Bởi vì sự thay đổi trong việc giữ tiền danh nghĩa tỷ lệ với những thay đổi trongmức giá, ta có thể tập trung vào cầu của số dư tiền tệ thực tế bởi vì giá trị của số du tiền tệ được điều
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với việc chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, nhiều chính sách kinh tếmới được ban hành và phát huy tác dụng tích cực đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh
tế, trong đó chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế có vai trò trung tâm
và chủ yếu Với vai trò là công cụ điều tiết cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế,cung, cầu tiền và sự cân bằng cung cầu tiền trong nền kinh tế được xem là thớc đo đánhgiá hiệu quả điều tiết của Nhà nước (cụ thể là Ngân hàng TW) đối với nền kinh tế Do đóviệc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ trong điều kiện mới có ý nghĩa đặc biệtquan trọng
Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề, tôi đã lựa chọn đề tài: “Cung cầu tiền tệ và cân bằng cung cầu tiền tệ ở Việt Nam"
Đề tài được kết cấu như sau:
Phần 1: Cung cầu-cầu tiền tệ
Phần 2: Cân đối cung cầu tiền tệ ở Việt Nam
Phần 3: Một số giải pháp góp phần giải quyết vấn đề cân bằng cung cầu tiền tệ ởViệt Nam
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết khó tránh khỏi những khuyết điểm,tôi rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này
PHẦN 1: CUNG – CẦU TIỀN TỆ
A/ MỨC CẦU TIỀN
I KHÁI NIỆM :
Mức cầu tiền tệ là số lượng tiền tệ mà dân chúng các doanh nghiệp và các tổ chức
xã hội, các cơ quan Nhà nước cẩn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại và trong tươnglại với giá cả và các biến số kinh tế vĩ mô cho trước
Khác với nhu cầu về hàng hóa nhằm thỏa mãn yêu cầu về một giá trị sử dụng nhất
Trang 2định, nhu cầu tiền tệ xuất phát từ khả năng trao đổi của tiền tệ chứ không xuất phát từ bảnthân nó Nói cách khác, hàng hóa chỉ có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định nào đócủa con người thông qua giá trị sử dụng của nó trong khi nếu có tiền trong tay người sởhữu có thể thỏa mãn mọi nhu cầu nếu muốn và đo đó mong muốn nắm giữ tiền dườngnhư là vô hạn.
II/ LÝ DO NẮM GIỮ TIỀN
Chúng ta biết rằng mọi người giữ tiền bởi họ muốn sử dụng nói như một phươngtiện trao đổi, một sự dự trữ giá trị, một đơn vị tính toán và một phương tiện trả góp
Trang 31 Nhu cầu về tiền, giống như những tài sản khác, phán ánh sự trao đổi và những quy định về sự phân bổ danh mục đầu tư Một người dùng tiền (tiền mặt, tiền séc và những vật thay thế tương tự khác ) phần lớn để tiến hành các thương vụ Vì lý do đó, lượng cầu
về tiền phụ thuộc vào phần giá tậ của thương vụ muôn nuốn Hộ gia đình và các nhà kinh doanh phân phối các nguồn lực của họ dựa trên các tài sản phi tiền tệ và tài sản tiền tệ Khi đưa ra các quyết định này họ tính đến lợi nhuận mong muốn trên tài sản, rủi ro, tính
lỏng và những đặc tính thông tin của tài sản đó.Những lý do giao dịch
1.1 Lượng tiền thực tế:
Một vai trò quan trọng của đổng tiền là để giúp thực hiên những giao dịch mộtcách dễ dàng, nó gợi ý rằng việc giữ tiền nên phụ thuộc vào giá trị giao dịch Để hiểu vìsao, hãy giả dụ có 2 cá nhân đang quyết định phân phối nguồn lực của họ Micheál John
và Rex Haskell một người Mỹ và một người Đức có sự giàu có như nhau (tính theo sứcmua) và những sự thích thú như nhau Họ cùng phải đối diện với những sự lựa chọn đầu
tư với lợi nhuận mong đợi được điều chỉnh theo rủi ro, tính lỏng và thông tin lý thuyết sựphân bố danh mục vốn đầu tư cho biết, hai cá nhân này nên giữ phần như nhau trong tổngnguồn lực của họ dưới dạng trên
* Giả sử sự giàu có của John tính bằng USD và của Haskell tính bằng DM và giảđịnh rằng cần 1,6 DM để cân bằng với 1 USD trong sức mua nếu John và Haskell có sốtài sản thực sự bằng tiền như nhau, số DM Haskell nắm giữ sẽ lớn hơn bằng 1,5 lần sốUSD John nắm giữ Nói cách khác sự cân bằng tiền tệ danh nghĩa của Haskell lớn bằng1,5 lần của John Vì thế, cầu tiền giao dịch tỷ lệ với mức giá
Bởi vì sự thay đổi trong việc giữ tiền danh nghĩa tỷ lệ với những thay đổi trongmức giá, ta có thể tập trung vào cầu của số dư tiền tệ thực tế bởi vì giá trị của số du tiền
tệ được điều chỉnh theo những thay đổi trong mức mua
Gọi M là mức cung tiền, p là mức giá cả của nền kinh tế thì lượng tiền thực tế =M/P
Lượng tiền thực tế của nền kinh tế thể hiên sức mua của lượng tiền hiên có
1.2 Tốc độ và cầu lượng tiên thực tế.
Vào đầu những năm 10, Iving Fisher của trường Đại học tổng họp Yale đã phân
Trang 4tích mối quan hệ giữa lượng tiền tê và giao dịch Fisher nhấn mạnh khái niệm tốc độ biểuthị số lân bình quân mà hàng năm 1 u SD được sử dụng đổ mua hàng hóa, dịch vụ trongnền kinh tế.
PY
v = - (1.1)
M
* Ví du : Nếu số lượng tiền là 2000 tỷ USD và GDP danh nghĩa 6000 tỷ USD,
vòng quay bằng 3, trung bình 1 USD được sử dụng 3 lần trong mỗi năm để mua hànghóa, dịch vụ
Nhân hai vế của (1.1 ) với M : MV=PY (1.2 )
Phương trình (1.2 ) được biết như phương trình trao đổi, quy định rằng: số lượngtiền nhân với tốc độ tiền thì bằng số chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế
Để biến đổi ( 1.2 ) thành một thuyết hành vi của cầu tiền, Fisher đã giả định tốc độ
V là một hằng số, do vậy ta có thể viết lại (1.2 ) như sau :
M 1 =( _) Y
* Ví du : Một cửa hàng lớn với số lượng hàng bán 10 triệu USD mỗi năm sẽ có số
lượng giao dịch về hàng hóa, nhân công, khách hàng lớn hơn cửa hàng với số lượnghàng bán mỗi năm 10.000 USD
Trang 51.3. Như vậy, cầu tiền tê của dân chúng và doanh nghiệp tăng theo lượng giao dịch Trịgiá tăng lượng tiền thực tế theo thu nhập thực tế chính là yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiềncung ứng.Những nhân tố trong hệ thống thanh toán :
Tốc độ được xác định một phần bằng cách thức mà những cá nhân tiến hành giaodịch, nó được gọi là những nhân tố hệ thống thanh toán Nói cách khác, nếu có nhiềunhững phương tiện thay thế cho tiền như thẻ tín dụng, máy trả tự động để tiến hành giaodịch, công chúng cần ít tiền mặt và trên séc đểtài trợ chi tiêu hàng ngày Tuy vậy, tốc độ Ml, PY/M sẽ tăng Mặt khác, nếu tiền trở nênphù hợp hơn cho việc tiến hành giao dịch, công chúng sẽ cần nhiều tiền hơn để chi dùnghàng ngày
* Ví du : Nếu những Công ty dùng thẻ tín dụng ấn định phí 1 USD cho mỗi lần
mua, bạn sẽ dùng thẻ thanh toán ít hơn khi mua hàng và sẽ mang lại nhiều tiền mặt hơn
Vì vậy, lượng tiền sẽ tăng và vòng quay tiền tệ sẽ giảm Những nhân tố hệ thốngthanh toán sẽ thay đổi ứng với những nhân tố ấn định sự đổi mới tài chính Sự chuyểndịch của cầu do phí cung ứng và quy chế điều tiết các dịch vụ tài chính
1.4 Những thay đổi của lãi suất
Những lý thuyết ban đầu về cầu tiền tệ như thuyết số lượng, không coi lãi suất nhưmột nhân tố của cầu tiền giao dịch/
Trong các đóng góp cho thuyết cầu tiền, william Baumol (trường Đại học Princeton) và Sarnes Tobin (trường Đại học Yale ) đã phát hiển những mô hình tác động của lãisuất đối với cầu giao dịch
* Ví du : John nhận trước một tờ séc 2.500 USD mỗi tháng và sử dụng tổng số đó
với một tỷ lê không đổi trong tháng
Một giải pháp cho Hohn là phải chi tiêu trong suốt tháng, do đó lượng tiền bìnhquân là 2500 / 2 = 1.250 USD Cuối tháng John còn lại ) USD Khi anh ta được trả mộtlần nữa, quá trình lại tiếp tục Tốc độ hàng năm của tiền cho John là thu nhập của anh ta30.000 USD chia cho lượng tiền bình quân của anh ta hàng tháng 1250 USD hay bằng
30.000 - =241250
Trang 6Giả định rằng số tiền trả cho John không có lãi, do đó bỏ qua thu nhập lợi tức trên
số tiền của John
Để có thu nhập tiền lãi thay vì để tiền nhãn rỗi, John có thể đầu tư một phần tiềnlương 2500 u SD; chẳng hạn đầu tư 1250 USD vào trái phiếu Kho bạc để bổ sung tiền lãivào nguồn lực chi tiêu của anh ta
Nếu John đầu tư 1250 USD, lượng tiền của anh ta sẽ bằng không ở giữa tháng chứkhông phải ở cuối tháng
Nếu lãi suất của trái phiếu kho bạc là 0,75%, anh ta sẽ thu nhập thêm 4,69 u SD =[(0,5 ).(0,0075 ).(1250 USD )] mỗi tháng hay 56,25 USD mỗi năm
John không thể chi dùng trực tiếp trái phiếu Kho bạc, sang có thể đổi chúng thànhtiền Việc này kéo theo những chi phí như chi phí chuyển tài sản khácthành tiền
Do đó, John sẽ phải cân nhắc lợi ích của việc ghi tiền theo chi phí cơ hội được đobằng lãi suất thị trường mà anh ta sẽ kiếm được do nẵm giữ trái phiếu
Như vậy, ta có thể rút ra rằng cầu tiền giao dịch phụ thuộc vào lãi suất Một sựtăng trong lãi suất thị trường làm tăng chi phí cơ hội của lượng tiền giao dịch Các cánhân sẽ giữ tiền ít hơn và tốc độ sẽ tăng Một sự giảm trong lãi suất thị trường sẽ làmgiảm chi phí giữ tiền, các cá nhân sẽ giữ số tiền nhiều hơn và tốc độ sẽ giảm
Do đó, cầu tiền giao dịch tỷ lê nghịch với lãi suất thị trường, trái lại, tốc độ củalượng tiền giao dịch tỷ lệ thuận với lãi suất thị trường Vậy, lãi suất có vai trò trong việcxác định cầu tiền giao dịch
1.5 Những quy định của việc phân bổ danh mục vốn đầu tư :
Trang 7Tốc độ cũng thay đổi theo thời gian ứng với những quyết định phân bổ danh mục vốn đầu
tư Bởi vì tiền là một tài sản với tư cách là vật trung gian trao đổi, những thay đổi tronglợi tức chờ đợi hay trong rủi ro, tính lỏng, hay thông tin liên kết nó sẽ làm thay đổi cầutiền mặt của hộ gia đình và doanh nghiệp
2 Những lý do về phân bổ danh mục vốn đầu tư :
Ta có thể nhận thấy rằng, lượng giao dịch không thể giải thích một cách đầy đủnhững biến độ trong lượng tiền Vì vậy, có thể áp dụng thuyết phân bổ danh mục vốn đầu
tư cho cầu tiền tệ bằng cách phân tích mỗi yếu tố quyết định của cầu tài sản
2.1Thu nhập và của cải:
Lượng tiền thực tế dưới dạng tiền mặt và tài sản séc là một biểu hiện của tài sảncần thiết Nếu hộ gia đình và doanh nghiệp với thu nhập cao và giàu có sẽ không duy trìcùng một tỷ lệ tài sản của họ dưới dạng tiền mặt mà lại bằng không hay lãi thấp nhưnhững hộ gia đình và doanh nghiệp có thu nhập thấp
* Ví du : Những cá nhân với thu nhập cao có thể duy trì những tài khoản sinh lợi
cao mà họ có thể chuyển nhượng dễ dàng thành tiền gửi séc; các doanh nghiệp cũng cóthể làm như vậy
Thêm vào đó, những doanh nghiệp có thể có một hạn mức tín dụng với nhữngngân hàng, cho phép họ tiến hành các giao dịch với số lượng tiền mặt hay số dư tiền gửiséc thấp Những hộ gia đình có thu nhập cao có thể dùng thẻ tín dụng Ngân hàng (VISAhoặc Master Card)
2.2Lợi nhuận mong muốn :
Khi tính toán thu nhập trên tài sản tiền tệ, hộ gia đình và doanh nghiệp khôngnhững phải tính đến lại trả tiền số dư tiền gửi mà còn phải tính đến đặc tính thuận lợi củađồng tiền
Nếu chẳng hạn có thay đổi khác; một sự tăng của lãi suất hay tăng trong sự thuậntiện tự nhiên của đồng tiền sẽ khiến hộ gia đình và doanh nghiệp tăng lượng tiền tệ của
họ và tăng lượng cầu tiền
Một sự giảm trong lãi suất tiền tệ hay trong sự thuận tiện tự nhiên sẽ khiến nhữnggia đình và doanh nghiệp giảm số dư tiền tệ của họ và giảm lượng cầu tiền Theo cảnh
Trang 8đó, hộ gia đình và doanh nghiệp so sánh lợi tức dự tính mong đợi trên tiền trong việcquyết định giữ bao nhiêu tiền.
2.3 Rủi ro, tính lỏng và thông tin.
Khi phân bổ tài sản để nắm giữ dưới dạng trên, những cá nhân và doanh nghiệpcũng cần cân nhắc rủi ro, tính lỏng và thông tin về thu nhập của việc nắm giữ tiền
* Nếu thu nhập trên tài sản lựa chọn (thương phiếu, trái phiếu, cổ phần) có nguyhiểm, những người tiết kiệm có thể chuyển sang giữ tiền, làm tăng cầu tiền tệ
* Những cải cách cho phép dể dàng chuyển vốn từ dạng ít tính lỏng sang dạng cótính lỏng cao hơn; như chuyển từ trái phiếu, cổ phần sang dạng một tài khoản séc; hay từ
cổ phần góp sang tín dụng; sẽ làm giảm giá trị vốn có về tính lỏng của tiền
* Các tài sản khác càng trở lên lỏng nhiều hơn thì càng có nhiều người tiết kiệmchủ tâm đến thu nhập về lãi suất tiền tệ
* Cuối cùng, một số cá nhân đặt tin tưởng vào giá trị cao của việc gửi tiền vì nómang lại cho họ sự kín đáo Điều này liên quan đến những hoạt động phi pháp, tiềnthuế có thể biện hộ cho giá trị của đồng tiền kiếm được
* Song cầu tiền còn có thể bị ảnh hưởng của những thay đổi trong số lượng củahoạt động phi pháp hay thay đổi ttong luật thuế khác
III/ NHỮNG YẾU Tố QUYẾT ĐỊNH CẦU TIEN :
1 Cầu tiền tệ thực tế có tương quan thuận với mức độ giao dịch
2 Cầu tiền tệ thực tế có tương quan nghịchvới sự phát triển và hệ thống thanhtoán
3 Những quyết định phân bổ danh mục đầu tư
Trang 9Bởi vì nhiều tài sản tài chính có thể thay cho tiền thu nhập dự tính của tài sản đóảnh hưởng đến cầu tiền.* Hàm Cầu tiền : Md
- LCY^i-D (3.1)p
Hàm thanh khoản, đại diện bằng L: mô tả cầu tiền thực tế như là một hàm của thunhập thực tế, Y, những nhân tố hệ thống thanh toán, s và thu nhập mong đợi trên tài sảnphi tiền và tiền, i- im
Như vậy, sự gia tăng trong thu nhập thực tế sẽ làm tăng lượng cầu tiền thực tế; sựtăng của các phương tiện thanh toán thay thế tiền làm giảm số lượng thực tế của cầu tiền;một sự tăng trong chi phí cơ hội của lượng tiền thực tế làm giảm số lượng thực tế của cầutiền và một sự tăng trong lạm phát mong đợi dẫn đến một sự giảm trong cầu tiền, nếu lãisuất thị trường tăng nhiều hơn lãi suất trả tiền cho tiền nắm giữ do lạm phát mong đợităng
Cầu tiền thể hiện qua phương trình (3.1 ) cung cấp thông tin tiềm năng có ích vềnhững chuyển động trong toàn bộ lượng tiền thực tế ứng với sự dịch chuyển của thu nhậpthực tế và thu nhập mong đợi trcn tiền và tài sản phi tiền
Những yếu tố quyết định cầu tiền
TT Sự tăng trong Gây ra cầu tiền
l Mức giá p tăng tương ứng Cầu giao dịch Một sự gấp đôi của mức giá
làm gấp đôi số USD cần cho giao dịch
2 Thu nhập thực
tếY
Tăng ít hơn tương
ứng Cầu giao dịch Sự tăng trong thu nhập nâng
lượng giao dịch và cầu của tài sản tiền mặt
IV sự PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT VỂ MỨC CẦU TIEN TỆ
Trang 101 Học thuyết số lượng tiền tệ :
Được các nhà kinh tế cổ điển đề sướng trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, họcthuyết số lượng tiền tệ là một học thuyết về việc giá tộ danh nghĩa của tổng thu nhậpđược xác định như thế nào
1.1. Tốc độ chu chuyển của tiền tệ và phương trình trao đổi.
Cách trình bày rõ nhất trong việc tiếp cận học thuyết số lượng là tác phẩm củanhà kinh tế Mỹ Irving Fisher Trong cuốn sách nổi tiếng " Sức mua của tiền tệ " Fisherxem xét mối quan hệ giữa tổng lượng tiền với tổng chi tiêu để mua hàng thành phẩm vàdịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế PY, trong đó p là mức giá cả, Y là tổng sảnphẩm Tổng chi tiêu PYT cũng được coi tương đương như tổng thu nhập danh nghĩa đốivới nền kinh tế hoặc như tổng sản phẩm quốc gia danh nghĩa GNP
* Fisher lập luận rằng tốc độ được xác định bởi các tổ chức trong một nền kinh tế
mà ảnh hưởng đến cách các cá nhân thực hiện các giao dịch
Nếu người ta dùng sổ ghi nợ và thẻ tín dụng để tiến hành các giao dịch và do đó
mà sử dụng tiền ít hơn thông thường khi mua, thì lượng tiền được yêu cầu ít để tiến hànhcác giao dịch do thu nhập danh nghĩa tạo ra : M giảm so với PY; tốc độ PY/M sẽ tănglên
Trang 11Mặt khác, nếu mua trả bằng tiền mặt và bằng sẽ là thuận tiện hơn thì cần sử dụng lượngtiền nhiều hơn để tiến hành các giao dịch được sinh ra bởi cùng một mức thu nhập danhnghĩa và tốc độ sẽ giảm đi Fisher giữ quan điểm là những đặc điểm về tổ chức và vềcông nghệ của nền kinh tế sẽ chi ảnh hưởng đến tốc độ một cách chậm chạp qua thờigian, cho nên tốc độ thông thường sẽ giữ nguyên một cách hợp lý trong thời gian ngắn.
1.2 Học thuyết số lượng tiền tệ :
Quan điểm của Fisher cho rằng tốc độ là khả bất biến trong thời gian ngắn, chonên chuyển phương trình trao đổi thành học thuyết số lượng tiền tệ Học thuyết này phátbiểu rằng số lượng thu nhập danh nghĩa chỉ được xác định bởi những chuyển động trong
số lượng tiền tệ Khi lượng tiền ( M ) tăng gấp đôi, thì MY tăng gấp đôi và giá trị của thunhập danh nghĩa PY cũng vậy
Vì những nhà kinh tế cổ điển nghi rằng tiền lương và giá cả là linh hoạt, cho nên
họ tin rằng mức tổng sản phẩm được sản xuất trong nền kinh tế (Y) trong những thời gianthường sẽ giữ một mức công ăn việc làm đầy đủ, do vậy (Y ) trong phương trình trao đổi
có thể được coi là không thay đổi một cách hợp lý trong thời gian ngắn
Như vậy, đối với những nhà kinh tế cổ điển, học thuyết số lượng tiền tệ cung cấpmột cách giải thích những sự vận động của mức giá cả những sự vận động trong mức giá
cả chi là kết quả của những thay đổi trong số lượng tiền tệ
1.3 Học thuyết số lượng về cầu tiền tệ :
Vì học thuyết số lượng tiền tệ cho chúng ta viết bao nhiều tiền được nắm giữ đốivới một số tổng thu nhập đã cho cho nên trong thực tế đó là một học thuyết về cầu tiền
tệ Ta có thể thấy điều đó bằng cách chia 2 vế của phương trình trao đổi cho V 1
M=— PYV
Khi thị trường tiền tệ cân bằng, số lượng tiền mà người dân nắm giữ (M ) bằng sốlượng tiền được yêu cầu ( Md ); thay M= Md Xác định k=l/v là 1 hằng số => Md = kPY
Phương trình Md = kPY cho biết rằng, vì k là hằng số, do đó mức các giao dịchsinh ra bởi một mức cố định của thu nhập danh nghĩa ( PY ) xác định số lượng tiền Md
mà người dân yêu cẩu
Trang 12* Kết luân : Học thuyết số lượng tiền tệ của Fisher nêu lên rằng tiền tệ thuần túy
là một hàm số của thu nhập và lãi suất không có ảnh hưởng đến cầu về tiền tệ
2 Cách tiếp cận của Cambỉrỉdge về cầu tiền tệ :
Trong khi Fisher đang phát triển quan điểm học thuyết số lượng về cầu tiền tệ thìmột nhóm nhà kinh tế cổ điển tại Cambridge, Anh cũng đang nghiên cứu vấn đề đó Mặc
dù sự phân tích của họ đưa đến một phương trình giống y như phương trình cầu tiền tệcủa Fisher
Md =kPY nhưng cách tiếp cận của họ khác cách tiếp cận của Fisher rất nhiều.Thay vì nghiên cứu cầu tiền tệ bằng cách chỉ nhìn vào mức giao dịch và các tổchức ảnh hưởng đến cách dân chúng tiến hành các giao dịch, coi đó là những yếu tốquyết định chủ chốt; các nhà kinh tế học Cambridge đặt câu hỏi xem các cá nhân sẽmuốn giữ bao nhiêu tiền
Trong mô hình Cambridge, các cá nhân có một sự linh hoạt trong việc quyết địnhnắm giữ tiền và hoàn toàn không ràng buộc vào những hạn chế về thể chế Vì vậy, cáchtiếp cận của Cambridge không xóa bỏ các ảnh hưởng của lãi suất đối với cầu tiền tê
Những nhà kinh tế cổ điển Cambridge thừa nhận rằng tiền tệ có 2 thuộc tính thúcđẩy người ta muốn giữ tiền
* Tiền tộ hoạt động như một p.tiện trao đổi mà người ta cần dùng để tiến hành cácgiao dịch Các nhà kinh tế Cambridge đồng ý với Fisher rằng cầu tiền tệ phải có liên quanđến mức các giao dịch và rằng sẽ có 1 yếu tố cấu thành giao dịch của cầu tiền tệ tỷ lệ vớithu nhập danh nghĩa
Trang 13Tiền tệ hoạt động như một phương tiện cất trữ của cải.Các nhà kinh tế Cambridgekết luận rằng cầu tiền tệ phải tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa và biểu thị hàm số cầu tiền tênhư sau :
Md = kPYtrong đó k là hằng số của tính tỷ lệ
Vì phương trình này giống như phương trình về cầu tiền tệ của Fisher, cho nêndường như nhóm Cambridge đồng ý với Fisher rằng lãi suất d không đóng vai trò gìtrong cơ cấu tiền tệ trong thời gian ngắn
Mặc dù các nhà kinh tế Cambridge thường coi k là một hằng số và đồng ý vớiFisher rằng thu nhập danh nghĩa do lượng tiền tệ quyết định, nhưng cách tiếp cận của họcho phép các cá nhân lựa chọn số lượng tiền nắm giữ Điều này cho phép k có thế biếnđộng trong thời hạn ngắn
Tóm lai: Fisher và các nhà kinh tế Cambridge phát triển một cách tiếp cận cổ điển
về cung cầu tiền tệ, theo đó câu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập Tuy nhiên, hai cách tiếp cậncủa họ khác nhau ở chỗ Fisher nhấn mạnh các nhân tố kỹ thuật và bác bỏ mọi khả năngcủa lãi suất ảnh hưởng đến cầu tiền tệ trong ngắn hạn, trong khi trường phái Cambridgenhấn mạnh sự lựa chọn của cá nhân và không bác bỏ ảnh hưởng của lãi suất
3 Lý thuyết ưa thích tiền mặt của Keynes:
Trong cuốn sách nổi tiếng " Học thuyết chung về công ăn việc làm ", lãi và tiềntệ" John Maynard Keynes đã từ bỏ quan điểm cổ điển cho rằng tốc độ là một hằng số vàphát triển một học thuyết về cầu tiền tê Học thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng củalãi suất
Lý thuyết về sự ưa thích tiền mặt của Keynes đặt ra câu hỏi tại sao các cá nhânkhông gui tiền Keynes nêu lên tiền đề rằng có 3 động cơ đằng sau cầu tiền tệ
Trang 14hành các giao dịch hàng ngày, người ta còn giữ thêm tiền dùng cho những nhu cầu bấtngờ Keynes cho rằng số tiền dự phòng mà người ta muốn nắm giữ được xác định trướctiên bởi mức độ các giao dịch mà người ta dự tính sẽ thực hiện trong tương lai và nhữnggiao dịch tỷ lệ với thu nhập Do đó, cầu tiền dự phòng tỷ lệ với thu nhập.
3.3 Động cơ đầu tư:
Keynes giả thiết rằng tài sản của công chúng được chia làm hai loại tiền và tráiphiếu Trong đó tiền là loại tài sản không mang lãi suất Công chúng giữ tiền thay cho tráiphiếu khi dự tính rằng mức lãi suất hiện hành thấp, nó có thể sẽ tăng lên trong thời giantới làm cho trái phiếu giảm giá, do đó mà giảm nguồn thu nhập từ chênh lệch giá tráiphiếu Nếu sự mất giá này lớn hơn mức lãi suất cố định của trái phiếu thì người sở hữutrái phiếu sẽ bị lỗ Trong trường hợp đó việc giữ tiền với lãi suất bằng không có ưu thếhơn
Theo Keynes, sự biến động của như cầu tiền này phụ thuộc với sự biến động củalãi suất theo mối tương quan nghịch
3.4 Đặt chung 3 động cơ vói nhau:
* Đặt chung 3 động cơ giữ tiền vào phương trình cầu tiền tệ, Keynes đã phân biệtgiữa số lượng danh nghĩa và số lượng thực tế tiền được đánh giá theo giá tậ vật nó có thểmua VD: Mọi giá cả trong nền kinh tế tăng gấp đôi, vậy thì cùng một lượng tiền danhnghĩa có thể mua được chỉ 1/2 lượng hàng hóa
Người ta muốn giữ một số nhất định của số dư tiền thực tế một số tiền mà 3 động
cơ của Keynes chỉ ra là sẽ liên hê đến thu nhập thực tế Y và lãi suất i
Keynes đã viết phương trình cầu tiền tệ sau đây, được gọi là hàm số ưa thích tiềnmặt, nó cho biết rằng cầu về số dư tiền thực tế Md là hàm số của i và Y p Md
- =f(i,Y)
p - +Dấu - dưới i trong hàm số ưa thích tiền mặt có nghĩa là cầu về số dư tiền thực
tế là liên hê âm đến lãi suất i, trong khi dấu + dưới Y có nghĩa là cầu về số dư tiền thực tế
và thu nhập thực tế Y lên hệ dương
Kết luận của Keynes rằng cầu tiền tệ không chỉ liên hệ đến thu nhập nhưng cũngliên hệ đến lãi suất là điểm xuất phát chính từ quan điểm của Fisher về cung tiền trong đólãi suất có thể không ảnh hưởng đến cầu tiền tệ
Trang 15Bằng cách lập hằng số ưa thích tiền mặt cho tốc độ PY/Mi ta có thể thấy rằng họcthuyết Keynes về cầu tiền tệ hàm ý rằng tốc độ không phải đứng nguyên mà thay vào đó
nó biến động theo chuyển động của lãi suất Phương trình ưa thích tiền mặt có thể đượcviết lại
Md f (i,Y)Bằng cách nhân 2 vế phương trình cho y và thừa nhận rằng Md có thể được thaybằng M bởi vì cả 2 vế có thể bằng nhau trong sự cân bằng của thị trường tiền tệ
số dư tiền thực tế hơn với một mức thu nhập đã cho biết, do đó, tỷ lệ của vòng quay tiền
tệ phải cao hơn Lập luận này chỉ cho biết rằng do lãi suất bị biến động mạnh nên thuyết
ưa thích tiền mặt cầu tiền tê chỉ cho thấy tốc độ cũng biến động mạnh
Thuyết ưa thích tiền mặt là một sự mở rộng của cách tiếp cận Cambridge cổ điển,nhưng nó chính xác hơn nhiều về những lý do tại sao người ta giữ tiền Mô hình củaKeynes về cấu tiền tệ có ngụ ý quan trọng rằng tốc độ không thay đổi nhưng thay vào đó,
nó liên hệ tích cực với lãi suất mà lãi suất thì biến động rất mạnh Học thuyết của Keynescũng bác bỏ tính không thay đổi của tốc độ, bởi VÌ những thay đổi trong dự tính của dânchúng về mức thông thường của lãi suất sẽ gây nên 1 sự di chuyển trong cầu tiền tê sẽlàm cho tốc độ cũng di chuyển
Như vậy, thuyết ưa thích tiền mặt của Keynes làm tiêu tan sự hoài nghi đối vớihọc thuyết số lượng cổ điển rằng thu nhập danh nghĩa trước tiên là do những chuyểnđộng trọng lượng tiền tệ quyết định
4 Học thuyết số lượng Tiền tệ hiện đại của Friedman
Milton Friedman đã đề nghị cách tiếp cận khác để phân tích cầu tiền vào năm
1956 thay vì phân tích những động cơ đặc biệt thúc đẩy vực gửi tiền, như Keynes đã làm,
Trang 16Frudman đơn giản nêu lên rằng cầu tiền tệ phải bị ảnh hưởng bởi cùng những nhân tố ảnhhưởng đến cầu của bất kỳ tài sản nào Vì vậy Friedman áp dụng học thuyết về cầu tài sảnvào tiền tệ.
Học thuyết cầu tài sản chỉ ra rằng cầu tiền tệ phải là một hàm số của những tàinguyên sắn sàng được dùng cho các cá nhân (tức là của cải của họ ) và của lợi tức dự tính
về các tài sản khác so với lợi tức dự tính về tiền Cũng như Kenis , Friedman thừa nhậnrằng người ta muốn giữ một số lượng nhất định cả số dư tiền thực tế (lượng tiền theo giátrị thực ) Từ sự phân tích đó , Friedman trình bày ý kiến về cầu tiền tệ như sau :
Md =f ( Yp ; r b -r m ; r e -r m ;n e - r m )
trong đó các dấu ở dưới phương trình chỉ ra rằng cầu tiền tệ lên hệ dương (+) hoặc(-) đến các số hạng ngay trên dấu đó :
Md/P: cầu về số dư tiền mặt thực tế
Yp: cách đo của cải của Friedman được gọi là thu nhập thường xuyên
Ví du : trong tình hình bành trướng của chu kỳ tăng nhanh, nhưng do một vài sự
tăng lên đó là tạm thời, nên thu nhập dài hạn bình quân không thay đổi quá nhiều Nhưvậy, trong giai đoạn phồn vinh thu nhập thường xuyên tăng lên ít hơn so với thu nhập.Trong giai đoạn suy thoái nhiều thu nhập sụt xuống tạm thời, thu nhập dài hạn bình quângiảm xuống ít hơn thu nhập
Một hàm ý của cách sử dụng của Friedman về khái niệm thu nhập thường xuyênnhư là một yếu tố quyết định cầu tiền tệ là cầu tiền tệ sẽ không biến động nhiều cùng vớicác chuyển động của chu kỳ kinh doanh
Trang 17Một cá nhân có thể giữ của cải dưới nhiều hình thức tiền Friedman sắp xếp chúngthành 3 loại tài sảmtrái khoán ,cổ phiếu , hàng hoá.
Những động lực thúc đẩy giữ những tài sản đó hơn là tiền được thể hiện bằng lợitức dự tính về mỗi tài sản đó so với lợi tức dự tính về tiền
Lợi tức dự tính về tiền ( rm ) thể hiện trên 3 số hạng rb -rm , re-rm , ne-rm , bị ảnhhưởng bởi hai nhân tố:
- Các dịch vụ do ngân hàng tiến hành đối với các khoản tiền gửi bao gồm trongcung tiền tệ ,chẳng hạn như số tiền thu được dưới hình thức các séc đã bị huỷ hoặc tựđộng trả tiền các tín phiếu Khi những dich vụ này tăng lên , lợi tức dự tính về giữ tiềnmặt tăng lên
-Trả lãi cho số dư tiền mặt Tài khoản hiên tại và các tiền gửi khác được gồm vàotrong cung tiền tệ thường xuyên trả lãi Do những việc trả lãi tăng lên , lợi tức dự tính vềtiền tăng lên
Các số hạng rb-rm , re- rm ,biểu thị cho lọi tức dự tính về trái khoán ,cổ phiếu vớilợi tức dự tính về tiền Vì chúng tăng lên nên lợi tức dự tính tương đối về tiền giảmxuống , và cầu tiền tệ giảm xuống chúng tăng lên và như vậy là bằng tỉ lệ lạm phát dựtính IT Khi ne-rm tăng lên thì lợi tức dự tính về hàng hoá so với tiền tăng lên và cầu tiền
tệ giảm xuống
SỐ hạng sau cùng IT- rm biểu thị lợi tức dự tính về hàng hoá so với tiền dự tính
về dữ hàng hoá là tỉ lệ dự tính của khoản lợi về vốn phát sinh khi giá cả của bằng lợi tức
dự tính về mỗi một tài sản đó so với lợi tức dự tính về tiền
B/ MỨC CUNG TIỀN.
I. KHÁI NIỆM
Mức cung tiền tệ là lượng tiền được cung ứng nhằm thoả mãn các nhu cầu giaodịch , chi trả và dự trữ của các doanh nghiệp , chính phủ và cá nhân Nó được thể hiệndưới hình thức tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và các tài sản tài chính khác
II. THÀNH PHẦN CỦA MỨC CUNG TIEN TỆ
Trang 181 Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng (M o )
Mo là lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng phục vụ cho nhu cầu giaodịch thường xuyên của các chủ thể kinh tế trong xã hội Mo là bộ phận tiền có tính lỏngcao nhất và đang có xu hướng giảm dần trong tổng lượng thanh toán Tại các nước pháttriển , bộ phận tiền mặt trong lưu thông chỉ chiếm khoảng 5-7% mức cung tiền tệ TạiViệt Nam , khối tiền này giảm xuống còn khoảng 30% trong những năm gần đây
- Tiền giấy hay còn gọi là giấy bạc ngân hàng , do NHTƯ phát hành được đưa vaolưu thông
- Tiền kim loại là loại tiền được đúc bằng kim loại, thường đúc với tư cách lẻ đểthuận tiện cho trao đổi với hành hoá , dịch vụ với mức giá cả khác nhau và sử dụng thanhtoán tự động bằng máy
Tiền mặt được in và đúc theo quy định của luật pháp và tuân thủ các quy chế củachính phủ về việc phát hành tiền Tất cả tiền mặt in và đúc chuẩn bị phát hành vào lưuthông đều được chuyển tới NHTƯ để bảo quản và chuẩn bị đưa vào lưu thông
*Tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi phát hành séc (D) là tiền gửi củacác tổ chức kinh tế hoặc cá nhân kinh doanh gửi tại các ngân hàng thương mại Mục đíchcủa người gửi loại tiền này là dùng để thanh toán và chi trả hàng hoá và dịch vụ bằnghình thức thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng
Lượng tiền giao dịch M| là bộ phận linh hoạt, nó được sử dụng trong giao dịchthường xuyên và là đối tượng kiểm soát của NHTƯ :
Mt= c + D
Trang 193 Tiền mở rộng (M 2 )
Tiền cung ứng còn dược xác định theo thành phần tiền tệ M2 M2 bao gồm Mj vàcác loại tiền gửi có kỳ hạn , tiền gửi tiết kiệm của công chúng gửi tại các tổ chức tín dụng Mục đích người gửi loại tiền gửi có kỳ hạn và tiền tiết kiệm thu nhập vì chúng thường
có lãi cao hơn so với loại tiền gửi không kỳ hạn
M2= C+ D+ T
trong đó T là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm của công chúng M2 kém linhhoạt hơn so với M, nhưng NHTƯ cần phải kiểm soát M2 vì tiền gửi có kỳ hạn là tiềmnăng của tiền giao dịch Giữa tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn có thể hoánđổi cho nhau một cách dễ dàng , đặc biệt khi thị trường tiền tệ phát triển Vì thế M2 đượccoi là khối tiền kiểm soát chính thức của NHTW
Cách phân chia Mj và M2 với các quốc gia trên thế giới là gần giống nhau , nhưng
để kiểm soát và quản lí khối lượng tiền nhiều hơn nữa , đặc biệt ở các nước có thị trườngtài chính phát triển thì người ta còn bổ sung thêm thành phần của tiền cung ứng như M) ,M2M13
Tại Việt Nam , tỉ trọng tiền gửi có kỳ hạn trong M2 đang tăng lên nhanh chóng ,tăng lên trên 41% năm 1997 và trên 50% tổng phương tiên thanh toán năm 1998 , phảnánh tôc độ tiền tệ hoá nền kinh tế đang tăng lên
4 Tiền tài sản (M 3 )
M3= M2 + các giáy tờ có giá M3 = c+ D+ T+ MMFTrong đó MMF là các chứng từ có giá được coi như tiền hoặc các tài sản khác cóthể chuyển hoá thành tiền
Các nước có thể có cách phân chia M3 khác nhau
Ví dụ :* Tại Mỹ , ngoài M|, M2 còn quy định M3 ,L :
- M3 bao gồm : M2 và tiền gửi có thời hạn với một khối lượng lớn hợp đồng mualại dài hạn
- L bao gồm M3 và các giấy tờ có giá ngắn hạn
*Tại Anh , tiền cung ứng được phân chia thành các thành phần
M= c+ R
Trang 202 Nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn của NHTƯ
Khi NHTƯ thực hiên việc mua bán các giáy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường sẽlàm tăng cơ số tiền tệ , dẫn đến tăng lượng tiền cung ứng Khi NHTƯ thực hiên nghiệp
vụ bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường thì sẽ làm giảm cơ số tiền tệ dẫn đếngiảm lượng tiền cung ứng
3 Lãi suất tái chiết khấu:
Khi NHTƯ tăng lãi suất tái chiết khấu, dẫn đến giảm số tiền vay tái chiết khấu, làmgiảm lượng tiền cung ứng
Ngược lại khi NHTƯ giảm lãi suất chiết khấu dẫn đến các ngân hàng thươngmại tăng tiền vay từ NHTƯ,hay khi NHTƯ giảm lãi suất tái chiết khấu thì có khả năngảnh hưởng đến làm lãi suất thị trường tăng dẫn đến tăng lượng tiền cung ứng Như vậylượng tiền cung ứng có tương quan tỷ lệ nghịch với lãi suất tái chiết khấu
4 của cải xã hội
Khi của cải xã hội tăng lên tức là tăng sản lượng hàng hoá đưa vào lưu thông dẫnđến tăng câù về tiền, đòi hỏi cung tiền tăng tương ứng ngược lại, khi của cải của xã hộigiảm làm giảm cung tiền
Như vậy lượng tiền cung ứng có tương quan tỷ lệ thuận với của cải xã hội
5 Hoạt động bất hợp pháp trong xã hội.
Một nền kinh tế có nhiều hoạt động bất hợp pháp như buôn lậu, trốn thuế thì lượngtiền cung ứng giảm và ngược lại
Trang 216 Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
Khi lãi suất tiền gửi không kỳ hạn tăng thì xảy ra sự chuyển đổi từ tiền mặt sangtiền gửi, người gửi tiền sẽ có lợi hơn
Vì vậy làm cho tỷ lệ C/D giảm, dẫn đến tăng hệ số mở rộng tiền tệ.Tiền cung ứngtăng và ngược lại.Lượng tiền cung ứng có tương quan tỷ lệ thuận với lãi suất tiền gửikhông kỳ hạn
7 Sự mất an toàn của các tổ chức tín dụng
Sự không ổn định của các tổ chức tín dụng biểu hiện bằng khả năng chi trả khó khăn , người gửi rút tiền mặt, dẫn đến hệ số mở rộng tiền tệ giảm làm cho lượng tiền cung ứng giảm và ngược lại, nếu hoạt động của các tổ chức tín dụng Ổn định ,có uy tín thì lượng tiền cung ứng sẽ tăng
.Như vậy lượng tiền cung ứng có tương quan tỷ lệ nghịch với sự không ổn định củacác tổ chức tín dụng
8 Dự đoán việc rút tiền của khách hàng.
Các ngân hàng thương mại dự đoán khách hàng gửi tiền và rút tiền gửi nhiều hơntrước thì họ phải tăng dự trữ dư thừa,tỷ lệ ER/D tăng,dẫn đến hệ số mở rộng tiềngiảm,lượng tiền cung ứng giảm và ngược lại
Như vậy,lượng tiền cung ứng có tương quan tỷ lệ nghịch với dự đoán việc rút tiềngửi của khách hàng với ngân hàng thương mại
9 Lãi suất thị trường
Khi lãi suất thị trường tăng,chi phí cơ hội của việc nắm giữ dự trữ dư thừa của ngân hàng thương mại tăng,dẫn đến tỷ lệ ER/ D giảm,hệ số mở rộng tiền tệ tăng ,lượng tiền cung ứng tăng.Mặt khác,khi lãi suất thị trường tăng,lãi suất tái chiết khấu của NHTƯ không đỏi,làm tăng lợi ích của việc vay tiền từ NHTƯ ,dẫn đến ngân hàng thương mại vay tiền của NHTƯ nhiều,làm cho tiền cung ứng tăng
Trang 22.PHẦN HAI - CÂN ĐỐI CUNG CAU TIEN TỆ Ở VIỆT NAM
I.THựC TRẠNG NEN KINH TẾ VIỆT NAM
l Tốc độ tăng GDP liên tục tăng
Sau những năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Đặc biệt GDP liên tục tăng, báo cáo của ngân hàng nhà nước cho biết cụ thể là:
2 Tiêu dùng xã hội tăng mạnh
Khác vổi giai đoạn từ 1991 - 2000 tiều dùng xã hội giảm sút mạnh, trong giai đoạn
2002 - 2006 tiều dùng xã hội ngày càng gia tăng mạnh
Tiêu dùng xã hội gia tăng đã khiến tâm lý hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp,
và các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng về quá trình đi lên và phát triển của kinh tế ViệtNam kết quả là họ quyết định chi tiêu nhiều hơn, tiết kiệm ít, cầu tiền tăng
3 Chỉ số giá CPI và lạm phát
Tuy nền kinh tế phát triển tốt nhưng tỷ lê lạm phát cũng gia tăng cao bình quân mỗinăm lạm phát là 150%
Trang 23Tỉ lệ lạm phát(%) 5.8 6.1 7.4 7.6 8.7
Nhìn chung sự gia tăng giữa tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2002đến năm 2005 là tương đối phù hợp, những năm 2006 tỷ lệ lạm phát gia tăng khá cao8.7%, đặc biệt mấy tháng cuối năm 2007 này tỷ lệ lạm phát tăng cao đột biến, theo dự báocủa các nhà kinh tế khoảng 10.2 %
Nguyên nhân chính của sự gia tăng lạm phát từ năm 2006 đến nay là do Việt Nam
có được các kết quả quan trọng kể cả chính trị lẫn kinh tế: Việt Nam tổ chức thành cônghội nghị APPEC, Việt Nam chính thức gia nhập WT0, đầu tư nước ngoài tăng mạnh vàoViệt Nam đặc biệt các dự án: Quy hoạch và phát triển khu đô thị: Nam An Khánh, Bắc AnKhánh, khu đô thị mới ven sông hồng lượng tiền vào Việt Nam từ các dự án này đ ã tănglên hàng trăng tỷ đô la, thu hút hàng nghàn lao động và chi tiêu trong nước từ đó tăngmạnh, cầu nhiều hơn cung dẫn đến đổng tiền mất giá nghĩa là lạm phát gia tăng
4 Đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài tăng mạnh
Tỷ lệ tăng trưởng đầu tư của khu vực tư nhân tăng mạnh.Sự tăng này còn bị đẩynhanh do cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa hàng hoá nhập khẩu và các sản phẩm của khuvực Nhà nước, khu vực luôn được sự nâng đỡ của chính phủ và do cạnh tranh của khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài
Việc triển khai thực hiện Luật doanh nghiệp ,bước đầu đã tạo khí thế mới cho nềnkinh tế Trong quý I năm 2002 đã có 1956 doanh nghiệp mới đăng kí kinh doanh đến năm
2006 đã có 3300 doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh, Lượng vốn đầu tư
Lượng vốn đầu tư tăng