Đặc biệt, các hoạt động ngoại khóa thực hiện các thí nghiệm vật lí có tác dụng rất tốt trong việc phát triển các năng lực hoạt động, năng lực sáng tạo, năng lực thực nghiệm, năng lực hợp
Trang 1PHẦN A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, ngành giáo dục nước ta đang ngày càng đổi mới mạnh mẽ trên các lĩnh vực: “ xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục” để có thể đào tạo những con người toàn diện phục vụ cho sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ Một trong những trọng tâm của chương trình đổi mới giáo dục là tập trung đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, coi trọng thực hành, ngoại khóa, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, nhưng lâu nay việc dạy môn học này ở các trường THPT vẫn thường mang tính hàn lâm nặng về trang bị kiến thức lí thuyết Học sinh học cũng chủ yếu để phục vụ thi, ít đi sâu tìm hiểu bản chất của hiện tượng và sự gắn kết giữa kiến thức sách vở với thực tiễn đời sống Để góp phần cải thiện vấn đề trên thì việc tổ chức hoạt động ngoại khoá môn Vật lí là cách làm hợp lí, hiệu quả, khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học
bộ môn Đặc biệt, các hoạt động ngoại khóa thực hiện các thí nghiệm vật lí có tác dụng rất tốt trong việc phát triển các năng lực hoạt động, năng lực sáng tạo, năng lực thực nghiệm, năng lực hợp tác
Hiện nay, trong dạy học kiến thức về Cơ học của chương trình vật lí lớp 10
đã được trang bị một số thiết bị thí nghiệm, nhưng các thiết bị này vẫn còn thiếu
và đặc biệt là ít tạo điều kiện để học sinh được thực hiện việc đo đạc các đại lượng cơ Trong khi đó tôi nhận thấy, có thể hướng dẫn học sinh tự xây dựng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản để thực hiện các thí nghiệm vật lí đo một số đại lượng cơ học dưới hình thức ngoại khóa
Vì những lí do trên, tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm của mình là: “Hướng dẫn học sinh làm và sử dụng dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong giờ học ngoại khóa.”
2. Mục đích nghiên cứu
- Chế tạo dụng cụ thí nghiệm đơn giản và sử dụng để đo tốc độ của vật trên mặt phẳng nghiêng nhờ chuyển động ném ngang
- Rèn luyện năng lực thực nghiệm của học sinh
- Tạo sự yêu thích bộ môn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu năng lực thực nghiệm của học sinh
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về thí nghiệm trong dạy học Vật lí
Trang 2- Tìm hiểu thực trạng về vấn đề sử dụng thí nghiệm trong trường THPT Trung Giã – Sóc Sơn- Hà Nội)
- Tổ chức hoạt động ngoại khóa
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu về phương pháp dạy học ngoại khóa
- Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.Thiết kế, chế tạo và thử nghiệm các dụng cụ TN đã làm được
5 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 10A1 trường THPT Trung giã- Sóc Sơn- Hà Nội
Trang 3PHẦN B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Năng lực thực nghiệm
1.1 Khái niệm năng lực thực nghiệm
Theo nghĩa hẹp, năng lực thực nghiệm là khả năng đề xuất phương án thí nghiệm khả thi, tiến hành thí nghiệm (thao tác với các vật thể, thiết bị dụng cụ, quan sát, đo đạc) để thu được thông tin và rút ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra (nó
là một nhật định về một tính chất, một mối liên hệ, một nguyên lí nào đó, cho phép đề xuất một kết luận mới hoặc xác minh một giả thuyết, một phỏng đoán nào đó)
1.2 Các biểu hiện của năng lực thực nghiệm của học sinh trong học tập
- Mức độ 1: Là mức độ thấp nhất Ở mức độ này HS cần tới sự hướng
dẫn của GV hay tài liệu GV có thể tiến hành thí nghiệm mẫu, HS làm theo, quan sát, mô tả, giải thích được hiện tượng vật lí
- Mức độ 2: Ở mức độ này vai trò của giáo viên giảm dần, HS chủ động hơn
trong quá trình thực nghiệm HS biết vận dụng kiến thức, liên kết các kiến thức, kinh nghiệm để có thể đề xuất phương án cải tiến cách thức thí nghiệm hoặc đề xuất các phương án thí nghiệm khác
- Mức độ 3: Ở mức độ này các kĩ năng lựa chọn dụng cụ, bố trí hay tiến hành
thí nghiệm đã thành thục hơn Không những thiết kế các phương án thí nghiệm cũng như cải tiến thí nghiệm, HS có khả năng chế tạo được những dụng cụ thí nghiệm tương ứng Tiến hành các thí nghiệm theo các phương án đề ra Tiếp tục đánh giá, cải tiến để có kết quả thí nghiệm tốt Ngoài các kĩ năng như những giai đoạn
- Mức độ 4: Là mức độ cao nhất Ở mức độ này gần như không cần đến vai
trò của GV GV bây giờ chỉ đóng vai nhà tư vấn HS tự phát hiện ra vấn đề, tự xác định mục đích TN và thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm HS cũng có thể chế tạo những thiết bị ứng dụng Thực hiện thí nghiệm cũng như xử lí kết quả một cách thành thục
2 Sử dụng dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông.
2.1 Sự cần thiết của việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lí
- Do được tự tay chế tạo và sử dụng thành quả của mình để tiến hành các thí nghiệm, HS sẽ nắm vững kiến thức sâu sắc, chính xác và bền vững hơn
- Việc sử dụng các thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lí ở trường phổ thông còn là cần thiết, bởi vì các thiết bị có sẵn trong phòng thí nghiệm trong
Trang 4nhiều trường hợp, “cái hiện đại” của các thiết bị này che lấp mất bản chất vật lí của hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm mà HS cần phải nhận thức rõ
+ Nhiệm vụ thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm đơn giản và tiến hành các thí nghiệm với chúng làm tăng hứng thú học tập, tạo niềm vui của sự thành công trong học tập, phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS
+ Phục vụ rất kịp thời và đắc lực cho việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học, thậm chí của từng giờ học
2.2 Những đặc điểm cơ bản của các dụng cụ thí nghiệm đơn giản
- Việc chế tạo dụng cụ thí nghiệm đòi hỏi ít vật liệu Các vật liệu này đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm, công cụ thông dụng như kìm, búa, kéo, cưa, giũa
- Dễ chế tạo dụng cụ thí nghiệm từ việc gia công các vật liệu bằng các
- Dễ lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ thí nghiệm
- Dễ bảo quản, vận chuyển và an toàn trong chế tạo cũng như trong quá trình
bố trí và tiến hành thí nghiệm
- Hiện tượng vật lí diễn ra trong thí nghiệm rõ ràng, dễ quan sát
3 Hoạt động ngoại khóa Vật lí trong trường phổ thông
3.1 Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông
- Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ lên lớp, có
thể giúp HS có kết quả cao hơn trong học tập và góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em
- Các hình thức hoạt động ngoại khóa ở các trường phổ thông của các nước trên thế giới thường tập trung chủ yếu vào các hoạt động như: trò chơi trí tuệ, câu lạc bộ nhạc, kịch, hội họa, thể thao, dã ngoại thực tế…
- Trong nhà trường phổ thông ở nước ta có ba hình thức tổ chức đào tạo: dạy học trên lớp, giáo dục lao động kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp dạy nghề, công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
3.2 Vai trò của hoạt động ngoại khóa vật lí
- Về mặt nhận thức: Hoạt động ngoại khóa giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng
những tri thức đã được học trong nội khóa; giúp cho HS vận dụng được những kiến thức đó vào giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
- Về mặt rèn luyện kĩ năng: Hoạt động ngoại khóa rèn luyện cho HS khả năng
tự quản, kĩ năng tổ chức, điều khiển, làm việc theo nhóm, ngoài ra còn góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp, rèn luyện ngôn ngữ, kĩ năng phát biểu trước đám đông, giải quyết vấn đề, chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm…
- Về mặt giáo dục tinh thần, thái độ làm việc: Hoạt động ngoại khóa kích thích
Trang 5hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, lôi cuốn HS tự giác tham gia một cách nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực của HS
Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển năng lực tư duy như tư duy logic, tư duy trừu tượng và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo cho HS
3.3 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa về vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung có những đặc điểm cơ bản sau:
- Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa phải được lập kế hoạch cụ thể về cả mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, lịch hoạt động cụ thể và thời gian thực hiện
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa dựa trên tinh thần tự nguyện tham gia và
sự hứng thú của HS, dưới sự hướng dẫn của GV
- Số lượng HS tham gia không hạn chế, có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm hoặc tập thể đông người
- Nội dung và hình thức tổ chức ngoại khóa phải đa dạng, phong phú, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều HS tham gia
- Việc đánh giá kết quả học tập ngoại khóa của HS không bằng điểm số thông qua các bài kiểm tra như trong giờ học nội khóa, mà thông qua tính tích cực, sáng tạo của HS và sản phẩm của quá trình hoạt động
3.4 Nội dung, các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khóa về vật lí.
- Nội dung ngoại khóa về vật lí:
Có thể kể đến một số nội dung hoạt động ngoại khóa mà HS có thể thực hiện như: + Tìm hiểu thêm về các kiến thức vật lí và kĩ thuật
+ Nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của vật lí học, tìm hiểu những ứng dụng của vật lí trong đời sống, kĩ thuật
+ Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm vật lí và kĩ thuật
- Các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí:
Việc phân chia các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí chỉ mang tính chất tương đối, không phân biệt được rõ ràng Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí thông thường là: hoạt động ngoại khóa mang tính chất cá nhân, hoạt động ngoại khóa theo các nhóm và hoạt động ngoại khóa có tính chất rộng rãi Cụ thể: + Tổ chức các hoạt động ngoại khóa ở lớp và ở nhà ( HS đọc sách báo về vật lí và kĩ thuật, tổ chức các buổi báo cáo và đại hội về các vấn đề vật lí – kĩ thuật, HS ra báo tường hoặc tập san về vật lí – kĩ thuật, HS biểu diễn thí nghiệm hoặc giới thiệu sản phẩm là thí nghiệm vật lí chế tạo được…)
Trang 6+ HS tổ chức triển lãm giới thiệu những thành tích hoạt động ngoại khóa
về về vật lí
+ Tổ chức cho HS tham quan ngoại khóa về vật lí, kĩ thuật
+ Tổ chức, hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm vật lí hay máy móc đơn giản
+ Tổ chức ôn luyện cho HS tham dự thi học sinh giỏi hoặc các cuộc thi khác dành cho môn vật lí ở trường phổ thông
Dựa trên tính chất đặc thù của bộ môn vật lí: các kiến thức vật lí không khó nhưng biểu hiện khá phức tạp trong thực tế và các kiến thức được xây dựng chủ yếu bằng con đường thực nghiệm Cho nên tổ chức ngoại khóa về vật lí nên lựa chọn nội dung liên quan đến việc sử dụng thí nghiệm Để hoạt động ngoại khóa về vật lí có liên quan nhiều đến thí nghiệm thành công được thì hình thức tổ chức ngoại khóa theo nhóm là ưu việt hơn Hình thức này vừa đảm bảo cho quá trình thiết kế, chế tạo và tiến hành thí nghiệm diễn ra nhanh, có chất lượng vừa tạo điều kiện cho HS tự học hỏi lẫn nhau và rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm
- Các nguyên tắc đảm bảo tổ chức tốt nhóm ngoại khóa vật lí:
+ Khi tổ chức nhóm ngoại khóa trước hết phải dựa trên tinh thần tự nguyện, hứng thú của HS, HS phải được lựa chọn lĩnh vực kiến thức yêu thích để thiết kế, chế tạo thí nghiệm Điều này tạo cho HS tinh thần làm việc thoải mái, từ đó họ thấy yêu thích công việc, nỗ lực hoàn thành công việc và phát triển được tài năng
+ Để nhóm ngoại khóa có thể tồn tại và hoạt động hiệu quả thì nhất thiết phải phát hiện và xây dựng được hạt nhân của nhóm – thường là trưởng nhóm
HS được chọn là hạt nhân của nhóm phải thích thú và có sự nhiệt tình cao với đề tài mà nhóm theo đuổi, đồng thời cũng phải có khả năng đoàn kết các thành viên trong nhóm học tập và lực học thuộc hạng khá vững vàng, tuy nhiên nhóm trưởng không nhất thiết là thành viên giỏi nhất trong nhóm
+ Yếu tố mới và tính vừa sức của đề tài đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sự hứng thú, tích cực của nhóm
+ Phải đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, tránh nặng nề, nhưng cũng tránh tùy tiện trong quá trình hoạt động nhóm Để đảm bảo nguyên tắc này, nhóm ngoại khóa cần có lịch làm việc cụ thể về thời gian cũng như tiến độ công việc, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”
- Phương pháp dạy học ngoại khóa vật lí
Phương pháp dạy học ngoại khóa vật lí thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, phụ thuộc vào nội dung của HĐNK, trình độ của giáo viên cũng như HS Cũng như trong dạy học nội khóa, trong dạy học ngoại khóa việc hướng dẫn của giáo viên cũng theo các định hướng: định hướng tìm tòi, định hướng khái quát chương trình
Trang 7hóa, định hướng tái tạo Theo tôi, vận dụng các phương pháp này vào dạy học ngoại khóa có thể tuân theo các bước như sau: ban đầu GV định hướng HS tìm tòi, tự tìm
ra các kiến thức hoặc cách thức cần áp dụng để giải quyết vấn đề Nếu HS không đáp ứng được yêu cầu đó thì GV tổ chức định hướng khái quát chương trình hóa, gợi ý thêm cho HS Nếu HS vẫn không thực hiện được nhiệm vụ thì GV chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo (angorit)
+ Định hướng tìm tòi:
Là kiểu hướng dẫn mà người dạy không chỉ ra cho HS một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động cần áp dụng, mà người dạy chỉ đưa
ra những gợi ý mang tính tổng quát để HS có thể tự tìm tòi
+ Định hướng khái quát chương trình hóa:
Đó là kiểu hướng dẫn trong đó người dạy cũng gợi ý cho HS tự tìm tòi như kiểu định hướng tìm tòi nói trên, nhưng giúp cho HS có được lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề và sự định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lí, theo các yêu cầu từ cao đến thấp đối với HS
Người dạy phải thực hiện từng bước việc hướng dẫn HS tự lực giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận:
Sự định hướng ban đầu đòi hỏi HS tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề
Nếu HS không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của GV là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một bước)
để thu hẹp phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức với HS
Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của GV chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo
+ Định hướng tái tạo:
Là kiểu định hướng trong đó GV hướng HS vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động HS đã nắm được hoặc đã được GV chỉ ra một cách tường minh, để HS thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận
Sự định hướng tái tạo có thể phân biệt hai trình độ khác nhau đối với hành động đòi hỏi ở HS:
Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể riêng rẽ: trong kiểu định hướng này, người học sẽ theo dõi, thực hiện bắt chước lặp lại thao tác mẫu cụ thể do giáo viên chỉ ra
Định hướng tái tạo angorit: trong kiểu định hướng này giáo viên chỉ ra một cách khái quát tổng thể trình tự hành động để người học tự chủ giải quyết được nhiệm vụ
Với mục đích và nội dung của đề tài, tôi chọn kiểu định hướng cho HS không phải chỉ là định hướng tái tạo hay chỉ là định hướng tìm tòi mà là kiểu định hướng
Trang 8khái quát chương trình hóa Tôi sẽ giao nhiệm vụ cho HS dưới dạng những nhiệm vụ học tập, sau đó yêu cầu HS thảo luận nhóm để tìm cách giải quyết nhiệm vụ được giao Nếu HS gặp khó khăn thì GV gợi ý thêm, cụ thể hóa nhiệm vụ hơn để thu hẹp phạm vi tìm tòi, nghiên cứu vừa sức hơn với HS
3.5 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí
Kết quả của HĐNK vật lí phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và lập kế hoạch hoạt động mà GV vật lí là người quyết định Hiện nay chưa có nhiều tài liệu nói rõ quy trình tổ chức HĐNK vật lí Qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy việc tổ chức HĐNK về vật lí cho HS có thể thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khóa.
- Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khóa
Khi lập kế hoạch ngoại khóa thì GV cần phải xây dựng các nội dung sau:
Xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động, gồm có: mục tiêu về kiến thức, mục tiêu về kĩ năng và yêu cầu về phát triển năng lực, trí tuệ, mục tiêu về thái
độ tình cảm
Xây dựng nội dung cho HĐNK dưới dạng những nhiệm vụ học tập cụ thể
Dự kiến hình thức tổ chức, phương pháp dạy học
Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết
Dự kiến những công việc có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục khác
Dự kiến thời gian và địa điểm tổ chức
- Bước 3: Tiến hành HĐNK theo kế hoạch
Khi tổ chức HĐNK theo kế hoạch GV cần phải chú ý những nội dung sau:
Luôn theo dõi quá trình HS thực hiện các nhiệm vụ để có thể giúp đỡ kịp thời, đặc biệt là những tình huống phát sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn ra không đúng kế hoạch
Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô lớn như lớp học, khối thì GV đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển các hoạt động Đồng thời, GV cũng phải là người trọng tài công minh để tổ chức cho HS tham gia tranh luận hay bảo vệ ý kiến của mình về những nội dung HĐNK
Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô nhỏ như tổ, nhóm thì cần để cho
HS hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện nhiệm vụ được giao, GV chỉ đóng vai trò hướng dẫn HS khi gặp khó khăn hoặc việc không xử lí được
Sau mỗi đợt tổ chức HĐNK thì GV phải đánh giá, rút kinh nghiệm để điều chỉnh nội dung, hình thức, phương pháp cho hợp lí để tổ chức những đợt ngoại khóa về sau đạt kết quả cao hơn
Trang 9- Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, tham gia hội vui, rút kinh nghiệm, khen thưởng.
Việc đánh giá kết quả của quá trình HĐNK không giống trong nội khóa, mà phải đánh giá thông qua cả quá trình hoạt động GV đánh giá hiệu quả thông qua sự tích cực, sự hứng thú, sự sáng tạo của HS và cả những kết quả mà HS đạt được trong quá trình hoạt động Trong đó, sản phẩm của quá trình hoạt động là một căn
cứ quan trọng để tạo đánh giá Do vậy, cần tổ chức cho HS giới thiệu, báo cáo sản phẩm đã tạo ra được trong quá trình HĐNK Mặt khác, việc làm này còn có tác dụng khích lệ, động viên tinh thần tích cực học tập của HS về sau
4. Tìm hiểu tình hình học tập các kiến thức phần cơ học trong chương
“Động lực học chất điểm” Vật lí 10 ở trường THPT Trung Giã- Sóc
Sơn-Hà Nội
4.1 Thực trạng
- Phương pháp học tập:
+ Phần lớn các em vẫn theo thói học cũ, thụ động trong các giờ học
+ Việc vận dụng lí thuyết vào thực tiễn còn yếu, học không đi đôi với hành, các em đều xác định học chỉ để giải được bài tập để có điểm cao
+ Hoạt động nhóm chưa tốt: trong cùng một nhóm có em làm việc có em không
+ Một số em cũng ham thích tìm hiểu khoa học ( như tại sao con người có thể di chuyển dễ dàng trên mặt đất; tại sao cần phải có má phanh xe đạp…)
- Kĩ năng của HS còn yếu:
+ Khi lắng nghe HS giải thích các ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật của lực ma sát, lực đàn hồi chúng tôi thấy kĩ năng trình bày, diễn đạt về một vấn đề, thể hiện ý tưởng của mình còn yếu - khó diễn đạt thoát ý
+ Kĩ năng làm việc nhóm chưa tốt, các thành viên trong nhóm chưa có sự gắn kết, nhiều em thụ động, không tập trung trong nhiệm vụ của nhóm…
+ Các kĩ năng thí nghiệm: Khi GV yêu cầu lên bảng làm thí nghiệm để tìm ra các đặc điểm của lực ma sát trượt thì thấy thao tác làm rất lung túng và không biết suy luận như thế nào để tìm ra đặc điểm của lực ma sát
- Tính tích cực và năng lực thực nghiệm của HS trong quá trình học tập: + HS mới chỉ tích cực bề ngoài: chú ý vào bài giảng, hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài (dựa vào sách giáo khoa), học và làm bài tập đầy đủ…
+ Đa số HS nói rằng rất thích thú nếu được tham gia vào việc thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm, đặc biệt vui thích khi làm thí nghiệm thành công với dụng cụ tự tạo
Trang 10+ Rất nhiều HS cho rằng vật lí là một môn học khó, nhiều lí thuyết, công thức, giữa các kiến thức lại có điểm giống nhau khiến HS dễ nhầm lẫn
4.2. Nguyên nhân
- GV khi dạy chỉ mô tả nhanh các thí nghiệm, phân tích nhanh kiến thức, chủ yếu mang tính chất thông báo và chỉ chú trọng vận dụng công thức vào giải bài tập định lượng, chứ không tổ chức cho các em tiến hành thí nghiệm khảo sát
-Một số GV vẫn chưa biết cách tổ chức cho HS thảo luận và làm việc theo nhóm
-Giáo viên chưa mạnh dạn giao cho HS tự nghiên cứu những phần kiến thức có thể tự học ở nhà, để giành thời gian cho HS được làm thí nghiệm trên lớp
-Nội dung kiến thức của chương “Động lực học chất điểm” hơi nặng, yêu cầu cao so với năng lực HS
-Thiết bị TN ở phòng TN vật lí của các trường THPT phục vụ cho việc giảng dạy chương “Động lực học chất điểm” mặc dù có nhưng vẫn chưa đủ Trong quá trình dạy học, GV chưa khai thác hết tiềm năng TN, chưa kết hợp sử dụng có hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học: Hình vẽ, mô hình, thiết bị TN
-Về phía HS:
+ Đa số các em nghe giảng một cách thụ động, lười suy nghĩ, chỉ ghi chép những gì GV ghi trên bảng, tập trung học lí thuyết và giải các bài tập một cách rập khuôn
+ HS không nắm chắc các kiến thức liên quan, đặc biệt là toán học và vật lí
+ HS ít được tiến hành TN khi học bài mới nên các kĩ năng tiến hành TN như lắp ráp TN, thực hiện TN, thu thập và xử lí số liệu TN còn kém.
+ HS ít được tham gia một hoạt động ngoại khóa vật lí về thiết kế và chế tạo các dụng cụ TN nên khả năng của các em còn hạn chế khi GV ra nhiệm vụ thiết
kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm.
4.3 Hướng khắc phục:
- GV gây sự chú ý, tạo hứng thú với HS bằng cách tạo các tình huống hợp lí, liên
hệ thực tế, các câu hỏi dẫn dắt giải quyết tình huống mang tính gợi mở, phù hợp với bài học để phát huy được tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS.
- GV cần chia lớp thành các nhóm tạo thói quen làm việc hợp tác, trao đổi thông tin, đồng thời giao các nhiệm vụ cụ thể để nhóm giải quyết cùng nhau Tạo không khí thi đua, học tập lẫn nhau giữa các nhóm.
- Nhà trường và GV cần có sự đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả các thiết bị thí nghiệm vật lí đã có và bổ sung khi cần thiết.
- GV nên tận dụng một số giờ học tự chọn để tổ chức tốt HĐNK để bổ
sung, mở rộng và khắc sâu được các kiến thức mà trong giờ lên lớp học sinh