1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

50 222 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 281,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2001: Lần đầu tiên tạo một cơ chế quản lý xuất, nhập khẩu rõ ràng, minh bạch, ổn định trong thời gian 5 năm, với 3 danh mục: Cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; Xuất khẩu, nhập khẩu theo g

Trang 1

Mục Lục

Trang 2

Chương 1: Những nội dung đổi mới quan trọng trong chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam từ năm 1986 đến nay1.1 Chính sách mặt hàng

1.1.1 Mô hình chính sách

1.1.1.1 Chính sách kinh tế giai đoạn 1975-1986

• Kinh tế kế hoạch hoá tập trung

• Kinh tế đóng

• Khối lượng nhập khẩu được xác định dựa trên dự báo chênh lệch giữa cung và cầu nội địa; khối lượng xuất khẩu được xác định nhằm bù đắp nhập khẩu theo kế hoạch

• Các công cụ trong chính sách thương mại không được sử dụng để hỗ trợ cho chính sách công nghiệp

• Rất ít các công ty được cấp phép tham gia các hoạt động ngoại thương

1.1.1.2 Giai đoạn 1986- 1995

Tập trung xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nguồn tự nhiên sẵn có và lao động ưu tiên nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất

1.1.1.3 Giai đoạn 1995 đến nay

Xuất khẩu mặt hàng đã chế biến và tinh chế nhanh, tăng cường xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh tăng cường nhập khẩp khẩu các thiết bị máy móc côngnghệ cao

1.1.1.4 Năm 1998:

Chỉ cần làm thủ tục hải quan khi xuất, nhập khẩu, thương nhân được chủ động xuất khẩu, nhập khẩu hầu hết các loại hàng hoá, trừ hàng hoá cấm xuất khẩu (gồm 6 nhóm hàng), cấm nhập khẩu (gồm 11 nhóm hàng); hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện (hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo hạn ngạch, hoặc hàng hoá xuất, nhập theo giấy phép của Bộ Thương mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành)

Trang 3

Hàng hóa xuất khẩu theo hạn ngạch chỉ có 2 mặt hàng là gạo và hàng dệt mayxuất khẩu vào thị trường có hạn ngạch (theo hạn ngạch của nước ngoài) Các hàng hoá khác nhập khẩu không bị áp dụng hạn ngạch.

1.1.1.5 Năm 2001:

Lần đầu tiên tạo một cơ chế quản lý xuất, nhập khẩu rõ ràng, minh bạch, ổn định trong thời gian 5 năm, với 3 danh mục: Cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; Xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại và xuất khẩu, nhập khẩu theo các quy định quản lý chuyên ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạch định kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho công tác quản lý nhà nước,công bố rõ ràng lộ trình bãi bỏ giấy phép của Bộ Thương mại

Xoá bỏ hạn ngạch và đầu mối xuất khẩu gạo, nhập khẩu phân bón, nhập khẩu rượu, xác định các nguyên tắc quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quản

lý chuyên ngành

Thủ tưởng chính phủ quy định thay đổi danh mục các mặt hàng, mặt hàng cấm kinh doanh và mặt hàng kinh doanh có điều kiện trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng thương mại và thủ trưởng cơ quan quản lý chuyên ngành

1.1.2 Định hướng phát triển ngành hàng

+1986-2000: đa số xuất khẩu vẫn dựa vào nguồn tài nguyên có sẵn như xuất khẩu dầu thô, xuất khẩu nông thủy sản chưa quan chế biến, xuất khẩu hàng dệt may và nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghiệp phục vụ cho sản xuất

+2001-2010: Cơ cấu xuất khẩu phải chuyển dịch mạnh theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, bên cạnh đó phải quan tâm khai thác mặt hàng chủ yếu sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động Chú trọng nâng cao giá trị gia

công và chất lượng từng sản phẩm xuất khẩu, giảm xuất khẩu hàng chế biến thô,

tăng tỉ trọng hàng chế biến sâu bằng công nghệ mới trong kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu cả thời kỳ 2001 -2010 được duy trì ở mức tăng trưởng bình quân 14%/năm Chú trọng nhập khẩu công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu phát triển

Trang 4

công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và công nghiệp nhẹ, đồng thời, phải gắn với việc phát triển, sử dụng các công nghệ được sản xuất trong nước.

Theo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030 của Thủ Tướng Chính Phủ:

- Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản (là nhóm hàng có lợi thế về tài nguyên

nhưng bị giới hạn nguồn cung): Có lộ trình giảm dần xuất khẩu khoáng sản thô; đầu tư công nghệ để tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, tận dụng các cơ hội thuậnlợi về thị trường và giá cả để tăng giá trị xuất khẩu Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ 11,2% năm 2010 xuống còn 4,4% vào năm 2020

- Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản (là nhóm hàng có lợi thế và năng lực cạnh tranh dài hạn nhưng giá trị gia tăng còn thấp): Nâng cao năng suất, chất lượng

và giá trị gia tăng; chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hướng mạnh vào chế biến sâu, phát triển sản phẩm xuất khẩu có ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ 21,2% năm 2010 xuống còn 13,5% vào năm 2020

- Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo (là nhóm hàng có tiềm năng phát triển và thị trường thế giới có nhu cầu): Phát triển sản phẩm có hàm lượng công

nghệ và chất xám cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ giá trị trong nước, giảm phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu Định hướng tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ 40,1% năm 2010 tăng lên 62,9% vào năm 2020

- Nhóm hàng mới (nằm trong nhóm hàng hóa khác): Rà soát các mặt hàng mới

có kim ngạch hiện nay còn thấp nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao trong thời gian tới để có các chính sách khuyến khích phát triển, tạo sự đột phá trong xuất khẩu Định hướng tỷ trọng trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ 12% năm 2010 tăng lên 19,2% vào năm 2020

Theo báo cáo của cục xuất nhập khẩu 2018:

Trang 5

- Về nhóm hàng xuất khẩu

- Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng

trong tăng trưởng xuất khẩu, chiếm hơn 82,8% tổng kim ngạch xuất khẩu với trị giá xuất khẩu đạt 202,67 tỷ USD, tăng 16,2% Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu chung và nếu tính từ năm 2012 đến năm 2018 là năm thứ 7 liên tiếp, tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến cao hơn tăng trưởng xuất khẩu chung Đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của nhóm là một số nhóm hàng như: hóa chất đạt 1,89 tỷ USD, tăng 49%; hàng dệt và may mặc đạt 30,45 tỷ USD tăng 16,6%; sắt thép các loại đạt 4,56 tỷ USD, tăng 44,8%; sản phẩm từ sắt thép đạt 3,02 tỷ USD, tăng 31,6%; kim loại thường khác đạt 2,3 tỷ USD, tăng 27,6%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 5,23 tỷ USD, tăng 37,5%; điện thoại và các loại linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 29,45 tỷ USD, tăng 13,4%; clanhke và xi măng đạt 1,25

tỷ USD, tăng 76,3%

Có thể thấy, tăng trưởng xuất khẩu cao của nhóm hàng công nghiệp chế biếnkhông còn chỉ dựa vào điện thoại di động Các mặt hàng xuất khẩu khác như sắtthép, hóa chất, xi măng đều đã đạt những kết quả xuất khẩu tích cực trong năm2018

+ Nhóm hàng nông sản, thủy sản vẫn duy trì được sự tăng trưởng với kim ngạch

xuất khẩu nhóm hàng này trong năm nay đạt 26,7 tỷ USD, tăng 2,3%, trong đó

có sự đóng góp của một số mặt hàng như: rau quả tăng 9,2%, gạo tăng 16%, thủysản tăng 6,3% Hàng nông lâm thủy sản đã xuất khẩu vào thị trường của 180nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có 10 thị trường lớn nhất là TrungQuốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Hà Lan, Anh, Úc, Malaysia, Italia.Đến nay, ta đã có một số mặt hàng khẳng định được vị trí trên thị trường thế giới,

có khả năng cạnh tranh cao, qui mô xuất khẩu lớn, như: Việt Nam đã đứng đầuthế giới về xuất khẩu hồ tiêu, điều, cá tra; đứng thứ hai thế giới về cà phê, đứngthứ ba thế giới về gạo, tôm

Trang 6

+ Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản xuất khẩu đạt 4,76 tỷ USD, giảm 0,9%,

nguyên nhân chủ yếu là do xuất khẩu dầu thô giảm mạnh, giảm 39,5% về lượng

và 21,2% về kim ngạch Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác trong nhómtăng đáng kể như: Than đá tăng 13,1%, xăng dầu tăng 35,8%, quặng và khoángsản khác tăng 6,7%

- Về nhóm hàng nhập khẩu

+ Nhóm hàng cần nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần nhập khẩu năm 2018 ở mức 210,6 tỷ USD,tăng 10,8% so với năm 2017, chiếm tỷ trọng 88,68% trong tổng kim ngạch nhậpkhẩu

Các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao chủ yếu như: ngô (tăng 40,5%),thủy sản (tăng 19,2%), bông (tăng 28,5%); than đá (tăng 63,4%); dầu thô (tăng481,9% do nhu cầu nhập khẩu để phục vụ sản xuất của Nhà máy lọc dầu NghiSơn); kim loại thường khác (tăng 24,9%); bông các loại (tăng 28,5%)…

+ Nhóm hàng cần kiểm soát:

Kim ngạch nhập khẩu ở mức 15,9 tỷ USD, chiếm 6,72% tổng kim ngạch nhậpkhẩu và tăng 18,3% so với năm 2017 Trong đó, nhập khẩu rau quả tăng 12,3%,phế liệu sắt thép tăng 39,9%; bánh kẹo và sản phẩm ngũ cốc tăng 23,5%; ô tônguyên chiếc dưới 9 chỗ tăng 46,9%; xe máy, linh kiện, phụ tùng tăng 45,2%

Chính sách thay thế mặt hàng nhập khẩu

Đối với những mặt hàng thiết yếu, ngành hàng non trẻ, nhà nước sử dụngcác chính sách thay thế mặt hàng nhập khẩu để đáp ứng được yêu cầu về sốlượng, chất lượng và đủ sức cạnh tranh với hàng nhập bằng các công cụ như:thuế nhập khẩu, hạn ngạch, hàng rào phi thuế quan

Trang 7

Bằng cách này nhà nước khuyến khích việc phát triển sản xuất các mặthàng này trong nước Nhà nước cũng có chính sách hợp lý để để phát triển cácmặt hàng thay thế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu.

Các mặt hàng xuất khẩu có điều kiện và cấm xuất nhập khẩu

Chính sách mặt hàng đề cập đến các mặt hàng lưu thông có điều kiện vàcấm lưu thông trên thị trường nội địa, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu

ü Các mặt hàng cấm kinh doanh như: các chất ma túy, vũ khí đạn dược, thuốc lá,thực vật, động vật rừng quý hiếm

ü Các hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu có điều kiện như: gạo, xăng dầu, phân bónĐây là những mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội

Các nhóm mặt hàng cấm xuất nhập khẩu được công bố năm 2014:

7 nhóm thuộc danh mục cấm xuất khẩu gồm:

1 Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹthuật quân sự;

2 Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu của tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị xã hội Các loại văn hóa phẩm thuộc diện cấm hoặc đã

có quyết định đình chỉ phổ biến và lưu hành tại Việt Nam

3 Các loại xuất bản phẩm thuộc diện cấm phổ biến và lưu hành tại Việt Nam.Tem bưu chính thuộc diện cấm kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền theoquy định của Luật Bưu chính

4 Gỗ tròn, gỗ xẻ các loại từ gỗ rừng tự nhiên trong nước

5 Động vật, thực vật hoang dã quý hiếm và giống vật nuôi, cây trồng quý hiếmthuộc nhóm IA-IB theo quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP năm 2006.Các loài thủy sản quý hiếm; Giống vật nuôi và giống cây trồng thuộc Danh mục

Trang 8

giống vật nuôi quý hiếm và giống cây trồng quý hiếm cấm XK do Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn ban hành theo quy định của Pháp lệnh Giống vậtnuôi năm 2004 và Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004.

6 Các sản phẩm mật mã sử dụng để bảo vệ thông tin bí mật Nhà nước

7 Hóa chất độc Bảng 1 được quy định trong Công ước cấm phát triển, sản xuất,tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và Phụ lục số 1 ban hành kèm theoNghị định số 100/2005/NĐ-CP năm 2005 Hóa chất thuộc Danh mục hóa chấtcấm quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 108/2008/NĐ-CPnăm 2008

12 nhóm thuộc danh mục cấm nhập khẩu gồm:

1 Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹthuật quân sự

2 Pháo các loại (trừ pháo hiệu an toàn hàng hải theo hướng dẫn của Bộ Giaothông vận tải), đèn trời, các loại thiết bị gây nhiễu máy đo tốc độ phương tiệngiao thông

3 Hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, bao gồm các nhóm hàng: Hàng dệt may, giàydép, quần áo; Hàng điện tử; Hàng điện lạnh; Hàng điện gia dụng; Thiết bị y tế;Hàng trang trí nội thất; Hàng gia dụng bằng gốm, sành sứ, thủy tinh, kim loại,nhựa, cao su, chất dẻo và các chất liệu khác; Hàng hóa là sản phẩm công nghệthông tin đã qua sử dụng

4 Các loại xuất bản phẩm cấm phổ biến và lưu hành tại Việt Nam; Tem bưuchính thuộc diện cấm kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền theo quy địnhcủa Luật Bưu chính; Thiết bị vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điệnkhông phù hợp với các quy hoạch tần số vô tuyến điện và quy chuẩn kỹ thuật cóliên quan theo quy định của Luật Tần số vô tuyến điện

5 Các loại văn hóa phẩm thuộc diện cấm phổ biến và lưu hành hoặc đã có quyếtđịnh đình chỉ phổ biến và lưu hành tại Việt Nam

Trang 9

6 Phương tiện vận tải tay lái bên phải, trừ các loại phương tiện chuyên dùng cótay lái bên phải hoạt động trong phạm vi hẹp và không tham gia giao thông gồm:

xe cần cẩu; máy đào kênh rãnh; xe quét đường, tưới đường; xe chở rác và chấtthải sinh hoạt; xe thi công mặt đường; xe chở khách trong sân bay; xe nâng hàngtrong kho, cảng; xe bơm bê tông; xe chỉ di chuyển trong sân golf, công viên; Cácloại ô tô và bộ linh kiện lắp ráp ô tô bị tẩy xóa, đục sửa, đóng lại số khung, sốđộng cơ; Các loại mô tô, xe máy chuyên dùng, xe gắn máy bị tẩy xóa, đục sửa,đóng lại số khung, số động cơ

7 Vật tư, phương tiện đã qua sử dụng, gồm: Máy, khung, săm, lốp, phụ tùng,động cơ của ô tô, máy kéo và xe gắn máy; Khung gầm của ô tô, máy kéo có gắnđộng cơ (kể cả khung gầm mới có gắn động cơ đã qua sử dụng và hoặc khunggầm đã qua sử dụng có gắn động cơ mới); Ô tô các loại đã thay đổi kết cấu đểchuyển đổi công năng so với thiết kế ban đầu hoặc bị tẩy xóa, đục sửa, đóng lại

số khung, số động cơ; Ô tô cứu thương; Xe đạp; Mô tô, xe gắn máy

8 Hóa chất trong Phụ lục III Công ước Rotterdam

9 Thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam

10 Phế liệu, phế thải, thiết bị làm lạnh sử dụng C.F.C

11 Sản phẩm, vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amfibole

12 Hóa chất độc Bảng 1 được quy định trong Công ước cấm phát triển, sản xuất,tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và Phụ lục số 1 ban hành kèm theoNghị định số 100/2005/NĐ-CP năm 2005; Hóa chất thuộc Danh mục hóa chấtcấm quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 108/2008/NĐ-CPnăm 2008

1.2 Chính sách thị trường:

Các thay đổi quan trọng trong chính sách phát triển thị trường xuất nhậpkhẩu của Việt Nam từ sau năm 1986 theo hướng hội nhâp khu vực và thế giới

Trang 10

Những thay đổi này theo từng bước và bối cảnh từng thời kỳ nhằm đem lại hiệuquả cao nhất trong việc đẩy mạnh thương mại quốc tế của Việt Nam.

Cụ thể các giai đoạn như sau: Từ năm 1986 đến năm 1995, trong giai đoạn

tự do hóa đơn phương này Việt Nam chưa nói cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế

mà mới đặt ra vấn đề là “mở cửa nền kinh tế”, “đa phương hóa, đa dạng hóa, mởrộng quan hệ đối ngoại” thì chính sách thị trường mà nhà nước ta đề ra là đadạng hóa thị trường xuất nhập khẩu Tư tưởng chính sách này đã đặt nền móngcho việc phát triển chính sách thị trường theo hướng chủ động hội nhập tích cực

và toàn diện sau này Đến giai đoạn từ sau năm 1996, chủ trương hội nhập kinh

tế quốc tế đã được Đảng CSVN chỉ rõ: "đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tếquốc tế", “xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới”, “chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế”, chính sách thương mại của Việt Nam cũngchuyển từ mô hình tự do hóa đợn phương sang giai đoạn hội nhập KTQT, chínhsách thị trường của Việt Nam cũng thay đổi từ đa dạng hóa thị trường xuất nhậpkhẩu sang đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, hình thành nên các thị trường trọngđiểm như EU, Mỹ, Nhật Bản,Hàn QUốc, Trung Quốc, Nga, các nước Đông NamÁ…

Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước đang tập trung phát triển thị trườngcho các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, có giá trị gia tăng cao hoặc nhóm cácsản phẩm có tỷ trọng kim ngạch lớn Trước hết là khai thác cơ hội mở cửa thịtrường từ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu và các thịtrường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, ASEAN… Khaithác các thị trường tiềm năng như Nga, Đông u, châu Phi và châu Mỹ Latinh Cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu và chính sách ngăn chặn việcnập lậu hàng từ các nước ASEAN và Trung Quốc để bảo vệ hàng sản xuất trongnước Tranh thủ mở cửa thị trường trong các FTA mới để đa dạng hóa thị trườngnhập khẩu và nhập khẩu công nghệ nguồn

Nhờ những sự thay đổi này, thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng và

đa dạng Năm 1986 Việt Nam mới chỉ có quan hệ trao đổi hàng hóa với 43 quốc

Trang 11

gia trên thế giới, năm 1995 là 100 quốc gia, năm 2000 là 192 quốc gia; năm 2013

là 240 quốc gia và vùng lãnh thổ Số lượng thị trường xuất khẩu tăng nhanh, từ

160 thị trường năm 2000 đến hơn 230 thị trường năm 2010 Thị trường xuất khẩuhàng hóa Việt Nam đang cho thấy mức độ đa dạng hóa cao, là một điểm mạnhgiúp hoạt động xuất khẩu phân tán được rủi ro không mang tính hệ thống, bảo vệhàng xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đang ngày càng trởnên mạnh mẽ Châu Á là đối tác thương mại lớn nhất của các DN Việt Nam,trong đó lớn nhất là Trung Quốc, tiếp theo là châu Mỹ, châu Âu, châu ĐạiDương và châu Phi Tuy nhiên những năm gần đây, cơ cấu thị trường xuất, nhậpkhẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lệ thuộc vào thị trường Châu Á

1.3 Công cụ biện pháp

1.3.1 Xóa bỏ dần các rào cản thương mại, hoàn thiện công cụ thuế quan

1.3.1.1Thuế xuất nhập khẩu

- Sửa đổi hệ thống thuế XNK:

Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam thay đổi theo hướng phù hợp với cáccam kết quốc tế của Việt Nam tham gia Hiện tại, các văn bản về hệ thống thuếcủa Việt Nam được Bộ Tài chính xuất bản cũng như bản mềm có thể được truycập từ trang web của Tổng cục hải quan cho thấy biểu thuế hàng hoá nhập khẩucủa Việt Nam đã sửa đổi ngày càng phù hợp hơn với Hệ thống phân loại hànghoá và mã số của Tổ chức hải quan thế giới và Hệ thống biểu thuế hài hoà trongASEAN (AHTN) Sự thay đổi của hệ thống thuế xuất nhập khẩu:

Năm 1988, luật thuế xuất nhập khẩu được ban hành

Năm 1989, Việt Nam thực hiện giảm thuế xuất khẩu và số mặt hàng tínhthuế từ 30 xuống 12 và số mặt hàng tính thuế nhập khẩu giảm từ 124 xuống 80với biên tính thuế tăng từ 5-50% đến 5-120%

Năm 1991, Việt Nam thực hiện miễn thuế đầu vào đối với hàng xuất khẩu

và giảm thuế xuất khẩu gạo từ 10% xuống 1% Năm 1992, hệ thống thuế quanhài hoà bắt đầu được áp dụng

Trang 12

Năm 1993, Việt Nam cho phép nợ thuế đầu vào xuất khẩu 90 ngày và bổsung thuế xuất nhập khẩu đối với hàng đi đường Năm 1994, Bộ Thương mạiđảm nhận trọng trách đề xuất chính sách thuế xuất nhập khẩu thay Bộ Tài chính.

Năm 1995, Việt Nam công bố danh mục CEPT 1996 và tăng thuế xuấtkhẩu với 11 mặt hàng

Từ năm 1986 đến 1995, mặt hàng chịu thuế xuất khẩu đã giảm từ 30 – 12,mặt hàng chịu thuế nhập khẩu giảm từ 120-30

Năm 1996, Việt Nam công bố danh mục CEPT 1997 và giảm thuế ô tônhập khẩu Năm 1998, mức thuế suất cao nhất (trong CEPT) chỉ còn 60% Trongnăm này, Việt Nam chính thức giới thiệu lộ trình CEPT không chính thức 2006.Việt Nam bãi bỏ áp dụng tính giá nhập khẩu tối thiểu

Quốc hội thực hiện sửa đổi Luật thuế xuất nhập khẩu vào tháng 5 năm

1998 và theo đó kể từ ngày 1 tháng 1 năm1999, thuế xuất nhập khẩu của ViệtNam bao gồm 3 mức là mức thông thường, mức tối huệ quốc và mức ưu đãi đặcbiệt

Năm 2002, Việt Nam áp dụng tính thuế nhập khẩu theo hợp đồng ngoạithương, ban hành danh mục hàng hoá và thuế suất nhập khẩu để thực hiện lộtrình giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định hàng dệt may ký giữa Việt Nam và EUgiai đoạn 2002-2005; ban hành mức giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu khôngthuộc danh mục mặt hàng nhà nước quản lý giá tính thuế, không đủ điều kiện ápgiá theo giá ghi trên hợp đồng, ban hành Nghị định về giá trị tính thuế nhập khẩutheo điều VII của GATT

Năm 2003, Việt Nam ban hành danh mục hàng hoá và thuế suất để thựchiện CEPT giai đoạn 2003-2006; bãi bỏ áp dụng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểuđối với mặt hàng rượu và đồ uống có cồn, có nguồn gốc từ EU; ban hành biểuthuế ưu đãi thay cho biểu 1998 với xe ô tô đã qua sử dụng và bộ linh kiện ô tô,xăng dầu; ban hành danh mục hàng hoá và thuế suất thuế nhập khẩu để thực hiện

Trang 13

lộ trình giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định buôn bán hàng dệt, may ký giữaViệt Nam và EU cho giai đoạn 2003-2005.

Năm 2004, Việt Nam ban hành danh mục hàng hoá và thuế suất thuế nhậpkhẩu để thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định về thương mạihàng dệt, may ký giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cho giai đoạn 2003-2005; ban hànhdanh mục hàng hoá và thuế suất nhập khẩu của Việt Nam để thực hiện Chươngtrình thu hoạch sớm EHP theo Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diệnASEAN – Trung Quốc; sửa đổi thuế suất nhập khẩu một số mặt hàng trong danhmục CEPT 2003-2006

Năm 2005, Việt Nam thực hiện điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãivới một số mặt hàng linh kiện, phụ tùng điện tử; bãi bỏ thuế suất nhập khẩu để ápdụng hạn ngạch với 6 mã hàng; giảm thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng

để thực hiện thoả thuận giữa Việt Nam và Thái Lan liên quan đến việc Việt Namhoãn thực hiện hiệp định CEPT đối với một số mặt hàng phụ tùng, linh kiện xemáy và xe ô tô tải nguyên chiếc; sửa đổi, bổ sung Danh mục hàng hoá và thuếsuất thuế nhập khẩu của Việt Nam để thực hiện CEPT của các nước ASEAN chocác năm 2005 – 2013; ban hành quy trình xét miễn thuế xuất khẩu và thuế nhậpkhẩu, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu Luật đầu tư mới ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 không gắn liền các

ưu đãi về thuế với xuất khẩu một cách cụ thể nữa Năm 2006, Việt Nam thực hiệnđiều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với hàng linh kiện, phụ tùng điện

tử, và ô tô; cho phép nhập khẩu ô tô cũ kể từ ngày 1 tháng 5 và ban hành mứcthuế tuyệt đối đối với việc nhập khẩu ô tô cũ

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở Chiến lược cải cách hệthống thuế đến năm 2012, thời gian qua Nhà nước đã xây dựng được một hệthống các văn bản về thuế tương đối đồng bộ và đầy đủ; bảo đảm về kỹ thuậtsoạn thảo, nội dung minh bạch, tạo thuận lợi thương mại, thúc đẩy hoạt độngxuất nhập khẩu (XNK) Các quy định pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu cơ bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong

Trang 14

hoạt động XNK và hoạt động của cơ quan hải quan khi thực thi quy định củapháp luật.

Ngày 06/04/2016, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu 107/2016/QH13 thay thế cho Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu45/2005/QH11 và có hiệu lực từ ngày 01/9/2016 Theo đó, nhiều quy định tạiLuật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 45/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung đểphù hợp với những nội dung cam kết trong một số Hiệp định thương mại tự do(FTA) đã và đang đàm phán ký kết

Từ khi Luật Thuế XNK ban hành đến nay, Việt Nam đã gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) và ký kết 12 Hiệp định FTA, trong đó có một sốFTA đặc biệt quan trọng vừa được ký kết trong năm 2015 và 2016 như Hiệp địnhđối tác kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do ViệtNam – EU (EVFTA) Theo lộ trình đến năm 2018 sẽ có trên 95% dòng thuế vớicác đối tác FTA có thuế suất bằng 0% (ngoại trừ một số mặt hàng có lộ trình saunăm 2028 như thuốc lá, đường, trứng, muối ) Bộ Tài chính vừa hoàn thiện Dựthảo Nghị định Biểu thuế XK ưu đãi, Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam

để thực hiện CPTPP giai đoạn 2019-2022 Biểu thuế xuất khẩu (XK) trong Hiệpđịnh đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương ( CPTPP ) gồm 519dòng thuế Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế XK đối với phần lớn các mặt hàng hiệnđang áp dụng thuế XK, cơ bản theo lộ trình từ 5-15 năm sau khi hiệp định cóhiệu lực Một số nhóm mặt hàng quan trọng như than đá, dầu mỏ và một số loạiquặng, khoáng sản (70 mặt hàng) được tiếp tục duy trì thuế XK trong CPTPP,ngoài 65,8% số dòng thuế nhập khẩu sẽ xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực;86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4; 97,8% số dòng thuế xóa vàonăm thứ 11; còn lại sẽ xoá bỏ chậm nhất vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạchthuế quan

- Tham gia và xây dựng lộ trình thực hiện các cam kết giảm thuế quan trongkhuôn khổ các cam kết (AFTA, ACTFA, WTO, FTAs )

* Các cam kết trong khuôn khổ WTO:

Trang 15

Toàn bộ các cam kết về thuế quan của Việt Nam trong WTO được thể hiện trongBiểu cam kết về Hàng hoá của Việt nam:

- Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hànhgồm 10.600 dòng thuế

- Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mứcthuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống còn13,4%) Thời gian thực hiện sau 5- 7 năm

- Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam cắt giảm thuế với khoảng 3.800dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế);

* Cam kết thuế quan của Việt Nam trong các FTA khu vực

- Về mức độ tự do hoá: cơ bản là cao hơn mức cam kết gia nhập WTO của ViệtNam Trong đó, khoảng 90% số dòng thuế (tính theo dòng thuế của kim ngạchnhập khẩu) với khung thời gian thực hiện cắt giảm xuống 0% trong vòng 10 năm,

có một số ít tỉ lệ dòng thuế được phép linh hoạt trong khoảng thời gian kéo dàithêm 2 – 6 năm Trong đó, mức độ tự do hoá trong cam kếtAFTA/CEPT/ATIGTA cao nhất (99 dòng thuế 8 số), thấp nhất là trong cam kếtAIFTA/AITIG (80 dòng thuế 6 số) và trong cam kết AJCEP (88,6% dòng thuế 10số)

- Về lộ trình cắt giảm thuế: Với AFTA, ACFTA và AKFTA việc giảm thuế sẽđược thực hiện theo lộ trình qui định cho các bước giảm thuế hàng năm (AFTA:

1996 – 2006 – 2015 – 2018, AKFTA: 2007 – 2016 – 2018) Mô hình giảm thuếđối với các FTA còn lại (AJCEP, AIFTA, AANZFTA, VJEPA) sẽ cắt giảm dầnđều từng năm để đạt mức thuế suất cuối cùng theo cam kết (AJCEP: 2008 –

2018 – 2024, VJEPA: 2009 – 2019 – 2015, AANZFTA: 2010 – 2018 – 2020, vàAIFTA: 2010 – 2018 – 2021)

* Cam kết thuế quan của Việt Nam trong FTA Việt Nam – Chi Lê

Trang 16

- Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế quan đối với 87,8% số dòng thuế trong biểu thuếnhập khẩu hiện hành (chiếm 91,22% kim ngạch nhập khẩu từ Chi lê sang ViệtNam năm 2007) trong vòng 15 năm Trong 12,2% số dòng thuế còn lại có 4,08%

số dòng thuế thuộc danh mục loại trừ (không tham gia giảm, xoá bỏ thuế), 3,37%

số dòng thuế được giữ nguyên thuế suất cơ sở và 4,75% số dòng thuế được giảmthuế một phần

1.3.1.2Thuế gián tiếp

Thuế gián tiếp tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam baogồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế doanh thu, thuế lợi nhuận và thuế VAT Năm

1990, Việt Nam ban hành thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế doanh thu, thuế lợi nhuận

và áp dụng thuế suất đặc biệt với một nhóm hàng như xe máy và xe du lịch Năm

1995, Việt Nam thực hiện giảm các mức thuế doanh thu từ 18 xuống 11 Năm

1996, thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho ô tô nhập khẩu tăng từ 80% lên 100% Năm

1998, thuế tiêu thụ đặc biệt được sửa đổi (tăng thuế xe máy nội địa, tăng thuế vớihàng xa xỉ) Năm 2000, Việt Nam quy định chi tiết thi hành luật thuế giá trị giatăng tại Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2000 Năm 2003,một lần nữa, thuế tiêu thụ đặc biệt được sửa đổi (14 hàng hoá và dịch vụ chịuthuế này) Việt Nam cũng thực hiện miễn thuế VAT với hàng chuyển khẩu, tạmnhập tái xuất, quá cảnh và hàng xuất khẩu Năm 2005, thuế tiêu thụ đặc biệt đốivới mặt hàng ô tô trong nước được đề xuất nâng lên cho bằng với thuế tiêu thụđặc biệt của ô tô nhập khẩu (50% 74 đối với xe dưới 5 chỗ ngồi)

1.3.2 Hoàn thiện các công cụ phi thuế quan

1.3.2.1Trợ cấp xuất khẩu

Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp bằng ngân sách nhà nước tại Việt Nam đượcchính thức chấm dứt vào năm 1989 Việt Nam hiện đang duy trì Quỹ hỗ trợ xuấtkhẩu, thưởng kim ngạch, thưởng thành tích Các nội dung này đều đang được sửađổi ở Việt Nam Quỹ hỗ trợ xuất khẩu được thành lập theo Quyết định số195/1999/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ Quỹnày được sử dụng để hỗ trợ phần lãi vay ngân hàng để thu mua nông sản xuất

Trang 17

khẩu; dự trữ hàng nông sản theo chỉ đạo của Chính phủ; hỗ trợ có thời hạn một

số mặt hàng xuất khẩu bị lỗ do thiếu sức cạnh tranh và thưởng về tìm kiếm và mởrộng thị trường xuất khẩu Sự tồn tại của Quỹ này phù hợp với các quy định củaWTO vì giá trị thưởng vài ngàn đôla cộng với bằng khen là giá trị nhỏ Hiện tạimức thưởng đối với các sản phẩm thô chưa qua chế biến và mức thưởng đối vớicác sản phẩm có giá trị gia tăng cao chưa khác biệt nhiều Việt Nam hiện đã cóQuy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giaiđoạn 2006-2010 (Quyết định số 279/2005/QĐTTg) ngày 3 tháng 11 năm 2005.Theo Quy chế này, Chính phủ Việt Nam sẽ sử dụng một khoản tài chính lấy từcác nguồn như Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, đóng góp của doanh nghiệp để hỗ trợdoanh nghiệp các công tác về thông tin thương mại và tuyên truyền xuất khẩu,thuê tư vấn thiết kế mẫu mã sản phẩm, thực hiện đào tạo kỹ năng xuất khẩu khẩu,tham gia hội chợ triển lãm Kể từ năm 2003, Bộ Thương mại thực hiện chươngtrình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia Năm 2003 có 184 đề án chươngtrình mục tiêu với sự tham gia của 24 đơn vị chủ quản Năm 2004 có 143 đề ánvới 28 đơn vị chủ quản và năm 2005 có 176 đề án với 34 đơn vị chủ quản Cáchoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm đã thu hút hơn 1000 lượt doanh nghiệptham gia hội chợ, khảo sát thị trường nước ngoài, tham dự các lớp đào tạo và tậphuấn Trong 3 năm 2003-2005, các hiệp hội như Hiệp hội điện tử (VEIA), Hiệphội da giày (LEFASO), đã thông báo các chương trình thực hiện xúc tiếnthương mại hàng năm tới các đơn vị thành viên Chương trình xúc tiến thươngmại trọng điểm được các hiệp hội truyền tải rộng rãi tới các doanh nghiệp thànhviên cũng việc lựa chọn doanh nghiệp tham gia vào chương trình đảm bảo tínhquảng bá nhưng không dàn trải và lựa chọn các doanh nghiệp thực sự có tiềmnăng để ưu tiên trợ giúp

1.3.2.2Hạn ngạch

Các quy định này bao gồm hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu Việt Namthực hiện giới hạn hàng hoá xuất khẩu ở một số công ty vào năm 1990 Hạnngạch nhập khẩu được áp dụng với 7 nhóm hàng vào năm 1995, 6 mặt hàng vàonăm 1996 Đến năm 1997, vì lý do cân đối nên Việt Nam tăng số lượng mặt hàng

Trang 18

nhập khẩu bị kiểm soát bằng hạn ngạch Đến năm 2004, Việt Nam bãi bỏ hệthống hạn ngạch nhập khẩu Tuy nhiên, năm 2005, Việt Nam thực hiện bãi bỏthuế nhập khẩu đối với 6 mã hàng để thực hiện quản lý bằng hạn ngạch Hạnngạch xuất khẩu gạo được Bộ Thương mại và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn cùng thực hiện Năm 1995, hạn ngạch xuất khẩu chỉ còn áp dụng với mộtmặt hàng là gạo Hạn ngạch xuất khẩu ban đầu áp dụng với các hàng dệt may vàothị trường EU, Nauy và Canada Kể từ năm 1992, Việt Nam bắt đầu thực hiệnhạn ngạch xuất khẩu dệt may trong khuôn khổ Hiệp định khung với Liên minhchâu Âu Hạn ngạch này được Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp cùng thựchiện Bởi vì Việt Nam chưa phải là thành viên của Tổ chức thương mại thế giớinên Việt Nam không được hưởng các quy định của Hiệp định đa sợi (MFA) vàHiệp định về hàng may mặc (ATC) Năm 2005, Việt Nam đề xuất EU bỏ hạnngạch xuất khẩu dệt may với một số chủng loại hàng.

1.3.2.3 Hạn ngạch thuế quan

Việt Nam chuyển sang thực hiện quản lý chuyên ngành thông qua hệthống giấy phép con do các cơ quan được uỷ quyền cấp phép (Ngân hàng Nhànước, Bộ Y tế, Bộ Công nghiệp, Bộ Quốc phòng) Trong khuôn khổ WTO, ViệtNam được áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) Đây là công cụ mới đối với ViệtNam Ban đầu hạn ngạch thuế quan được áp dụng đối với 7 mặt hàng là thuốc lánguyên liệu, muối, bông, sữa nguyên liệu cô đặc, sữa nguyên liệu chưa cô đặc,ngô hạt và trứng gia cầm Tính đến hết năm 2005, số mặt hàng quản lý bằng hạnngạch thuế quan đã giảm từ 7 xuống 3 mặt hàng là sữa và kem chưa cô đặc hoặc

đã pha thêm đường hoặc chất ngọt khác; ngô, xơ bông chưa chải thô hoặc chưachải kỹ; phế liệu bông (kể cả phế liệu sợi và bống tái chế) Như vậy, số mặt hàngđược điều chỉnh bằng hạn ngạch thuế quan còn quá nhỏ bé so với các quốc gianhư Hoa Kỳ và Thái Lan

Hiện nay, có 4 mặt hàng sẽ được Việt Nam duy trì cơ chế hạn ngạch thuếquan bao gồm trứng gia cầm, muối, đường, lá thuốc lá Ngoài ra, Việt Nam còn

áp dụng trong trường hợp có ưu đãi đặc biệt đối với một số đối tác thương mại

Trang 19

đặc biệt như Lào, Campuchia hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thànhviên.

1.3.2.4 Tín dụng xuất khẩu

Những quy định về trợ cấp tín dụng xuất khẩu được ghi rõ trong Quyết 77định 133/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 về Quy chế tín dụng hỗ trợxuất khẩu Quy định này rất chặt chẽ về đảm bảo tiền vay và tình hình tài chính.Chính sách hỗ trợ tín dụng xuất khẩu của Quỹ Hỗ trợ phát triển hiện tại chỉ tậptrung vào hỗ trợ xuất khẩu ngắn hạn chứ không tập trung vào xuất khẩu trung vàdài hạn Về điều kiện cho vay, nếu doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng cho vay,

có hợp đồng xuất khẩu, có phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ, cótài sản đảm bảo tiền vay tối thiểu trị giá 30% thì được xem xét cho vay Việc chovay tín chấp được chấp nhận nhưng tương đối khó khăn Các doanh nghiệp đượcQuỹ hỗ trợ phát triển cho vay vốn chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước (chiếmtới 85% số vốn cho vay của Quỹ trong giai đoạn 2000-2004) Các doanh nghiệpkhông nắm được thông tin và thủ tục vay vốn (quy định về thế chấp, quy định về

có hợp đồng xuất khẩu mới được vay vốn

1.3.2.5 Quy định về tỷ lệ nội địa hoá

Việt Nam ban hành Luật đầu tư nước ngoài từ năm 1987 Hai trong nhữngđiều khoản mà nhà đầu tư nước ngoài cần cam kết là tỷ lệ nội địa hoá và tỷ lệxuất khẩu/doanh thu Các doanh nghiệp trong ngành điện tử, ô tô, xe máy lànhững doanh nghiệp được quan tâm nhiều nhất Hiện tại, Việt Nam đã xác địnhkhông quy định tỷ lệ nội địa hoá đối với hàng hoá sản xuất tại Việt Nam bởi vìquy định này không phù hợp với các nguyên tắc của WTO Các doanh nghiệptrong các ngành điện tử, ô tô, xe máy khi thực hiện nhập khẩu được quyền lựachọn về cách tính thuế (thuế thông thường hoặc thuế nội địa hoá) Trong khuônkhổ ASEAN, chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN quy định việc áp dụngthuế nhập khẩu ưu đãi đối với các hàng hoá có 40% hàm lượng ASEAN Đây làquy định không bắt buộc nhằm khuyến khích các doanh nghiệp phát triểnthương mại và đầu tư trong nội bộ ASEAN

Trang 20

1.3.2.6Áp dụng các biện pháp kỹ thuật: Kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SPS);

Tiêu chuẩn kỹ thuật trong thương mại (TBT)

Quy định về kiểm tra kỹ thuật những hàng hóa XNK (NĐ CP)

12/2006/NĐ-Xây dựng dang mục hàng XNK phải kiểm tra Nhà nước về chất lượng(117/2000/QĐ-BKHCNMT)

Đề án triển khai thực hiện HĐ về hàng rào kỹ thuật trong thương mại(114/2005/QĐ-TTg)

Thành lập cơ quan Thông báo và Điểm hỏi đáp của Việt Nam về hàng rào

kỹ thuật trong thương mại (114/2005/QĐ-TTg)

Danh mục đối tượng kiểm dịch động thực vật (73/2005/QĐ-BNN)

Quy định về nhãn hàng hóa (Nghị định 89/2006/NĐ- CP; liên tục điềuchỉnh và sửa đổi, mới nhất là 43/2017/NĐ-CP)

Quy định về môi trường (ISO 14001)

Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 68/2006/QH2011 - 2006

1.3.2.7 Các biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp.

Quy định về chống bán phá giá và trợ cấp bắt đầu được đưa vào trongLuật thuế xuất nhập khẩu (sửa đổi) của Việt Nam từ năm 1998, các quy định vềchống bán phá giá được quy định tại Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng hoánhập khẩu vào Việt Nam ban hành vào tháng 5 năm 2004 Các quy định về chốngtrợ cấp hàng nhập khẩu được điều chỉnh tại Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩuhàng hoá nước ngoài vào Việt Nam ban hành tháng 5 năm 2002 Một số hàng hoáxuất khẩu của Việt Nam hiện đang bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giátại nước ngoài Việt Nam không thuộc nhóm quốc gia bị kiện phá giá nhiều nhấttrên thế giới Tính đến 30 tháng 6 năm 2006, Việt Nam bị kiện phá giá 22 lần,trong đó năm 2005 bị kiện 7 lần, 2004 bị kiện 7 lần, 2002 bị ba lần và một lần

Trang 21

vào các năm 1997, 1999 và 2000 Canada, Hoa Kỳ, EU và Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ

là các quốc gia đã kiện Việt Nam bán phá giá trong giai đoạn 1995-2005 Cácngành đã từng bị kiện phá giá của Việt Nam là tỏi, giày dép, bột ngọt, cá tra basa,bật lửa gas, tôm., xe đạp, đèn huỳnh quang, bột sắn, ô xít kẽm, chốt cài bằng thépkhông gỉ

Quy định về mua sắm của chính phủ Năm 1990, các tổng công ty xuấtnhập khẩu phải đăng ký nhóm hàng hoá xuất nhập khẩu với các cơ quan quản lýnhà nước Các lệnh cấm nhập khẩu áp dụng thường nhằm vào việc cân đối thịtrường trong nước chứ không nhằm vào việc phải thực hiện mua sắm trong nướcbằng nguồn vốn từ ngân sách Chẳng hạn, lệnh cấm nhập khẩu đường vào năm

1997, cấm nhập khẩu rượu vào năm 1998 Tính đến năm 2000, các doanh nghiệpFDI vẫn phải trình kế hoạch nhập khẩu và phê duyệt của Bộ Thương mại hoặc cơquan được uỷ quyền Tính đến năm 2005, Việt Nam vẫn ban hành danh mụchàng hoá cấm xuất khẩu và cấm nhập khẩu Hiện nay, các lệnh cấm này khôngtrực tiếp dẫn đến việc khoản mua sắm của chính phủ phải thực hiện trong nước.Trong Luật Thương mại (chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 81 2006),không có quy định nào về mua sắm công Tuy nhiên, ngày 29 tháng 11 năm

2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật đấu thầu Luật này áp dụng với các

dự án sử dụng 30% vốn ngân sách nhà nước trở lên Các quy định của luật nàynhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả mua sắm của Chính phủ

1.3.2.8Các biện pháp hành chính

Trước năm 1988, các biện pháp hành chính của Việt Nam chủ yếu để phục

vụ công tác kế hoạch hoá chứ không được sử dụng như một công cụ của chínhsách thương mại quốc tế Sau năm 1988, các biện pháp hành chính trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu có thể chia thành ba nhóm: các quy định với doanh nghiệp; kiểmsoát hàng hoá; và kiểm soát các giao dịch hàng hoá Các quy định này ngày càngthông thoáng hơn để tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại quốc tế của ViệtNam Hiện tại, Việt Nam không duy trì các quy định với doanh nghiệp khi thựchiện thương mại quốc tế Theo Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 1 tháng 9 năm

1998, các doanh nghiệp trong nước không cần phải xin giấy phép khi thực hiện

Trang 22

các hoạt động thương mại quốc tế Các doanh nghiệp FDI được quyền xuất khẩucác hàng hoá không nằm trong giấy phép đầu tư Năm 2000, các doanh nghiệpFDI khi nhập khẩu vẫn phải trình kế hoạch nhập khẩu và đợi phê duyệt của BộThương mại hoặc cơ quan được uỷ quyền Kể từ năm 2001, mọi doanh nghiệpđều được xuất nhập khẩu mọi loại hàng hoá trừ các hàng hoá bị cấm xuất, cấmnhập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việc kiểm soát hàng hoá đượcthực hiện thông qua các lệnh cấm, hạn ngạch và các quy định về hàng hoá quản

lý theo chuyên ngành

+ Cấm xuất, cấm nhập: Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hiệntại được Bộ Thương mại ban hành hàng năm Lệnh cấm nhập khẩu ở giai đoạn1995-1998 có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước như cấm nhập 82 khẩu xemáy và linh phụ kiện xe máy cũ

+ Các quy định về cân đối nền kinh tế: Một số mặt hàng như phân bón, xi măng,kính xây dựng, đường, giấy, thép, rượu chịu sự điều chỉnh liên bộ (Bộ Thươngmại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công nghiệp và các bộ chuyên ngành khác) về

số lượng nhập khẩu để đảm bảo cân đối nền kinh tế cho đến năm 1998 Bên cạnh

đó, quy định về giới hạn mức tiêu dùng không vượt quá 20% giá trị xuất khẩucủa năm trước đó cũng được áp dụng đến năm 1997

+ Quản lý bằng giấy phép thông qua các bộ chuyên ngành: Theo quy định tạiNghị định 89/CP ngày 15 tháng 12 năm 1995, Bộ Công nghiệp quản lý giấy phépnhập khẩu phế liệu kim loại, Ngân hàng nhà nước quản lý thiết bị và máy mócngân hàng, Bộ Tài chính quản lý các hàng hoá viện trợ, Năm 2001, Việt Namban hành danh mục hàng hoá thuộc 7 chuyên ngành quản lý với các hình thứcquản lý gồm quy định điều kiện hoặc tiêu chuẩn, chứng nhận hợp chuẩn, giấyphép khảo nghiệm, chỉ định doanh nghiệp được phép nhập khẩu, phê duyệt nộidung, cấp giấy phép nhập khẩu, hồ sơ nguồn gốc hay cấm xuất cấm nhập Đếnnăm 2006, một số hàng hoá vẫn tiếp tục được quản lý chuyên ngành Việt Namthực hiện minh bạch hoá thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu đối với các mặt hàngquản lý theo chuyên ngành Việt Nam xoá bỏ giấy phép đối với hàng hoá gia

Trang 23

công vào năm 1998 Năm 2001, việc xuất khẩu không hạn chế ngành nghề ghitrong giấy phép kinh doanh song việc nhập khẩu phải theo ngành nghề ghi tronggiấy phép kinh doanh Hiện nay, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều không phải theongành nghề ghi trong giấy phép kinh doanh.

1.4 Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnhhội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệđối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việt Nam luôn thực hiện nhất quánđường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sáchđối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiềulĩnh vực Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực

- Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao vớihơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoátới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp địnhthương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá songphương với các nước và các tổ chức quốc tế

Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nướcthường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàndiện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệđối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha Số lượngcác cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại

sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chứcquốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa

Trang 24

- Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các

tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệthế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Namđược đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh

tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đaphương Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sánglập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạpvào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước điquan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thươngmại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gianhập Tổ chức này

Tình hình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cómột số điểm nổi bật sau:

+ Việt Nam đang tích cực tham gia và phát huy vai trò thành viên trong các tổ chức kinh tế quốc tế.

Với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế: WTO, ASEAN, APEC,Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực thamgia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức này Cụ thể như sau:

* Trong khuôn khổ WTO:

- Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sáchthương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ởcác cam kết đa phương về pháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thịtrường hàng hoá, dịch vụ

Trang 25

- Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thịtrường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tậndụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn ta hội nhập sâu hơnvào nền kinh tế toàn cầu.

- Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàmphán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam có liênquan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, trợ cấp thủysản và chương trình hỗ trợ thương mại của WTO…

- Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho phiên rà soát chính sách thươngmại lần đầu tiên của Việt Nam, dự kiến diễn ra trong khoảng thời gian đầu năm2013

* Trong khuôn khổ ASEAN

- Sau 16 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, 2011), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng pháttriển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và chính trị củaViệt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác khuvực và thế giới Đối với Việt Nam, ASEAN luôn là đối tác thương mại và đầu tưlớn nhất (riêng năm 2009, ASEAN là nhà đầu tư lớn thứ 2 của Việt Nam, sau HoaKỳ)

1995 Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộng đồngASEAN vào năm 2015 đã đóng góp thiết thực cho việc cải thiện môi trường luậtpháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài, cũng như làm cơ sở, làm tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuônkhổ hợp tác song phương và đa phương khác

- Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chủ tịch luân phiên của ASEANvào năm 2010, trong năm 2011, Việt Nam đã tích cực tham gia các chương trìnhhợp tác nhằm thực hiện Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Cho tới nay, Việt

Ngày đăng: 14/03/2020, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w