mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục và Đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, b
Trang 10 - ^
Vw-ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
KHOA SƯ PH Ạ M 03 *8 3
D O Ã N K IM C H U N G
MỘT SÔ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DUC
ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HẢl PHÒNGm
LUẬN VĂN THẠC s ĩ QUẢN L Ý GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PG S.TS N G U YÊN T IẾ N ĐẠT
Trang 21.1 Khái niệm giáo dục, dạy học và quá trình dạy học 5
2.3 Đánh giá chất lượng giáo dục hiện nay ở các Trường THPT Hải 67Phòng
Chương 3: M ột sỏ biện pháp quản lý quá trình dạy học nhằm 73nâng cao chất lượng giáo dục ở Trường TH PT Hải Phòng trong
giai đoạn hiện nay
Trang 4mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục và Đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã nêu rõ nhiệm vụ "tiếp tục nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý Giáo dục và Đào tạo, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá Giáo dục”
Đã có ở nước ta các nghiên cứu khá rộng và sâu về đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học (trong Dự án với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới thực hiện tại Đại học Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo) và đảm bảo chất lượng đào tạo trong Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề (trong Dự án với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu á thực hiện tại Tổng cục dạy nghề) Chưa có nghiên cứu ở mức độ như vậy trong Giáo dục phổ thông, những vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượng Giáo đục
Vai trò của quản lý là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo; thực trạng vấn đề dạy và học của các trường trung học phổ thông hiện nay nói chunc và của các Trườns THPT Hải
Trang 5Phòng nói riêng và thực trạng vấn đề quản lý quá trình dạy học của các trường THPT Hải Phòng đòi hỏi công tác quản lý cần được tăng cường.
Do yêu cầu đổi mới của đất nước, chất lượng Giáo dục ở các trường THPT hiện nay nói chung và ở các trường THPT Hải Phòng nói riêng cẩn được nâng cao hơn nữa thông qua các biện pháp quản lý
Do đó việc nghiên cứu một số biện pháp quản lý quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục ở trường THPT trong tình hình ở Hải Phòng là một công việc cần thiết làm đề tài luận vãn và hi vọng sẽ là một phần đóng góp nhỏ cho việc nghiên cứu nâng cao chất lượng Giáo dục ở các trường trung học phổ thông
2 M ục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục ở trường trung học phổ thông nội thành Hải Phòng trong tình hình hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn quản lý quá trình dạy học ở các trường THPT nội thành Hải phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý quá trình dạy học ở các trường THPT nội thành Hải phòng trong việc nâng cao chất lượng Giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện tốt một số biện pháp quản lý quá trình dạy học được đề xuất trong luận văn thì chất lượng Giáo dục ở trường THPT Hải Phòng sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận của công tác quản lý quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục phổ thông
5.2 Đánh giá thực trạng quá trình dạy học và công tác quản lý quá trình dạy học ở các trường THPT nội thành Hải Phòng;
Trang 65.3 Đề xuất một số biện pháp chủ yếu của công tác quản lý quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục ở các trường THPT nội thành Hải Phòng.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu ỉý luận thông qua các tài liệu;
6.2 Các phương pháp nghiên cứu tình hình thực tiễn thông qua khảo sát thực
tế một vài trường THPT cône lập nội thành Hải Phòng;
6.3 Các điều tra thăm dò ý kiến về sự đánh giá các biện pháp quản lý quá trình dạy học;
6.4 Xin ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý về đánh giá thực trạng quá trình dạy học và quản lý quá trình dạy học ở trường THPT;
6.5 Tổng kết kinh nghiệm bản thân và đồng nghiệp;
6.6 Thống kê và xử lý thông tin
7 Giới hạn nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu : Một số biện pháp quản lý quá trình dạy học (không phải toàn bộ công tác quản lý của trường)
- Phạm vi khảo sát : ba trường trung học phổ thông công lập nội thành Hải Phòng
- Thời gian sử dụng biện pháp : 2005 - 2010
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài làm sáng tỏ vai trò của công tác quản lý quá trình dạy học - yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục THPT và góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành Giáo dục và Đào tạo Hải phòng
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý quá trình dạy học của Ban giám hiệu trong các trường THPT
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết kuận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn cấu trúc gồm 3 chương :
Trang 7- Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản lý quá trình dạy - học và chất lượng Giáo dục ở các trường THPT.
- Chương 2 : Thực trạng dạy - học và quản lý quá trình dạy - học ở các trường THPT Hải Phòng
- Chương 3 : Một số biện pháp quản lý quá trình dạy - học nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục ở các trường THPT nội thành Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
Trang 8CHƯƠNG 1
CỞ SỞ L Ý LU Ậ N V Ể QUẢN L Ý QUÁ T R ÌN H D Ạ Y H Ọ C VÀ
C H Ấ T LƯ Ợ N G G IÁO DỤC ở TRƯ Ờ N G TRU N G H Ọ C
PH Ổ THÔNG (T H P T )
1.1 KHÁI NIỆM GIÁO DỤC, DẠY HỌC VÀ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.1.1 Giáo dục, Giáo dục phổ thông và trung học phổ thông, dạy học và quá trình dạy học
1.1.1.1 Giáo dục
Giáo dục sinh tồn và phát triển cùng với sự tồn tại của lịch sử loài người duy trì và bảo tồn, phát triển sáng tạo với sự tồn tại của lịch sử loài người đã tích luỹ được, thực hiện chức năng xã hội, chức năng kinh tế, chính trị và chức năng tư tưởng văn hoá Giáo dục là tất yếu vĩnh hằng của xã hội loài người, ở đâu có con người, ở đó có Giáo dục, ở đâu còn con người thì còn có sự truyền đạt những kinh nghiệm của xã hội loài người Giáo dục được hiện thực bằng nhiều con đường, trong đó con đường quan trọng nhất là tổ chức, quản lý quá trình dạy - học Đó là con đường ngắn nhất chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm
đã tích luỹ được của loài người
Bất kỳ một chế độ xã hội nào, một thời đại nào cũng phải xây dựng một nền Giáo dục, để đào tạo những con người phù hợp với chế độ xã hội ấy Giáo dục là môi trường chủ yếu, tốt nhất để chuyển tải những tư tưởng thống trị xã hội Thông qua việc truyền thụ kiến thức mà Giáo dục nhân cách cho con naười, để hình thành một đội ngũ những nhà sáng chế, những nhà quản lý với những người lao động phục vụ cho một chế độ xã hội, để xây dựng củng cố, phát triển bền vững của chế độ xã hội Theo Các Mác, "trong tính hiện thực của nỏ con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội", có nghĩa con người là sản phẩm của tất cả các mối quan hệ xã hội nói chung trong đó Giáo dục là
Trang 9quan hệ chủ yếu để hình thành nhún cách, trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức phát triển trí tuệ và các phẩm chất khác Con người có đủ năng lực của bản thân có năng lực để tiếp thu những tri thức nhân loại, biến những tri thức chung của xã hội loài người thành của bản thân có năng lực phát triển và sáng lạo ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội Như vậy, Giáo dục với tư cách là một bộ phận của xã hội có nhiệm vụ đào tạo ra thế hệ trẻ cho hiện tại và tương lai của dân tộc, của loài người.
Quá trình hình thành nhân cách ở mỗi con người là một quá trình lâu dài, bởi vì con người mới sinh ra phải tiếp nhận sự tác động của môi trường tồn tại của thế giới vật chất, của nhà nước pháp luật, tôn Giáo, khoa học, nghệ thuật phong tục và các sinh hoạt khác Đối với trẻ em mới sinh ra, văn hoá là một thế giới đã chuẩn bị sẵn để nó bước vào Nó phải học tập để nắm vững các kiểu mẫu, các sinh hoạt theo phương thức ứng xử mô hình thiết chế của thế giới đó Khoa học đã chứng minh: khi sinh ra, đứa trẻ chỉ là một cơ thể sinh học có hàng loạt các thuộc tính tiềm năng Quá trình Giáo dục sẽ phát triển các thuộc tính tiềm năng ấy làm cho cơ thể sinh vật trở thành người - Một thực thể trí tuệ có khả năng lao động sáng tạo Một đứa trẻ nếu không được học ăn, học nói, học ứng xử, học kiến thức, thì nó không thể nào thích ứng được với cuộc sống hiện tại với đủ bản lĩnh tri thức cho tương lai Người ta gọi quá trình dạy và học ấy là quá trình văn hoá cá nhân, qua đó hình thành nên những kiểu nhân cách riêng khác nhau
Như vậy, Giáo dục với tư cách là quá trình văn hoá góp phần quan trọng hình thành nhân cách ở mỗi con người, để cho con người thích ứng được với cuộc sống cộng đồng Mỗi nền văn hoá sẽ hình thành một thế hệ nhân cách riêng phù hợp với nền văn hoá ấy Quá trình hình thành nhân cách ở mỗi con người là quá trình học tập, tiếp cận với văn hoá Văn hoá Giáo dục sẽ tạo cho con người khả năng tự giác hoạt động trong nền văn hoá ấy Quá trình Giáo dục tạo cơ sở hình thành những thành viên mới của xã hội, dạy cho họ ứng xử
Trang 10như thế nào và làm gi để đạt mục đích chủ yếu, cơ bản của cuộc sống để tồn tại và phát triển.
Sự phát triển của con người là một quá trình phức tạp Quá trình đó diễn ra dưới ảnh hưởng của những tác động bên ngoài cũng như của nội lực là những cái vốn có của con người đang song và trưởng thành
Trong điều kiện Giáo dục ở trường lớp có hệ thống quá trình đó xảy ra
từ giản đơn đến phức tạp, từ thấp tới cao, từng bước hình thành nên phẩm chất, năng lực cá nhân phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nhân cách cá nhân được hình thành, phát triển phù hợp với thực tiễn hôm nay và yêu cầu của ngày mai Luật Giáo dục nước ta đã nêu mục đích của quá trình này như sau : Giáo dục phải đảm bảo cơ bản, toàn diện, thiếtthực, hiện đại và có hệ thống: bảo tồn và phát huy truyền thống tốt dẹp bản sắc vãn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại” [26, tr.9]
Giáo dục rèn luyện con người một cách có kế hoạch , có tổ chức, có định hướng với việc lựa chọn những phương tiện, phương pháp, hình thức tổ chức để thực hiện những mục đích đã đề ra một cách có hiệu quả
Hình thành nhân cách toàn vẹn phải có quá trình tác động có mục tiêu,
có tổ chức, có kế hoạch Quá trình này diễn ra theo thiết chế trường, lớp của
hệ thống Giáo dục quốc dân
Mục đích của Giáo dục là hình thành và hoàn thiện nhân cách con người, lạo nhân lực cho xã hội có đầy đủ phẩin chất trí tuệ và bồi dưỡng nhân tài
Ở nhà trường, quá trinh Giáo dục thông qua dạy học được cụ thể hoá thành mục tiêu cho các cấp độ nhà trường, bậc học, cấp học, ngành học với những chỉ tiêu kiến thức văn hoá, đạo đức, sức khoẻ, phù hợp với nội dung, phương pháp của các cấp độ thể hiện ở sách Giáo khoa, Giáo trình; phương pháp dạy của thầy Giáo, tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, lònơ say mê và ý chí vươn lên của người học
Trang 11Do vây, quá trình dạy học có bản chất là sự truyền đạt và lĩnh hội sáng tạo những kinh nghiệm và những tri thức cùa lịch sử cho các thế hệ kế tiếp Giáo dục là quá trình giúp cho mỗi cá nhân tích luỹ kiến thức, mở mang trí tuệ, hình thành nhân cách, phẩm chất trí lực, để bảo tồn, phát triển văn minh của cá nhân, của tập thể, của xã hội và của nhân loại Do vậy Giáo dục đồng nghĩa với sự chọn lọc, phát triển văn minh nhân loại, Giáo dục để loại bỏ thói
hư, tật xấu, cái cổ hủ lạc hậu, tiếp trong cái tốt, cái hay, cái mới vãn minh phát triển
Giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu được của xã hội loài người, dạy học ở nhà trường là sự khởi đầu tạo nên chất kết dính cá nhân với cá nhân thành một cấu trúc của tổng hợp nhân cách chung
Chính nhờ có Giáo dục mà các đi sản tinh thần vật chất của thế hộ trước được truyền lại cho thế hệ sau Các di sản này được tích luỹ ngày càng phong phú
1.1.1.2 Giáo dục p h ổ thông và trung học p h ổ thông
Giáo dục là một phạm trù khoa học xã hội nhằm xây dựng, hình thành, phát triển nhân cách gồm phẩm chất, nỗ lực cá nhân ở những cấp độ khác nhau để cá nhân hoà nhập cộng đồng, xã hội nhằm để lĩnh hội và đảm nhận một hoạt động thực tiễn, một công việc nhất định, có hiệu quả cao, tốt đẹp và phát triển Nói về vai trò của Giáo dục phổ thông, Lê nin đã từng tâm sự : “ Thú thật rằng, việc xây dựng vài ba trường cấp một ở nông thôn hẻo lánh làm tôi thích thú hơn là một hiện vật tuyệt mỹ irong một cuộc triển lãm Sự phát triển học vấn phổ thông của quần chúng sẽ tạo nên miếng đất vững chắc và lành mạnh, trên đó sẽ lớn lên những lực lượng hùng hậu và vô tận cho nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật phát triển”.[ 14,tr.291,292] Đảng ta đã xác định
“Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương lai của dân tộc, nó phải đạt cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự nghiệp phát triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách Giáo dục nhấn mạnh “ Giáo dục phổ thông có nhiệm vụ Giáo
Trang 12dục cho học sinh đạt trình độ văn hoá phổ thông tương đối hoàn chỉnh, có năng lực làm các loại lao động phổ thông, có ý thức lựa chọn nghề, sẵn sàng
đi vào học nghề và tham gia lao động sản xuất, tham gia công tác xã hội hoặc học lên”
Luật Giáo dục chỉ rõ “Giáo dục phổ Ihông giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong hệ thống Giáo dục phổ thông thì “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [26,tr.l7]
Giáo dục THPT là cấp học “Bản lề” của hệ thống Giáo dục quốc dân,
nó là cầu nối giữa Giáo dục phổ thông với Giáo dục nghề nghiềp, và Giáo dục Đại học Nhà trường phổ thông mà đối tượng của nó là các thế hệ thanh niên sắp bước vào đời, đã và đang tạo nguồn đáng kể cho đào tạo nhân lực ở trình
độ cao phục vụ cho cộng đồng và công cuộc xây dựng đất nước hưng thịnh Chất lượng Giáo dục phổ thông, do đó phải đảm bảo vững chắc cho việc tạo ncn chất lượng nguồn lực, đồng thời cho việc Giáo dục lien tục, là cầu nối, là bước trung gian vô cùns quan trọng giữa các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời học và hành của mỗi con người
Với vị trí, vai trò của Giáo dục phổ thông nói trên, trước những đòi hỏi ngày càng cao của công việc xây dựng đất nước trong thế kỷ X X I, ngành Giáo dục - Đào tạo đã triển khai thực hiện “đề án đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông”nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trang 13đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu của người học, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ Giáo đục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới”[10,tr.l40] Trước yêu cầu đổi mới đó, trách nhiệm của đội ngũ Giáo viên càng nặng nề và vẻ vang hon, chất lượng đội ngũ Giáo viên phải được tăng lên đáp ứng yêu cầu đổi mới của Giáo dục phổ thông
1.1.13 Dạy học
Dạy học là những hoạt động giao tiếp mang ý nghĩa xã hội bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Chủ thể của hoạt động dạy là thầy Giáo, cô Giáo và chủ thể của hoạt động học là học sinh, đó là hai hoạt động khác nhau nhưng không phải là đối lập nhau, mà có sự thống nhất cao của hai mặt để cùng hướng tới mục đích
Hoạt động của thầy Giáo, cô Giáo là truyền thụ tri thức, tổ chức điều khiển, hướng dẫn, uốn nắn hoạt động chiếm lĩnh tri thức cho học sinh Vai trò của người thầy là người dẫn dắt, dẫn đường, là người đồng hành với học sinh trên con đường chiếm lĩnh tri thức tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa người dạy
và người học
Hoạt động học của học sinh là quá trình nhận thức, nó trở nên có ý nghĩa và kết quả khi nó là tự giác, tính cực, nỗ lực, hoạt động học không chỉ dừng lại ở việc nhắc lại, lặp lại bài học, hành vi mà hơn thế nó còn là sự tái tạo cho bản thân, sáng tạo trong tư duy, biết sử dụng và điều khiển tri thức trong quá trình lĩnh hội và chiếm lĩnh khoa học Dạy và học là hai hoạt động của một quá trình dạy học có mối quan hệ chặt chẽ thống nhất với nhau Kết quả học tập của học sinh không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt động dạy Không thể tách rời kết quả học tập của trò trong việc đánh giá kết quả của thầy, bởi vì: Nếu như, hoạt động dạy là việc tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách thì trong hoạt động học, học sinh tiếp nhận khái niệm khoa học, tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khoa học dưới sự điều khiển của thầy
Trang 14Nếu như dạy là hoạt động tổ chức điều khiển sự học tập của học sinh giúp học sinh nấm vững kiến thức hình thành kỹ nàng, hình thành nhân cách, thì hoạt động học sẽ đạt ba mục đích trí dục (nắm vững tri thức), phát triển (tư duy và nâng lực hoạt động irí tuệ), Giáo dục (hình thành thế giới quan khoa học, nhân cách - phẩm chất và đạo đức ).
Nếu như, hoạt động dạy là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học, thì hoạt động học là lĩnh hội và tự điều khiển
Nếu như hoạt động dạy theo chương trình nội dụng quy định thì hoạt động học phải tuân thủ, thực thi theo toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học; cấu trúc “lô gíc” của môn học;các phương pháp đặc trưng của khoa học tạo nên môn học; ngôn ngữ của khoa học; ứng dụng hiểu biết vào học tập và lao động
Nếu như hoạt động dạy theo phương pháp định chế của nhà trường và sự thích ứng sáng tạo của thầy, cô Giáo thì hoạt động học phải đổng thời có phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh biến thành học vấn của bản thân
Dạy học là hai hoạt động có sự thống nhất chặt chẽ, có mối liên hệ hữu
cơ giữa thầy và trò, giữa truyền thụ và lĩnh hội, giữa dạy - học và kết quả dạy học hiện tại là hiệu quả trong tương lai
Mục tiêu của dạy học gắn liền với mục đích môn học, bài học Người ta thường nói mục tiêu chung của dạy học là trang bị cho người học tri thức - kỹ năng - thái độ và các giá trị Mục đích chuyên biệt đưa ra yêu cầu cụ thể cho hoạt động của Giáo viên và của học sinh với từng nội dung, từng chủ đề nhận thức Đó là mục tiêu trực tiếp được tính toán xây dựng trên cơ sở đặc điểm cụ thể của môn học, đặc điểm đối tượng học sinh Mục đích dạy học được thông qua việc thực hiện mục tiêu của bài học, môn học
Ị ỉ 1.4 Quá trình dạy học
Dạy học là một quá trình hệ toàn vẹn có sự thống nhất hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học Đó là quá trình vận động và phát triển, được biểu hiện thông qua sự vận động và phát triển của các yếu tố tạo
Trang 15nên quá trình dạy học Hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác, sự tương hỗ của hoạt động dạy và hoạt động học, do đó quá trình dạy học “Là một quá trình bộ phận, một phương tiện để trao đổi học vấn, phát triển năng lực và Giáo dục phẩm chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có
hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ nãng nhận thức và thực hành”.[40,tr.25] Nói cách khác quá trình vận độns kết hợp các hoạt động dạy
và học để thực hiện được các nhiệm vụ dạy học
Trong quá trình dạy học, người dạy chủ định lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nội dung, phương pháp, lựa chọn phương tiện, hình thức tổ chức cũng như chuẩn kiến thức trong đánh giá Người học dựa trên các cơ sở kiến thức trước đó, phát huy thực hiện các thao tác tư duy để chiếm lĩnh tri thức khoa học nhằm nâng cao chất lượng kiến thức của mình lên một trình độ mới
Quá trình dạy học gắn liền với quá trinh Giáo dục c ả hai quá trình đó đều bước tới một mục tiêu chung là phát triển nhân cách toàn diện của học sinh
Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: Nội dung, hoạt động dạy và hoạt động học Các thành tố này tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ dạy học nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học
Nội dung là đối tượng lĩnh hội của học sinh Nó là một yếu tố khách quan, quyết định lôgíc của bản thân quá trình dạy học về mặt khoa học
Hoạt động học là quy định lôgíc của quá trình dạy học về mặt lý luận dạy học Nghĩa là trình độ trí dục và quy định lĩnh hội của học sinh có ảnh hườn2 quyết định đến việc tổ chức quá trình dạy học Nó bao gồm hai chức nãng thống nhất với nhau : lĩnh hội và tự điều khiển
Hoạt động dạy gồm hai chức năng: truyền đạt và tự điều khiển luôn tưong tác và thống nhất với nhau Dạy phải xuất phát từ lôgíc khoa học của khái niệm và lôgic sư phạm của tâm lý lĩnh hội
Trang 16Quá trình dạy học là quá trình điều khiển, lự điều khiển và có thể điều khicn được, là một công nghệ sư phạm đặc biệt của phương pháp truyền dẫn tri ihức và phương pháp hấp Ihụ nó một cách có hiệu quả irong sự tương tác thầy và trò ( dạy và học).
1.1.2 Bản chất của quá trình dạy học
Dạy là hoạt động của thầy Giáo , một loạt các công việc: tổ chức, thiết
kế, chỉ đạo điều khiển việc lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng, hướng dẫn cho học sinh đường lối, cách thức, phương pháp, phương tiện tiếp thu kiến thức, tự học và hoạt động trí tuệ cho học sinh nhận thức, là quá trình giúp học sinh chiếm lĩnh trí thức
Học là hoạt động mà học sinh nhằm thu nhận, gia công, lưu giữ và vận dụng các tri thức, là quá trình nhận thức diễn ra trong những điều kiện đặc thù Bản chất của hoạt động học là quá trình tiếp nhận kiến thức dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của thầy nhằm biến đổi, phát triển, nâng cao giá trị, tăng thêm nội lực, hình thành nhân cách người học, tạo nên giá trị của con người, giá trị
đó vừa có tính cá biệt, vừa cơ bản, vừa có tính phổ biến, vừa có tính cá nhân, vừa có tính xã hội
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức tự giác, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ (có nghệ thuật, truyền cảm) của Giáo viên, là quá trình có tính hai mặt: dạy và học, gắn bó mật thiết với nhau
Bản chất của quá trình dạy học thể hiện tính thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học, sự thống nhất biện chứng (mật thiết, hữu cơ) giữa các yếu tố của quá trình dạy học trong quá trình triển khai hoạt động dạy học
Lê Nin đã từng khái quát quá trình nhận thức của loài người như sau:"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
Nhận thức của học sinh cũng phải trải qua nhũng cấp độ từ đơn giản đến phức tạp chứa đựng nội hàm của logic không hẫng hụt, không tạo nên lỗ hổng
Trang 17trong nhận thức trong tri thức Đó là nhận biết - hiểu - vận dụng - phân tích - tổng hợp - đánh giá.
Quá trình “tổng hợp - đánh giá”, là quá trình “tư duy trừu tượng đến thực tiễn” vừa kết thúc một chu trình nhận thức, vừa mở ra một chu trình mới Nó khảng định khả năng tiềm ẩn của con người irong sự thích ứng, giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống, quá trình hoạt động cụ thể nẩy sinh, đặt ra Đây cũng là thực tiễn đặt ra trong dạy học cần phải tăng cường và kết hợp tốt hơn học với hành, sách vở, truyền thụ lý thuyết, bục giảng với vận hành trong đời sống thực tế
Quá trình nhận thức của học sinh chủ yếu diễn ra trong điều kiện sư phạm: thầy lên lớp có nội dung quy định, có sự lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học Hoạt động tương tác thầy truyền đạt, điều khiển Trò lĩnh hội, tự điều khiển, tự lĩnh hội
- Thầy Giáo tạo tình huống có vấn đề , tạo sự hưng phấn, sự hoài nghi cho học sinh
- Thầy Giáo tổ chức, điều khiển học sinh nắm tri thức mới
- Thầy Giáo tổ chức, điều khiển học sinh củng cố kiến thức vừa học, rèn luyện kỹ năng
- Học sinh được kiểm tra đánh giá, tự đánh giá kết quả học tập
- Học sinh tự phân tích kết quả, trao đổi, xin ý kiến thầy Giáo để hoàn thành kiến thức, hoàn thiện nhiệm vụ học tập
Như vậy, dưới sự tổ chức hướng dẫn của thầy Giáo, học sinh đã tiếp nhận được những kiến thức mới chứng tỏ trong vốn nhận thức của họ, những kiến thức đã được khám phá bởi sự tìm tòi, sáng tạo của các nhà nghiên cứu Con đường nhận thức của học sinh khônơ phải là sự lặp lại con đường đi tìm chân lý của thế hệ trước mà dưới sự chỉ đạo của thầy Giáo, học sinh đi đến đích bằng con đường ngắn nhất, chắc chắn đốn đích nhận thức của khái niệm
Trang 18khoa học Học sinh qua hoạt động học tập đã dần dần trưởng thành, tiếp nhận
và biến kiến Ihức chung của loài người Ihành kiến thức của bản thân
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn mà các thành tố của nó luôn luôn
tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thám nhập vào nhau, quy định
lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:
- Giữa dạy và học; giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy; giữa lĩnh hội và tự điều khiển trong học
Nội dung là điểm xuất phát của dạy, lại là điểm kết thúc của học
Quá trình dạy học là một hoạt động cộng đồng, hợp tác giữa các chủ thể:
thầy - cá thể học sinh - nhóm học sinh, học sinh - học sinh trong nhóm Sự tương tác theo kiểu cộng đồng hợp tác giữa dạy và học là yếu tố duy trì và phát
triển sự thống nhất toàn vẹn của quá ưình dạy học, của chất lượng dạy học
S ơ ĐỔ 1 : CÂU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÓ T H Ể DIÊN
TẢ TRỰC QUAN BANG s ơ Đ ổ SAU :
1.1.3 Sự thông nhất biện chứng của hoạt động dạy và học
Trang 19Dạy và học là một hệ thống toàn vẹn, thống nhất biện chứng, là quy luật
cơ bản của quá trình dạy học Nó phản ánh mối liên hệ tất yếu, chủ yếu và bền vững giữa hai thành tố trung tâm, đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá trình dạy học: Dạy và học là sự tương tác qua lại tích cực giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học
Sự tác động qua lại giữa hoạt động dạy và hoạt động học được phản ánh tập trung trong quá trình tổ chức và điều khiển, tự tổ chức và tự điều khiển trong hệ thống “thầy - trò” và hệ thống “trò và tài liệu học tập”
Quá trình tổ chức, điều khiển và tự tổ chức điều khiển trong hoạt động dạy học thường diễn ra theo cơ chế Algorit :
- Thứ nhất, phát lệnh
- Thứ hai, thực hiện lệnh
- Thứ ba, thu tín hiệu ngược
- Thứ tư, phát lệnh bổ sung
- Thứ năm, phân tích và đánh giá kết quả cuối cùng:
Như vậy có thể coi như một chu trình dạy học đã hoàn thành, một chu trình dạy học mới lại bắt đầu từ lúc xây dựng tình huống có vấn đề mới nhưng
ở trạng thái cao hơn, trình độ mới cao hơn
SO Đ ổ 2 : CHU T R ÌN H DẠY HỌC TOÀN VẸN THỐNG NHẤT
^ Phát lệ n h ► Thực hiện lện h ► T h u tín hiệu phản hồi
- Đánh giá M -Phát lệnh bổ sung*
Hệ thống dạy và học là hệ thống hoạt động quyết định sống còn của trường học, luôn tồn tại, được tiến hành đồng thời cho nhau, vì nhau Trong nhà trường không có dạy thì không có học, không có học thì sự dạy sẽ trở nên
Trang 20vô nghĩa Dạy và học là sự hoạt động thống nhất của việc truyền thụ kiến thức của thầy và sự tiếp nhận, vận dụng kiến thức đó của học sinh Kết quả học tập của học sinh thấp không có nghĩa năng lực của học sinh vếu kém mà người thẩy cũng phải chia sẻ trách nhiệm, kết quả đó còn biểu hiện kết quả tổ chức, chỉ đạo lớp học của người thầy cho hoạt động tích cực học tập còn thấp Cũng như vậy, nếu kết quả học tập của học sinh khá khồng chỉ việc thầy dạy tốt mà còn thể hiện sự nỗ lực, cô' gắng, vươn lên của học sinh (“không thầy đố mày làm nên” nhưng thầy giỏi đến mấy, truyền thụ xong cho học sinh, học sinh không nỗ lực thì học sinh sẽ không có kiến thức nào).
Dạy và học là hệ thống hoạt động thống nhất biện chứng còn bởi sự quy định lẫn nhau của các hoạt động này cả về nội dung lẫn hình thức “Tấm gương sáng của thầy không chỉ là sự mẫu mực trong cách sống, trong lời ăn tiếng nói mà còn bởi một lối làm việc, lối tư duy trước học sinh Thầy làm việc
dễ dãi thì học sinh dễ cẩu thả, ý thức tinh thần kỷ luật kém Thầy làm việc nghiêm túc đòi hỏi cao phù hợp với năng lực của học sinh làm cho học sinh học tập nghiêm túc, có kết quả Cách dạy của thầy giảng, đọc cho học sinh nghe chép, bám sát sao câu chữ sách Giáo khoa thiếu năng động sẽ làm cho học sinh ỷ lai, thiếu sáng tạo, mai một tư duy khoa học vốn đang cần xây dựng
ở học sinh
Dạy và học là một quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò Chủ thể của hoạt động dạy là thầy Giáo, chủ thể của hoạt động học là học sinh Quá trình vận động tích cực sáng tạo của những chủ thể này làm cho các chủ thể đó phát triển, hoàn thiện phẩm chất năng lực của mình Quá trình cộng tác, hiệp đồng hành động của thầy Giáo và học sinh càng nhịp nhàng, ăn ý càng làm tăng kết quả của hệ thống dạy học, càng làm trưởng thành nhanh mỗi cá nhân trong quá trình ấy
Học sinh tới trường do những nhu cầu thoả mãn hiểu biết thế giới tự nhiên, xã hội Thầy Giáo là người thoả mãn các yêu cầu cá nhân và yêu cầu
Trang 21của nhà trường Tháy Giáo không chỉ là người mở ra trước các em những chân trời mới mà còn phải là người tổ chức, chỉ đạo, đồng hành với cúc cm trên con đường đi tới chân lí Cái đích đã đạt được trong chương trình học Thẩy dạy và không ngừng phải học, thầy điều khiển học sinh, học sinh học lĩnh hội và tự điều khiển Các quá trình dạy học, điểu khiển, tự điều khiển trong hoạt động của cả hệ thống có sự chuyển hoá cho nhau từ chủ thể này sang chủ thể hành động khác Thể hiện sự thống nhất biện chứng trong quá trình dạy và học.1.2 QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý
ỉ 2.1.1 Quản lý
Con người xuất hiện là một chủ thể sinh học - xã hội, hai mặt đó gắn
bó chặt chẽ ngay từ đầu, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội Song cá thể con người để hội đủ các quan hệ xã hội là một quá trình, từ thấp đến cao, từ sơ khai đến trưởng thành thông qua quá trình học tập, lao động mới xác lập mối quan hệ xã hội, con người cá thể mang bản chất, nhân cách
xã hội
Khi sự phân công lao động xã hội xuất hiện và phát triển sâu rộng thì sự liên kết con người cá thể với nhau càng cao, con người cá thể một mặt vừa có khả năng tự chủ, mặt khác mối liên hệ cá thể thành hệ thống xã hội càng lớn
mà không thể đứng ngoài hệ thống xã hội đó đặc biệt khi xã hội có và còn giai cấp Mỗi người tự độc tấu lấy nhạc cụ, hay tự biểu diễn đơn ca bài hát của mình nhưng với một hợp trường ca, một dàn hợp xướng phải có nhạc truởng Nhạc truởng là nguời tổ chức, điều khiển liên kết các cá thể chức năng hoạt động theo những yêu cầu nhất định, đó là hoạt động của lao động quản lý
Ngày nay, thuật nsữ quản lý trở nên phổ biến nhưng tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa quản lý khác nhau:
Quản lý xã hội một cách khoa học có nahĩa là:
Trang 22- Nhận thức phát hiện các quy luật, các khuynh hướng phát triễn xã hội
và hướng (kế hoạch hoá, tổ chức điều chỉnh và kiểm tra) sự vận động xã hội cho phù hợp với khuynh hướng ấy
- Phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển, khắc phục trở ngại
- Duy trì sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống
- Tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa lực lượng xã hội, một đường lối gắn bó, chặt chẽ của xã hội” (V.G.Apanatsev - nhà triết học)
“Quản lý là thiết kế duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm, cá thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” (Hanord Koontz)
Ở Việt Nam, bên cạnh các tác giả trong khoa học quản lý cũng có một
số tác giả trong lĩnh vực khoa học Giáo dục đưa ra các định nghĩa khác nhau
về “quản lý” như:
“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung (khách thể quản lý), nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” (Phạm Minh Hạc)
“Quản lý là tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản
lý (người quản lý) tới khách thể quản ỉý (người bị quản lý), trong một tổ chức về mặt chính trị, vãn hoá, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ th ể làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu của tổ chức” (nhiều tác giả khác nhau)
Như vậy, quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định),
có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định
Trong các diễn đạt trên đều cho thấy những điểm chung là:
Trang 23- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động
xã hội của loài người Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
- Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay mộl nhóm xã hội
- Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người
bị quản lý, họ giữ vai trò trọng tâm trong hoạt động quản lý
Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung Bản chất có thể được thể hiện ở mô hình dưới đây:
S ơ ĐỔ 3:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay là một tổ chức
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm n g ư ờ i
Công cụ quản lý là phương tiện tác độns của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý
Trang 24Mục tiêu của tổ chức dược xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý.
ỉ 2.1.2 Chức năng quản lý
Quản lý là một loại lao động sáng tạo, hoạt động quản lý cũng phát triển không ngừng từ thấp tới cao; gắn liền với quá trình phát triển đó là sự phân công chuyên môn hoá lao động quản lý Sự phân công chuyên môn hoá lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chù thể quản lý nẩy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu
Phân công gắn liền với hợp tác Phân công chuyên môn hoá càng sâu đòi hỏi sự hợp tác càng cao, mối liên hệ càng chặt chẽ với trình tự nhất định giữa các chức năng quản lý
Chức năng quản lý xác định khối lượng các công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý, mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể
là quá trình liên tục của các bước công việc tất yếu phải thực hiện
Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý, nếu không xác định được chức năng thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý
Chức năng quản lý xác định vị trí, mối quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống quản lý Mỗi hệ thống quản lý đều có nhiều bộ phận, nhiều khâu, nhiều cấp khác nhau, gắn liền với nhiều chức năng xác định nào đó nếu không có chức năng quản lý thì bộ phận đó hết lý do tồn tại
Từ mỗi chức nãng quản lý, mỗi chủ thể xác định các nhiệm vụ cụ thể, thiết
kế bộ máy và bố trí con người với các phương tiện, cồng cụ quản lý phù hợp
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ mà chủ thể quản lý có thể theo dõi, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận và toàn hệ thống
Trang 25quản lý Mỗi con người trong hệ thống quản lý đều phải hoạt động theo những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình; chủ thể quản lý theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ các hoạt động đó sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống quản lý hướng vào mục tiêu chung.
Hoạt động quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, mỗi chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán
- Dự báo: nhà quản lý phải xác định được tương lai của hệ thống quản
lý, những yếu tố thuận lợi, khó khăn, môi trường bên ngoài, bên trong tác động đến hệ thống quản lý an toàn, phát triển đạt mục tiêu
Dự báo để nhận thức tất yếu khách quan của thách thức, cơ hội để phân tích, lựa chọn các phương án hành động của hệ thống
Dự báo là bước quan trọng nhằm xác định tiền đề, các điều kiện cho việc xây dựng chiến lược, lập kế hoạch, xây dựng hệ thống tổ chức quản lý và điều chỉnh trong quá trình điều hành của hệ thống
Nói dự báo phải dựa trên cơ sở khoa học được phân tích tỉ mỉ, kỹ lưỡng
sẽ mang lại thành công lớn, nếu dự báo sai, thiếu cở sở khoa học sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, dự báo chỉ mang tính chất định hướng Quá trình diễn biến tình hình phải tiếp tục điều chỉnh, bổ sung thực tiễn, sinh động cho phù hợp
- K ế hoạch: từ những d ự báo khoa học định hướng khái quát, căn cứ vào
lôgíc hoạt động thực tiễn, thực trạng của tổ chức và nhiệm vụ được giao, xác định rõ mục đích, mục tiêu của tổ chức và những con đường thể thức, chương trình hành động bước đi cụ thể, biện pháp, cách thức các điều kiện đảm bảo để
tổ chức hoạt động đạt mục tiêu trong thời gian nhất định của hệ thống quản lý
Từ mục tiêu chung của hệ thống đến mục tiêu của bộ phận, mục tiêu
cá nhân tạo thành cả hệ thống mạng lưới khi các mục tiêu phản ánh trong các
Trang 26chương trình phối hợp chặt chẽ với nhau, hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu tạo ra khả năng đạt mục tiêu một cách có hiệu quả tốt nhất.
- T ổ chức: là quá trình sắp xếp, bố trí công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của hệ thống quản lý, tổ chức, để họ có thể đạt được các mục tiêu một cách có hiệu quả úng với các mục tiêu khác nhau lại
có cách tổ chức khác nhau Nhờ tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể điều hành, phối hợp giữa các nguồn lực với nhau, một tổ chức nếu được thiết
kế phù hợp, sẽ phát huy được những khả năng nội lực và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực
- C hỉ đạo: là những hành động xác lập quyền chỉ huy và can thiệp của người quản lý vào trong quá trình hoạt động của tổ chức, là quá trình tác động, liên kết, tập hợp, động viên và huy động các thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện kế hoạch, nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cương trật tự nhằm đạt mục đích của tổ chức
-Kiểm tra: là một chức năng quan trọng của quản lý Quản lý mà không có kiểm tra ỉà hoạt động một chiều Bản chất của kiểm tra là “mối liên hệ ngược”
Trong quản lý đó là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá giá trị thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những cái lệch lạc, điều chỉnh nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra và góp phần đưạ toàn bộ hệ thống quản lý tới một trình độ cao hơn Nhờ có hoạt động kiểm tra, người cán bộ quản lý đánh giá được công việc và uốn nắn, điều chỉnh một cách kịp thời, đúng hướng, động viên khả năng của các thành viên trong hệ thống nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trong quản lý, việc vận dụng các chức năng quản lý vào thực tế ở nhà trường phổ thông là hết sức linh hoạt, phụ thuộc vào tính chất hoạt động và thực tiễn của nhà trường Để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, người cán bộ quản lý trở thành yếu tố tích cực, vận dụng nó tạo nên môi trường Giáo dục lành mạnh, thuận lợi để đạt mục tiêu Giáo dục
1.2.2 Quản lý G iáo dục
Trang 27QLGD nói chung được hiểu là sự tác động của chủ thể đến khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động công tác Giáo dục Nói một cách đầy đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống Giáo dục, là sự điều hành hệ thống Giáo dục quốc dân, các cơ sở Giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác Giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Hệ thống Giáo dục là một hệ thống xã hội QLGD cũng chịu sự chi phối các quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội QLGD có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Sản phẩm Giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm
- QLGD nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự khác biệt giữa đặc thù lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung
- Trong QLGD, các hoạt động hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, Ihâm nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành quản lý thống nhất
- QLGD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, QLGD phải quán triệt quan điểm quần chúng
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra hai loại quản lý, đó là:
- Quản lý hệ thống Giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)
- Quản lý nhà trườnc: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị, một cơ sở Giáo dục
Trang 28Có thể thấy rằng, nhà trường hay trường học là khách thể quản lý cơ bản của tất cả các cấp QLGD trong hệ thóng QLGD quốc dân, đồng thời trường học là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Lý do tồn tại của các cấp QLGD trước hết và trên hết là vì chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường, mà trung tâm ở đó là hoạt động đào tạo hay Giáo dục (nghĩa rộng).
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống Giáo dục) nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên tắc Giáo dục để đạt tới mục tiêu Giáo dục đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Quản lý nhà trường thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động Giáo dục với đào tạo trong phạm vi một nhà trường
Tại chương VII, điều 87 của Luật Giáo dục đã quy định đối với quản lý nhà nước về Giáo dục như sau:
ở Trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về Giáo dục Các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ
có trách nhiệm trong việc phối hợp với các Bộ Giáo dục và Đào tạo để thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về Giáo dục theo quy định của Chính phủ
ở địa phương: Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước vé Giáo dục ở địa phương, sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, thành phố và Phòng Giáo dục quận, huyện là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, quận, huyện, quản lý nhà nước về Giáo dục
ỉ 2.2.1 Đối tượng quản lý Giáo dục.
Đối tượng QLGD là sự hoạt động của Giáo viên, học sinh và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình Giáo dục nhằm đạt mục tiêu Giáo dục đã quy định với chất lượng cao
Đối với nhà trường, đối tượng của QLGD là quá trình Giáo dục ở nhà trường QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình dạy học, là bộ phận cấu
Trang 29thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của một nhà trường Do đó,
QLGD là bộ phận chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý nhà trường
QLGD là do nhà trường tổ chức, quản lý, chỉ đạo nhưng nó quan hệ tương tác,
liên thông với các tổ chức GD & ĐT khác hoặc các tổ chức, cơ quan khoa học,
kĩ thuật, công nghệ, văn hoá nghệ thuật, thể dục, thể thao mà học sinh có điều
kiện tham gia hoạt động
Trong điều kiện kinh tế thị trường và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc
cách mạng KHKT và công nghệ ngày nay, thì các mối quan hệ đó là điều kiện
thuận lợi cho việc quản lý quá trình Giáo dục cũng như để nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục của nhà trương Vì vậy, đối tượng của QLGD có thể coi là một hệ thống xã hội, bao gồm 4 thành tố:
- Tư tưởng (quan điểm, chủ trương, chính sách, chế độ, nội dung, phương pháp, tổ chức dạy học - Giáo dục );
- Con người (cán bộ, Giáo viên, học sinh );
ỉ 2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của quản lý Giáo dục
a) Chức năng của QLGD: QLGD cũng có những chức năng cơ bản của quản lý nói chung, theo sự thống nhất của đa số các tác giả có 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
* Lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó K ế hoạch là nền tảng của quản lý
X ác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc đơn vị, dự báo, đánh
d á triển vọng, đề ra mục tiêu, chương trình, lập kế hoạch chương trình,
Trang 30nghiên cứu xác định tiến bộ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên tắc tiêu chuẩn, xây dựng các thể thức thực hiện.
* Tổ chức:
Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả:
Xây dựng các cơ cấu, nhóm (cơ cấu, cấu trúc), tạo sự hợp tác liên kết (xây dựng mô hình), xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp, bồi đưỡng cho phù hợp, phân công nhóm và cá nhân
* Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển:
Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức:
Kích thích động viên, thông tin hai chiều bảo đảm sự hợp tác trong thực tế
Trong mọi hoạt động QLGD, thông tin QLGD đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động QLGD Nếu thiếu hoặc sai lệch thông tin thì công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, tạo nên những quyết định sai ỉầm, không chính xác, công tác quản lý kém hiệu quả hoặc thất bại Vì vậy, có thể biểu diễn sơ đồ đầy đủ về mối quan hệ giữa các chức năng quản lý với vai trò đặc biệt của thông tin quản lý như sau:
Trang 31s ơ ĐỔ 4 : M Ố I QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỨC NĂNG QUẢN L Ý
Quá trình quản lý là một thể thống nhất trọn vẹn Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối giúp cho người quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng.Thậm chí có chức năng diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau ưong quá trình đó
b) Nhiệm vụ của quản ]ý Giáo dục:
Chúng ta biết rằng, hệ thống Giáo dục luôn luôn vận động phát triển theo quy luật chung của sự phát triển KT - XH và chịu sự quy định của KT -
XH Do đó QLGD cũng phải luôn đổi mới đảm bảo sự thích ứng của Giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung của xã hội Nếu hệ thống Giáo dục được tổ chức, quản lý hợp lý, vận hành đúng, tính năng động của Giáo dục sẽ ngày càng tác động trở lại một cách tích cực với sự phát triển chung và sẽ đóng vai trò là động lực giúp nền KT - XH phát triển mạnh mẽ, nhất là trong thời đại tri thức ngày nay
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngày nay công tác Giáo dục cũng đã được định hướng rõ ràng, có nhiều chủ trương chính sách và biện
Trang 32pháp tốt, giúp công tác quản lý có nhiều thuận lợi Và trong “ Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 - 2010”, chúng ta phải tập trung vào các nhiệm vụ sau:
“Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng Giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển K T - XH của đất nước, của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập Phấn đấu đưa nền Giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực”
- Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng trong nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi
và công nhân kĩ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh tiến bộ thực hiện phổ cập THCS
- Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình Giáo dục các cấp, bậc học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ nhà Giáo đáp ứng yêu cầu, vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy
- học; đổi mới QLGD cơ sở pháp lý và phát triển nội lực, phát triển Giáo dục”.[25,tr.22,23]
1.2.3 Quản lý nhà trường
QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương pháp QLGD nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý nhà trường cho các chủ thể quản lý bên trong nhà trường với những quyền hạn và trách nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ Các nội dung chủ yếu của QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường bao gồm:
- Nhà trường ỉà thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống Giáo đục
- Nhà truờng tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội của mình với sự tham gia tích cực và trách nhiệm của những thực thể hữu quan ngoài nhà Irường
Trang 33- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi Giáo viên.
- Hình thành các cơ cấu cần thiết và thiết thực để các thực thể hữu quan ngoài nhà trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường Đồng thời tăng cường trách nhiệm và quyền hành của Giáo viên tham gia quá trình ra quyết định quản lý trong nhà trường
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết khác để Giáo viên thực sự tham gia công việc quản lý nhà trường Hình thành
cơ chế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, thực hiện cải tiến thích hợp nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường
- Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể trong và ngoài nhà trường, tham gia trực tiếp vào các hoạt động quản lý nhà trường
- Xây dựng môi trường sư phạm trong nhà trường và xây dựng nhà trường thành một hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động của nhà trường
- Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và quá trình quản lý nhà trường
Nhà trường là nơi trực tiếp, cửa mở đầu tiên tạo nên chất lượng Giáo dục, do vậy khi nói đến QLGD là nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống nhà trường
Mục tiêu của quản lý nhà trường trung học:
- Đảm bảo kế hoạch Giáo dục kế tiếp phổ thông; tuyển dụng học sinh vào đầu cấp đúng số lượng theo kế hoạch Giáo dục hàng năm, đúng chất lượng theo quy định của bộ GD - ĐT Duy trì sĩ số học sinh và hạn chế tối đa
số học sinh lưu ban, bỏ học
- Đảm bảo chất lượng, hiệu quả, quá trình dạy học và Giáo dục, tiến hành các hoạt động Giáo dục theo đúng chương trình, đảm bảo đạt yêu cầu của các môn học và hoạt động Giáo dục
Trang 34- Xây dựng đội ngũ Giáo viên của nhà trường đồng bộ về cơ bản, có đủ loại hình và chất lượng ngày càng cao Xây dựng đội ngũ nhân viên phục vụ
có nghiệp vụ tương ứng thích hợp, am hiểu về đặc thù của Giáo dục trong công việc của mình
- Từng bước hoàn thiện, nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ tốt các hoạt động dạy học và Giáo dục
- Xây dựng và hoàn thiện môi trường Giáo dục lành mạnh thống nhất ở địa phương
- Thường xuyên cải tiến công tác quản lý trường học theo tinh thần dân chủ hoá nhà trường đảm bảo tiến trình đồng bộ có trọng điểm, hiệu quả các hoạt động dạy và Giáo dục
“Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối Giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý Giáo dục để tiến tới đạt mục tiêu Giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành Giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [21,tr.561] “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc quản ỉý nói chung) là việc quản lý dạy - học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tới mục tiêu Giáo dục” [21, tr.71] “Việc quản lý nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tiêu chí của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa nơi quản lý được Giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [21,tr.72]
Trong lý ỉuận và thực tiễn khẳng định, quản lý nhà trường gồm hai loại :
- Quản lý các chủ thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng và tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển
Trang 35- Quản lý các chủ thể bcn trong nhà trường nhằm cụ thể hoá các chủ trương đường lối, chính sách Giáo dục thành các kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo, kiểm tra để đưa nhà trường đạt các mục tiêu đề ra
“Quản lý trường phổ thông là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác,
tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập
thể cán bộ, Giáo viên và học sinh Nhằm tận dụng nguồn lực dự trữ do nhà
nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có,
hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là
đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà
trường tiến lên một trạng thái mới”[Nguyễn Ngọc Quang - những khái niệm cơ bản lý luận về QLGD trường cán bộ quản lý QLGD - ĐT HN 1990]
Tóm lại, QLGD trong nhà trường chính là quản lý các thành tố của quá
trình dạy học và có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
S ơ ĐỔ 5 : QUẢN L Ý CÁC THÀNH T ố CỦA QUÁ TRÌN H DẠY HỌC
Trang 36Quản lý quá trình dạy học là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt mục tiêu đề ra
ỉ 2.4.1 Mục tiêu quản ỉỷ của quá trình dạy học
Là chất lượng dạy học toàn diện học sinh với các tiêu chuẩn về chính trị
tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học - kỹ thuật về thể chất được quy định trong mục tiêu dạy học Chất lượng đó là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động, của quá trình dạy và của các hoạt động đảm bảo cho quá trình đó
Nói một cách chung nhất, mục tiêu của quản lý quá trình dạy học là:+ Đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến dộ thời gian quy định (quản lý mục tiêu, nội dung)
+ Đảm bảo quá trình dạy học đạt chất lượng cao (quản lý chất lượng)
ỉ 2.4.2 Nội dung của quá trình QLDH
+ Quản lý nội dung, mục tiêu dạy học
Đó là quản lý việc xây dựng và quản lý việc thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo, chú trọng đến việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ Giáo dục, thái độ và phát triển trí tuệ cho học sinh, việc chấp hành các quy định, quy chế về đào tạo như các điều lệ, nội quy, chế độ , , một cách nề nếp
ổn định
+ Quản lý chất lượng dạy học
Đó là việc phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục những yếu kém nhăm đảm bảo được chất lượng đào tạo yêu cầu
Bcn cạnh ba nội dung quản lý cốt yếu írên, các nhà trường cần phải chú trọng đến các nội dung quản lý sau;
1.2.4 Quản lý quá trình dạy học
Trang 37+ Quản lý việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận trình độ và cấp văn bàng, chứng chỉ.
+ Quản lý các hoạt động ngoài lớp, ngoài nhà trường và quản lý, điều phối hoạt động của các tổ chức sư phạm trong nhà trường
Việc quản lý quá trình dạy học phải tuân thủ đầy đủ những quy tắc QLGD nói chung và áp dụng những nguyên tắc đó vào quá trình dạy học ở phạm vi một nhà trường
+ Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị
Đây là nguyên tắc cơ bản của QLGD nói chung và QLDH nói riêng Nguyên tắc này đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách Giáo dục cũng như những quy định đề ra phải phục vụ đường lối và nhiêm vụ cách mạng trong từng giai đoạn Nội dung phương pháp và việc tổ chức quá trình dạy học phải đảm bảo những nguyên lý Giáo dục và đường lối chính sách Giáo dục của Đảng và Nhà nước Nhà trường không đứng ngoài chính trị mà phục vụ chính trị Đây là nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề lí luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới QLGD nói chung và quản lí quá trình dạy học hiện nay
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc này thể hiện mối quan hệ biện chứng dưới sự lãnh đạo tập trung của Nhà nước về Giáo dục và việc phát huy tối đa sáng kiến đóng góp của đông đảo quần chúng nhân dân về công tác tổ chức và QLGD Điều đó sẽ đảm bảo được sự thống nhất trong ý chí và hành động, làm tăng hiệu quả các nguồn lực Giáo dục
+ Nguyên tắc kết hợp nhà nước và xã hội
Nguyên tắc này đòi hỏi phải kết hợp việc QLGD mang tính nhà nước với việc quản lý mang tính xã hội, nghĩa là quần chúng nhân dân, các tổ chức đoàn thể xã hội phải được tham gia vào QLGD nói chung và quản lý quá trình dạy học nói riêng trên cơ sở của cơ chế QLGD phù hợp
+ Nguyên tắc tính khoa học
Trang 38QLGD và quản lý quá trình dạy học cần phải được xây dựng trên những
cơ sở khoa học, đặc biệt là lí luận khoa học quản lý, vận dụng những thành tựu của nhiều khoa học khác như Tâm lí học, Giáo dục học, Điều khiển học Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo tính hệ thống và tính tổng hợp trong quản lý quá trình dạy học
+ Nguyên tắc tính kế hoạch
Bất cứ hoạt động nào cũng cần đến kế hoạch Hoạt động quản lý nói chung, QLDH nói riêng phải đảm bảo tính kế hoạch bởi vì kế hoạch là cơ sở của QLDH
Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý quá trình dạy học phải có các kế hoạch chính xác, phù hợp với trình độ, yêu cầu quản lý thực tế, đổng thời cũng phải
có dự kiến việc kiểm tra, giám sát thực hiện các kế hoạch đó
+ Nguyên tắc tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trinh QLGD, người quản lý phải nắm thông tin chính xác, cụ thể, nhanh chóng để đề ra các biện pháp xử lý, giải quyết đúng đắn, kịp thời, phù hợp và thiết thực
+ Nguyên tắc trách nhiệm và phân công trách nhiệm
Trách nhiệm thể hiện sự thống nhất giữa hai mặt: mặt tích cực, ý thức trách nhiệm của chủ thể quản lý và mặt tiêu cực là khi buộc phải áp dụng các chế tài đối với những người vi phạm pháp luật nhà nước
Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải trả lời được các câu hỏi như:Công việc minh phải làm là gì?
Giới hạn hành động và quyền hạn của mình là gì?
Phải thuộc quyền ai?
Phân công trách nhiệm là tổ chức sự uỷ quyền, cho phép tự chủ trong hành động và quyết định Tuy nhiên, phân công trách nhiệm không làm giảm bớt trách nhiệm của thủ trưởng Việc duy trì quyền lực và tính thống nhất của lãnh đạo, quản lý quá trình dạy học đòi hỏi phải tổ chức sự phối hợp và kết hợp trong phân cấp quản lý
Trang 39ỉ 2.4.3 Phương pháp cơ bản quản lý quá trình dạy học
+ Phương pháp hành chính - tổ chức
Là phương pháp mà chủ thể quản lý dùng quyền lực trực tiếp đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ, các yêu cầu để đối tượng quản lý thực hiện thông qua cácvăn bản hoặc lời nói trực tiếp; chỉ thị, nghị quyết, thông tin từ trên xuống
+ Phương pháp Giáo dục
Là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thái độ, nhận thức và hành vi của đối tượng quản lý nhằm tạo ra hiệu quả hoạt động của tổ chức, của cá nhân thồng qua việc học tập chính trị, trao đổi trực tiếp, nêu gương t ố t
+ Phương pháp tâm lý - xã hội
Là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm tạo nên môi trường tâm lý - xã hội tích cực thông qua sinh hoạt giao tiếp chung, các hình thức nhóm nhỏ, giao tiếp trực tiếp tạo quan hệ thân tình, các hình thức thi đua
+ Phương pháp kinh tế
Là phương pháp chủ thể quản lý tác động vào lợi ích kinh tế của khách thể quản lý nhằm tạo ra hiệu quả hoạt động tối ưu thông qua cơ chế lương, thưởng, phạt, phụ cấp Khi sử dụng phương pháp kinh tế phải đảm bảo nguyên tắc làm theo nãng lực, hưởng theo năng suất và hiệu quả công tác Kích thích kinh tế nội bộ phải tính đến tương quan với môi trường bên ngoài
Mỗi phương pháp quản lý trên đều có mặt tích cực và hạn chế, tiêu cực nhất định Người quản lý phải tuỳ theo khách thể và đối tượng quản lý, tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện, thời gian để lựa chọn và vận dụng kết hợp các phương pháp đó một cách linh hoạt và phù hợp
Với những mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, phương pháp của QLDH càng thấy rõ vị trí, chức năng của quản lý quá trình dạy học:
Trang 40ỉ 2.4.4 Vị trí của quá trình dạy học, được thể hiện r õ ở nội dung sau
+ Quản lý quá trình dạy và học là bộ phận chủ yếu của toàn bộ hệ thống
GD - ĐT
+ QLGD đào tạo có quan hệ tương tác liên thống với các tổ chức GD -
ĐT khác hoặc các cơ quan, tổ chức văn hoá, khoa học, kĩ thuật, công nghệ, nghệ thuật, nơi mà học sinh có điều kiện tham gia học tập, rèn luyện, vui chơi giải trí một cách có tổ chức
ỉ 2.4.5 Chức năng của quản ỉý quá trình dạy học
+ Quản lý quá trình dạy học thông qua việc chỉ đạo thực hiện chức năng tổng hợp Phát triển nhân cách, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
+ Chức năng phối hợp trong và phối hợp ngoài để có thể thực hiện chức năng dạy chữ - dạy người - dạy nghề, đồng thời quán triệt những yếu tố cơ bản là:
- Quán triệt mục tiêu kế hoạch và nội dung chương trình
- Xây dựng điều kiện cần và khả thi: đội ngũ, cơ sở vật chất, tài chính, môi trường
- Xác định quy mô phát triển
- Tổ chức chỉ đạo dạy và học cùa thầy và trò.
- Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý
- Phát triển cơ chế cộng đổng phối hợp trong và ngoài
- Đánh giá kết quả - hiệu quả dạy học
1.3 CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1.3.1 Chất lượng
Khái niệm chất lượng dùng để chỉ những giá trị vật chất, giá trị sử dụng của một vật phẩm, một sản phẩm trong hệ quy chiếu với một chuẩn đánh giá nào đó có tính chất quy ước, mang tính chủ quan, khách quan và tính chất xã hội Chất lượng hoàn toàn có thể thay đổi nên không mang tính bất biến Như vậy chất lượng là một khái niệm trừu tượng, đa chiều, đa nghĩa, được xem xét