Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của nước sở tại, nhiều doanh nghiệp đã có những sự thay đổi về tỷ lệ vốn đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài tùy theo
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC HÌNH 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu 8
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn 11
7 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN ĐỔI CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Khái niệm về hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức FDI 12
1.1.2 Đặc trưng của các hình thức FDI 14
1.1.2.1 Hình thức 100% vốn nước ngoài 14
1.1.2.2.Doanh nghiệp Liên doanh 15
1.1.2.3 Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh 17
1.1.2.4 Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT 18
1.1.2.5 Hình thức công ty cổ phần 20
1.1.2.6 Hình thức Công ty mẹ con 21
1.1.2.6 Các hình thức đầu tư khác 23
1.1.3 Các yếu tố quy định việc lựa chọn và chuyển đổi các hình thức FDI 25
1.1.3.1 Lợi ích của nước chủ nhà (các nước đang phát triển) 25
1.1.3.2 Lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp FDI 27
1.2 Kinh nghiệm phát triển các hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức FDI của các nước 29
1.2.1 Trung Quốc 30
Trang 21.2.2 Indonesia 33
1.2.3 Malaysia 34
1.2.4 Thái Lan 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI CÁC HÌNH THỨC FDI Ở VIỆT NAM 38 2.1 Chính sách về các hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức FDI của Việt Nam 38 2.1.1 Giai đoạn trước năm 1993 38
2.1.2 Giai đoạn từ 1993-2000 39
2.1.3 Giai đoạn từ 2000- nay 40
2.2 Tổng quan các hình thức FDI ở Việt Nam 43
2.2.1 Cơ cấu các hình thức FDI 43
2.2.1.1 Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 45
2.2.1.2 Hình thức liên doanh 47
2.2.1.3 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (Hợp đồng BCC) 50
2.2.1.4 Hình thức BOT (Xây dựng- Kinh doanh - Chuyển giao) 52
2.2.1.5 Hình thức công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài 53
2.2.1.6 Hình thức công ty mẹ con 54
2.2.2 Hiệu quả thực hiện các hình thức FDI 55
2.3 Tiến trình chuyển đổi các hình thức FDI 58
2.3.1 Hình thức chuyển đổi và nguyên nhân của việc chuyển đổi sang hình thức FDI mới 58
2.3.2 Hiệu quả của chuyển đổi các hình thức FDI 71
2.3.3 Những thuận lợi khó khăn trong vấn đề chuyển đổi 73
2.3.3 Xu hướng chuyển đổi các hình thức FDI 76
2.4 Đánh giá chung 77
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHUYỂN ĐỔI CÁC HÌNH THỨC FDI Ở VIỆT NAM 80
3.1 Nhóm giải pháp về pháp luật, chính sách 80
3.2 Nhóm giải pháp về công tác quản lý của các Bộ/ngành và địa phương 82
3.3 Nhóm giải pháp để giải quyết các vấn đề chuyển đổi các hình thức FDI của các chủ đầu tư 82
Trang 3KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Phụ lục 2.1: Dự án được cấp giấy phép của các hình thức đầu tư phân theo ngành (1988-2005) 92
Phụ lục 2.2: FDI được cấp giấy phép phân theo hình thức đầu tư ở từng địa phương, 1988-2005 93
Phụ lục 2.3: Cơ cấu dự án FDI theo hình thức đầu tư (1988-2005) 96
Phụ lục 2.4 : Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư (1988-2004) 97
Phụ lục 2.5: Quy mô của các dự án FDI phân theo hình thức đầu tư (1988-2005) 98
Phụ lục 2.6: Tình hình chuyển đổi các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (1988-2005) 99
Phụ lục 2.7: Tình hình chuyển đổi các dự án đầu tư nước ngoài phân theo địa phương (1988-2005) 100
Phụ lục 2.8: Tình hình chuyển đổi các dự án đầu tư nước ngoài phân theo đối tác (1988-2005) 101
Phụ lục 2.9: Tình hình chuyển đổi các dự án đầu tư nước ngoài phân theo ngành (1988-2005) 102
Phụ lục 2.10: 6 doanh nghiệp chuyển đổi sang công ty cổ phần đợt đầu tiên 103
Phụ lục 2.11: Một số cam kết của Việt Nam trong thoả thuận song phương với Hoa Kỳ104 Phụ lục 2.12: Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 105
Trang 4Lời cảm ơn
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Phùng Xuân Nhạ, nhờ đó tôi đã hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên tham gia đề tài “Bản chất kinh tế của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” (đặc biệt là TS Nguyễn Thị Kim Anh) đã giúp tôi có những tư liệu quý giá trong việc sử dụng kết quả nghiên cứu chung của đề tài vào nội dung luận văn Các thành viên: PGS.TS Phùng
Xuân Nhạ, Khoa Kinh tế, ĐHQGHN (chủ trì đề tài), PGS.TS Nguyễn Thường
Lạng (Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường đại học Kinh tế Quốc dân HN;
TS Ngô Công Thành (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư); TS.Nguyễn Thị Kim Anh (Khoa Kinh tế, ĐHQGHN); Phạm Thu Phương (học viên cao học, Khoa Kinh tế, ĐHQGHN), Cao Vũ Hoàng Châu (cử nhân KTĐN, Khoa Kinh tế, ĐHQGHN-Khóa 46); Nguyễn Tuấn Anh (cử nhân KTĐN, Khoa Kinh tế, ĐHQGHN-Khóa 46)
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn chị Lê Minh Hiền cùng các cán bộ của Cục đầu tư nước ngoài -Bộ Kế hoạch và đầu tư, các cán bộ của thư viện quốc gia, thư viện Khoa Kinh tế đã giúp đỡ tôi có những tư liệu cần thiết để hoàn thành luận văn
Đề tài này tôi nghĩ không thể tránh khỏi 1 số thiếu sót, nhưng tôi khẳng định
đó là thiếu sót của riêng tôi, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn đồng môn
Phạm Thu Phương
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các hình thức FDI ở Trung Quốc, 2004
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trên tổng kim ngạch xuất khẩu cả
Hình 1.1: Lợi ích chung của nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài
Hình 2.1: Tỷ trọng các dự án được cấp phép phân theo hình thức đầu tư
(1988-2005)
Hình 2.2: Số lượng các dự án đầu tư phân theo hình thức đầu tư và theo ngành
trong thời kỳ 1998-2005
Hình 2.3: Sự vận động của hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt
Nam trong thời kỳ 1998-2005
Hình 2.4: Sự vận động của hình thức doanh nghiệp liên doanh trong giai đoạn
1988-2005
Hình 2.5: Quy mô dự án phân theo hình thức đầu tư (1988-2005)
Hình 2.6: Sự vận động của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam
(1988-2005)
Hình 2.7: Tình hình chuyển đổi hình thức đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (1988-2005) Hình 2.8: Tình hình chuyển nhượng vốn của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
(1988-2005)
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong gần 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu khá thuyết phục về kinh tế và xã hội Bên cạnh mở cửa cho thương mại, Việt Nam đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, trước hết là khung khổ pháp luật nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam vẫn chưa tận dụng tối ưu cơ hội thu hút FDI và chưa tối đa được lợi ích mà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể mang lại Cơ sở dẫn đến các nhận xét trên là diễn biến bất thường về dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam, tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp, tập trung FDI chỉ trong một số ngành, hình thức đầu tư và vùng, khả năng tuyển dụng lao động còn khiêm tốn v.v… Phần lớn các dự án FDI
có quy mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu có nguồn gốc từ Châu Á, đạt mức trung bình, đặc biệt là Việt Nam chưa được chọn là điểm đầu tư của phần lớn các Công ty
đa quốc gia có tiềm năng lớn về công nghệ và sẵn sàng chuyển giao công nghệ và tri thức
Để thực hiện mục tiêu thu hút vốn đầu tư đạt khoảng 150 tỷ USD trong kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã đưa
ra 1 loạt các giải pháp nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư vào Việt Nam, tuy nhiên trên thực tế việc thu hút này là rất khó Có nhiều nguyên nhân trong đó có việc lựa chọn phê duyệt và chuyển đổi các hình thức đầu tư tại Việt Nam Mặc dù Việt Nam đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển đổi các hình thức đầu tư, nhưng việc chuyển đổi còn diễn ra rất chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của các nhà đầu tư nước ngoài
Thực trạng này đang đặt ra nhiều câu hỏi: phải chăng các chính sách cho phép chuyển đổi các hình thức đầu tư nước ngoài của Việt Nam còn chưa phù hợp với thực tiễn?, mục tiêu chuyển đổi các hình thức đầu tư nước ngoài còn chưa gặp nhau giữa chính phủ Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài? chủ trương chính
Trang 8sách đúng nhưng việc quản lý, thực hiện còn nhiều qui định chồng chéo, thủ tục phiền hà?, có phải chính phủ Việt Nam chỉ quan tâm đến lợi ích của chính mình mà không quan tâm tới nhà đầu tư nước ngoài? có phải nhà đầu tư nước ngoài chỉ muốn thuận lợi mà né tránh các quy định của phía Việt Nam Việc tìm sự giải đáp cho các câu hỏi này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần làm sáng rõ, bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn của chuyển đổi các hình thức đầu tư nước trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa giữa chính phủ Việt Nam, nhà đầu
tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam Đây chính là lý do để tác giả chọn đề tài
“Chuyển đổi các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam ” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là một chủ đề được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu còn chưa sâu, nằm rải rác trong các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Một số nghiên cứu có đề cập đến các đặc điểm của các hình thức đầu tư nước ngoài như nghiên cứu của Ngô Công Thành “Định hướng phát triển các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (luận án tiến sỹ kinh tế, 2004) phân tích thực trạng hoạt động và hiệu quả của các dự án FDI tại Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu còn đề cập nhiều đến cơ sở lý luận hình thành và phát triển của hình thức FDI, có đề cập đến các hình thức đầu tư mới nhưng chưa nêu được vấn đề chuyển đổi các hình thức đầu tư
Tác giả Dương Hải Hà, trong nghiên cứu về “Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam“ (luận văn thạc sỹ kinh tế 2004) đã đi sâu nghiên cứu, đánh giá về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam ở tầm vĩ mô chứ không nêu được những ảnh hưởng của chúng tới việc thu hút đầu tư tại Việt Nam, đồng thời không làm rõ được sự cần thiết phải ban hành các chính sách cho việc chuyển đổi hoặc đầu tư vào các hình thức mới
“Tìm hiểu về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (2004) do tác giả Lê Minh Toàn chủ biên đã hệ thống hóa các quy định hiện hành về các hình thức và phương
Trang 9thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, phân tích những thuận lợi và khó khăn đối với mỗi hình thức đầu tư khi áp dụng thực tế vào Việt Nam Tuy nhiên chưa nêu được vấn đề nghiên cứu thực tế hình thành và phát triển các hình thức đầu
tư cũng như chưa đề xuất các giải pháp nhằm đa dạng hóa phát triển các hình thức FDI tại Việt Nam
Một số nghiên cứu khác có đề cập đến đến sự cần thiết phải chuyển đổi các hình thức FDI hoặc đa dạng hóa các hình thức FDI ở Việt Nam tuy nhiên mới chỉ xuất phát trên cơ sở nhu cầu chuyển đổi của các nhà đầu tư nước ngoài do những hạn chế của hình thức doanh nghiệp liên doanh (nghiên cứu của Trần Minh, 2000; Nguyễn Thị Ánh Nga, 2002; Lê Đăng Doanh, 2002….)
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu ở dạng các bài báo chuyên ngành như “Thực trạng vận động của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam hiện nay” của Hoàng Thị Kim Thanh, 2002; đã phân tích những bất cập của các hình thức FDI
ở Việt Nam và đưa ra các đề xuất cổ phần hóa các doanh nghiệp nước ngoài tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu doanh nghiệp 100% vốn, liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh Nghiên cứu “ FDI, một số xu hướng vận động hiện nay“ của tác giả Nguyễn Thanh Bình cũng đề cập đến sự vận động của dòng vốn FDI hiện nay trên thế giới tuy nhiên nhấn mạnh đến các xu hướng phát triển về dòng vốn và lĩnh vực đầu tư, chưa đề cập đến việc chuyển đổi các hình thức đầu tư trên thế giới cũng như các hình thức đầu tư mới
Một số các nghiên cứu của các học giả nước ngoài như nghiên cứu “Foreign Direct Investment in Vietnam: an Overview” (2002) của Nick J Freeman đã đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về các đặc điểm, nội dung của FDI ở Việt Nam; nghiên cứu
về “Nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút vốn FDI vào Việt Nam” của Rostislav Shimanovskiy đưa ra các nguyên nhân khiến cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thấp và không hiệu quả trong đó đề cập đến sự không hiệu quả của các dự án FDI và sự mất cân bằng giữa các doanh nghiệp trong
và ngoài nước Các nghiên cứu đề cập đến sự đơn giản của các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mới chủ yếu đáp ứng được nhu cầu của chính phủ chứ
Trang 10chưa tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên các phân tích này còn sơ bộ, chủ yếu đưa ra các số liệu thống kê trong từng giai đoạn và đối tác cụ thể
Vì vậy việc bổ sung và phát triển những vấn đề còn chưa nghiên cứu hoặc nghiên cứu mới ở mức độ bước đầu về việc chuyển đổi các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là mục tiêu của luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của đề tài:
Khái quát có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn các hình thức FDI, đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của việc chuyển đổi các hình thức FDI ở Việt Nam
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Hệ thống một số vấn đề lý luận về các hình thức FDI và các yếu tố quyết định việc chuyển đổi các hình thức FDI
+ Phân tích, đánh giá thực trạng việc chuyển đổi các hình thức FDI ở Việt Nam + Dựa vào kết quả thu được luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của việc chuyển đổi các hình thức FDI ở nước
ta nhằm tối đa hóa lợi ích mà FDI có thể mang lại và đẩy mạnh thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển đổi các hình thức FDI ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Do mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu, luận văn không đi sâu nghiên cứu nội dung của các hình thức FDI và những vấn đề thuộc về
kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý các hình thức đầu tư này mà định hướng nghiên cứu vào các vấn đề trong chuyển đổi các các hình thức FDI ở Việt Nam hiện nay
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp cơ bản thường được được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế (duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích so sánh ), luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk study)
và chuyên gia
Cụ thể, phương pháp nghiên cứu tại bàn và chuyên gia được tác giả thực hiện theo các bước như sau:
- Tập hợp, phân loại, sắp xếp những công trình xuất bản, tài liệu có liên quan
- Lựa chọn các vấn đề trọng tâm nghiên cứu và lấy ý kiến chuyên gia về các vấn đề đã lựa chọn
- Viết, phân tích các nội dung nghiên cứu
- Những thông tin và ý kiến thu thập được sẽ làm sáng rõ quan điểm trong luận văn
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển đổi các hình thức FDI ở Việt Nam
- Xây dựng một số căn cứ khoa học để quyết định lựa chọn việc chuyển đổi các hình thức đầu tư
- Đưa ra được một số giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả chuyển đổi các hình thức FDI ở nước ta
7 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển đổi các hình thức FDI
Chương 2: Thực trạng chuyển đổi các hình thức FDI ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả chuyển đổi FDI ở nước ta
Trang 12CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN ĐỔI CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức FDI
Đầu tư quốc tế được hiểu là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý…từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận”1 Đầu tư quốc tế được biểu hiện qua các hình thức cơ bản là đầu tư nước ngoài gián tiếp (PFI – Portfolio Investment), đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI – Foreign Direct Investment) và một số nguồn vốn nước ngoài khác
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đầu tư trực tiếp, theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư” Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này2
Dù hiểu theo cách định nghĩa nào thì nguồn vốn FDI cũng mang những đặc điểm sau:
- Chủ đầu tư là người nước ngoài, vốn di chuyển qua khỏi biên giới quốc gia
- Chủ đầu tư tham gia quản lý trực tiếp hoạt động đầu tư, tự quyết định kinh doanh và hưởng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được đánh giá là có vai trò hết sức quan trọng bởi khi FDI vào một quốc gia thì không chỉ có sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm công nghệ, kiến thức kinh doanh và gắn với mạng lưới phân phối rộng lớn trên phạm vi toàn cầu
1 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Phùng Xuân Nhạ, Nhà Xuất Bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001
2 Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09/6/2000 (Điều 2, khoản 1)
Trang 13Đối với các nước nhận đầu tư đặc biệt các nước đang phát triển thì FDI tỏ ra
có ưu thế do hình thức này mang lại hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ cho nền kinh tế FDI tạo điều kiện cho nước sở tại có thể khai thác tốt lợi thế so sánh của mình, là nguồn vốn quan trọng để
bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu của nước sở tại
FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (Greenfield Investment – GI) và sáp nhập và mua lại (M&A) Đầu tư mới là hình thức các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển Ngược lại, kênh M&A là hình thức các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và trong những năm gần đây đã trở nên tương đối phổ biến ở một số nước đang phát triển
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là cách thức nhà đầu tư ở một nước có thể và được phép áp dụng để chuyển đổi quyền sở hữu vốn (bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào) của mình thành quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế ở một nước khác Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh, tự điều hành và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi
Người ta có thể phân loại hình thức FDI theo nhiều cách khác nhau: phân loại theo tính chất sử dụng vốn đầu tư, theo ngành đầu tư hay theo nguồn vốn… Khóa luận này sử dụng cách phân loại phổ biến nhất là phân loại theo tỷ lệ sở hữu của người nước ngoài trong các dự án đầu tư (tính chất sở hữu)
Nếu phân loại theo tính chất sở hữu, hình thức FDI thường được chia thành các dạng chủ yếu là hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình thức doanh nghiệp liên doanh, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh Bên cạnh đó các nước còn ghi nhận các hình thức BOT, doanh nghiệp cổ phần, hình thức công ty mẹ - con
Trang 14(Holding Company), hình thức công ty hợp danh, hình thức chi nhánh công ty nước ngoài… như là một hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Việc lựa chọn các loại hình doanh nghiệp trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh là rất quan trọng, quyết định đến sự thành bại của hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của nước sở tại, nhiều doanh nghiệp đã có những sự thay đổi về tỷ lệ vốn đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài tùy theo hiệu quả và chiến lược kinh doanh dẫn đến sự thay đổi các hình thức doanh nghiệp Luật pháp các nước thừa nhận sự thay đổi này như một sự chuyển đổi hình thức đầu tư
Khái niệm về chuyển đổi hình thức đầu tư được hiểu là việc doanh nghiệp được cấp phép đầu tư theo một hình thức của Luật đầu tư tại nước sở tại tiến hành chuyển đổi sang một hình thức đầu tư khác được Luật pháp nước sở tại thừa nhận hay nói cách khác đó là việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đăng ký lại theo Luật đầu tư của nước sở tại có thay đổi hình thức tổ chức doanh nghiệp theo giấy phép đầu tư đã được cấp
1.1.2 Đặc trưng của các hình thức FDI (phân theo tính chất sở hữu)
1.1.2.1 Hình thức 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp đầu tư dưới hình thức 100% vốn nước ngoài (gọi tắt là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) là doanh nghiệp có 100% vốn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý
và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Về mặt pháp lý, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà, chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại Về mặt kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành, quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh nước sở tại như các điều kiện về chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh…
Trang 15Đối với nhà đầu tư nước ngoài, ưu điểm của hình thức đầu tư 100% vốn khiến họ có thể chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực, triển khai nhanh dự án đầu tư để thực hiện chiến lược của mình, lợi nhuận không bị chia sẻ Nhà đầu tư có quyền chủ động lựa chọn đối tác, dự án đầu tư, địa bàn, thời hạn đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm trên cơ
sở phù hợp với quy định của nước nhận đầu tư Đặc biệt đối với các công ty xuyên quốc gia thì họ lựa chọn hình thức này nhằm thực hiện các hoạt động chuyển giá nội bộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là tránh bị mất các bí quyết công nghệ hoặc các ràng buộc về việc phải chuyển giao công nghệ cho phía nước sở tại Nhưng đồng thời, chủ đầu tư cũng phải gánh chịu toàn bộ rủi ro và phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận một thị trường mới
Hình thức 100% vốn nước ngoài có ưu điểm đối với nước chủ nhà là thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nước chủ nhà có thể giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động mà không cần bỏ vốn đầu tư cũng như có thể tập trung thu hút vốn, công nghệ nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu Tuy nhiên, so với hình thức liên doanh nước chủ nhà khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp trong nước, điều mà trên thực tế các nước đang phát triển rất cần
Chính việc khó kiểm soát đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài mà một số quốc gia có những quy định hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Đầu tư theo hình thức này vì vậy sẽ gặp những hạn chế nhất định trong một số lĩnh vực có nhiều lợi nhuận, những lĩnh vực nhạy cảm với nước sở tại và trong quan hệ với các cơ quan quản lý
1.1.2.2 Doanh nghiệp Liên doanh
Doanh nghiệp đầu tư dưới hình thức liên doanh (gọi tắt là doanh nghiệp liên doanh) là doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên và các Bên nước ngoài
để đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà Trong một số trường hợp đặc biệt doanh
Trang 16nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa chính phủ nước chủ nhà với chính phủ nước khác Nói cách khác doanh nghiệp liên doanh được thành lập do 1 nhóm người có lợi ích kinh tế chung thông qua 1 bản thỏa thuận về hợp tác cùng nhau kinh doanh Các bên trong liên doanh có chung quyền
sở hữu, quyền quản lý, điều hành hoạt động và được hưởng các quyền lợi về tài sản Đây là hình thức đầu tư được sử dụng rộng rãi nhất của các nhà đầu tư trực tiếp khi muốn xâm nhập vào thị trường nước ngoài mới
Về mặt pháp lý, doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà; mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp (lấy mức tiền vốn bỏ ra của mỗi bên làm giới hạn) Về phương diện kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh do các bên tham gia góp vốn, cùng quản lý, trách nhiệm rủi ro, phân phối lợi ích giữa các bên rõ ràng (cùng phân phối lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro phát sinh) Trách nhiệm của mỗi bên đối với doanh nghiệp chỉ lấy mức bỏ vốn của mình làm giới hạn, trừ trường hợp các bên có những thỏa thuận khác quy định trong hợp đồng liên doanh
Thông qua hình thức liên doanh, nước nhận đầu tư sẽ kiểm soát và học được trực tiếp kinh nghiệm quản lý tiên tiến, được chia sẻ lợi nhuận với các chủ đầu tư nước ngoài Đối với nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh sẽ giúp họ giảm chi phí đầu tư, tận dụng cơ sở có sẵn của nước chủ nhà như đất đai, thiết bị và đặc biệt là mạng lưới phân phối Ngoài ra khi đầu tư theo hình thức này, lợi nhuận thu được sẽ ổn định và họ dễ hòa nhập hơn vào thị trường
do có thể dễ dàng tiếp cận với các nhà hoạch định chính sách hơn, các lĩnh vực được đầu tư rộng hơn các hình thức khác do một số lĩnh vực không bị nước sở tại hạn chế đầu tư Nhà đầu tư không mất nhiều thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ đồng thời chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư với đối tác nước chủ nhà, đặc biệt khi các nhà đầu tư chưa có những hiểu biết sâu sắc về nước sở tại
Trang 17Bên cạnh những ưu điểm về kinh tế như kết hợp thế mạnh các bên về kỹ thuật, vốn và phương thức điều hành hình thức liên doanh còn có những hạn chế nhất định như khi điều hành doanh nghiệp có thể tạo ra các quan điểm khác nhau về sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển Ban lãnh đạo gồm nhiều bên sẽ mất nhiều thời gian khi bàn bạc và ra quyết định về các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh, dễ xuất hiện sự mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp Trong một số trường hợp, nếu khả năng góp vốn của bên đối tác nước chủ nhà thấp, chủ yếu bằng tiền thuê đất, năng lực quản lý hạn chế, tình trạng tham nhũng ít được kiểm soát chặt chẽ thì hình thức liên doanh lại bộc lộ nhiều hạn chế, kém hiệu quả Bên nước ngoài cũng sẽ gặp nhiều vướng mắc trong việc thương thảo các vấn đề liên quan đến việc định giá tài sản góp vốn, giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong nước và không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp
Do hoạt động của liên doanh diễn ra trong môi trường kinh doanh nước sở tại, nên đối tác nước ngoài trong liên doanh cũng phải đối mặt với những khó khăn phát sinh do những khác biệt về tập quán, văn hóa trong quá trình các bên đối tác làm việc với nhau
1.1.2.3 Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp doanh) nhằm hợp tác kinh doanh trong đó quy định quyền lợi trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh (phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm) cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hợp tác với tổ chức cá nhân nước ngoài để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh
Về mặt pháp lý, hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo pháp luật của nước sở tại, chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại Về mặt kinh doanh, các bên thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở ký kết một hợp đồng hợp tác mà không hình thành một pháp nhân mới Kết quả kinh doanh được phân chia theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận giữa các bên Nghĩa vụ tài chính đối với nước sở tại được các bên hợp doanh thực hiện một cách riêng rẽ Thuế thu nhập
Trang 18doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác của các bên hợp doanh gồm cả tiền thuê đất, thuế tài nguyên… có thể được tính gộp vào phần sản phẩm chia cho bên hợp doanh trong nước và bên hợp doanh đó có trách nhiệm nộp cho nhà nước
Đối với nước chủ nhà hình thức này có ưu điểm giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành dự án Tuy nhiên, rất khó thu hút được đầu
tư dưới hình thức này, và chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hình thức hợp doanh giúp tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại, được đầu tư những lĩnh vực hạn chế đầu tư và dễ thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà Nhà đầu tư cũng không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới, xây dựng các mối quan hệ, không bị tác động lớn do khác biệt về văn hóa, chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài không được trực tiếp quản lý điều hành dự án và mối quan hệ hợp tác với đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn đồng thời lợi nhuận thu được không cao khiến cho nhà đầu tư nước ngoài vẫn lo ngại khi đầu tư theo hình thức này
1.1.2.4 Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp, khai thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu
tư chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà
Cơ sở pháp lý của hình thức này là hợp đồng, vốn đầu tư của nước ngoài, hoạt động dưới các hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, chuyển giao không bồi hoàn cho nước chủ nhà, đối tượng hợp đồng là các công trình cơ sở hạ tầng BOT là hình thức đầu tư được sử dụng chủ yếu để thực hiện các
dự án đầu tư của Chính phủ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghiệp như trong các ngành giao thông, cấp thoát nước, điện, dầu khí
Trang 19Ưu điểm nổi trội của hình thức này đối với nước sở tại là nhà nước không phải bỏ vốn mà các nhà đầu tư phải tự bỏ vốn sở hữu của mình, chịu hoàn toàn trách nhiệm về dự án trong suốt thời gian dự án được thực hiện Điều này đã giảm được sức ép về vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lên ngân sách nhà nước, đồng thời, phát huy được tính chủ động và sáng tạo của các nhà đầu tư Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư thường không thể đáp ứng đủ tổng vốn đầu tư của dự án
mà thường chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định nào đó (thông thường là 30% tổng vốn đầu tư), vì vậy các nhà đầu tư thường phải vay tín dụng từ các ngân hàng, các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế Dự án đầu tư theo hình thức BOT phải được tính toán cẩn thận và xác định là có hiệu quả thì các ngân hàng, tổ chức tài chính mới có thể cho vay Như vậy, hình thức đầu tư BOT đã kết hợp được rất nhiều bên có năng lực tham gia dự án, không cần đến vốn từ ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo dự
án được thực hiện có hiệu quả và theo đúng chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Chính phủ các nước
Qua hình thức đầu tư BOT, nhiều quốc gia nhận đầu tư nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, giúp khai thác các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế Nhược điểm của hình thức này là khó tiếp nhận kinh nghiệp quản lý và khó kiểm soát được công trình Nước sở tại cũng phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của nhà đầu tư
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, do được chủ động quản lý điều hành và tự chủ kinh doanh, hiệu quả đồng vốn đầu tư của họ được đảm bảo và lợi nhuận không
bị chia sẻ Ngoài ra, các dự án đầu tư được Nhà nước sở tại đảm bảo và tránh được rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát
Tuy nhiên, hình thức BOT vẫn không được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng như hình thức 100% vốn và hình thức liên doanh vì chi phí đầu tư cho những dự án BOT cao và việc đàm phán cũng như thực thi hợp đồng BOT thường gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và công sức, nhất là đàm phán và ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào và khách hàng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
Trang 20Một số dạng thức khác như: BTO (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) được hình thành cũng tương tự như BOT, nhưng sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà, chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao) được hình thành cũng giống như BOT và BTO, nhưng sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại công trình cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự
án để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT
1.1.2.5 Hình thức công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó Các nhà đầu tư trở thành những cổ đông chính thức của công ty khi thực hiện mua các cổ phần do công ty phát hành Cổ đông có thể là tổ chức, các nhân có số lượng tối đa không hạn chế, từ
ba trở lên Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong Ban Quản Lý, Ban Kiểm Soát
và Ban Điều Hành Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận
do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn Công ty có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo nhiều cách như thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa
Ưu điểm của loại hình công ty cổ phần là nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty; quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần; nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh
Trang 21vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần; công tác quản lý hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu
Tuy nhiên loại hình công ty này cũng có những nhược điểm cơ bản, cụ thể là: mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế, công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của nhà nước; chi phí thành lập công ty khá tốn kém; khả năng bảo mật kinh doanh và tài chánh bị hạn chế do phải công khai và báo cáo với các cổ đông của công ty; khả năng thay đổi phạm vi kinh doanh kém linh hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong Bản Điều Lệ của công ty
1.1.2.6 Hình thức Công ty mẹ con
Mô hình công ty mẹ - công ty con là mô hình liên kết kinh tế được các tập đoàn kinh tế trên thế giới áp dụng để tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty mẹ - con thực chất được xuất phát từ khái niệm “Holding company” và
“Subsidiary” Theo đó, “Holding company” được hiểu là công ty nắm vốn, còn
“Subsidiary” là công ty nhận vốn Theo định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức độ đủ để kiểm soát hoạt động
Công ty nắm vốn thường là công ty hoặc ngân hàng có nhiều vốn, phân phối vốn của mình cùng một lúc ở nhiều công ty khác nhau và thường nắm giữ cổ phần chi phối hoặc đặc biệt Vì là cổ đông lớn, có tính chất đặc biệt nên công ty nắm vốn
có thể chi phối hoạt động của các công ty nhận vốn Thông thường trên thế giới, các holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt động trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát hoạt động quản lý của các công ty con
Nếu xét về hình thức thì công ty mẹ có quyền quản lý các công ty con, nhưng xét về địa vị pháp lý thì đây là các pháp nhân độc lập, riêng biệt, hoạt động hoàn toàn bình đẳng trên thị trường theo quy định của pháp luật Quan hệ giữa công ty
mẹ với các công ty con và giữa các công ty con với nhau là quan hệ kinh tế dựa trên
Trang 22cơ sở hợp đồng kinh tế khi thực hiện các mục tiêu kinh doanh Công ty mẹ là nhà đầu tư, nơi cấp vốn cho công ty con Công ty con là nơi tiếp nhận nguồn vốn đó để hoạt động Thông thường, chỉ có quan hệ đầu tư vốn từ công ty mẹ đến công ty con
mà không có chiều ngược lại
Thông qua người đại diện của mình tại các công ty con và bằng các công cụ khác, công ty mẹ chi phối các công ty con về tài chính, thị trường, chiến lược kinh doanh, công nghệ, thương quyền, nhãn hiệu…
Mối liên kết giữa công ty mẹ - công ty con được hình thành tùy thuộc vào sự tham gia góp vốn của công ty mẹ theo nguyên tắc: công ty con nào được công ty mẹ góp vốn nhiều hơn thì có mối liên kết chặt chẽ hơn
Công ty mẹ chỉ tác động vào công ty con thông qua đại diện của công ty mẹ trong hội đồng quản trị của công ty con, và mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ tại công ty con Các quyền lợi công ty mẹ có được và được hưởng do tỷ lệ góp vốn của công ty vào công ty con mang lại Có trường hợp công
ty mẹ góp vốn 100% vào công ty con nhưng cũng có trường hợp công ty mẹ chỉ góp một phần vốn vào công ty con
Trường hợp công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối đối với công ty con, có tỷ
lệ góp vốn cao nhất vào công ty con Tỷ lệ góp vốn này có thể là 100% hoặc thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo quyền chi phối công ty con của công ty mẹ so với các chủ
sở hữu khác Các công ty con thuộc loại này nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với công ty mẹ
Công ty mẹ cũng có thể góp một phần vốn vào công ty con nhưng không nắm giữ cổ phần chi phối công ty con này Tuy nhiên công ty con này vẫn thuộc
sở hữu của công ty mẹ và duy trì mối quan hệ bán chặt chẽ với công ty mẹ dựa trên quan hệ về vốn Khi đó, công ty mẹ đóng vai trò như các cổ đông thông thường khác, hưởng các quyền và lợi ích tương đương với số vốn đã đầu tư vào công ty con Quyền đưa ra các quyết định của công ty mẹ phụ thuộc và mức độ ảnh hưởng của người được lựa chọn phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ
Trang 23trong công ty con Quan hệ vốn giữa công ty mẹ và công ty con cũng như các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ này đối với công ty mẹ, công ty con thường được xác lập trong điều lệ của công ty con qua những điều khoản quy định có tính
kỹ thuật về hoạt động của công ty Công ty con là đơn vị nhận vốn của công ty mẹ nhưng vẫn là những công ty độc lập, kể cả khi công ty con có 100% vốn của công
ty mẹ
Tuy nhiên về mặt chiến lược và phương hướng hoạt động của công ty con bị chi phối bởi công ty mẹ qua quyền quyết định các chiến lược, định hướng hoạt động lâu dài cũng như các kế hoạch, chiến lược hàng năm, quyết định về những dự án, chương trình hành động lớn
1.1.2.6 Các hình thức đầu tư khác
* Hình thức sáp nhập và mua lại (M&A ) Hình thức sáp nhập và mua lại là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư chủ yếu tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện
có ở nước ngoài Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNCs lớn và tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp ôtô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước phát triển Doanh nghiệp được sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập mua lại, trừ trường hợp các bên có những thỏa thuận riêng
Xét từ quan điểm của nước chủ nhà, M&A có những ưu điểm và hạn chế Hình thức M&A chủ yếu chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước sở tại cho các công ty nước ngoài Về dài hạn, hình thức này cũng sẽ thu hút mạnh nguồn vốn từ bên ngoài cho nước sở tại nhờ mở rộng quy mô hoạt động Tuy nhiên nếu như hình thức đầu tư mới tạo ngay việc làm cho nước sở tại thì hình thức M&A không tạo được việc làm ngay, mà thậm chí còn tăng thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng tỷ lệ thất nghiệp) cho nước sở tại
Trang 24M&A tuy không tác động đáng kể tới cạnh tranh về ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có thể làm tăng cạnh tranh độc quyền Đồng thời, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước sở tại vì tài sản của nước sở tại rơi vào tay người nước ngoài
Đối với nhà đầu tư, họ tiến hành sáp nhập và mua lại với mục đích khai thác lợi thế thị trường mới, giúp công ty có cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động ra thị trường nước ngoài Khi các TNCs sáp nhập với nhau thành công ty khổng lồ hoạt động trong nhiều lĩnh vực, khả năng cạnh tranh toàn cầu của họ tăng lên rất đáng
kể Ngoài ra, thông qua hình thức M&A, các công ty có thể giảm chi phí trong lĩnh vực R&D, sản xuất, phân phối và lưu thông Hoạt động này tạo tính độc quyền cao cho tập đoàn, để thống trị và chi phối các ngành chủ yếu của nền kinh tế thế giới và khu vực Đây cũng là một cách nhanh nhất để thiết lập sự có mặt của nhà đầu tư nước ngoài ở nước chủ nhà, giúp sử dụng hiệu quả mạng lưới cung ứng và phân phối sẵn có, mở rộng thị phần, tránh được hàng rào thuế quan, tăng năng lực cạnh tranh và lợi nhuận Christopher Kelley, một cây đại thụ trong lĩnh vực tư vấn M&A tại Forrester Research đã nhận định “ Sáp nhập thực chất là một vụ đầu tư lớn, và với nó, bạn sẽ có cơ hội mở rộng thị trường, đồng thời nâng cao lợi nhuận nhờ lợi thế về tài chính và uy tín.”
* Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài Hình thức chi nhánh không phải là một pháp nhân độc lập Nếu như trách nhiệm của công ty con chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của nước sở tại thì trách nhiệm của chi nhánh, theo quy định của một số nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh mà còn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty
mẹ ở nước ngoài
Ưu điểm của hình thức này là định hình thời gian có mặt tại thị trường nước
sở tại, đã hiểu rõ về tập quán kinh doanh, luật pháp nên việc thành lập chi nhánh công ty nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp trong việc huy động vốn, nhập khẩu máy móc thiết bị, tận dụng các quan hệ bạn hàng phục vụ mục tiêu phát triển Tuy nhiên
Trang 25nhiều thủ tục Một số các lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến bảo hộ sản xuất trong nước không được chính phủ hỗ trợ phát triển
1.1.3 Các yếu tố quy định việc lựa chọn và chuyển đổi các hình thức FDI
1.1.3.1 Lợi ích của nước chủ nhà (các nước đang phát triển)
Không thể phủ nhận vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước chủ nhà trong việc bù đắp cho thiếu hụt đầu tư trong nước, nhằm huy động được tối đa nguồn vốn cho phát triển kinh tế Vì vậy, các quốc gia có xu hướng mở rộng cánh cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài, đa dạng hóa các hình thức đầu tư nhằm tăng sức cạnh tranh thu hút nguồn FDI vốn khan hiếm Các chính sách định hướng của quốc gia tiếp nhận đầu tư như lộ trình mở cửa nền kinh tế, việc áp dụng những ưu đãi khác nhau đối với các hình thức đầu tư khác nhau…là nhân tố quan trọng đối với sự hình thành, phát triển và quyết định chuyển đổi các hình thức FDI Việc lựa chọn phát triển các hình thức đầu tư hay chấp nhận sự chuyển đổi các hình thức của nhà đầu tư nước ngoài được dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, những tiềm năng lợi thế và điều kiện phát triển của nền kinh tế ở mỗi quốc gia
Căn cứ vào nhu cầu phát triển CNH - HĐH của từng đất nước cũng như những định hướng phát triển kinh tế theo vùng miền, ngành mà các quốc gia khác nhau có những ưu đãi nhất định cho từng hình thức đầu tư tại các khu vực, lĩnh vực này Đối với những nước theo đuổi chiến lược hướng về xuất khẩu thì thường có xu hướng tập trung mạnh vào khu vực vốn FDI do khu vực đầu tư này có kim ngạch xuất khẩu cao
Trong giai đoạn đầu của thu hút FDI, các nước đang phát triển thường muốn tập trung thu hút đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, BOT… để thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm kinh doanh từ các đối tác lớn có công nghệ hiện đại, trình
độ quản lý tiên tiến và được chia sẻ lợi nhuận (liên doanh, hợp doanh), không cần
bỏ chi phí đầu tư nhưng vẫn có được các công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh…(BOT) Khi đó để khuyến khích đầu tư, các nước đưa ra những ưu tiên cho
Trang 26các hình thức này đồng thời với việc có những biện pháp thắt chặt hoặc hạn chế hình thức 100% vốn nước ngoài Chính vì vậy khi mới đầu tư tại một thị trường mới, các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn những hình thức này nhằm tận dụng được những ưu đãi
Nếu như hình thức liên doanh, hợp doanh được khuyến khích trong giai đoạn đầu thu hút đầu tư nước ngoài thì hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng được nhiều quốc gia khuyến khích trong giai đoạn phát triển sau Xuất phát bởi các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường là các công ty con của các TNCs Vì vậy các nhà đầu tư sẽ lựa chọn kỹ thuật tiên tiến nhằm tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường Doanh nghiệp loại này thường là mới xây dựng nên điểm bắt đầu về kỹ thuật là tương đối cao Là nguồn tiền từ nước ngoài vào nên không gặp sự xung khắc trong vấn đề vốn đồng bộ hay vấn đề trong việc kinh doanh, phân phối lợi nhuận, kỹ thuật trong doanh nghiệp bởi hoàn toàn do nhà đầu
tư nước ngoài nắm giữ và khống chế Nước nhận đầu tư không phải chịu những rủi
ro trong đầu tư mà còn thu được thuế Tuy nhiên vẫn có rất nhiều các quốc gia đưa
ra các điều kiện hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do khó kiểm soát được đối tác nước ngoài (tiến hành các hoạt động trốn thuế, tránh thuế như chuyển dịch giá cả, nhập khẩu cao, xuất khẩu thấp tạo nên tình trạng “lỗ giả lãi thật” khá phổ biến), không tiếp nhận được công nghệ và kinh nghiệm quản
lý, và thường có các xung đột trong vấn đề sử dụng lao động Bên cạnh đó, một loạt các hình thức khác như công ty cổ phần, M&A, công ty hợp danh, chi nhánh công ty nước ngoài cũng được các quốc gia thừa nhận và tạo dựng hành lang pháp
lý để phát triển
Nhu cầu cấp bách của việc phải nâng cao tính cạnh tranh trong thu hút FDI khiến cho các quốc gia đứng trước nhiều sự lựa chọn Làm thế nào để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài mới vào đầu tư đồng thời vẫn giữ được các nhà đầu tư cũ tiếp tục duy trì đầu tư hoặc bỏ vốn đầu tư mới? Câu trả lời được đưa ra là bên cạnh việc mở cửa nền kinh tế cho đầu tư nước ngoài, cụ thể là thu hẹp hạn chế đối với FDI, tạo dựng hành lang pháp lý cho các hình thức FDI phát triển, thì việc tạo thuận
Trang 27lợi cho nhà đầu tư chuyển đổi các hình thức đầu tư được coi là giải pháp chiến lược Quan điểm này được thể hiện bằng luật pháp và các chính sách cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chủ động chuyển đổi hình thức đầu tư trên cơ sở đa dạng hóa các phương pháp huy động vốn, cho phép cổ phần hóa, phát hành trái phiếu huy động vốn, cho phép thành lập công ty cổ phần, quỹ đầu tư hoặc công ty quản lý vốn để điều hành, quản lý các dự án đầu tư
1.1.3.2 Lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp FDI
Lựa chọn các hình thức đầu tư không chỉ phụ thuộc vào sự định hướng của nước chủ nhà mà yếu tố quyết định là các nhà đầu tư Việc theo đuổi tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh chính là bản chất là động cơ và mục tiêu, xuyên suốt của các nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, họ linh hoạt và đa dạng trong việc lựa chọn đầu tư theo hình thức nào căn cứ vào những đánh giá đối với những ưu điểm và hạn chế của từng hình thức
Tùy theo chiến lược tổng thể và chiến lược tiếp cận của công ty tại từng thị trường, tùy thuộc vào những lợi thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp, tùy từng giai đoạn thời kỳ khác nhau, tùy theo đặc điểm của thị trường và đặc điểm của sản phẩm, những chính sách về đầu tư của nước chủ nhà mà các công ty đưa ra quyết định khác nhau nhằm tiết kiệm được chi phí và tăng cường lợi nhuận tối đa
Thông thường nhằm giảm những rủi ro khi bước chân vào một thị trường mới, các nhà đầu tư nước ngoài thường chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh, hợp doanh Nhưng sau một thời gian khi đã hiểu hơn thị trường, cùng với những sửa đổi và chính sách nới lỏng của chính phủ nước chủ nhà đối với hình thức 100% vốn, nhà đầu tư đó có thể tìm cách để chuyển sang doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Như vậy, họ có thể chủ động trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh, chủ động trong đào tạo và tuyển chọn nguồn nhân lực, qua đó triển khai nhanh dự
án đầu tư để thực hiện chiến lược toàn cầu của tập đoàn Tuy nhiên, cũng tùy thuộc vào chiến lược của từng loại hình công ty của các nước mà các công ty này có những sự lựa chọn khác nhau: các công ty của Nhật khi đầu tư tại các nước đang phát triển ở Châu Á thường chú trọng đến việc khai thác lợi thế so sánh của nước
Trang 28chủ nhà để giảm chi phí sản xuất nên họ thường lựa chọn hình thức đầu tư liên doanh để được tạo nhiều thuận lợi trong tuyển dụng nhân công, tiếp cận nguồn nguyên vật liệu, đồng thời khai thác được lợi thế về sự tương đồng, am hiểu văn hóa Trong khi đó, các công ty Hoa Kỳ khi đầu tư vào các nước đang phát triển lại
ưa chuộng hình thức 100% sở hữu vốn nước ngoài do chiến lược của các công ty là quan tâm đến khả năng tiếp cận thị trường của các nước nhận đầu tư
Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa của nước tham gia đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng Sự khác biệt này có thể khiến nhà đầu tư của các nước châu Á có sự trung thành nhất định với các hình thức liên doanh và hợp doanh do tâm lý e ngại khi bước chân vào một thị trường đầu tư mới Ngược lại các nước như Mỹ khi tiến hành xâm nhập thị trường mới lại có nhu cầu xây dựng và vận hành doanh nghiệp
và sẵn sàng bán lại doanh nghiệp đó và rồi lại tiếp tục quy trình như vậy nếu như việc mua lại sáp nhập này đem lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư
Chính vì vậy, mong muốn của các nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn và chuyển đổi hình thức đầu tư khi hình thức đang đầu tư tỏ ra không còn hiệu quả hoặc nhà đầu tư nhìn thấy lợi ích lớn hơn trong hình thức đầu tư khác Trong trường hợp doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động thành công trên thị trường nước sở tại có mong muốn mở rộng việc huy động vốn hoặc đàm phán để chuyển đổi sang hình thức mới nhằm đa dạng hóa loại hình đầu tư, tận dụng ưu đãi của chính phủ nước sở tại, phát huy lợi thế của doanh nghiệp sau thời gian tìm hiểu kỹ thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh trong hình thức đầu tư mới Trong trường hợp làm ăn không có lãi tại thị trường nước ngoài, nhà đầu tư có mong muốn được chuyển nhượng, chuyển đổi để hạn chế tối thiểu những tổn thất trong đầu tư Khi
đó, nhà đầu tư có thể rút vốn về nước, kêu gọi hợp tác với các doanh nghiệp khác hoặc rút vốn ra khỏi doanh nghiệp nhưng tiến hành các hoạt động đầu tư mới Kết luận:
Trong quá trình thu hút nguồn vốn FDI, các quốc gia đều cố gắng tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm thu hút tối đa nguồn vốn FDI vào trong nước trên cơ sở đảm bảo được lợi ích quốc gia
Trang 29Việc các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn và chuyển đổi các hình thức đầu
tư khác nhau nhằm bảo đảm lợi ích tối đa của họ trên cơ sở lợi thế và chiến lược phát triển trong từng giai đoạn nhất định Sự gặp nhau về mục tiêu chung của nhà đầu tư và chính phủ nước chủ nhà quyết định mức độ hiệu quả trong thu hút (xem hình 1.1)
Hình 1.1: Lợi ích chung của nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài
Trong quá trình kinh doanh, cả 2 bên cùng tiếp tục điều chỉnh sao cho lợi ích chung giữa 2 bên là lớn nhất Vì vậy quá trình chuyển đổi hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài là khách quan, xuất phát từ nhu cầu của cả 2 phía: nhà đầu tư và chính phủ nước chủ nhà trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của cả 2 bên
1.2 Kinh nghiệm phát triển các hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức
FDI của các nước
Từ những năm 1980, cùng với xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh, cạnh tranh giữa các nước trong chiến lược thu hút FDI ngày càng gay gắt Không kể Singapore hay Hồng Kông là những nền kinh tế mở, quy mô nhỏ nên FDI có vai trò lớn, những nước lớn hơn như Thái Lan, Malaixia từ khoảng năm 1985 và Trung Quốc từ thập niên 1990 đã thành công trong chiến lược tích cực dùng FDI để tăng trưởng Theo báo cáo đầu tư thế giới 2006 của tổ chức thương mại và phát triển thuộc Liên hiệp quốc (Unctad), khu vực Đông, Nam và Đông Nam Á thu hút khoảng 165 tỷ USD vốn FDI trong năm 2005, tương đương với 18% tổng lượng vốn FDI đăng ký mới toàn cầu, trong đó Trung Quốc (72 tỷ USD), Indonesia (5 tỷ USD), Malaysia (4 tỷ USD) và Thái Lan (4 tỷ USD) (Việt Nam được 2,02 tỷ USD)
Trang 30Vì vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý trong việc chuyển đổi hình thức đầu tư và định hướng phát triển các hình thức FDI ở các nước Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Thái Lan sẽ rút ra được những bài học bổ ích cho Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
tế của khu vực châu Á nói riêng đưa Trung Quốc lên vị trí đứng đầu thế giới về FDI Thành công này gắn với những bước đi chiến lược, những chủ trương biện pháp khuyến khích FDI của Trung Quốc và đặc biệt là các quy định về các hình thức đầu tư nước ngoài
Hiện nay, ngoài các hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu ở Trung Quốc là xí nghiệp liên doanh góp vốn, xí nghiệp liên doanh hợp tác, xí nghiệp nước ngoài sở hữu hoàn toàn3, và công ty cổ phần, nhà đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc có thể lựa chọn các hình thức đầu tư khác, bao gồm: chi nhánh công ty nước ngoài tại Trung Quốc, công ty holding company, doanh nghiệp hợp tác phát triển (chính là hình thức hợp tác nghiên cứu và khai thác dầu khí trong đất liền và ngoài khơi tại Trung Quốc), đầu tư thông qua sáp nhập và mua lại, đầu tư theo hợp đồng BOT… Trong giai đoạn đầu mở cửa, hình thức hợp tác kinh doanh là khá quen thuộc với đại đa số người dân, nên nhanh chóng trở thành hình thức phổ biến mặc dù thời gian để tiến hành thành lập doanh nghiệp hợp tác kinh doanh là tương đối dài và kinh nghiệm trong lĩnh vực này của Trung quốc còn yếu Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì tỏ ra e ngại về chủ trương chính sách, sự quản lý của chính phủ đối với hình thức liên doanh và những rủi ro tại thị trường này nên trong giai đoạn đầu
3 Như hình thức 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam
Trang 31hình thức hợp doanh đã phát triển hơn các hình thức khác Tuy nhiên do nhu cầu cải cách nền kinh tế lấy mục tiêu phát triển kinh tế là loại hình hướng ra bên ngoài, kết hợp công thương … nên hình thức liên doanh phát triển và chiếm tỷ trọng hơn Tại các đặc khu kinh tế, các liên doanh có thể mua nguyên liệu và bán thành phẩm, nhiên liệu, phụ tùng và thiết bị cả ở thị trường trong và ngoài nước; lãnh đạo các Đặc khu kinh tế và các liên doanh có quyền thông qua các quyết định về xuất khẩu thành phẩm; thuế ra vào các Đặc khu thống nhất ở mức 15% trong khu đó ở các vùng nội địa là 33% Hình thức 100% vốn trong suốt những năm của thập kỷ 80 phát triển ở mức độ nhỏ nhưng ngày càng phát triển mạnh mẽ sau khi Trung Quốc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật vào các năm 1986, 1990, 1998 khuyến khích đầu tư bằng hình thức này
Bắt đầu từ năm 1995, Trung Quốc tiến hành ban hành Quy chế tạm thời về công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu tư nước ngoài, tạo cơ sở pháp lý cho việc ra đời hình thành hình thức đầu tư này trên toàn quốc Với hình thức này Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào công cuộc cải cách các doanh nghiệp quốc doanh Nhà nước thực hiện đấu giá các doanh nghiệp quốc doanh nhỏ và vừa
Từ năm 1997 trở về đây, tình hình chuyển đổi các hình thức FDI ở Trung Quốc diễn ra theo xu hướng giảm tỷ trọng hình thức liên doanh, gia tăng mạnh hình thức 100% vốn nước ngoài và hợp tác kinh doanh
Năm 2001, Trung Quốc ban hành Hướng dẫn về các vấn đề liên quan đến các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó đưa ra yêu cầu đối với việc chuyển một
xí nghiệp đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần để phù hợp với việc niêm yết cổ phiếu Trong năm này, 62,14% tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp có vốn FDI ở Trung Quốc là của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, trong đó gần 20% là do các doanh nghiệp liên doanh chuyển đổi sang Đến năm 2004, 76,42% vốn đăng ký là thuộc về hình thức xí nghiệp nước ngoài sở hữu hoàn toàn; 18,01%
là hình thức liên doanh; 5,08% là hình thức xí nghiệp liên doanh hợp tác, chỉ có 0,34% thuộc về các công ty cổ phần (xem bảng 1.1) Sự biến động này cũng xuất phát từ các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã rất cố gắng nỗ lực nới lỏng
Trang 32những hạn chế về hình thức đầu tư, áp dụng nhiều hình thức đầu tư nước ngoài khác nhau ngoài các hình thức chủ yếu (như hình thức doanh nghiệp cổ phần, hình thức hợp đồng BOT, mua bán chứng khoán, trái khoán…., cho phép nhà đầu tư được chuyển đổi hình thức đầu tư, tạo cho các nhà đầu tư nhiều cơ hội để lựa chọn các hình thức phù hợp
Bảng 1.1: Các hình thức FDI ở Trung Quốc, 2004
Số lượng hợp đồng Vốn cam kết Vốn thực hiện
Tỷ USD Tỷ trọng Tỷ
USD
Tỷ trọng
Tỷ USD
Tỷ trọng
Xí nghiệp liên doanh góp vốn 11.570 26,50 27,64 18,01 16,39 27,03
Xí nghiệp liên doanh hợp tác 1.343 3,08 7,79 5,08 3,11 5,12
Xí nghiệp nước ngoài sở hữu
hoàn toàn
30.708 70,33 117,28 76,42 40,22 66,34
Nguồn: Hội đồng kinh doanh Trung-Mỹ, Bộ Thương mại Trung Quốc, 2005
Hiện nay Trung Quốc có 4 chế độ đối với đầu tư nước ngoài: khuyến khích đầu tư, cho phép đầu tư, hạn chế đầu tư và cấm đầu tư Nhóm đầu tiên là các ngành cần các công nghệ tiên tiến Các khu vực như chế tạo máy, gia công nguyên liệu, điện tử, công nghiệp nhẹ có thể được hưởng chế độ ưu đãi thuế và tín dụng ưu tiên (trước hết là đầu tư vào miền Trung và miền Tây đất nước) Ưu tiên đầu tư vốn vào việc hiện đại hóa các cơ sở công nghiệp cũ Trung Quốc chú ý đặc biệt đến việc kích thích các công ty xuyên quốc gia đầu tư vốn, xác lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các công ty xuyên quốc gia với các doanh nghiệp nhà nước lớn để phát triển các cơ
sở sản xuất mới, tiếp tục thử nghiệm bán cổ phiếu của các doanh nghiệp có vốn đầu
Trang 33tư nước ngoài, hỗ trợ để nâng cao tỉ lệ góp vốn của phía Trung Quốc trong các liên doanh bằng cách sử dụng các công cụ tài chính khác nhau
Đối với hình thức holding company, từ năm 1994 Trung Quốc đã ban hành Quy định tạm thời về đầu tư và công ty đầu tư bởi các công ty ngoài Tới nay quy định này đã được bổ sung sửa đổi 3 lần, lần sửa đổi cuối cùng diễn ra đầu năm 2003 Các holding company được phép đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, năng lượng và các lĩnh vực khác mà Nhà nước cho phép
Hiện tại, Trung Quốc đang tiếp tục khuyến khích đầu tư theo hợp đồng BOT nhằm khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, bến cảng, cơ sở năng lượng có thời hạn thu hồi vốn dài và tỷ lệ thu hồi vốn không cao
Cùng với các biện pháp đa dạng hóa các loại hình đầu tư, đa dạng hóa chủ đầu
tư để khuyến khích các thương gia nước ngoài đến Trung Quốc, đặc biệt là người Hoa, Hoa kiều và TNCs, Trung Quốc còn tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn và chuyển đổi hình thức phù hợp
1.2.2 Indonesia
Năm 1977, Indonesia quy định tất cả các nhà đầu tư nước ngoài phải chuyển nhượng dần cổ phần cho các doanh nghiệp trong nước để cuối cùng chỉ sở hữu cổ phần thiểu số trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại nước này Từ năm
1986, nguyên tắc trên được nới lỏng và các nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ tới 95% cổ phần của liên doanh trong 5 năm với điều kiện là việc tăng cổ phần của nước ngoài phải làm tăng khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp Chính phủ cho phép các liên doanh có tỷ lệ góp vốn của người Indonesia chiếm từ 75% trở lên được hoạt động dịch vụ phân phối nội địa Người nước ngoài được mua cổ phần trong thị trường vốn Indonesia từ tháng 12 năm 1987 và được tham gia vào những lĩnh vực trước đây cấm như buôn bán, đóng tàu, ngân hàng
Trang 34Từ cuối năm 1998, Indonesia chấp nhận hình thức 100% sở hữu nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực sản xuất và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đủ tiêu chuẩn đề ra được sở hữu 100% vốn trong các ngành bán buôn, bán lẻ Trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng thương mại cũng được phép có 100% sở hữu nước ngoài Đến nay Indonesia không còn quy định tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các ngành như viễn thông, hàng không, thương mại, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ phân phối, cho phép các doanh nghiệp được chuyển đổi hình thức đầu tư
1.2.3 Malaysia
Malaysia là quốc gia được đánh giá rất thành công trong việc thu hút nguồn vốn FDI trong suốt thời gian vừa qua, việc đa dạng hóa các hình thức FDI, cho phép chuyển đổi các hình thức FDI ở Malaysia đóng vai trò then chốt trong “sự bùng nổ
về FDI”4 ở quốc gia này
Khoảng những năm đầu thập kỷ 90 trở về trước, nguồn vốn FDI đổ vào quốc gia này cũng chủ yếu dựa trên các hình thức như doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp sở hữu 100% nước ngoài, với các điều kiện xuất khẩu đối với các dự án đầu
tư mới
Kể từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các chính sách thu hút FDI của chính phủ Malaysia càng trở nên rộng mở hơn, thông thoáng hơn và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ Malaysia đã có một số điều chỉnh tích cực trong chính sách liên quan tới hình thức đầu tư Từ năm 1990, Malaysia cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đối với các dự án xuất khẩu trên 80% Đối với các dự án xuất khẩu từ 50% đến 80% thì doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được thành lập nếu thỏa mãn các điều kiện: vốn cố định tối thiểu 50 triệu RM (khoảng
20 triệu USD) hoặc giá trị gia tăng của dự án tối thiểu 50% và sản phẩm không cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước
Từ năm 1998, Malaysia cho phép hình thức 100% sở hữu nước ngoài trong tất
cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp mà không yêu cầu các điều kiện xuất khẩu đối
4 Johan Olsson, Malaysian Economic Policy and FDI, http://www.geocities.com/timesquare/1848/paper.html
Trang 35với các dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng Hiện nay có thể nói rằng ở Malaysia đang tồn tại rất nhiều hình thức khác nhau của FDI, phù hợp với yêu cầu ngày càng tăng lên của các chủ đầu tư nước ngoài cũng như chiến lược thu hút FDI của chính phủ Mô hình thu hút FDI của Malaysia nhìn chung là khá hiệu quả và có nhiều kinh nghiệm quý báu để chúng ta tham khảo
1.2.4 Thái Lan
Trước khủng hoảng, Thái Lan chỉ cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu 100% sản phẩm có thể được thành lập theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Nhưng đến tháng 10/1998, để đối phó với khủng hoảng, Thái Lan đã ban hành Luật kinh doanh của người nước ngoài mới, cho phép nhà đầu tư nước ngoài
sở hữu 100% vốn đối với các dự án khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư vào những khu vực kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn
Đến tháng 12/1998, Chính phủ Thái Lan tuyên bố cho phép hình thức sở hữu 100% vốn nước ngoài đối với các dự án đầu tư trong sản xuất công nghiệp, không phân biệt địa bàn Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài có thể giữ cổ phần đa số đối với các dự án sản xuất trong tất cả các khu vực đầu tư, có thể nắm giữ toàn bộ cổ phần đối với dự án khuyến khích đầu tư, tuy nhiên ở một số lĩnh vực do nhà nước kiểm soát người nước ngoài chỉ được nắm giữ tối đa 49% cổ phần (các dự án nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, thủy sản, khai khoáng và dịch vụ)
Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn công, Thái Lan không hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần, trừ khi có những quy định hạn chế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công ty hay khống chế tỷ lệ nắm giữ cố phần giữa công dân Thái Lan và người nước ngoài
Các công ty nước ngoài đăng ký chi nhánh để làm kinh doanh ở Thái Lan không phải tuân theo những yêu cầu đặc biệt Tuy nhiên hầu hết các lĩnh vực kinh doanh trước hoặc sau khi hoạt động phải thực hiện một số quy định đăng ký Khi thành lập chi nhánh phải tuân theo một quy trình nhất định, điều này rất quan trọng
Trang 36để cơ quan thuế tính đúng thu nhập chịu thuế bởi vì cơ quan thuế Thái Lan coi tổng thu nhập của công ty nước ngoài thu được ở Thái Lan đều là diện chịu thuế
Có thể thấy rằng, sự kết hợp một cách khéo léo giữa mục tiêu công nghiệp hóa và thu hút đầu tư nước ngoài tại Thái Lan bằng các chính sách thu hút FDI năng động và liên tục được điều chỉnh để thích nghi với từng thời kỳ phát triển của đất nước đã đem lại cho Thái Lan những thành công nhất định trong việc thu hút FDI
Bài học kinh nghiệm
Việc phân tích một cách khách quan những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của bối cảnh kinh tế thế giới, những thành công và thất bại trong việc chuyển đổi các hình thức FDI của các nước giúp Việt Nam có những chính sách phù hợp góp phần thu hút và phát triển FDI tại Việt Nam
Qua nghiên cứu cho thấy, các Luật đầu tư của các nước ngày càng được thông thoáng hơn và có tính cạnh tranh hơn, kèm theo đó là ngày càng ưu đãi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài Ở cả 4 nước, hình thức đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài được tạo điều kiện phát triển, nhà đầu tư được phép tiến hành chuyển đổi hình thức đầu tư 4 nước đều không công nhận chi nhánh là một tổ chức kinh doanh độc lập
mà là một phần của công ty nước ngoài, nên nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản lỗ của chi nhánh Doanh nghiệp liên doanh, 100% vốn nước ngoài, hợp doanh, mô hình công ty mẹ con được thừa nhận ở cả 4 nước Hình thức sáp nhập và mua lại (M&A) phổ biến ở các nước dưới dạng hợp nhất, mua cổ phần của một công ty hay mua tài sản của một doanh nghiệp Tuy hình thức FDI được quy định tương đối giống nhau ở các nước nhưng ở từng nước giới hạn về sở hữu và lĩnh vực ngành nghề cho phép đầu tư nước ngoài tham gia có khác nhau, tùy theo định hướng thu hút FDI của mỗi nước
Qua nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra 1 số bài học kinh nghiệm như sau:
- Đa dạng hóa các hình thức đầu tư phù hợp với xu hướng mở cửa thị trường đầu tư và tự do hóa đầu tư nước ngoài, đồng thời việc chuyển đổi các hình thức đầu tư theo hướng đơn giản, giảm bớt các thủ tục
Trang 37- Nới lỏng những hạn chế về sự tham gia của vốn nước ngoài trong 1 số lĩnh vực, giảm bớt các ngành trong danh sách hạn chế sở hữu 100% vốn nước ngoài Cung cấp ưu đãi về thuế, thiết lập các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao với những cơ chế đặc biệt ưu đãi Nới lỏng những quy định về tỷ lệ tối đa của nước ngoài trong 1 số ngành, lĩnh vực đặc biệt theo những điều kiện nhất định (Thái Lan nếu xuất khẩu trên 80% thì có thể sở hữu 100% vốn, trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệp, khai khoáng và mỏ thì tối đa là 40% )
- Khuyến khích đầu tư của các TNCs nhằm tìm kiếm lợi ích chung, vừa cạnh tranh vừa hợp tác để thu hút các yếu tố sản xuất như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý kinh doanh Do mục tiêu của TNCs là chiếm lĩnh thị trường
do vậy cần quan tâm nhiều đến hệ thống luật pháp an toàn, sự nhất quán về chính sách với những quy định và hướng dẫn rõ ràng, đặc biệt trong các chính sách ưu đãi về tài chính
- Coi trọng việc bảo hộ lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc khuyến khích mở cửa thị trường, ký kết các hiệp định đảm bảo đầu tư, giảm hạn chế đầu tư, ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng và dịch vụ… Tăng cường các ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp với tỷ lệ, thời hạn và điều kiện áp dụng khác nhau
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI CÁC HÌNH THỨC FDI Ở
VIỆT NAM 2.1 Chính sách về các hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức FDI của Việt Nam
Trong những năm qua, với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhờ vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở khuyến khích các hình thức đầu tư 1 cách hợp lý, không ngừng tạo các kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng việc đa dạng hoá các hình thức đầu tư và tạo thuận lợi trong việc chuyển đổi các hình thức đầu tư Chủ trương ấy được thể hiện qua việc tích cực sửa đổi và bổ sung Luật đầu tư nước ngoài (các năm 1990, 1992, 1996, 2000), Luật đầu tư năm 2005 và các văn bản, nghị định hướng dẫn của chính phủ Theo đó, các quy định pháp lý về hình thức đầu tư và việc chuyển đổi các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam có những biến đổi đáng kể qua các giai đoạn, dần dần hoàn thiện về khuôn khổ pháp lý cũng như nội dung hoạt động
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1993
Tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc Hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua quy định nhà đầu tư nước ngoài được kinh doanh theo 3 hình thức là: hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
Luật này quy định xí nghiệp liên doanh chỉ có hai bên là Bên Việt Nam và Bên nước ngoài, trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân muốn hợp tác đầu tư dưới hình thức này thì phải thỏa thuận lại thành một Bên nước ngoài và một Bên Việt Nam để liên doanh với nhau Luật này cũng tạo nhiều ưu đãi đối với các xí nghiệp liên doanh hơn so với xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
Tháng 6 năm 1990, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra một số nội dung mới như cho phép tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam có tư cách pháp nhân được trực tiếp hợp tác kinh doanh với nước ngoài (thông qua việc ký hợp đồng hợp tác kinh doanh và hoặc liên doanh) trong
Trang 39lĩnh vực và điều kiện mà Chính phủ quy định và bổ sung thêm hình thức hợp tác nhiều bên
Tháng 12 năm 1992 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài đã tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý đối với ba hình thức đầu tư nước ngoài như cho phép các tổ chức, các nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam xây dựng các công trình hạ tầng có thể ký kết hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam và lần đầu tiên cho phép doanh nghiệp tư nhân được đứng độc lập thành Bên Việt Nam trong hợp tác đầu tư với nước ngoài Luật này cũng cho phép các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng ưu đãi thuế như xí nghiệp liên doanh, bãi bỏ chính sách khuyến khích theo hình thức đầu tư
2.1.2 Giai đoạn từ 1993-2000
Ngày 23/11/1993 bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định 87/CP quy định
về Quy chế đầu tư theo hình thức BOT áp dụng đối với đầu tư nước ngoài
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 bổ sung thêm hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng chuyển giao và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO,
BT trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định
Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 đã đưa ra quy định cho phép các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh bắt đầu được chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của mình Đối với doanh nghiệp liên doanh, Luật cho phép các bên tham gia liên doanh có quyền chuyển nhượng giá trị phần vốn của mình trong doanh nghiệp liên doanh nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các bên tham gia liên doanh; bổ sung thêm phương thức góp vốn của Bên nước ngoài, theo đó, Bên nước ngoài tham gia doanh nghiệp liên doanh được góp vốn pháp định bằng tiền Việt Nam có nguồn gốc
từ đầu tư tại Việt Nam Luật cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam để thành lập doanh nghiệp liên doanh, doanh
Trang 40nghiệp liên doanh được hợp tác với tổ chức kinh tế Việt Nam để thành lập liên doanh mới
Đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Luật cho phép được chuyển nhượng vốn của mình nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các doanh nghiệp Việt Nam và nới lỏng các điều kiện quy định đối với hình thức doanh nghiệp 100% nhằm tăng cường thu hút vốn vào Việt Nam
2.1.3.Giai đoạn từ 2000- nay
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài được phê chuẩn năm 2000 đã cho phép mở rộng diện đối tượng được tham gia thành lập doanh nghiệp liên doanh với với việc đưa ra khái niệm “doanh nghiệp liên doanh mới” Theo đó, doanh nghiệp liên doanh mới là doanh nghiệp được thành lập giữa doanh nghiệp liên doanh đã được thành lập tại Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp Việt Nam; cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Luật Đầu tư nước ngoài (2000) cũng đã thừa nhận hoạt động chia tách, sáp nhập hợp nhất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh và cho phép các doanh nghiệp này được chuyển đổi hình thức đầu tư Trong đó chính phủ quy định về điều kiện, thủ tục chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp
Tại nghị định 24/2000/NĐ-CP thì việc chia tách, sáp nhập, chuyển đổi hình thức đầu tư đối với các dự án FDI phải được chính phủ cấp phép đầu tư chuẩn y trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ Còn khi tiến hành chuyển nhượng doanh nghiệp chỉ cần đăng ký với cơ quan cấp phép đầu tư và sẽ được điều chỉnh giấy phép trong vòng 15 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ đăng ký Theo nghị định này thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên hợp doanh thực hiện
dự án đầu tư không thuộc lĩnh vực có điều kiện về hình thức đầu tư được chuyển đổi hình thức