Câu hỏi và lời giải ôn tập Luật Hình sự CHƯƠNG III cấu thành tội phạm Câu hỏi và lời giải ôn tập Luật Hình sự CHƯƠNG III cấu thành tội phạm Câu hỏi và lời giải ôn tập Luật Hình sự CHƯƠNG III cấu thành tội phạmCâu hỏi và lời giải ôn tập Luật Hình sự CHƯƠNG III cấu thành tội phạmCâu hỏi và lời giải ôn tập Luật Hình sự CHƯƠNG III cấu thành tội phạm
Trang 1CÂU HỎI CHƯƠNG III: CẤU THÀNH TỘI PHẠM
1 Phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác Khăng định: “Tinh nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu đặc trung riêng của tội phạm" đúng hay sai? Tại sao?
2 Cấu thành tội phạm là gì? Cấu thành tội phạm bao gồm những yếu tố nào? Trình bày đặc điểm của các dấu hiệu trong cầu thành tội phạm Cho ví dụ
3 Nếu các căn cứ phân loại cấu thành tội phạm Phân biệt cầu thành tội phạm vật chất với cấu thành tội phạm hình thức
4 Trinh bày khái niệm khách thể của tội phạm Phân biệt khách thể của tội phạm với đối tượng tác động của tội phạm
5 Phân tích hành vi khách quan dược phản ánh trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm
6 Trình bày khái niệm hậu quả thiệt hai trong mặt khách quan của của tội phạm Hậu quả thiệt hại của tội phạm có những dạng biểu hiện nào?
7 Chủ thể của tội phạm là gì? Trình bày tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình
sự
8 Trình bày khải niệm lỗi theo Luật Hình sự Việt Nam So sánh lỗi cố ý trực tiếp với lỗi
cố ý gián tiếp
9 So sánh lỗi cổ ý giản tiếp với lỗi vô ý vì quá tự tin So sánh lỗi vô ý vì quá tự tin với lỗi vô ý vì cầu thả
10 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tuối chịu trách nhiệm hình sự như thế nào? Phân tích chủ thể đặc biệt của tội phạm
Trang 21. Phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác Khẳng định: “Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu đặc trung riêng của tội phạm" đúng hay sai? Tại sao?
Sự khác nhau cơ bản giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác dựa trên các tiêu chỉ sau:
1. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Tội phạm và các vi phạm pháp luật khác tuy đều là các hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng tội phạm là hành vi có tinh chất nguy hiểm cho xã hội đáng kể, còn các vi phạm pháp luật khác có tính chất nguy hiểm cho xã hội chưa đáng kế." Trong Bộ luật Hình sự hiện hành, có những hành vi mà ranh giới giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác rõ ràng bởi tính chất hiểm đáng kế và chưa đáng kế rất rành mạch, đây là dấu hiệu cơ bản nhất để phân định tội phạm và các vi phạm pháp luật khác Thực tế cho thấy, khó có thể tim thấy ranh giới cố định của sự khác nhau giữa tội phạm với các vi phạm pháp luật khác, bởi le việc quan niệm tính chất, mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vị thay đổi theo từng thời ký lịch sử của mỗi nước, cũng như mỗi chế độ Nói cách khác, quan niệm về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thay đổi theo hoàn cảnh chính trị - xã hội và xuất phát từ lập trường, quan diểm giai cấp khác nhau, từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội Chính vi thế, trong một hoán cảnh và thời gian nào đó, hảnh vi này bị coi là tội phạm, nhưng trong hoàn cảnh cụ thể khác, có thể lại không bị coi là tội phạm
2. Về hình thức pháp lý
Tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự Trong khi đó, vi phạm pháp luật được quy định ở các văn bản pháp luật khác không phải là Bộ luật Hình sự nhưr: Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Đất đai Khi một hành vi không được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương «nại đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
3 Về hậu quả pháp lý
Hậu quả pháp lý luôn gân liên với tội phạm là trách nhiệm hình sự, trong đó biểu hiện chủ yếu thông qua việc áp dụng hình phạt Hình phạt là biện pháp cường chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước đổi với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Trong khi đó, các loại vi phạm pháp luật khác bị xử lý bằng những biện pháp cường chế của nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt, được quy dịnh cụ thể trong chế tài của các ngành luật khác Áp dụng hình phạt với người hoặc pháp nhân thưrơng mại phạm tội dẫn đến hậu quả để lại án tích cho người hoặc pháp nhân thương mại đó Việc áp dụng hình phạt khiến cho người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội bị hạn chế một số quyền và lợi ích nhất định, thậm chí bị tước bỏ quyền công dân, quyền được sống của con người, đình chi hoạt động của pháp nhân thương mại Trong khi đó, người hoặc pháp nhân vi phạm pháp luật khác có thể bị xử lý bằng biện pháp cường chế khác nhưng không để lại những hậu quả trên
4. Về chủ thể thực hiện
Chủ thể của tội phạm hẹp hơm so với chủ thế của các vi phạm pháp luật khác thể là người
có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm, trong khi chủ thể của các vi phạm pháp luật khác có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm pháp luật
Trang 35 Về thẩm quyền xác định
Thẩm quyền xác định tội phạm chỉ có thể là tòa án hình sự các cấp, trong khi đó, thẩm quyền xác định các vi phạm pháp luật khác là các tòa án khác như: tòa án dân sự, tòa án kinh tế hay do các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi phạm
- Khẳng định: “Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu đặc trưng riêng của tội phạm" là sai Vì:
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình
sự xác lập và bảo vệ Ở nước ta, những quan hệ xã quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự, bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xăm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc hội được Luật Hình sự bảo vệ là những quan hệ xã hội được phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp khán của tổ chức, quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Như vậy, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể là những hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội trên và huộc vào một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Hành vi đó đã gây ra thiệt hại cho các khách thể được Luật Hinh sự bảo vệTrường hợp 2: Hành vi đó chưa gây ra thiệt hai nhưng doa sẽ gây ra thiệt hại cho các khách thể được Luật Hình sự bảo vệ
Do đó, 2 hành vi trên cũng được Luật Hình sự Việt Nam xác định là hành vi nguy hiểm cho
xã hội
Các quan hệ xã hội được pháp tưật hình sự xác lập và bảo vệ là những quan hệ xã hội có tính chất quan trọng, gắn liền với lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động Ở Việt Nam, các quan hệ xã hội này nều bị xâm hại sẽ ảnh hưởng lớn đến sự ổn định, tôn tại và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, của công dân Mặc dù vậy, nguy hiểm cho xã hội không phải là đặc điểm riêng của tội phạm mà là đặc điểm chung của các hành vi vi phạm pháp luật Nhưng khác với
các vi phạm pháp luật khác, tội phạm luôn có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn Điều này có nghĩa là chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định mới bị coi là tội phạm Mức độ này được các nhà lập pháp nước ta đánh giá là “đáng kể" Do vậy, tội phạm phải là hành vi có tính chất nguy hiểm đáng kê cho xã hội Từ đó cho thấy, những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng nếu tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng
kể thì không là tội phạm Đối với những trường hợp này , Bộ luật Hình Sự quy định : “ được
xử lý bằng các biện pháp khác ”
Đặc điểm nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mang tính khách quan , không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của nhà làm luật cũng như cơ quan áp dụng pháp luật Vì thế , khi khẳng định một hành vi là nguy hiểm cho xã hội không có nghĩa là sự áp đặt theo ý muốn chủ quan của con người mà đó chỉ là sự xác nhận thực tế khách quan đã được nhận thức qua việc đánh giá những tình tiết khách quan khác nhau của hành vi hoặc có liên quan đến hành vi
Trang 52 Cấu thành tội phạm là gì? Cấu thành tội phạm bao gồm những yếu tố nào? Trình bày đặc điểm của các dấu hiệu trong cầu thành tội phạm Cho ví dụ
- CTPP là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý chung, có tính đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS
Nếu tội phạm là một hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội thì cấu thành tội phạm chính là
sự mô tả một cách khái quát những hiện tượng đó vào trong quy định của BLHS, là khái niệm pháp lý của loại tội phạm đó Do đó mối quan hệ giữa tội phạm và CTTP là mói quan
hệ giữa khái niệm và hiện tượng
- CTTP được phân chia thành 4 yếu tố, đó là:
1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại,
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
Theo BLHS 2015 các quan hệ đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
2 Mặt khách quan của tôi phạm
Mặt khách quan của tôi phạm là những biểu hiện của bên ngoài tội phạm Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do hành vi
đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện và công cụ thực hiện tội phạm,…
3 Mặt chủ quan của tôi phạm
Mặt chủ quan của tôi phạm là những biểu hiện bên trong của tội phạm, là thái độ tâm
lý của người phạm tội Mặt chủ quan của tội phạm gồm các dấu hiệu lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm
4 Chủ thể của tội phạm
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về chủ thể của luật hình sự bao gồm 2 loại: chủ thể của luật hình sự là cá nhân và chủ thể của luật hình sự là pháp nhân thương mại.
đặc điểm của các dấu hiệu trong cầu thành tội phạm
a ) Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính luật định
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự thi tội phạm là “ hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự " Điều này khẳng định tội phạm phải là hành vi được pháp luật hình sự xác định là nguy hiểm cho xã hội thông qua việc mô tả trong quy định của Bộ luật Hình sự Chỉ Nhà nước mới có thẩm quyền xác định tội phạm thông qua việc mô tả những dấu hiệu của cấu thành tội phạm và quy định những dấu hiệu đó trong
Trang 6luật Đồng thời , khi quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự , Điều 2 Bộ luật Hình sự cũng khẳng định :
1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự
2 Chi pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự ”
Khi một hành vi thoả mãn các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự thì hành vi đó mới bị coi là hành vi trái pháp luật hình sự và được xác định là tội phạm Vì vậy , tất cả những dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều phải được quy định trong Bộ luật Hình sự Cơ quan giải thích pháp luật cũng như cơ quan áp dụng pháp luật không được thêm bớt các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mà chỉ có quyền giải thích nội dung những dấu hiệu được quy định trong luật
b ) Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính đặc trung , điển hình
Cấu thành tội phạm là khái niệm pháp lý của tội phạm , đòi hỏi vừa phải khái quát hóa được những đặc điểm cơ bản của tội phạm , vừa phải quy định cụ thể , rõ ràng để đảm bảo tính khoa học , logic của thuật ngữ pháp lý Do đó , các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm phải mang tính điển hình V Bên cạnh đó , xuất phát từ thực tiễn công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm cho thấy , những hành vi phạm tội diễn ra đa dạng , phức tạp , có sự giao thoa giữa những hành vi và dễ dẫn đến sự nhầm lẫn trong quá trình áp dụng pháp luật
Để đảm bảo tính thống nhất trong nhận thức và tránh nhầm lẫn trong quá trình xác định tội phạm , các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm phải thể hiện được điểm đặc trưng riêng biệt
để tạo cơ sở pháp lý cho việc phân biệt các tội phạm với nhau Do đó , những dấu hiệu của cấu thành tội phạm trong sự kết hợp với nhau vừa phản ánh được đầy đủ tinh chất , mức độ nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm cụ thể , vừa tạo cơ sở pháp lý để phân biệt tội này với các tội khác Căn cứ vào các dấu hiệu trong câu thành tội phạm người áp dụng pháp luật có thể nhận thức đầy đủ đặc điểm cấu trúc của loại tội phạm cụ thể mà không có sự suy luận , nhầm lẫn , trùng chéo với các cấu thành tội phạm của tội phạm khác Nói cách khác , các dấu hiệu của cầu thành tội phạm mang tính pháp lý đặc trưng , điển hình | Chăng hạn dấu hiệu “ phá hoại ” được quy định trong nhiêu tội phạm như Điều 110 , Điều
114 , Điều 115 , Điều 116 Bộ luật Hình sự Nhưng trong sự kết hợp với những dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm , dấu hiệu phá hoại của từng tội phạm vẫn mang tính đặc trưng , riêng biệt Phá hoại trong tội gián điệp thực chất là hoạt động của các đối tượng tình báo , cơ
sở bí mật , hướng tới đối tượng tác động rất đa dạng , có thể bao gồm các đối tượng vật chất , phi vật chất như các chủ trương , quyết sách của Đảng và Nhà nước , thậm chí là phá hoại nội bộ Còn trong tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì chỉ hướng tới phá hoại đối tượng vật chất , chủ thể của hoạt động phá hoại này không gắn với hoạt động của cơ quan tình báo nhân viên tình báo hay mạng lưới cơ sở bí mật của cơ qua đặc biệt nước ngoài Như vậy , tính đặc trưng , điển hình của các dấu : trong cấu thành tội phạm không đồng nghĩa một dấu hia , thể trong mỗi yếu tố cấu thành tội phạm chỉ tồn tại tron tội danh nhất định Các dấu hiệu đó có thể được quy định Suon nhiều tội danh khác nhau, tuy nhiên khi tổng hợp cùng với các dầu hiệu khác tạo nên tính đặc trưng riêng có và điển hình của tội phạm đó
c) Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm mang tính bắt buộc
Trang 7Xuất phát từ tính luật định, một hành vi gây thiệt hại cho xã hội chi được xác định là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong luật, nghĩa là hành vi phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu bắt buộc trong cầu thành tội phạm Với tính chất là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tổ tụng soi chiều vào làm căn cứ xác định có hay không có tội phạm, tất cả những dầu hiệu của cấu thành tội phạm đều là diều kiện cần để xác định hành vi đó có cấu thành tội phạm hay không Để đảm bảo tính chính xác trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cơ quan tiến hành tổ tụng và người áp dụng pháp luật không được thêm, bớt hay bỏ qua bất cứ dấu hiệu nào của cấu thành tội phạm Do đó, tất cả các dấu hiệu trong cầu thành tội phạm là dấu hiệu không thể thiếu và bắt buộc phải có khi xác định tội phạm Có những dấu hiệu bắt buộc chung đối với mọi cấu thành tội phạm (nếu thiếu các dấu hiệu này sẽ không cấu thành tội phạm) Các dầu hiệu đó bao gồm: Dấu hiệu chủ thể; dầu hiệu hành vi trong mặt khách quan; dâu hiệu lỗi trong mặt chủ quan; dấu hiệu khách thể Tuy nhiên, tùy thuộc từng loại tội phạm cụ thể mà nhà làm luật mô tả thêm những dầu hiệu bắt buộc khác để xác định tội phạm, đồng thời để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác
Trang 83 Nếu các căn cứ phân loại cấu thành tội phạm Phân biệt cầu thành tội phạm vật chất với cấu thành tội phạm hình thức
a) Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được cấu thành tội phạm phản ánh, cấu thành tội phạm được phân loại thành câu thành tội phạm cơ bàn, cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ
- Cấu thành tội phạm cơ bản là câu thành chỉ bao gồm những dấu hiệu định tội Dâu hiệu
định tội là những dâu hiệu cho phép xác định tội phạm và để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Cấu thành tội phạm cơ bản là câu thành tội phạm bắt buộc phải có trong tất cả các tội phạm cụ thế, một tội danh chỉ có duy nhất một cầu thành tội phạm cơ bản Dựa vào tính chat cơ bản có thể xác định được tội danh của tội phạm đó Thực 'tế khi sử dụng thuật ngữ cấu thành tội phạm thường được hiểu là cấu thành tội phạm cơ bản Thuật ngữ cấu thành tột phạm cơ bản chỉ được sử dụng để phân biệt khi điều luật cơ quy định cả các loại cầu thành tội phạm khác (cấu thành từi phạm tăng nặng hoặc câu thành tội phạm giảm nhẹ) Cấu thành tội phạm cơ bản thường được quy định te khoản 1 của điều luật nếu điều luật đó có nhiều khoản
Trong một số trường hợp đặc biệt, cầu thành tội phạm cơ bản được quy định trong nhiều khoản của điều luật nhằm nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 Bộ luật Hình sự) mô
tả 3 nhóm hành vi khác nhau 3 khoản riêng biệt phân hoá trách nhiệm hình sự Chắng hạn: Tội khủng bố Những khoản này đều quy định cầu thành tội phạm cơ bản của toi danh này Cầu thành tội phạm cơ bản có thể chỉ mô tả một loại trường hợp phạm tội với một loại hành
vi, cũng có thể mô tả nhiều trường hợp phạm tội với nhiều loại hành vi khác nhau Chăng hạn: tội gián điệp (hành vi hoạt động tình báo, phá hoại, gây cơ sở để hoạt động tinh báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thám báo, chi điểm, chứa chấp, dẫn đường
- Cấu thành tội phạm tăng nặng là cầu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm
các dầu hiệu khác làm (6) tăng lên đáng kê mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Những dấu hiệu đó được xác định là tình tiếti nặng định khung Cầu thành tội phạm tăng nặng được hình thành trên cơ sở cấu thành tội phạm cơ bản nhưng ngoài câu thành tôi phạm
cơ bản còn có thêm những tình tiết phản ánh mức độ nguy hiểm cao hơn của hành vi phạm tội må cân thiết án dụng khung hình phạt khác cao hơn để phù hợp với tỉnh chất mức độ nguy hiểm của tội phạm Cầu thành tội phạm tăng nặng thường được quy định từ khoản 2 của điều luật, Câu thành tội phạm tầng nậng không phải cầu thành tội phạm được quy dịnh trong mọi điều luật Một tội phạm có cầu thành tội phạm tăng nặng hay không hoàn toàn do luật định Trong một diều luật có thế có một hoặc nhiều cầu thành tội phạm tăng nặng Cá biệt, cũng có trường hợp cầu thành tội phạm tăng nặng dược quy định tại Khoản 1 nhằm nhắn mạnh tinh chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội pham Chẳng hạn: Tội giết người Điều 123 Bộ luật Hình sự
- Cầu thành tội phạm giảm nhẹ là cầu thành tội phạm ma ngoài dầu hiệu định tội còn có
thêm những dầu hiệu khác làm giảm đi đáng kế mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Cũng tương tự như cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu thành tội phạm giám nhẹ cũng được hình thành trên cơ sở của cầu thành tội phạm cơ bản, tuy nhiên nó có thêm những tìnhn tiết phản ánh sự giảm đi mức độ nguy hiểm trong hành V phạm tội so với mức độ nguy hiêm trong hành vi phạm trong cấu thành toi phạm cơ bản Cấu thành tội phạm giám nhẹ thường dược quy dịnh từ khoán 2 của điều luật
Trang 9b) Căn cứ vào đặc điểm cầu trúc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, câu thành tội phạm được phân loại thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức
- Cẩu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mô tả dấu hiệu hậu quả là dầu hiệu bắt
buộc để cấu thành tội phạm Căn cứ xây dựng cầu thành tội phạm vật chất đó là những loại tội phạm nếu chỉ tách riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội thì chưa thế hiện được hoặc chưa thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội mà đòi hỏi phải có cả hậu quả nguy hiểm cho xã hội
- Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm không mô tả dấu hiệu hậu quả là dấu
hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm hình thức được xây dựng trên cơ sở:
+ Bản thân hành vi đã thế hiện đầy đủ tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
+ Tội phạm xâm hại đến các quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt mà nếu hậu quả tội phạm xảy ra thì mức nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, không thể khắc phục được hoặc rất khó khắc phục Chăng hạn: hậu quả của các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại Chương XIII Bộ luật Hình sự là sự sụp đô hoặc sự suy yêu của chính quyền nhân dân Những hậu quả thiệt hại này nếu xảy ra trên thực tế sẽ không thể hoặc rất khó khắc phục được
+ Hậu quả của tội phạm là dạng hậu quả khó xác dịnh Trong cầu thành tội phạm hình thức còn có một dạng dặc biệt, đó là cấu thành tội phạm ct xén Cấu thành tội phạm cắt xén là cấu thành tội phạm mà dầu hiệu hành vi trong mặt quan không phải là sự phản ảnh chính hành vi phạm tội đó mà chỉ là những hoạt động để thực hiện hành vi khách quan Chăng hạn: hành vi khách quan trong tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 Bộ luật Hình sự) là hành vi hoạt động thành lập hoặc hành vi tham gia tổ chức có mục đích nhâm lật đồ chính quyền nhân dân Tuy nhiên, người phạm tội chi cần thực hiện những hoạt động nhằm hướng đến việc thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đồ chính quyền nhân dân đã câu thành tội phạm này Việc phân loại cấu thành tội phạm thành cấu thành tội phạm vật chất hay hình thức có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành Đối với tội có cấu thành tội phạm vật chất, tội phạm hoàn thành từ thời điểm hậu quả tội phạm xảy ra trên thực tế Còn đối với tội có cấu thành tội phạm hình thức, tội phạm hoàn thành từ thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện, không phụ thuộc vào hậu quả thiệt hại đã xảy ra hay chưa Việc phân loại cấu thành tội phạm vật chất hay hình thức có ý nghĩa trong việc định tội do đó, xác định một tội có cấu thành tội phạm vật chất hay hình thức chỉ căn cứ vào cầu thành tội phạm cơ bản
Trang 104 Trình bày khái niệm khách thể của tội phạm Phân biệt khách thể của tội phạm với đối tượng tác động của tội phạm
1 Khách thể của tội phạm
1.1 Khái niệm:
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại,
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
Theo BLHS 2015 các quan hệ đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
1.2 Các loại khách thể của tội phạm
1.2.1 Khách thể chung của tội phạm
Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại
và được Luật hình sự bảo vệ Theo Luật hình sự Việt Nam, khách thể chung của tội phạm là những quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại đến khách thể chung là một trong những quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 Chính vì vậy, thông qua khách thể chung, chúng ta có thể thấy được nhiệm vụ của Bộ luật hình sự và bản chất giai cấp của nó Hay nói đúng hơn là thấy được chính sách hình sự của một quốc gia
1.2.2 Khách thể loại của tội phạm
Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm
các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại Khách thể loại
có vai trò quan trọng về mặt lập pháp Nó là cơ sở để Bộ luật hình sự xây dựng các chương trong phần các tội phạm
Tội phạm trên thực tế dù rất đa dạng về các mặt chủ thể, chủ quan, khách quan nhưng nếu xâm hại đến các quan hệ xã hội có cùng tính chất sẽ được xếp chung vào một chương Thông qua việc xem xét các nhóm khách thể nhất định, chúng ta có thể đánh giá được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể khi trực tiếp xâm hại đến một trong số các khách thể của nhóm
Việc sắp xếp các chương trong phần các tội phạm dựa theo khách thể loại là hết sức hợp lý
và khoa học Nếu chúng ta sắp xếp theo các cơ sở khác ( chủ quan, chủ thể…) thì sẽ dẫn đến tình trạng nhiều tội phạm có bản chất rất khác nhau lại nằm cùng một chương Điều này gây khó khăn rất lớn trong việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm và việc xử
lý chúng
Các tội phạm được quy định trong cùng một chương phần các tội phạm (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng xâm hại đến khách thể loại của chúng Tuy nhiên, từng tội phạm trong một chương đó không phải luôn xâm hại cùng khách thể trực tiếp Điều đó có nghĩa là mỗi tội phạm có khách thể trực tiếp riêng của nó
1.2.3 Khách thể trực tiếp của tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội phạm là một hoặc một số quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi
phạm tội cụ thể xâm hại Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại (xâm hại) đối với khách thể trực tiếp mà tội phạm đã gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm
Phân biệt khách thể của tội phạm với đối tượng tác động của tội phạm