặc điểm cấu trúc rừng khu vực phân bố loài Bách tán Đài Loan; Xây dựng được
01 vườm ươm có chất lượng đáp ứng được khả năng công tác nhân giống loài BTĐL, trồng thành công mô hình loài BTĐL tại 03 điểm tại xã Nậm Xé và xã Liêm Phú với diện tích 03 ha thuộc đai cao khác nhau với tỉ lệ sinh trưởng và phát triển tốt trên 85%
Hiện nay chưa có nghiên cứu chính thức nào về vấn đề sinh kế Khu bảo tồn Hoàng Liên – Văn Bàn Do đó, đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, Lào Cai” được thực hiện và góp phần hoàn thiện những nghiên cứu mang tính liên ngành tại KBTHoàng Liên – Văn Bàn
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn nằm trong vùng trung tâm của dãy Hoàng Liên Sơn về phía Nam tỉnh Lào Cai, thuộc địa giới hành chính của xã Nậm Xé, xã Nậm Xây và một phần xã Liêm Phú
- Có tọa độ địa lý:
+ Từ 210 24’ đến 210 50’ vĩ độ Bắc
Trang 36Phía Nam giáp các xã Hồ Bốn, Khao Mang, Mồ Dề, Chế Cu Nha và xã Nậm
Có thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
Phía Bắc giáp xã Bản Hồ của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
b Đặc điểm địa hình
Địa hình của khu bảo tồn thuộc 2 xã Nậm Xé, Nậm Xây gồm hai dãy núi nằm liền kề vuông góc với nhau Dãy núi phía Bắc có nhiều ngọn núi cao trên 1.700m (thuộc địa hình núi cao), các dãy núi cơ bản thấp dần về hướng Đông Dãy núi phía Nam có dông núi hẹp tách biệt, chạy dài theo hướng Đông Tây Phần lớn địa hình khu vực này thuộc vùng núi cao và núi trung bình; có các thung lũng và hệ thống khe suối xen kẽ; mức độ chia cắt mạnh; nhiều nơi tạo thành vách đứng; độ cao trung bình
Trang 37700 ÷ 2.913 m; độ dốc trung bình 20 ÷ 500 Trong vùng có một số đỉnh núi cao như Lang Cúng (2.913m), tiếp theo là Nam Kang Ho Tao (2.835m), Sinh Cha Pao (2.833m),
Địa hình của Khu bảo tồn nằm trên địa bàn xã Liêm Phú thuộc dạng địa hình vùng núi trung bình đến núi cao; đặc biệt có những đỉnh cao trên 2.000 m, có phân bố loài Bách tán đài loan (Taiwania cryptomerioides) quý hiếm chỉ gặp tại khu vực này cùng với khu vực giáp ranh xã Nậm Có, Mù Căng Chải, Yên Bái
c Khí hậu, thuỷ văn
* Khí hậu
- Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn Sa Pa thì Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chuyển tiếp của vùng núi cao Đông Bắc và Tây Bắc, được chia làm 2 mùa rõ rệt; mùa mưa (tháng 4 ÷ 9) bị ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô và nóng; mùa khô (tháng 10 ÷ 3 năm sau)
có gió mùa Đông Bắc lạnh và ít mưa
- Nhiệt độ: Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có nhiệt độ bình quân hàng năm
là 22,90C, nhiệt độ cao nhất là 27,70C vào tháng 7, nhiệt độ thấp nhất 16,00C vào tháng 1
- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.764,4 mm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 90,67% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa bình quân 132 ngày/năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chiếm 9,33% tổng lượng mưa cả năm
- Ẩm độ: Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 86%, thời gian có độ ẩm thấp nhất trong năm từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, đặc biệt tháng có độ ẩm thấp nhất tuyệt đối vào tháng 2 là 25% rất dễ gây cháy rừng vào thời gian này
- Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 832mm
- Gió: Nơi đây có hai hướng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam, do địa hình núi đá bao bọc nên tốc độ gió bình quân nhỏ 1m/s
- Các đặc điểm khí hậu đặc trưng: Do trong vùng có những khu núi đá bức xạ nhiệt mạnh nên biên độ nhiệt thay đổi giữa ngày và đêm lớn Vì các triền núi của Khu bảo tồn Hoàng Liên Văn Bàn thường hướng về phía Bắc và phía Đông nên chịu ảnh
Trang 38hưởng của gió mùa Đông Bắc gây ra sương mù dày đặc, khiến điều kiện ở đây luôn
ẩm ướt Vào thời điểm lạnh nhất trong mùa Đông có khi có tuyết hay băng giá trên núi Vào mùa khô Khu bảo tồn chịu ảnh hưởng rất lớn của gió Tây (gió Lào); khô hanh kéo dài, độ ẩm xuống rất thấp, tốc độ gió rất lớn nên dễ gây cháy rừng, cần có các biện pháp PCCC rừng
Trong khu vực có lượng nước ngầm khá nhưng do ảnh hưởng của hiện tượng Kaster nên mùa khô mực nước ngầm có thể xuống thấp, xong theo đánh giá thì đây
là địa bàn giữ nước ổn định nhờ có độ che phủ cao của hệ sinh thái rừng trong vùng
d Đặc điểm đất đai
* Địa chất
Địa chất mang tính đặc trưng của dãy Hoàng Liên Sơn Các dông núi chủ yếu
là đá cứng và Mácma silicat cổ cuối kỷ Palacosoic - đầu kỷ Mesozoic (Dovzikov và
et al, 1965) Những vận động kiến tạo kỷ thứ ba đã đẩy những dãy núi đá này lên độ cao như hiện nay và quá trình xói mòn sau đó đã tạo nên đặc trưng cảnh quan của Hoàng Liên Sơn, đỉnh núi nhọn và rất dốc (30 ÷ 900), rất nhiều vách đá dựng đứng
và suối hẹp, rãnh sâu (Fridland, 1961; Rundel, 1999; Averyanov et al)
* Thổ nhưỡng
Căn cứ kết quả điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng năm 1999 (Hội khoa học đất Việt Nam, năm 2000), bổ sung năm 2006 và kết quả điều tra thực địa tháng 10 năm 2012; Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có một số dạng đất như sau:
- N1IIIAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc từ 16 ÷ 250, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N1IVAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc từ 26 ÷ 350, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
Trang 39- N1VAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc > 350, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N2IIIXha1: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc từ 16
÷ 250, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng trung bình
- N2IVXha3: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc từ 26
÷ 350, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N2VXha1: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc từ >
350, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng trung bình
- N3III Xha3: Phân bố trên núi thấp (độ cao <700m), độ dốc từ 16 ÷ 250, đất Xám feralit phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
Nhìn chung đất đai trong khu vực còn tốt, còn tính chất đất rừng Kết cấu chủ yếu là viên hạt, một loại kết cấu mang lại cho đất nhiều ưu điểm Thành phần cơ giới nằm trong khoảng từ thịt nhẹ đến thịt nặng phù hợp với đặc tính sinh thái của nhiều loài thực vật Hầu hết đất có độ dốc lớn nên rất dễ bị xói mòn nếu không có lớp phủ thực vật hợp lí
Trang 401.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
1.3.2.1 Tăng trưởng
Tăng trưởng hàng năm các xã trong khu vực đạt 4,7%, thấp hơn trung bình toàn huyện (13,7%), đây là các xã đặc biệt khó khăn nằm trong diện xã thuộc chương trình 135 của huyện Văn Bàn và là các xã nằm trong Dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc do chính phủ Việt Nam, Ngân hàng thế giới, Cơ quan Phát triển của Vương quốc Anh tài trợ
1.3.2.2 Cơ cấu kinh tế
Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu trên địa bàn, các hoạt động sản công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ hầu như không đáng kể (Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: Nông, lâm nghiệp 95,0%; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 3,0%; thương mại - dịch vụ chiếm 2,0%)
Tuy nông nghiệp là ngành sản xuất chính nhưng hoạt động sản xuất vẫn còn ở mức giản đơn với hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra nhân dân thu hái lâm sản phụ, săn bắt chim thú, nhận khoán bảo vệ rừng để có việc làm và tăng thêm thu nhập kinh tế hộ
+ Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân là 2,1 ha/hộ; 1,02 ha/lao động; 0,46 ha/nhân khẩu Loài cây trồng chủ yếu là cây nông nghiệp ngắn ngày như: Lúa, sắn, khoai, ngô chiếm phần lớn diện tích đất sản xuất; cây ăn quả như: Táo mèo, Mận được trồng rải rác trong vườn nhà, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, chưa mang tính chất hàng hóa
+ Chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu theo phương thức nuôi thả tự nhiên Các loài vật nuôi là: trâu, bò, lợn, gà bình quân mỗi hộ có 2 ÷ 3 con lợn, 1 ÷ 2 con trâu hoặc
bò
+ Phương thức sản xuất còn lạc hậu, mang nặng thói quen canh tác truyền thống nên năng suất cây trồng rất thấp, canh tác thụ động, còn phụ thuộc vào các điều kiện của tự nhiên Hệ thống kênh mương mới chỉ đáp ứng được một phần lượng nước cho trồng trọt
+ Công cụ phục vụ sản xuất thô sơ, người dân thiếu vốn, không có tiền mua giống mới, thuốc trừ sâu năng suất và hiệu quả lao động đang còn thấp