Sau 19 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, Hàn Quốc đã trở thành một trong những quốc gia có kim ngạch thương mại lớn nhất đối với Việt Nam, là nguồn đóng góp chủ yếu cho nền ki
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM QUANG VINH
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC 5
1.1 Cơ sở lý luận của quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc: 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại quốc tế 5
1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia………7
1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thương mại quốc tế 9
1.1.4 Một số lý thuyết thương mại quốc tế liên quan 13
1.2 Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc: 15
1.2.1 Khái quát về thị trường Việt Nam 15
1.2.2 Khái quát về thị trường Hàn Quốc 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 33
2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn trước năm 2000 33 2.1.1 Giai đoạn trước năm 1992 33
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1999 36
2.2 Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 2000 đến nay 38
2.2.1 Các chính sách ảnh hưởng tới quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc 38
2.2.2 Kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều Việt Nam - Hàn Quốc 49
2.2.3 Cơ cấu hàng hóa trong hoạt động thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc 51
2.2.4 Đánh giá chung về quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 2000 đến nay 60
Trang 4CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC TRONG
THỜI GIAN TỚI 67
3.1 Triển vọng phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian tới 67
3.2 Các giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian tới 70
3.2.1 Các giải pháp từ phía Nhà nước 70
3.2.2 Các giải pháp từ phía Doanh nghiệp 79
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia càng ngày càng chú trọng tới việc phát triển và mở rộng quan hệ song phương cũng như đa phương với các nước láng giềng hoặc cùng khu vực địa lý với quốc gia mình Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, chúng ta rất coi trọng các đối tác ở khu vực ASEAN và Đông Á, trong đó một đối tác quan trọng không thể không nhắc tới
là Hàn Quốc
Theo dòng lịch sử, quan hệ song phương Việt Nam - Hàn Quốc đã phát triển trên rất nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, du lịch nhưng có thể khẳng định kinh tế vẫn luôn là lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất Cùng với sự phát triển của hai quốc gia thì quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc cũng ngày càng gắn bó mật thiết và đạt được nhiều thành tựu to lớn Đặc biệt, sau mốc sự kiện quan trọng: quan hệ ngoại giao của hai nước chính thức được thiết lập năm 1992, mối quan hệ kinh tế song phương càng có cơ sở và điều kiện để lớn mạnh Sau 19 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, Hàn Quốc đã trở thành một trong những quốc gia có kim ngạch thương mại lớn nhất đối với Việt Nam, là nguồn đóng góp chủ yếu cho nền kinh tế quốc dân Từ năm
2000 tới nay, quan hệ thương mại song phương giữa hai quốc gia đã có nhiều sự chuyển biến tích cực nhờ Hiệp định thương mại tự do về hàng hoá giữa ASEAN
- Hàn Quốc có hiệu lực từ tháng 7 năm 2007 và Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quan hệ kinh tế song phương Việt Nam - Hàn Quốc vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần sự tháo gỡ như:
sự mất cân đối trong cán cân thương mại song phương, hàng rào thuế quan và phi thuế quan cản trở tự do thương mại song phương Đặc biệt, trong tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới có nhiều biến đổi khó lường như hiện nay, Việt Nam, Hàn Quốc và các quốc gia cần tăng cường tình đoàn kết cũng như hợp tác kinh tế chặt chẽ, cùng nhau tìm ra giải pháp, vượt qua khó khăn
Trang 9Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề như nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài
“Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 2000 đến nay” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc là đề tài đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều có sự nhìn nhận, đánh giá xác đáng về mối quan hệ kinh tế song phương của hai quốc gia trong những thời kỳ khác nhau Các nghiên cứu đã phân tích thực trạng mối quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc, những yếu tố tác động, những diễn biến trong tình hình mới
để từ đó đề xuất ra các giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác kinh tế này
Có thể nêu ra đây một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và được đánh giá cao về đề tài này như:
- “Hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập Đông Á”
do Đỗ Hoài Nam, Ngô Xuân Bình, Sung - Yeal Koo chủ biên và được nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2005 Tác phẩm đã phân tích: Hội nhập kinh
tế Đông Á và tác động của nó tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc, FDI và ODA của Hàn Quốc vào Việt Nam: thực trạng, triển vọng; quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc: thực trạng, xu hướng Và cuối cùng là đề xuất một số kiến nghị giải pháp
- “Hội nhập kinh tế Đông Á và tác động của nó tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc”, PGS TS Ngô Xuân Bình, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á Tác phẩm đã nghiên cứu tác động của quá trình hội nhập kinh tế Đông Á tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc ở tầm vĩ mô
- “Tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA)
tới quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc” do ThS Phạm Thị Cải chủ nhiệm
đề tài, Viện nghiên cứu Thương mại (2008) Đề tài đã đánh giá tổng quan về quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, giới thiệu hiệp định thương mại tự
do ASEAN - Hàn Quốc và tác động của nó đến phát triển quan hệ thương mại
Trang 10Việt - Hàn Đề tài cũng trình bày cơ hội, thách thức và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh thực hiện AKFTA
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có những bài báo, những bài viết nghiên cứu khoa học về quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hàn Quốc theo số liệu cập nhật của từng thời kỳ
Từ những nền tảng tri thức trên, luận văn mong muốn tiếp tục phát triển để nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc từ năm
2000 tới nay - giai đoạn mà nền kinh tế thế giới có nhiều sự thay đổi và phát triển Đồng thời có so sánh với mối quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn trước năm 2000 để khắc họa sâu thêm những thay đổi trong quan hệ song phương của hai quốc gia trong bối cảnh mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể hoàn thành mục đích nghiên cứu của mình, đề tài cần giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống một số cơ sở lý luận và thực tiễn trong quan hệ thương mại song phương của Việt Nam và Hàn Quốc
- Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Hàn Quốc - Việt Nam
từ năm 2000 đến nay, có so sánh với các giai đoạn trước đó
- Nêu ra các giải pháp thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác song phương này
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay - giai đoạn nền kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính, sử dụng dữ liệu được thu thập chủ yếu từ các nguồn tư liệu thứ cấp: sách, tạp chí, nghiên cứu khoa học, số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, Tổng cục hải quan
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: thống kê, tổng hợp, phân tích, đối chiếu và so sánh để đưa ra các kết luận cho nghiên cứu của mình
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn được ra đời với mong muốn đóng góp một số nét mới sau:
- Cập nhật số liệu về tình hình thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc cùng nhiều sự phân tích, làm rõ bản chất của hoạt động thương mại giữa hai quốc gia từ năm 2000 tới nay và dự đoán xu thế phát triển trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp vi mô và vĩ mô nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại của hai quốc gia: Việt Nam và Hàn Quốc
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM - HÀN QUỐC 1.1 Cơ sở lý luận của quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc:
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các nước với nhau dưới hình thức mua, bán hoặc trao đổi đền bù có ngang giá Thương mại quốc tế bao gồm các hoạt động: xuất nhập khẩu (chủ yếu), gia công quốc tế, tái xuất khẩu và chuyển khẩu, xuất khẩu tại chỗ Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá"
Thương mại quốc tế mang đầy đủ đặc điểm, tính chất của hoạt động thương mại thông thường: trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các bên để nhằm kiếm chênh lệch Điểm khác biệt là hoạt động thương mại này diễn ra giữa các bên cư trú tại các quốc gia khác nhau, mang tính chất quốc tế và sử dụng các đồng tiền khác nhau để thanh toán
Mục đích của thương mại quốc tế là thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ
mà tự mỗi nước không thể tự sản xuất được và khai thác hiệu quả sự chênh lệch
về giá để kiếm lời, làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước thông qua việc xuất nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu kinh tế trong nước tối ưu Theo David Ricardo, thương mại quốc tế còn có những lợi ích khác: như giúp các nước đi sâu vào chuyên môn hóa sản xuất và tận dụng lợi thế so sánh của mình so với các quốc gia khác (đặc biệt là sự khác biệt về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và trình độ sử
Trang 13dụng nhân lực giữa các quốc gia) Khi các quốc gia chưa nhận thức được sự khác biệt của lợi thế so sánh thì họ sẽ không đạt được hiệu quả sản xuất cao, sử dụng lực lượng sản xuất hiệu quả so với việc nhập khẩu hàng hóa đó từ nước có lợi thế hơn mình Do đó, hoạt động thương mại quốc tế là hoàn toàn khách quan đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia
Ngoài các mục đích kể trên thì còn có một số nguyên nhân khác hình thành nên quan hệ thương mại quốc tế: sở thích của người tiêu dùng ở các quốc gia là khác nhau, để thỏa mãn được sở thích đó họ phải nhờ đến thương mại quốc tế Bên cạnh đó, khoa học công nghệ, phương tiện sản xuất ngày càng tiến bộ, đòi hỏi các quốc gia phải có sự trao đổi để phát triển Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển để giúp họ đi tắt đón đầu, tận dụng công nghệ hiện đại từ các nước phát triển để tạo lợi thế cho mình
Phân tích sâu hơn về đặc điểm của thương mại quốc tế ta thấy rằng:
- Chủ thể tham gia hoạt động thương mại quốc tế là các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức cư trú tại các quốc gia khác nhau có hoạt động trao đổi, buôn bán với nhau nhằm kiếm lời từ sự buôn bán hàng hóa, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác
- Khách thể trong hoạt động thương mại quốc tế là hàng hóa, dịch vụ được đem ra mua bán, trao đổi giữa các bên tham gia hoạt động thương mại quốc tế Hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia phải có sự khác biệt hoặc mang lợi thế so sánh của quốc gia mình thì mới có cơ hội tham gia và tồn tại được trong hoạt động thương mại quốc tế
- Nguyên tắc của hoạt động thương mại quốc tế là trao đổi ngang giá để đôi bên cùng có lợi, đem những hàng hóa, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh của mình đi buôn bán với nước khác và nhập khẩu những hàng hóa, dịch vụ mà mình chưa có lợi thế cạnh tranh để tận dụng tối ưu lợi thế cạnh tranh của từng quốc gia Vì có sự
di chuyển hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác nên vấn đề giao thông vận tải cũng rất quan trọng, góp phần quan trọng vào hoạt động thương mại quốc tế
Trang 14- Trong giai đoạn hiện nay, thương mại quốc tế có xu hướng tăng nhanh, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất Tốc độ tăng trưởng của thương mại “vô hình” tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại “hữu hình” Hiện nay cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế có sự thay đổi sâu sắc theo hướng:
+ Giảm đáng kể tỷ trọng nhóm hàng lương thực, thực phẩm và đồ uống + Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên liệu, tăng nhanh tỷ trọng của nhóm hàng dầu mỏ và khí đốt
+ Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo + Giảm tỷ trọng những mặt hàng có hàm lượng lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng có hàm lượng lao động thành thạo, phức tạp, vốn lớn, công nghệ cao
+ Nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau
+ Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, công nghệ, mẫu mã hàng hóa diễn ra liên tục
+ Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặt khác xây dựng lên các hàng rào bảo hộ ngày càng tinh vi hơn
1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia
Kể từ khi con người thực hiện những chuyến đi tới vùng đất mới và các nhà buôn tiến hành trao đổi hàng hóa với người dân bản xứ thì thương mại quốc tế bắt đầu được hình thành Có thể nói, nếu không có thương mại quốc tế thì nền kinh tế thế giới khó có thể đạt được những thành tựu như hiện nay và năng suất lao động của con người sẽ mãi dừng lại trong phạm vi hẹp của một quốc gia hay địa phương
Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài, chức năng cơ bản của thương mại quốc tế là: Tổ chức chủ yếu quá trình lưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài,
Trang 15thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và của nhân dân về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí ít nhất Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước Tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế khi mang các hàng hóa có lợi thế cạnh tranh của mình để trao đổi, buôn bán với các quốc gia kém về lợi thế cạnh tranh hơn mình Bên cạnh đó, thương mại quốc
tế còn mang những chức năng cơ bản khác: Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh
Xuất phát từ những chức năng cơ bản trên, thương mại quốc tế mang trong mình nhiệm vụ, vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia:
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa đất nước Đây là nhiệm vụ quan trọng và bao quát của thương mại quốc tế Thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu các quốc gia tận dụng lợi thế cạnh tranh của mình để buôn bán với các nước khác, đem lại nguồn ngoại tệ lớn để phục vụ trở lại quá trình kinh doanh, mở rộng sản xuất Đồng thời, thông qua việc nhập khẩu máy móc, công cụ hiện đại của các nước có nền công nghiệp đi trước, các nước
đi sau có thể đi tắt đón đầu, thực hiện quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước với thời gian ngắn hơn, hiệu quả cao hơn
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước như: vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả
- Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động thương mại quốc tế, góp phần xây dựng quan hệ kinh tế - chính trị tốt đẹp của các quốc gia Tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài
- Nâng cao vị thế quốc gia và mang lại lợi ích cho các đối tượng tham gia
- Đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua thương mại quốc
tế Đây chính là cầu nối hiệu quả nhất giúp các nước nghèo, các nước đang phát triển có thể hội nhập sâu rộng vào trong thị trường quốc tế rộng lớn
Trang 16Đối với các quốc gia đang phát triển, vai trò của thương mại quốc tế đóng vai trò đặc biệt hơn cả Thương mại quốc tế giúp những nước đang phát triển có thể xuất khẩu những mặt hàng thế mạnh của mình, đưa hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia đem về nguồn ngoại tệ lớn, từ đó có được lợi nhuận để nhập khẩu những mặt hàng cần thiết phục vụ việc tái đầu tư, mở rộng sản xuất Thông qua hoạt động xuất khẩu, hàng hóa sẽ có được giá trị cao hơn so với việc bán mặt hàng đó tại thị trường trong nước Thương mại quốc tế còn mở rộng phạm
vi trao đổi hàng hóa cho các nước đang phát triển, giúp giảm bớt rủi ro khi nền kinh tế của một số đối tác thương mại lớn bị suy yếu Ngoài việc giao thương, thương mại quốc tế còn giúp các nước đang phát triển có cơ hội tiếp thu những công nghệ hiện đại của các nước khác thông qua hình thức chuyển giao công nghệ hoặc đầu tư trực tiếp, gián tiếp
1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thương mại quốc tế
Quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Các yếu tố này có sự liên hệ mật thiết với nhau và cùng tác động qua lại tới quan hệ ngoại thương giữa các quốc gia Trong đó có thể kể ra: yếu tố chính trị, yếu tố địa lý, yếu tố về chính sách kinh tế, rào cản thương mại
- Kinh tế và chính trị là hai yếu tố không thể tách rời, nhất là trong hoạt động thương mại quốc tế Khi hai quốc gia có quan hệ chính trị ổn định và tốt đẹp, nó sẽ là nền tảng cho kinh tế song phương phát triển vì các doanh nghiệp,
cá nhân tham gia hoạt động thương mại quốc tế có thể yên tâm buôn bán lâu dài
và xây dựng quan hệ thương mại tốt đẹp Các quốc gia có mối quan hệ ngoại giao, chính trị tốt đẹp sẽ dành cho nhau những ưu đãi về kinh tế giúp cho hoạt động ngoại thương có điều kiện tốt để phát triển Giữa các nước có quan hệ chính trị không ổn định, các nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều hạn chế, cản trở sự giao thương, ví dụ như hạn chế về số lượng hàng hóa, chủng loại hàng hóa có thể buôn bán và chính sách kinh tế đối ngoại thắt chặt Ví dụ như quan hệ kinh
tế của Mỹ và Cuba hầu như không phát triển được khi hai nước có quan hệ
Trang 17chính trị thắt chặt, chỉ một số ít hàng hóa của Cuba có thể xuất khẩu sang Mỹ và ngược lại Các nước vì lý do chính trị mà đóng cửa nền kinh tế đã tự gây ra sự thiệt thòi cho hàng hóa của nước mình khi không được xuất khẩu ra các thị trường lớn, gây thiệt thòi cho người dân của nước mình khi không thể tiếp cận với các hàng hóa có chất lượng của nước ngoài
- Trong nền kinh tế hiện đại, giao thông vận tải đã có nhiều sự tiến bộ vượt bậc với nhiều loại hình vận tải giúp hàng hóa có thể tới đích dễ dàng và an toàn hơn Ngày nay, thời gian chuyên chở của hàng hóa được rút ngắn nhờ sự cải tiến về tốc độ của phương tiện và sự thuận tiện của hành trình nên nhiều khi yếu tố về địa lý đã bị coi nhẹ Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ định ưu thế của khoảng cách địa lý đối với thương mại quốc tế khi các quốc gia có vị trí địa
lý gần gũi có thể dễ dàng giao thương với nhau hơn các quốc gia xa cách về mặt địa lý Hơn thế nữa, các quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ được các đối tác nước ngoài ưu tiên hơn so với các quốc gia xa biển, xa tuyến đường giao thương chính Các nước có lợi thế về mặt địa lý cũng được chọn làm địa điểm trung chuyển hàng hóa, thu về nguồn lợi lớn trong lĩnh vực giao thông vận tải,
logistic, kho bãi
- Chính sách thương mại cũng ảnh hưởng khá lớn tới quan hệ thương mại của các nước Các quốc gia có chính sách thông thoáng sẽ thu hút được nhiều đối tác hơn vì các chính sách kinh tế này làm lợi cho cả nước nhập khẩu và xuất khẩu Một khi chính sách thương mại có sự thay đổi, thì toàn bộ hoạt động thương mại liên quan sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Chính sách thương mại thường chỉ do sự quyết định chủ quan của một quốc gia, do đó các đối tác rất khó tác động để thay đổi nên các nhà đầu tư, các đối tác nước ngoài thường rất coi trọng đường lối kinh tế đối ngoại của Chính phủ nơi họ đang muốn đầu tư và hợp tác Tuy nhiên, vì lợi ích to lớn mà các nước được hưởng trong quan hệ thương mại quốc tế; hiện nay, các quốc gia rất tôn trọng đối tác và cố gắng tích cực đàm phán, ban hành và thực thi các chính sách thương mại có lợi cho cả đôi
Trang 18bên Ngoài ra các tổ chức kinh tế, chính trị lớn trên thế giới đã đóng vai trò trung gian khá tốt trong việc giúp các bên thương lượng, đưa ra chính sách tối ưu nhất
cho tất cả các bên tham gia và giải quyết tranh chấp thương mại nếu có
- Yếu tố quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng nhất tới thương mại quốc tế chính là các rào cản thương mại Hiện nay, các nước đang sử dụng rất nhiều công cụ làm rào cản hoạt động thương mại quốc tế, nhưng tựu chung lại có hai nhóm công cụ chính là: Thuế quan và phi thuế quan
+ Hàng rào thuế quan: Đây là một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi
mậu dịch khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước Hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì các quốc gia tìm cách giảm dần và tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan
+ Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản
trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm:
+ Các biện pháp hạn chế định lượng (cấm, hạn ngạch, giấy phép)
+ Các biện pháp quản lý giá, các biện pháp tương đương thuế quan (giá tính thuế tối đa, giá tính thuế tối thiểu, phí thay đổi, phụ thu)
+ Các biện pháp liên quan đến hình thức doanh nghiệp (như doanh nghiệp thương mại nhà nước)
+ Các biện pháp kỹ thuật (quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, yêu cầu về nhãn mác, kiểm dịch động thực vật, …)
+ Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (như tự vệ, trợ cấp, các biện pháp đối kháng, biện pháp chống phá giá, …)
+ Các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài
+ Các biện pháp hành chính khác (như tem thuế, yêu cầu kết hối, thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, quy tắc xuất xứ…)
Ngày nay, phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng: chất lượng, giá cả, điều kiện
Trang 19giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng Chu
kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn lại, hàng hóa có hàm lượng khoa học
và công nghệ tăng cao Quá trình thương mại quốc tế đòi hỏi: một mặt phải tự
do hóa thương mại, mặt khác phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý Ngoại thương Việt Nam cũng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo công ăn việc làm và giúp nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với các nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, chúng ta đã nhiều lần bị các hàng rào thương mại của các nước lớn làm cho hàng hóa bị cấm nhập khẩu hoặc áp mức thuế rất cao, gây ảnh hưởng tới sản lượng xuất khẩu như: tôm, cá da trơn, da giầy Sẽ ngày càng có nhiều rào cản thương mại tinh
vi, nghiêm ngặt hơn cản trở sự tự do của thương mại quốc tế, đặc biệt là các nước nhỏ, chưa có tiếng nói trên diễn đàn kinh tế thế giới và chưa được công nhận nền kinh tế thị trường đầy đủ như nước ta
1.1.4 Một số lý thuyết thương mại quốc tế liên quan
Hệ thống lý thuyết thương mại quốc tế đã ra đời từ rất lâu và mang tính chất kế thừa chặt chẽ Lý thuyết sau tìm hiểu, phân tích và tìm cách lý giải những tồn tại, hạn chế của những lý thuyết trước Nhiều nhà kinh tế học đã đưa
ra những mô hình khác nhau để dự đoán cơ cấu trao đổi thương mại quốc tế và phân tích ảnh hưởng của các chính sách thương mại Trong phạm vi của luận văn, khó có thể phân tích được hết các lý thuyết thương mại quốc tế từ trước đến nay song cũng xin điểm qua một số lý thuyết thương mại quốc tế có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh tế ngày nay
- Mô hình Ricardo:
Mô hình Ricardo tập trung nghiên cứu lợi thế so sánh, một khái niệm được
coi là quan trọng nhất trong lý thuyết thương mại quốc tế Trong mô hình Ricardo, các nước tập trung chuyên môn hóa sản xuất vào mặt hàng mà họ có thể sản xuất hiệu quả nhất Không giống như các lý thuyết khác, mô hình của Ricardo dự đoán rằng các nước sẽ chuyên môn hóa hoàn toàn vào một loại hàng
Trang 20hóa thay vì sản xuất nhiều loại hàng hóa khác nhau Thêm vào đó, mô hình Ricardo không xem xét trực tiếp đến các nguồn lực, chẳng hạn như quan hệ tương đối giữa lao động và vốn trong phạm vi một nước
- Mô hình Heckscher-Ohlin:
Mô hình Heckscher-Ohlin được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về
lợi thế so sánh của Ricardo Mặc dù nó phức tạp hơn và có khả năng dự đoán chính xác hơn, nó vẫn có sự lý tưởng hóa Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế giá tân cổ điển vào lý thuyết thương mại quốc tế Mô hình Hechscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực Nó dự đoán rằng một nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh,
và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm mô hình H-O lại đưa ra những kết quả mâu thuẫn, trong đó có công trình của Wassili Leontief, còn được biết đến với tên gọi Nghịch lý Leontief Sử dụng mô hình bảng cân đối liên ngành IO (input - output) của mình với số liệu của Mỹ năm 1947, Leontief
đã phát hiện Mỹ mặc dù là quốc gia với tỉ lệ vốn/lao động cao nhưng tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng tương đương hàng nhập khẩu của Mỹ lại cao hơn
tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng xuất khẩu
- Mô hình lực hấp dẫn:
So với các mô hình lý thuyết trên, mô hình lực hấp dẫn nghiêng về phân
tích định lượng hơn Ở dạng đơn giản, mô hình lực hấp dẫn dự đoán rằng trao đổi thương mại phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai nước và quy mô của hai nền kinh tế Mô hình phỏng theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton trong đó nói rằng lực hút của hai vật thể phụ thuộc vào khoảng cách giữa chúng và khối lượng của mỗi vật Mô hình đã được chứng minh rằng nó có tính định lượng tương đối mạnh thông qua các phân tích kinh tế lượng Các dạng mở rộng của
mô hình này xem xét đến nhiều yếu tố khác như mức thu nhập, quan hệ ngoại giao giữa hai nước và chính sách thương mại của mỗi nước
Trang 21- Lý thuyết thương mại mới:
Mô hình Heckscher-Ohlin ngự trị tư duy kinh tế quốc tế trong suốt nửa thế
kỷ và giải thích được hầu hết các mối quan hệ thương mại quốc tế Thế nhưng càng ngày, người ta càng thấy có những đặc điểm trong thương mại quốc tế mà
mô hình này không thể giải thích Một trong những đặc điểm đó là quan hệ thương mại nội ngành Ví dụ, Mỹ xuất khẩu xe hơi sang Nhật và châu Âu nhưng cũng nhập khẩu xe hơi từ Nhật và châu Âu
Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành này không thể xảy ra vì với một mặt hàng, chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế sang nơi không có lợi thế sản xuất mặt hàng đó, như nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy Lý thuyết lợi thế
so sánh cũng không giải thích được tại sao một số nền kinh tế như Đài Loan và Hàn Quốc lại thành công trong việc chuyển từ xuất khẩu quần áo, giày dép vào những năm 1960 sang xuất khẩu máy tính, ôtô đến Mỹ và Châu Âu như ngày nay Việc này gây nhiều bối rối cho các nhà kinh tế học và đã có một số mô hình
ra đời nhằm giải thích cho quan hệ thương mại này
Năm 1976, trong một lần dự tiết giảng của Robert Solow, một nhà kinh tế từng được giải Nobel, Paul Krugman được biết tới khái niệm cạnh tranh độc quyền – là sự cạnh tranh xảy ra khi những nhà sản xuất có được vị thế độc quyền với những nhãn hiệu hay sản phẩm nhất định Ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế chợt nảy ra trong đầu Paul Krugman Năm 1979, Krugman sau nhiều khó khăn đã được đăng bài viết của mình trên Tạp chí Kinh tế Quốc tế Bài viết ngắn, chỉ 10 trang nhưng ngay lập tức gây được sự chú ý đặc biệt trong ngành và Paul Krugman trở thành cha đẻ
trường phái “Lý thuyết thương mại mới” khi mới 26 tuổi
Trong bài báo này, Krugman đưa ra một lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc tế Lý thuyết này giải thích quan hệ thương mại nội ngành dựa trên giả định về lợi thế nhờ quy mô, theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn làm giảm chi phí sản xuất Bên cạnh lợi thế quy mô sản xuất, lý thuyết Krugman còn dựa trên
Trang 22này – lợi thế quy mô của nhà sản xuất và sự ưa thích đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng – mà người sản xuất sẽ dần dần trở thành độc quyền đối với nhãn hiệu sản phẩm của mình, kể cả khi phải chịu sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu khác Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn
có thể diễn ra giữa những nước có lợi thế tương đối về công nghệ và nhân tố sản xuất tương tự nhau Ví dụ Mỹ và châu Âu cùng có lợi thế tương đối về vốn và công nghệ nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe Ford và nhập xe BMW từ châu Âu Sở dĩ điều này xảy ra vì sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng cho phép cả hai hãng Ford và BMW có lợi thế tương đối trong sản xuất những nhãn hiệu của mình
Bài viết 10 trang của Paul Krugman đã mở đường cho một hướng nghiên cứu mới về kinh tế thương mại quốc tế Cho tới ngày nay, lý thuyết Thương mại mới của Paul Krugman (cùng với sự đóng góp lớn của Bhagwati, Dixit, Helpman, Norman…) đã trở thành lý thuyết chính trong ngành thương mại quốc
tế, bổ sung cho lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và Heckscher-Ohlin Những nghiên cứu về thương mại quốc tế hơn 30 năm qua hầu hết đều dựa trên những nền tảng của lý thuyết này
1.2 Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc:
1.2.1 Khái quát về thị trường Việt Nam
1.2.1.1 Thông tin chung về địa lý, xã hội, kinh tế Việt Nam
Địa lý, xã hội
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam Châu Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và Campuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan
Việt Nam có diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền
và hơn 4.200 km² biển nội thủy, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km²
Trang 23Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam
Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, măng gan, bô xít, chrômát, Về tài nguyên biển có dầu mỏ, khí tự nhiên, quặng khoáng sản ngoài khơi Với hệ thống sông dốc đổ từ các cao nguyên phía tây, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển thủy điện
Về các chỉ tiêu xã hội Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 13 trên thế giới về dân số Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết: Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính 86,93 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2009, bao gồm dân số nam 42,97 triệu người, chiếm 49,4% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%; dân số nữ 43,96 triệu người, chiếm 50,6%, tăng 1% Trong tổng dân số cả nước năm 2010, dân số khu vực thành thị là 26,01 triệu người, chiếm 29,9% tổng dân số, tăng 2,04% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,92 triệu người, chiếm 70,1%, tăng 0,63% Quy mô phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộ
và duyên hải Nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước, dân tộc Việt (còn gọi
là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển
Trang 24Kinh tế
Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế tập trung tương
tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam
đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm 1994 Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999 Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ Giai đoạn 2003-2009 nền kinh tế có sự tăng trưởng tốt, năm sau cao hơn năm trước (Số liệu bảng 1.1) Trong năm 2010, kinh tế vĩ mô của Việt Nam khá
ổn định và hoàn thành được các chỉ tiêu lớn: tăng trưởng kinh tế, GDP đảm bảo tăng trưởng trên 6,78%; nhập siêu ở mức 17,3% so với xuất khẩu, vượt chỉ tiêu
so với kế hoạch; chi tiêu ngân sách cũng ở mức thấp so với năm trước
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009
Đơn vị: Tỷ đồng, nghìn đồng/người
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng sản phẩm
trong nước 613.443 715.307 839.211 974.266 1.143.715 1.485.038 1.658.389 Tổng sản phẩm
trong nước trên
đầu người
7.583 8.720 10.185 11.694 13.579 17.445 19.278
Xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ 363.735 470.216 579.339 717.109 879.461 1.157.178 1.132.687 Nhập khẩu hàng
hoá và dịch vụ 415.023 524.216 614.427 761.547 1.060.763 1.383.005 1.304.350 Tổng thu nhập
quốc gia 603.688 701.906 822.432 951.456 1.108.752 1.436.955 1.567.553
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (www.gso.gov.vn)
Trang 25Nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp Khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam là hai khu vực nông nghiệp chủ yếu với những nông sản chính bao gồm gạo, hồ tiêu, đay, cao su, đường mía, cà phê, chè, cây họ lạc và thuốc lá Nhờ những cải cách lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, chẳng hạn việc áp dụng hình thức khoán, cùng với sự tăng lên của đầu tư trực tiếp, các ưu đãi về thuế và giá thu mua lương thực cao hơn từ Chính phủ, tổng sản lượng lương thực gia tăng lên đáng kể từ
1988 trở đi Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế cũng có sự dịch chuyển tích cực, giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ
Một trong những tác động của sự phát triển quá nhanh của công nghiệp ở Việt Nam chính là việc đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất khu công nghiệp Điều này phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,6% năm 2006 (Ngành công nghiệp và dịch vụ đóng góp tới hơn 90% tổng tăng trưởng GDP năm 2007) Sản lượng chè, cà phê và cao su tự nhiên đã giúp đẩy mạnh xuất khẩu trong ngành nông nghiệp Nhu cầu tăng cao từ các thị trường nước ngoài cũng giúp củng cố thêm sức tăng trưởng của ngành ngư nghiệp Hiện tại Việt Nam là nước sản xuất
và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 sau Thái Lan về xuất khẩu gạo, thứ 2 sau Bra-xin về cà phê và sau Ấn Độ về hạt điều, đứng thứ tư thế giới
về xuất khẩu cao su và thứ 7 thế giới về xuất khẩu chè Chính phủ đang tập trung mạnh vào các cây hoa màu với tiềm năng xuất khẩu cũng như tập trung vào xây dựng ngành công nghiệp chế biến nông sản
Hiện nay, Đảng và Chính phủ Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh
tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn
Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng do tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức cao của thế giới cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành
Trang 26chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tục từ
20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD năm
2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa, theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới (WB) thì Việt Nam đã bị tụt hậu về kinh tế tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore Năm 2011, ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn về lĩnh vực kinh tế: lạm phát gia tăng, chỉ số giá tiêu dùng cao, thất nghiệp Nhưng những tín hiệu thị trường đã cho thấy các công cụ kinh tế của Đảng và nhà nước bắt đầu phát huy tác dụng
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau khi đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc) Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007 Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu việc Việt Nam có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ như các quốc gia khác trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao vị thế của nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế
1.2.1.2 Quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam
Ý thức được vai trò của hợp tác quốc tế trong việc phát triển kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Theo các văn kiện của Đại hội Đảng các kỳ, ta có thể thấy rõ đường lối phát triển kinh tế và đối ngoại của Việt Nam có sự thay đổi và phát triển rõ rệt
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1986) - đại hội mang tính đột phá đã khẳng định đường lối đổi mới và mở cửa
nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước Chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế Công
Trang 27bố luật đầu tư vào năm 1987 Có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều về nước để kinh doanh
- Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt
Nam (1991) thông qua Cương lĩnh của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm (1991-2000) Đồng thời đưa ra tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế: + Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển
+ Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết mối quan hệ giữa tiêu dùng và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa
+ Cố gắng khai thông quan hệ với các Tổ chức quốc tế: IMF, WB, ADB và
mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác trong khu vực ở Châu Á – Thái Bình Dương Cụ thể là tháng 10/1993: VN thiết lập lại được quan hệ bình thường với IMF, WB, ADB Tháng 10/1994: VN gửi đơn xin gia nhập ASEAN (7/1995 được chấp nhận) và tháng 12/1994 gửi đơn xin gia nhập WTO (1/1995 WTO chính thức nhận đơn gia nhập của Việt Nam để tiến hành đàm phán cụ thể) Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
(6/1996) khẳng định chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, đó là xây dựng một
nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và Quốc tế Thành tựu đã đạt được: tháng 6/1996, Việt Nam tham gia thành lập ASEM Tháng11/1998: VN là thành viên APEC
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
(2001) khẳng định đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo
vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc và bảo vệ môi
Trang 28trường Tháng 11/2001: Bộ Chính Trị ra nghị quyết số 07/NQ-TW về hội nhập kinh tế quốc tế
Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Cộng sản Việt Nam (2006): Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng
mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" Thắng lợi lớn nhất về quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn này là tháng 01/2007 nước ta chính thức trở thành thành viên của WTO sau nhiều năm nỗ lực
Mới đây nhất, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (tháng 1-2011) kế thừa và phát huy tư tưởng của Đại hội X,
Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Xuất phát từ định hướng của Đảng và Chính phủ, Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới rộng lớn Việt Nam luôn phấn đấu để trở thành đối tác tin cậy của các nước, mở rộng hơn nữa sự hợp tác toàn diện với tất cả các quốc gia trên thế giới Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 170 quốc gia thuộc tất cả các châu lục (Châu Á - Thái Bình Dương: 33, Châu Âu: 46, Châu Mĩ: 28, Châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC,
ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU
Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện thông qua việc tổ chức thành công nhiều hội nghị mang tầm cỡ quốc tế và khu vực tại Việt Nam
Trang 29Từ ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế của nước ta, giúp Việt Nam phát huy đầy đủ nhất vai trò và quyền lợi của mình trong nền kinh tế toàn cầu Ngày 16 tháng 10 năm 2007, tại cuộc bỏ phiếu diễn ra ở phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, Việt Nam chính thức được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009 Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia trên thế giới, chủ yếu là quan hệ về ngoại thương; tuy giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu chưa lớn nhưng nó đã có đóng góp chủ yếu vào thu nhập quốc dân và là nguồn ngoại tệ lớn Việt Nam thu về phục vụ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa Biểu đồ dưới
đây cho ta thấy 10 quốc gia mà Việt Nam có trị giá nhập khẩu hàng hóa lớn
nhất năm 2009, trong đó Mỹ chiếm vị trí số 1 (11.355,8 triệu đô la Mỹ), tiếp
theo là Nhật Bản (6.291,8 triệu đô la Mỹ), Trung Quốc (4.909 triệu đô la Mỹ), Thụy Sỹ (2.486,5 triệu đô la Mỹ) Hàn Quốc đứng thứ 7 với giá trị 2064.5 triệu
đô la Mỹ, sau đó là Đức, Malaysia và Philippine (1.461,9 triệu đô la Mỹ)
Biểu đồ 1.1: 10 quốc gia có trị giá nhập khẩu hàng hóa lớn nhất
từ Việt Nam năm 2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (www.gso.gov.vn)
0.0 2000.0 4000.0 6000.0 8000.0 10000.0 12000.0
Triệu Đôla Mỹ
Tên nước
Trang 30Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Australia là những quốc gia mà
Việt Nam có trị giá xuất khẩu hàng hóa lớn nhất Cho đến nay, đây vẫn là những
nước dẫn đầu trong danh sách và luôn có sự tăng trưởng ổn định qua nhiều năm
Các quốc gia khác như: Anh, Đức, Hà Lan vẫn giữ vững sự tăng trưởng của
mình Tuy nhiên, theo sự thay đổi của bối cảnh kinh tế từng năm, vị trí của các
quốc gia có hoạt động xuất – nhập khẩu với Việt Nam và giá trị hàng hóa xuất
nhập khẩu cũng có sự thay đổi Qua quan sát số liệu tại bảng 1.2, ta thấy Đài
Loan từ quốc gia nhập khẩu hàng hóa lớn thứ 6 của Việt Nam năm 2002 đã tụt
xuống vị trí thứ 10 năm 2009 Hàn Quốc đã có sự phát triển lớn khi vươn lên từ
vị trí thứ 9 năm 2002 lên vị trí thứ 5 vào năm 2009
Bảng 1.2: Trị giá xuất khẩu hàng hoá phân theo nước và vùng lãnh thổ
Hà Lan 404,3 493 581,9 659,2 857,4 1.182,1 1.577,4 1.334,7
Mỹ 2.452,8 3.938,6 5.024,8 5.924 7.845,1 10.104,5 11.886,8 11.355,8 Australia 1.328,3 1.420,9 1.884,7 2.722,8 3.744,7 3.802,2 4.351,6 2.276,7
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (www.gso.gov.vn)
Theo số liệu của Bảng 1.3 sau đây cũng cho chúng ta cũng thấy rõ sự thay
đổi trong lĩnh vực nhập khẩu Các bạn hàng thân thiết của Việt Nam trong nhiều
năm qua vẫn là Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ
Trang 31Các nước này không có sự thay đổi nhiều về vị trí trong bảng xếp hạng và trong thời gian tới được hy vọng sẽ giữ vững vị trí cao Các quốc gia như: Liên Bang Nga, Đức, Pháp, Australia tiếp tục duy trì trị giá hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam trong thời gian vừa qua Chúng ta ghi nhận sự bứt phá của Hàn Quốc và
Ấn Độ trong bảng, cả hai nước chỉ trong vòng 8 năm đã vươn lên những thứ hạng cao hơn, vượt qua các nước không có sự tăng trưởng nhiều Tuy nhiên, cũng cần chú ý tới Hongkong, thị trường rất tiềm năng và luôn tăng trưởng trong nhiều năm, nhưng tới năm 2009 lại có sự sụt giảm trị giá khá lớn
Bảng 1.3: Trị giá nhập khẩu hàng hoá phân theo nước và vùng lãnh thổ
Ấn Độ 324,7 457,1 593,5 596 880,3 1.357 2.094,3 1.634,8
LB Nga 500,6 491,8 671,5 766,6 455,8 552,2 969,6 1.414,7 Đức 558,1 614,6 694,3 661,9 914,5 1.308,5 1.479,9 1.587,3 Pháp 299,2 411 617,4 447,7 421,1 1.155,4 816,5 864,4
Mỹ 458,3 1.143,3 1.133,9 862,9 987 1.700,5 2.646,6 3.009,4 Australia 286,3 278 458,8 498,5 1.099,7 1.059,4 1.357,9 1.050
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (www.gso.gov.vn)
Xét về quan hệ hợp tác, Việt Nam và Hàn Quốc đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp trong thời gian dài trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, lao động Trong lĩnh vực thương mại song phương, tuy Hàn
Trang 32Quốc chưa phải là quốc gia đứng đầu tại thị trường Việt Nam song luôn là bạn hàng đáng tin cậy, đầy tiềm năng và qua các phân tích ở trên, Hàn Quốc đã thể hiện sự bứt phá của mình, hứa hẹn sự hợp tác kinh tế tốt đẹp trong thời gian tới Với tốc độ tăng trưởng nhanh, Khu vực kinh tế Đông Nam Á đang nổi lên là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Hàn Quốc và ngược lại Hàn Quốc cũng là thị trường quan trọng của khu vực này Đón và tận dụng thời cơ ấy, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN ký hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN - Hàn Quốc vào ngày 24/8/2006 tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế Hàn Quốc - ASEAN Hiệp định đã, đang và sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam và Hàn Quốc, tạo
cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc, tô đậm hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế
1.2.2 Khái quát về thị trường Hàn Quốc
1.2.2.1 Thông tin chung về địa lý, xã hội, kinh tế Hàn Quốc
Địa lý, xã hội
Hàn Quốc nằm trên Bán đảo Triều Tiên, một bán đảo trải dài 1.000 km từ bắc tới nam, ở phần đông bắc của lục địa châu Á, nơi hải phận của bán đảo tiếp giáp với phần cực tây của Thái Bình Dương Phía bắc bán đảo tiếp giáp với Trung Quốc và Nga Phía đông của bán đảo là Biển Đông, xa hơn nữa là nước láng giềng Nhật Bản Ngoài bán đảo chính còn có hơn 3.200 đảo
Tổng diện tích của bán đảo Triều Tiên là 222.154 km2, gần bằng diện tích của Anh hay Romania Không kể diện tích đất khai hoang, diện tích đất canh tác
là 99.617 km2, chiếm 45% tổng diện tích Địa hình núi non chiếm khoảng hai phần ba diện tích lãnh thổ, giống Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary hoặc Ai-len Bao quanh
ba mặt của bán đảo, đại dương đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người Hàn từ ngàn xưa và đã góp phần vào sự phát triển ngành công nghiệp đóng tàu và kỹ năng hàng hải
Theo kết quả trong Cuộc tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2010 được Cục Thống kê quốc gia Hàn Quốc công bố vào hôm 30/5/2010, tính đến năm
2010, dân số của Hàn Quốc đạt 48,58 triệu người, tăng 130 nghìn người so với 5
Trang 33năm trước Dân số già trên 65 tuổi là 5,42 triệu người, chiếm 11,3% tổng dân số
và tất cả các tỉnh thành trong cả nước đều đã trở thành xã hội già hóa
Văn hóa Hàn Quốc có một nền tảng vững chắc và có một vị trí khá nổi bật trong đời sống văn hóa thế giới; trước hết, đó là sự gặp gỡ và pha trộn của các loại hình tôn giáo lớn gồm: Phật giáo, Khổng giáo, Thiên chúa giáo Người Hàn Quốc mang đậm văn hóa phương đông, coi trọng phẩm chất tốt đẹp của con người như: trung thực, lễ giáo Yếu tố văn hóa này đã tạo ra phong cách Hàn Quốc trong kinh doanh Họ coi trọng sự nhiệt tình, trung thực cũng như chữ tín trong làm ăn của các đối tác Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống văn hóa tinh thần là sự giao lưu, tiếp cận một cách có chọn lọc văn hóa phương tây, chính điều này đã tạo ra cho người Hàn Quốc một phong cách kinh doanh cởi mở và hiện đại
Kinh tế
Hàn Quốc có nền kinh tế đứng thứ 3 ở Châu Á và thứ 13 trên thế giới Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, nước này đã xây dựng từ một nước nghèo đói thành một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu, thường được mọi người biết đến như "Kỳ tích sông Hàn"
Trong quá khứ, nền kinh tế Hàn Quốc phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp Chỉ vào đầu những năm 1960, nền sản xuất công nghiệp mới bắt đầu có những bước chuyển biến mạnh mẽ Sau chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), nguồn trợ cấp kinh tế từ Hoa Kỳ đã giúp Nam Hàn phục hồi nhanh chóng Chính phủ ưu tiên phát triển các ngành sản xuất để làm động lực kích thích xuất khẩu Chỉ sau
1 thế hệ, Hàn Quốc đã phát triển từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một trong những trung tâm phát triển công nghiệp tiềm năng nhất Trong những năm 70, 80, nền kinh tế Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào công nghiệp nặng và công nghiệp sản xuất ôtô Với sự hỗ trợ của nhà nước, POSCO - một công ty sản xuất thép đã trở thành xương sống của cả nền kinh tế Ngày nay, POSCO là nhà sản xuất thép lớn thứ 3 trên thế giới Hàn Quốc cũng nổi tiếng với ngành đóng tàu với những tập đoàn đa quốc gia như Hyundai, Samsung
Trang 34đang chiếm ưu thế trên thị trường tàu biển toàn cầu Sản xuất xe cũng phát triển khá nhanh, tạo nên nhiều nhãn hiệu xe có tiếng
Kể từ cuối những năm 80, chính phủ đã cho phép phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, tự do cạnh tranh Trước đây, chính phủ thường đưa ra những kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm để thúc đẩy công nghiệp hóa Để đạt được những thành tựu như vậy, chính phủ đã tác động trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những ưu tiên đặc biệt cho một số ngành nghề kinh doanh, điều chỉnh tỷ giá hối đoái và thực hiện những chính sách tài khóa mang tính tập trung cao
Giữa những năm 60 và 90, tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của nước này tăng 9% mỗi năm Vào giữa những năm 90, cùng với Hongkong, Singapore và Đài Loan, Hàn Quốc được coi là con rồng Châu Á nhờ vào tốc độ phát triển kinh
tế tăng nhanh và mức sống cao hàng đầu thế giới Tuy nhiên nó cũng là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm
1997, 1998 Vào tháng 12 năm 1997, Hàn Quốc chấp nhận số tiền viện trợ khổng
lồ từ Quĩ tiền tệ thế giới (IMF) Kèm theo số tiền là những yêu cầu chính phủ Hàn Quốc phải có những cải cách kinh tế tích cực bao gồm tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp và tài chính Chính phủ tiến hành chuyển đổi tài sản nhà nước sang cho khu vực tư nhân, mở cửa thị trường trong nước cho cạnh tranh với nước ngoài, yêu cầu các tập đoàn kinh tế lớn giảm tỉ lệ nợ trên vốn Nền kinh tế đã phục hồi vào năm 1999 và tăng trưởng đều đặn trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21
Thêm vào đó, Hàn Quốc đã trả hết số nợ vay của IMF vào giữa năm 2001 GDP của nước này trong năm 2005 đạt 787,6 tỷ USD và 2007 đạt 970 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là khoảng 4-5% Sức tiêu dùng của người dân trong nước được bù đắp bằng lượng hàng xuất khẩu tăng Nền kinh tế Hàn Quốc trong năm 2007 nói chung tương đối ổn định với lạm phát ở mức 2,5%, tỷ lệ thất nghiệp thấp và thặng dư xuất khẩu Tuy nhiên, giá dầu thế giới tăng cao cũng đặt ra cho nước này những thách thức về lạm phát và thất nghiệp trong thời gian tới
Trang 35Ngày nay, Liên hợp quốc đã xếp Hàn Quốc vào nước có nền kinh tế thịnh vượng và nước này được vào cả hai bảng xếp hạng các nước phát triển của CIA
và IMF Nằm trong top 20 nền kinh tế lớn nhất, nước này đã tạo ra nhóm các nước công nghiệp G20 Thêm vào đó, sự bùng nổ kinh tế đã giúp duy trì tỷ lệ thất nghiệp của nước này thấp nhất thế giới cũng như tạo ra sự tương đối bình đẳng trong thu nhập
Hàn Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ và Nhật Bản để thành nước dẫn đầu thế giới
về sản xuất chất bán dẫn và màn hình kỹ thuật số LCD và công nghệ Plasma, cũng như những hàng điện tử gia dụng như: Tivi hay điện thoại di động
Cũng giống như các nước phát triển khác, chiếm ưu thế trong nền kinh tế Hàn Quốc là các ngành dịch vụ, rồi đến các ngành sản xuất và nông nghiệp Trong đó: dịch vụ chiếm 57,6%, công nghiệp chiếm 39,4% và nông nghiệp chiếm 3% Các ngành dịch vụ phổ biến ở Hàn Quốc là bảo hiểm, dịch vụ ăn uống, nhà hàng, khách sạn, nhà tắm công cộng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giải trí Trong năm 2007, ngành dịch vụ đóng góp 57,6% GDP và 75,2% lao động của nước này
Tuy sự đóng góp của công nghiệp vào GDP thấp hơn so với ngành dịch vụ (ở mức 39,4% trong năm 2007) nhưng các ngành công nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nước này Hàn Quốc vẫn luôn được nhắc tới cùng với những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như LG, Hyundai, Samsung Nền công nghiệp của Hàn Quốc cũng tương đối đa dạng với các ngành hàng đầu là công nghiệp điện tử, hóa chất, xây dựng, đóng tàu, viễn thông, sản xuất xe và thép Các nhà máy sản xuất đã thu hút 17,3% lao động trong nước
Nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế với 3% GDP và tạo việc làm cho 7,5% lao động Hệ thống nông nghiệp của Hàn Quốc chủ yếu là những trang trại tư nhân nhỏ Tuy nhiên, dưới sức ép của công nghiệp hóa, số lượng lao động tham gia vào các ngành nghề nông nghiệp ngày càng giảm sút
Trang 36Hơn một nửa số đất nông nghiệp được sử dụng để trồng lúa (vụ mùa chính) Ngoài ra, người ta còn trồng: đậu tương, ớt, đại mạch, bắp cải, dưa, tỏi, củ cải, khoai tây, ngô và khoai tây Bên cạnh đó là một số loại hoa quả như: táo, cam, nho, lê hay hồng vàng Hàn Quốc cũng được biết đến như là một trong những quốc gia có ngành đánh bắt cá phát triển với những chiếc tàu đánh cá xa bờ hiện đại Lượng đánh bắt cá hàng năm khoảng 2 triệu tấn Một số loại hải sản phổ biến là: mực, cá ngừ, cá trồng, cá thu, cá pô lắc
1.2.2.2 Quan hệ thương mại quốc tế của Hàn Quốc
Một trong những đặc điểm nổi bật của Hàn Quốc là nền kinh tế của nước này phụ thuộc chặt chẽ vào thương mại quốc tế Trong năm 2007, tổng giá trị buôn bán chiếm đến 76% tổng thu nhập quốc dân (GDP) của cả nước, so với 10% trong những năm 70 Nếu như từ cuối những năm 50, GDP trên đầu người của Hàn Quốc chỉ tương đương với mức của những nước nghèo ở Châu Á và Châu Phi thì ngày nay, GDP trên đầu người đã tăng gấp 18 lần so với thời điểm trước đây và ngang bằng với một số nền kinh tế ở Liên minh Châu Âu (EU) Thành công này có được nhờ vào hệ thống thắt chặt kinh doanh bao gồm tín dụng chỉ định, thắt chặt nhập khẩu, bảo trợ một số ngành công nghiệp từ thời tổng thống Park Chung-hee Chính phủ khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thô, công nghệ cũng như khuyến khích tiết kiệm và đầu tư hơn là tiêu dùng và đường lối công nghiệp hóa với xu hướng xuất khẩu Thêm nữa, do Hàn Quốc bị phụ thuộc và nhập khẩu nguyên liệu thô như dầu mỏ nên chính phủ cũng đồng thời phải tăng lượng hàng hóa xuất khẩu Chính phủ kết hợp chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu với mục tiêu hướng đến xuất khẩu Chính sách
hỗ trợ một số ngành công nghiệp chiến lược như điện tử, đóng tàu và ô tô bằng cách tạo ra những rào cản nhập khẩu các mặt hàng này Khi những ngành công nghiệp này đã có chỗ đứng trên thị trường, chính phủ lại tạo điều kiện thuận lợi nhất để xuất khẩu Những ưu tiên xuất khẩu bao gồm: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, xóa bỏ thuế quan cho việc nhập khẩu nguyên liệu thô, xóa bỏ thuế kinh
Trang 37doanh Nhờ vậy, những sản phẩm của Hàn Quốc dần dần chiếm ưu thế lớn không chỉ trong thị trường nội địa mà ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới
Đến nay, Hàn Quốc đã có quan hệ ngoại giao với 186 nước trong số 191 nước trên thế giới Hàn Quốc thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, coi trọng quan hệ với các nước đồng minh (Mỹ, Nhật Bản ); quan hệ với các đối tác lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ; đồng thời, Hàn Quốc coi trọng quan hệ với các nước Đông Nam Á, hoạt động tích cực trong khuôn khổ
cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3, Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) và Cấp cao Đông Á Hàn Quốc đã ký kết hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia: Chile, Singapore, Hiệp hội thương mại tự do Châu Âu (EFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Ấn Độ Mới đây nhất, Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Hàn Quốc và Liên minh Châu Âu (EU) vừa có hiệu lực tạm thời từ ngày 1 tháng 7 vừa qua và đã có tác động ngay lập tức và trên diện rộng tới nền kinh tế Hàn Quốc Hiện nay, Hàn Quốc đang trong quá trình đàm phán để ký kết FTA với các nước khác như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản
Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ hai mà ASEAN đàm phán Hiệp định thương mại tự do (sau Trung Quốc) Tiến trình này được bắt đầu vào năm
2004 khi các nhà Lãnh đạo ASEAN và Hàn Quốc ký Tuyên bố chung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc, khẳng định mong muốn thiết lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) bao gồm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và đầu tư Năm 2005, ASEAN và Hàn Quốc ký Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện (Hiệp định khung),
và sau đó là các hiệp định cụ thể trong từng lĩnh vực, tạo nền tảng pháp lý hình thành Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) Hiệp định cụ thể đầu tiên được hai bên thống nhất là Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc (AKTIG) – hiệp định ảnh hưởng tới hoạt động thương mại giữa Hàn Quốc và ASEAN, ký kết ngày 24 tháng 8 năm 2006 Hiệp định này quy định các thỏa thuận thương mại hàng hóa ưu đãi giữa 10 Quốc gia Thành viên ASEAN và Hàn Quốc, trong đó quan trọng nhất là cam kết cắt giảm và xóa
Trang 38bỏ thuế suất đối với tất cả các dòng thuế trong một giai đoạn nhất định Bắt đầu
từ ngày 1 tháng 1 năm 2010, Hàn Quốc và ASEAN-5 (Bruney, Indonesia, Malaysia, Philippine và Singapore) đã xóa bỏ thuế của gần 90% các mặt hàng trong Lộ trình Thông thường Các thành viên mới hơn của ASEAN là Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanma, sẽ có thời gian dài hơn để cắt giảm và xóa bỏ thuế quan Đối với Việt Nam, ít nhất 50% các dòng thuế trong Lộ trình Thông thường
sẽ có thuế suất từ 0-5% trước ngày 1 tháng 1 năm 2013 và đối Campuchia, Lào, Myanma là trước ngày 1 tháng 1 năm 2015 Đến năm 2016, Việt Nam sẽ phải đưa 90% số dòng thuế về mức 0-5% và đạt mức tự do hóa hoàn toàn vào năm
2017 Thời hạn tương tự cho Campuchia, Lào, Myanma sẽ là 90% vào năm
2018 và tự do hóa hoàn toàn vào năm 2020 Thái Lan, do tham gia Hiệp định AKTIG muộn hơn – năm 2007, sẽ có lộ trình cắt giảm thuế khác Thuế suất đối với các sản phẩm trong Lộ trình Thông thường sẽ được cắt giảm theo từng giai đoạn và xóa bỏ vào năm 2016 hoặc 2017 Với việc ký kết và thực hiện Hiệp định AKTIG, quan hệ thương mại giữa ASEAN và Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng Năm 2009, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ năm của ASEAN với tổng giá trị thương mại lên tới 74,7 tỷ đô la Mỹ Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hàn Quốc vào ASEAN là 1,4 tỷ đô la Mỹ
Hàn Quốc đã từng giữ nhiều vị trí quan trọng tại các hội nghị và trong các
tổ chức quốc tế; đồng thời rất nhiều sự kiện quan trọng đã được diễn ra tại Hàn Quốc và thành công tốt đẹp Ngày 21/10/1996, Hàn Quốc trở thành thành viên thứ 29 của Tổ chức các nước công nghiệp tiên tiến (OECD) Hàn Quốc đăng cai Hội nghị thượng đỉnh ASEM III năm 2000, được bầu làm Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khoá 56 (9/2001 - 9/2002), đăng cai chung với Nhật Bản World Cup 2002, đăng cai ASIAD-14 Busan 2002, tổ chức Hội nghị cấp cao APEC 2005
Những nhà nhập khẩu lớn nhất của nước này là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hồng Kông và các thị trường: Singapore, Đài Loan, Ấn Độ, Đức, Việt Nam và Indonesia Trong đó các đối tác thương mại tự do như Chile, Singapore, ASEAN và Ấn Độ đã có mức tăng trưởng khá cao sau khi ký kết FTA Hàn
Trang 39Quốc chủ yếu nhập khẩu những mặt hàng như: máy móc, thiết bị điện tử, dầu, khí gas tự nhiên, thép, chất bán dẫn và máy vi tính Hiện nay, Hàn Quốc nhập khẩu nhiều nhất từ các nước: Trung Quốc, Nhật Bản , Hoa Kỳ , Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE)
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn trước năm 2000
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1992
Việt Nam và Hàn Quốc có lịch sử giao lưu văn hóa – kinh tế từ thế kỷ XIII, tuy nhiên đã bị gián đoạn một thời gian dài kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ
II Thời kỳ trước năm 1975, Hàn Quốc có quan hệ ngoại giao, kinh tế quân sự với chính quyền Sài Gòn, đưa quân sang Việt Nam tham chiến Từ năm 1975 đến năm 1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian và từ năm 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan
hệ phi chính phủ Như vậy, kể từ sau năm 1980, hai nước mới bắt đầu thực sự
mở rộng các quan hệ kinh tế mặc dù cũng chỉ mới dừng lại ở hoạt động thương mại và đầu tư Đến năm 1987, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu bước vào một thời
kỳ phát triển mới – thời kỳ của dân chủ hóa, tư nhân hóa và tự do hóa mạnh mẽ Cùng với các nước Đông Nam Á, Việt Nam được Hàn Quốc quan tâm như là một khu vực dân cư đông đúc, giá lao động rẻ, giàu tài nguyên thiên nhiên, trình
độ phát triển kinh tế tuy lạc hậu hơn nhưng đang có xu hướng hướng ngoại Đúng thời điểm đó, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế, với sự chuyển hướng trong chính sách đối ngoại, quy mô thị trường trong nước rộng lớn, nền kinh tế kém phát triển, tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác hiệu quả, nhu cầu về vốn và công nghệ cần thiết cho công cuộc đổi mới là rất lớn Chính vì vậy, 2 nước đã giành sự quan tâm đặc biệt vào việc phát triển quan hệ thương mại song phương
Để đánh giá đúng thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc cần đặt mối quan hệ này trong hoạt động ngoại thương nói chung của Việt Nam Có thể nói ngoại thương Việt Nam có mức khởi điểm (kể từ khi cả nước thống nhất năm 1976) rất thấp Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 1246,8 triệu rúp-đôla (R-USD), trong đó xuất khẩu đạt 222,7 triệu R-USD, nhập khẩu đạt 1024,1