1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự việt nam

34 193 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 177,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và những quy định của pháp luật: Theo Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 2

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

B PHẦN NỘI DUNG: 5

2 CHUƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ NHŨNG QUY ĐỊNH VỂ CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 5

3 1.Khái niệm và những quy định của pháp luật: 5

4 2 Điều kiện của Đồng phạm 6

5 CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI NGƯỜI TRONG ĐỒNG PHẠM 12

6 1 Người thực hành 12

7 2 Người tổ chức 13

8 3.Người xúi giục 15

9 4.Người giúp sức 16

10 1.Căn cứ vào những dấu hiệu khách quan 19

11 2.Căn cứ vào các dấu hiệu chủ quan 19

12 CHƯƠNG 5: NHỮNG HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG PHẠM CẤU 28 13 THÀNH TỘI PHẠM ĐỘC LẬP: 28

14 1 Tội che dấu tội phạm: 28

15 2 Tội không tố giác tội phạm: 31

C PHẦN KẾT LUẬN 34

Trang 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ luật hình sự nước CHXHCNVN năm 1999 - Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Hà nội - Năm 2008

2 ThS Nguyễn Thị Xuân - Giáo trình Luật hình sự (Khoa Luật - Truờng ĐHKH Huế)

3 Đinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh - Tp Hồ Chí Minh - Năm 2005

4 Nguyễn Lan Anh - Hỏi đáp về Luật Hình Sự Việt Nam - Nhà xuất bản lao động xã hội

- Hà nội - Năm 2008

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

LỜI NÓI ĐẦU

—  —Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòngngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nuớc,quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật

tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi nguời đuợc sống trong một môi truờng xã hội và sinhthái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Đồng thời, pháp luật hình sự góp phầntích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệpỊ công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nuớc vì mục tiêu dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Bộ luật hình sự năm 1999 đuợc xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy nhữngnguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nuớc ta, nhất là của Bộ luật hình sự năm 1985,cũng nhu những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạmtrong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bộ luật hình sự năm 1999 thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấutranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo nguờiphạm tội trở thành nguời luơng thiện; qua đó, bồi duỡng cho mọi công dân tinh thần, ýthức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tộiphạm

Thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự là nhiệm vụ chung của tất cả các cơ quan, tổchức và toàn thể nhân dân

Chính vì vậy để việc thi hành Bộ luật hình sự đuợc thực hiện nghiêm chỉnh, thống

nhất chúng ta cần phải nghiên cứu cụ thể về các quy định của pháp luật hình sự và Chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam là một trong số đó Việc nghiên cứu về Chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa vô cùng to lớn không

những về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng ngừa tộiphạm

về mặt lý luận : Giúp chúng ta hiểu, nhận thức sâu hơn về Chế định đồng phạm trong

Trang 4

pháp luật hình sự Việt Nam, từ đó thấy được những quy định pháp luật về chế định đồngphạm đã phù họp cũng như phát hiện ra những bất cập, thiếu sót chưa được đề cập tới để

có kiến nghị sửa chữa, bổ sung

Về mặt thực tiễn: nghiên cứu cơ sở lý luận về đồng phạm giúp chúng ta tìm hiểunhững nguyên nhân, để ra những giải pháp phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

và tuơng lai, cũng nhu xác đinh rõ vai trò, trách nhiệm đối với từng nguời phạm tội để cóhuớng giải quyết đúng đắn

Nhất là trong thời đại hiện nay, đất nuớc ta qua những năm đổi mới đã có những pháttriển to lớn về mọi mặt trong đời sống chính trị, kinh tế xã hội Tuy nhiên với những mặttrái của nền kinh tế thị truờng dẫn đến một số quan niệm về đạo đức đã thay đổi, cùng vớinhững tàn du của chế độ cũ, những ảnh huởng xấu xâm nhập từ bên ngoài, cộng với nhữngbất cập trong công tác quản lý chua theo kịp với sự phát triển chung của kinh tế, xã hội làmcho tình hình tội phạm gia tăng và có diễn biến hết sức phức tạp với phuơng thức, thủ đoạnngày càng tinh vi, xảo quyệt Đặc biệt là tình trạng phạm tội do nhiều nguời cùng cố ý thựchiện một tội phạm hay khoa học pháp lý gọi là Đồng phạm gây nguy hại lớn cho xã hội.Phạm tội bằng phuơng thức đồng phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn so vớinhững tội phạm do những nguời đơn lẽ thực hiện, bởi có sự tập trung sức lực, trí tuệ, sựphối hợp, tuơng trợ lẫn nhau giữa những kẻ phạm tội, tạo điều kiện thực hiện tội phạm mộtcách dễ dàng hơn và trong nhiều truờng hợp có thể gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọnghơn, dễ dàng che giấu dấu vết của tội phạm để chống lại sự điều tra, khám phá của cơ quanbảo vệ pháp luật, nhất là các tổ chức tội phạm Vì vậy cần nghiên cứu để đấu tranh ngănchặn

Việc nghiên cứu về chế định đồng phạm đuợc thông qua việc phân tích khái niệmđồng phạm, các điều kiện của đồng phạm, các loại nguời trong đồng phạm, phân loại cáchình thức đồng phạm, trách nhiệm hình sự trong đồng phạm và những hành vi liên quanđến đồng phạm cấu thành tội phạm độc lập

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG:

CHUƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ NHŨNG QUY ĐỊNH VỂ CHẾ ĐỊNH ĐỒNG

PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1 Khái niệm và những quy định của pháp luật:

Theo Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

TỔ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa ”

Theo Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

“1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2 Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm ”

Nhu vậy, tội phạm bao giờ cũng thực hiện bởi con nguời cụ thể trong thực tế, một tộiphạm cũng có thể đuợc thực hiện bởi một nguời hoặc có thể đuợc thực hiện bởi nhiềunguời Nhung tội phạm thực hiện bởi nhiều nguời thì bao giờ cũng nguy hiểm hơn so vớitội phạm đuợc thực hiện bởi nhiều nguời đuợc, bởi vì:

- Thứ nhất: Những người cùng thực hiện một tội phạm có thể hỗ trợ cho nhau về vật

chất, tinh thần ngay từ trước, trong và sau khi thực hiện tội phạm gây nhiều khó khăn cho

Trang 6

công tác phát hiện, điều tra xử lý của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

- Thứ hai: Tội phạm được thực hiện bởi nhiều người có thể gây ra hậu quả nghiêm

trọng hơn cho xã hội Trong nhiều trường hợp chúng gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng,gây nên thiệt hại rất lớn về vật chất hoặc tinh thần cho lợi ích của Nhà Nước, của tổ chứchoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà nếu tội phạm đó được thực hiện bởi mộtngười thì không thể làm được

- Thứ ba: Do hai hay nhiều người cùng thực hiện một tội phạm cho nên những người

cùng tham gia hành động tội phạm có nhiều phương pháp và thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn

so với những trường hợp phạm tội đơn lẽ trong tất cả các giai đoạn thực hiện tội phạm.Hành vi của những người trong Đồng phạm có khả năng hỗ trợ giúp đỡ nhau trong cả quátrình thực hiện tội phạm

Thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đã chỉ ra đa số tội phạm nghiêmtrọng được thực hiện đều có nhiều người cùng cố ý tham gia, nhất là những tội phạm vềtham nhũng, buôn lậu Một tội phạm được thực hiện bởi nhiều người, từ hai người trở lênđược gọi là tội phạm được thực hiện dưới hình thức Đồng phạm

Do đặc tính nguy hiểm cao của tội phạm được thực hiện dưới hình thức Đồng phạmnên Bộ luật hình sự đã có quy định riêng về truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng hìnhphạt đối với những người cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhằm trừng tri nghiêm khắcđối với những trường hợp đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhànước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

2 Điều kiện của Đồng phạm.

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm chonên đồng phạm trong việc thực hiện một tội phạm được thể hiện bằng hai điều kiện sauđây:

2.1/ Điều kiện về khách quan:

Điều kiện về khách quan của đồng phạm: Là phải có ít nhất hai người có năng lựctrách nhiệm hình sự và cùng tham gia thực hiện một tội phạm (tức là phải có sự liên kết vềkhách quan giữa các hành vi của mỗi người trong đồng phạm)

Được coi là giữa những người trong đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tộiphạm là mỗi người tham gia vào đồng phạm phải có ít nhất một trong bốn loại hành vi đối

Trang 7

với việc thực hiện một tội phạm, đó là: hành vi thực hành, hành vi tổ chức, hành vi xúigiục, hành vi giúp sức.

Giữa các hành vi của mỗi người trong đồng phạm có mối liên kết thống nhất vớinhau, hành vi của người này quyết định hành vi của người khác và hành vi của mỗi người

là điều kiện hỗ trợ cho hoạt động chung

Trong các hành vi trong đồng phạm thì hành vi của người thực hành là nguyên nhântrực tiếp làm phát sinh hậu quả còn các loại hành vi khác thông qua hành vi người thựchành mà gây ra hậu quả

*/ Có hai người có năng lực trách nhiệm hình sự trở lên cùng thực hiện một tội phạm,điều kiện này quy định về số lượng người và số lượng tội phạm được thực hiện trong đồngphạm

Nội dung của điều kiện này nó thể hiện hai vấn đề chính sau đây:

- Thứ nhất: Số lượng người thực hiện tội phạm trong đồng phạm ít nhất phải có từ haingười trở lên tham gia

Việc quy định số lượng người trong Đồng phạm là bắt buộc để phân biệt với trườnghợp thực hiện bởi một người thì không được coi là đồng phạm trong việc thực hiện tộiphạm Bộ luật hình sự không quy định số người tối đa tham gia thực hiện tội phạm dướihình thức đồng phạm là bao nhiêu nhưng tối thiểu cũng phải từ hai người trở lên

Những người trong Đồng Phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự vàđạt độ tuổi theo luật đinh, tức là phải đủ điều kiện của một chủ thể của tội phạm Nếu mộttrong những người nói trên là người không đủ dấu hiệu của một chủ thể của tội phạm thìngười đó không dược coi là thành viên trong đồng phạm Năng lực trách nhiệm hình sự và

độ tuổi theo luật đinh được quy định trong Điều 13 và Điều 12 cuả Bộ Luật Hình Sự Cụthể như sau:

“ Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 13 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần

hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của

Trang 8

mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình

trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phái chịu trách nhiệm hình sự ”

- Thứ hai: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức Đồng phạm phải là một tội phạmđộc lập

Một tội phạm độc lập là một tội phạm cụ thể có đủ các dấu hiệu được quy định trongcấu thành tội phạm Những người tham gia tội phạm được quy định dưới hình thức đồngphạm phải có những hành vi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm độc lập đó Hành vi củanhững người này có thể là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm hoặc có thể là hành vi khácgiúp cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi như hành vi thiết kế cho việc thực hiện tộiphạm, vạch kế hoạch, động viên những người tham gia khác, giúp về vật chất hoặc tinhthần cho người thực hiện tội phạm những hành vi này có thể được thể hiện bằng hành độngnhưng cũng có thể thực hiện bằng không hành động, nhưng gián tiếp giúp cho người khácthực hiện được tội phạm theo dự định đã vạch ra ban đầu

Những hành vi thực hiện tội phạm dưới hình thức đồng phạm có thể bắt đầu ngay từđầu, có thể tham gia khi tội phạm xẩy ra Những điểm cơ bản để xác định hành vi của mỗingười trong đồng phạm đều tạo điều kiện cho hành vi của người khác cùng thực hiện mộttội phạm

*/ Những người trong Đồng Phạm có chung hành động và hướng tới mọi kết quảchung

Do tội phạm được thực hiện dưới hình thức Đồng Phạm phải do từ hai hoặc nhiềungười trở lên, cho nên những người thực hiện tội phạm dưới hình thức Đồng Phạm phải cóchung hành động

Trang 9

Chung hành động trong việc thực hiện tội phạm dưới hình thức Đồng Phạm được thểhiện ở chỗ hành vi của mỗi người có mối quan hệ qua lại lẫn nhau giữa tổng thể các hành

vi phạm tội, hành vi của người này tạo nên những khả năng thuận lợi cho hành vi củanguời khác, hành vi của mỗi nguời góp thành hoạt động chung của cả nhóm trong việcthực hiện tội phạm Trong thực tế có nhiều hình thức đồng phạm khác nhau, có loại đuợcthực hiện duới hình thức cộng đồng để hành động Có nghĩa rằng tất cả mọi nguời tronghoạt động tội phạm đều giữ vai trò là nguời thực hành, trong loại đồng phạm này hành vicủa mỗi nguời đều có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Ví dụ: Trong một vụ án cố ý gâythuong tích, tất cả những nguời tham gia tấn công nạn nhân nhu đấm, đá gây nên thuongtích cho nguời bị hại Nguợc lại có hình thức đồng phạm duới dạng phân công vai trò, mỗithành viên trong đồng phạm làm một việc nhất định và chỉ có nguời thực hành mới trựctiếp thực hiện tội phạm Nhu vậy nếu tách riêng hành vi của tất cả các thành viên nói trênthì không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Nhu vậy đồng phạm hình thức này, hành vicủa mỗi nguời tạo thành hành vi chung của cả nhóm và đạt một kết quả chung trong thựchiện tội phạm

Hậu quả tội phạm đuợc thực hiện duới hình thức đồng phạm là kết quả chung của cáchành vi của mỗi nguời trong đồng phạm Điều đó có nghĩa rằng hành vi riêng biệt của mỗinguời có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chung của tội phạm đuợc thực hiện duới hìnhthức đồng phạm Thế nhung, hành vi của mỗi nguời trong đồng phạm có mức độ ảnhhuởng khác nhau đối với hậu quả của tội phạm, song hành vi của nguời thực hành lànguyên nhân trực tiếp phát sinh hậu quả Những hành vi của nguời đồng phạm khác hổ trợcho hành vi của nguời thực hành để nguời thực hành gây ra hậu quả của tội phạm nhu :Hành vi cung cấp công cụ, phuong tiện, cung cấp thông tin về thời gian hoạt động của nạnnhân, tạo ra các thời co cho việc thực hiện các tội phạm

Chính vì vậy hành vi của nguời khác trong đồng phạm (Hành vi của nguời tổ chức,nguời xúi giục, nguời giúp sức), phải xẩy ra truớc hành vi của nguời trực tiếp thực hiện tộiphạm Riêng hành vi của nguời giúp sức có thể xẩy ra đồng thời hoặc xẩy ra sau khi cóhành vi thực hiện tội phạm của nguời thực hành Ví dụ nhu hành vi che dấu nguời thựchành sau khi tội phạm đuợc thực hiện nhung nói chung tất cả các hành vi của những nguờitrong đồng phạm đều là nguyên nhân tổng hợp gây ra hậu quả

2.2/ Điều kiện về chủ quan.

Trang 10

về điều kiện chủ quan Đồng Phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều

có lỗi cố ý (tức là phải có sự hên kết về mặt chủ quan giữa những người trong đồng phạm).Ngoài ra đối với những tội phạm có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc,Đồng phạm đòi hỏi những nguời cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó

*Dấu hiệu lỗi

Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi nguời Đông phạm không chỉ cố ývới hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những nguời đồngphạm khác Lỗi cố ý trong đồng phạm đuợc thể hiện trên hai mặt nhu sau:

+ Về lý trí: Đuợc hiểu là cùng lý trí giữa những nguời trong đồng phạm khi thoả mãncác điều kiện sau:

- Mỗi nguời trong đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và

đều biết nguời khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình

- Mỗi nguời trong đồng phạm phải thấy truớc hậu quả của hành vi của mình cũng nhu

hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện

Mỗi thành viên đều cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình Họ đềunhận thức đuợc hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có thể gây nên hậu quảnguy hiểm cho xã hội, nhung mỗi nguời đều cố tình thực hiện và mong muốn hậu quả xẩy

ra Mỗi thành viên trong đồng phạm đều thấy truớc hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thểxẩy ra và mong muốn cho hậu quả xẩy ra hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra

+ Về ý chí: Đuợc hiểu là cùng ý trí giữa những nguời trong đồng phạm khi thoả mãncác điều kiện sau:

- Giữa những nguời đồng phạm cùng mong muốn có sự hên kết của các hành vi.

- Giữa những nguời đồng phạm cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức bỏ mặc cho

hậu quả chung phát sinh

Mỗi thành viên trong đồng phạm đều biết hành vi của nguời khác cũng là cố ý tức làbiết đuợc hành vi của nguời khác cùng thực hiện với mình đều là hành vi nguy hiểm cho

xã hội Mỗi thành viên trong đồng phạm đều mong muốn sự cố ý của những nguời đồngphạm khác để tạo nên sức mạnh chung cho hoạt động của cả nhóm

Trang 11

Trong đa số các trường hợp, những người đồng phạm trong việc thực hiện tội phạmđều mong muốn cho hậu quả xẩy ra nên họ rất tích cực thực hiện hành vi của mình.

* Động co mục đích trong đồng phạm

Do tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm luôn có sự cố ý của nhữngngười thực hiện tội phạm cho nên mỗi người tham gia thực hiện tội phạm đều có động co,mục đích phạm tội

Động co mục đích của người tham gia thực hiện tội phạm dưới hình thức đồng phạm

có thể trùng hoặc có thể khác nhau Điều đó không ảnh hưởng đến việc xác định tội danhcũng như xác định tính chất đồng phạm của họ trong việc thực hiện tội phạm Tuy nhiêntrong Luật hình sự có một số tội phạm có dấu hiệu chung mục đích của những người đồngphạm là bắt buộc Chung mục đích được thể hiện ở chổ tất cả những người trong đồngphạm đều hướng tới một mục đích hoặc thành viên trong đồng phạm biết rõ và tiếp nhậnmục đích của những người đồng phạm khác

Tóm lại: Đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên có đủ năng lực tráchnhiệm hình sự cùng cố ý thực hiện một tội phạm Để xác định đồng phạm cần phải dựavào các điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan được thể hiện trong mỗi thành viêntham gia thực hiện dưới hình thức đồng phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giátính chất, mức độ phạm tội của tội phạm cũng như của mỗi người tham gia thực hiện tộiphạmị

Trang 12

CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI NGƯỜI TRONG ĐỒNG PHẠM.

Trong đồng phạm có bốn loại người sau đây:

1 Người thực hành.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm Người trực tiếp thực hiện tộiphạm là người tự mình thực hiện tội phạm hoặc thông qua các hành vi của người không đủnăng lực trách nhiệm hình sự hoặc không đủ độ tuổi để họ thực hiện tội phạm

Như vậy người thực hiện có hai loại:

- Thứ nhất: Người thực hành tự mình thực hiện tội phạm là người trực tiếp thực

hiện đầy đủ các hành vi được quy định trong cấu thành tội phạm Sự tự mình này có thểđược thực hiện trực tiếp bằng hành vi của người phạm tội như sử dụng chân, tay hoặc cóthể thực hiện các hành vi phạm tội thông qua sự hỗ trợ của các loại công cụ, phưong tiệnkhác nhau

Một tội phạm có thể có một người thực hành hoặc có thể nhiều người thực hành.Trong trường hợp có một người thực hành thì người thực hành đó thể hiện hết các hành viđược quy định trong cấu thành tội phạm

Trong trường hợp có nhiều người thực hành bằng nhiều hành vi thì không nhất thiếtmỗi người phải thực hiện trọn vẹn tất cả các hành vi trong cấu thành tội phạm mà mỗingười chỉ cần thực hiện một phần của hành vi này được quy đinh trong cấu thành tộiphạm Nhưng tổng hợp hành vi của những người đồng phạm thoả mãn các dấu hiệu trongcấu thành tội phạm

- Thứ hai : Người thực hành thực hiện hành vi phạm tội thông qua những người

không đủ năng lực trách nhiệm hình sự Tức là người thực hành không tự mình trực tiếpthực hiện hành vi khách quan mà có hành vi tác động đến người khác để người này trựctiếp thực hiện hành vi khách quan Những người bị tác động là người trực tiếp thực hiệnhành vi khách quan họ không phải chịu trách nhiệm hình sự Chúng thuộc các trường hợpphổ biến sau:

+ Do họ không có năng lực trách nhiệm hình sự

Trang 13

Người thực hành thực hiện hành vi phạm tội thông qua những người không đủ nănglực trách nhiệm hình sự Là trường họp người thực hiện không trực tiếp tự mình thực hiệnhành vi phạm tội nhưng người thực hành trong trường hợp này có hành vi tác động đếnngười không đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự quy định để những ngườinày thực hiện hành vi phạm tội Ví dụ thuê em bé 13 tuổi đưa thuốc phiện qua biên giới.+ Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý Trong thực tế xẩy ra các trường hợp ngườikhông có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vì sai lầm, hoặc bị lừa dối,hoặc bị người khác cưỡng bức về thể chất mà phải thực hiện hành vi đó thì bản thân họcũng không chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ trường hợp gửi quà trong đó có thuốc phiện

mà người vận chuyển không biết đó là thuốc phiện

+ Họ bị cưỡng bức về tinh thần trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.Như vậy trong trường hợp này, người thực hành thực hiện hành vi phạm tội mangđặc tính gián tiếp tác động vào quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ Nhưng họ vẫnđược coi là người tự mình thực hiện hành vi phạm tội vì đã sử dụng người không đủ nănglực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi phạm tội thay mình

Khi xác định người thực hiện trong đồng phạm cần xác định đảm bảo đúng các điềukiện sau đây:

-Người thực hành phải đủ điều kiện của một chủ thể của tội phạm trong việc thực

hiện hành vi phạm tội Tuỳ theo quy định của Luật Hình sự trong từng tội phạm chủ thểnào thì người thực hành phải mang dấu hiệu của chủ thể đó

-Hành vi phạm tội của người thực hành có ý nghĩa trong việc xác định đúng tính chất

mức độ nguy hiểm của tội phạm Do vậy trong tội phạm được thực hiện dưới hình thứcđồng phạm thì cần thiết xác lập hành vi phạm tội của người thực hành để xác định mức độphạm tội của những người đồng phạm khác

2 Người tổ chức.

Người tổ chức được quy định tại Khoản 2, Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 bao gồm 3loại người như sau:

- Người chủ mưu: là người chủ động về mặt tinh thần gây ra việc thực hiện tội phạm, là

người có sáng kiến thành lập tổ chức phạm tội, người đưa ra phưong hướng,cách thức thực hiện tội phạm, tổ chức lôi kéo những kẻ khác tham gia vào việc thực hiện

Trang 14

tội phạm Người chủ mưu có thể tham gia hoặc có thể không tham gia vào việc thành lập

tổ chức

- Người cầm đầu: Là người đứng ra thành lập các băng nhóm phạm tội hoặc có

hành vi tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công giao trách nhiệm cho đồng bọn.Người cầm đầu là người đứng đầu tổ chức phạm tội, người đứng ra thành lập các băng, ổnhóm hoặc tham gia soạn thảo kế hoạch, đôn đốc điều khiển mọi hoạt động của tổ chức.Người cầm đầu bao giờ cũng đứng trong tổ chức để chỉ đạo mọi hoạt động của tổ chức tộiphạm

- Người chỉ huy: Là người trực tiếp điều khiển hoạt động của các băng nhóm phạm

tội, là người điều khiển trực tiếp việc thực hiện tội phạm của những người tham gia trongđồng phạm, người chỉ huy giữ vai trò đôn đốc những người đồng phạm khác thực hiện kếhoạch phạm tội đã đặt ra

Trong các loại người tổ chức thì người chủ mưu giữ vai trò quan trọng nhất, tínhnguy hiểm của người chủ mưu thể hiện ở chỗ vạch ra phưong hướng hoạt động tội phạm

và cách thức để phát triển, xây dựng tổ chức phạm tội Chính vai trò của người chủ mưunhư vậy cho nên người chủ mưu thường là người có kinh nghiệm trong việc thực hiện tộiphạm và đối phó với hoạt động của co quan điều tra khám phá tội phạm

Trong thực tế người chủ mưu, người cầm đầu, người chỉ huy có thể được tách riêngnhưng cũng có thể thống nhất trong một người Một người vừa là người chủ mưu, cầm đầuchỉ huy, điều đó phụ thuộc vào tính chất của tội phạm và số lượng người tham gia trongđồng phạm

Tóm lại, trong mối quan hệ với những người đồng phạm khác, người tổ chức làngười giữ vai trò thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt động của nhóm đó.Người thành lập là người đã đề xướng việc thiết lập nhóm đồng phạm hoặc chỉ làngười đã thực hiện việc đề xướng đó như rủ rê, lôi kéo người khác tham gia vào nhómđồng phạm, thiết lập các mối liên hệ tổ chức giữa những người đồng phạm với nhau

- Người điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm bao gồm những người giữ vaitrò điều khiển hoạt động chung của toàn nhóm như vạch phưong hướng hoạt động, vạchcác kế hoạch thực hiện, phân công vai trò, nhiệm vụ cho những người đồng phạm khác

- Những người chỉ giữ vai trò trực tiếp điều khiển việc thực hiện vụ việc phạm tội cụ

thể của nhóm đồng phạm

Trang 15

Với vai trò như vậy người tổ chức luôn luôn được coi là người có hành vi nguy hiểmnhất trong vụ đồng phạm Do vậy trong nguyên tắc xử lý được quy định ở Điều 3 Bộ luậtHình sự người chủ mưu cầm đầu chỉ huy đã bị coi là loại đối tượng cần phải nghiêm tn.

3 Người xúi giục.

Người xúi giục là người dụ dỗ, kích động, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người xúi giục có 2 đặc điểm sau:

- Tác động đến tư tưởng người khác bằng thủ đoạn kích động, dụ dỗ thúc đẩy khiến

người này hình thành ý đinh phạm tội

Sự kích động dụ dỗ thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm được thể hiện ở chổngười xúi giục có hành vi tác động mang đến tư tưởng, ý chí của người khác làm ngườikhác từ chưa có ý định phạm tội, hoặc người đang chần chừ trong việc thực hiện tội phạm

đi đến nảy sinh ý định phạm tội và đi đến thực hiện tội phạm hoặc quyết tâm thực hiện tộiphạm đến cùng Chính vì vậy người xúi giục luôn được thực hiện bằng hành động cụ thể

Để xác định vai trò của người xúi giục với hành vi thực hiện tội phạm của người thực hànhcần xác lập quan hệ nhân quả Mối quan hệ nhân quả được thể hiện ở chổ chính hành vixúi giục đã dẫn đến hành vi thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục xẩy ra trước hành vi thựchiện tội phạm xảy ra sau

- Hành vi xúi giục phải nhằm vào một, một số người cụ thể và phải nhằm gây ra việc

thực hiện một tội phạm nhất định

Những đặc điểm của hành vi xúi giục thường là thể hiện bằng lời nói, bằng các thủđoạn khác nhau như kích động, cưỡng ép lừa phỉnh, nhưng hành vi xúi giục phải hướngvào một tội phạm cụ thể, hướng vào một số người nhất định để họ đi đến thực hiện hành vitrong cấu thành tội phạm cụ thể

Nhưng người xúi giục cũng có thể chỉ có tác động thúc đẩy người khác thực hiện ýđịnh phạm tội đã có Người xúi giục cũng có thể cùng tham gia vào việc phạm tội nhưngcũng có thể không Trong vụ án cụ thể việc nghiên cứu các thủ đoạn của người xúi giục làcần thiết, một mặt để xác định là chính những biện pháp ấy đã tác động đến người bị xúigiục, đưa người này đến chổ phạm tội Mặt khác cũng để thấy là người bị xúi giục tuy có

bị thúc đẩy nhưng đã tự ý mình phạm tội

Hành vi xúi giục phải trực tiếp nghĩa là kẻ xúi giục phải nhằm vào một hoặc một số

Trang 16

người nhất định Việc kêu gọi hô hào mà không hướng tới những người xác định thì khôngphải hành vi xúi giục.

Hành vi xúi giục phải cụ thể nghĩa là phải nhằm gây ra việc thực hiện tội phạm nhấtđịnh việc truyền bá, phổ biến, gieo rắc những tư tưởng xấu cho mọt người hoặc một sốngười và khiến những người này đi vào con đường phạm tội cũng không phải là hành vixúi giục trong đồng phạm mà chỉ có thể cấu thành tội độc lập khác như tội dụ dỗ, ép buộc

Về mặt chủ quan cần xác định người xúi giục có ý định rõ ràng thúc đẩy người khácphạm tội Những người có lời nói hoặc việc làm có thể gây ảnh hưởng đến việc phạm tộicủa người khác nhưng không có ý định thúc đẩy người này phạm tội thì cũng không phải

là người xúi giục

Hành vi xúi giục có mức độ nghiêm trọng khác nhau tuỳ bản chất của người xúi giục

và người bị xúi giục cũng như tuỳ mối quan hệ giữa họ với nhau Lợi dụng chức vụ quyềnhạn, tôn giáo, tín ngưỡng, sự nhẹ dạ của người chưa thành niên thúc đẩy họ phạm tội lànhững trường hợp nghiêm trọng

4 Người giúp sức.

Người giúp sức là người tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần cho việc thực hiện tội phạm.

Người giúp sức có 2 dạng như sau:

- Giúp sức về vật chất: Là dạng cung cấp công cụ, phưong tiện cho người khác sử

dụng để thực hiện tội phạm

- Giúp sức về tinh thần: Như chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình hoặc hứa hẹn

trước sẽ che giấu tội phạm hoặc hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ tang vật

Hành vi của người giúp sức là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tộiphạm Những điều kiện thuận lợi đó bao gồm cung cấp các công cụ phưong tiện dùng vàoviệc thực hiện tội phạm Cung cấp các thông tin cần thiết hên quan đến tội phạm địnhphạm, chỉ dẫn góp ý kiến cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi

Do vậy có thể là trường hợp của những người có nghĩa vụ pháp lý phải hành độngnhưng đã cố ý không hành động và qua đó đã loại trừ trở ngại khách quan ngăn cản việcthực hiện tội phạm của người trực tiếp thực hiện tội phạm tạo điều kiện cho người đó cóthể thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm được đến cùng

Trang 17

Ví dụ: A khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ đã phát hiện ra B là bạn mình đang mang tàisản vừa lấy được trong kho của co quan ra khỏi khu vực co quan nhưng đã không bắt giữ

mà để cho B tiếp tục thực hiện hành vi đó

Dạng giúp sức đặc biệt đã được thực tiễn xét xử từ trước đến nay thừa nhận và coi làdạng giúp sức bằng lời hừa hẹn trước sẽ che dấu người phạm tội, che dấu các tang vậtchứng hoặc sẻ tiêu thụ các đồ vật, tài sản do phạm tội mà có sau khi tội phạm đã thực hiệnxong Lời hứa hẹn trước của người giúp sức tuy không tạo ra những điều kiện thuận lợi cụthể nhưng cũng có những tác động tích cực vào quá trình thực hiện tội phạm, củng cố thêmlòng tin, tạo sự yên tâm cho người thực hành khi thực hiện hành vi phạm tội Sực tác độngnày thể hiện ở chổ đã cũng cố ý định phạm tội, cũng cố quyết tâm phạm tội hoặc quyết tâmphạm tội đến cùng của người trực tiếp thực hiện tội phạm Hành vi thực hiện tội phạm cóthể xảy ra hay không xảy ra, có thể tiếp tục xảy ra hay dừng lại đều có thể phụ thuộc vàolời hứa hẹn của người giúp sức Chính do có sự tác động tinh thần như vậy mà Luật hình

sự Việt Nam đã coi hành vi hứa hẹn cũng là dạng giúp sức tinh thần, người hứa hẹn cũng

là đồng phạm với vai trò là người giúp sức Lời hứa hẹn của người giúp sức có thể xẩy ratrước khi quá trình thực hiện tội phạm bắt đầu nhưng cũng có thể xẩy ra khi quá trình đóđang diễn ra, nếu hành vi giúp sức xảy ra sau khi tội phạm đã hoàn thành thi người giúpsức đó không phải là đồng phạm giúp sức trong vụ án đó mà hành vi đó có thể cấu thànhtội che dấu tội phạm hoặc tội tiêu thụ đồ vật tài sản do người khác phạm tội mà có

Hành vi giúp sức thường được thực hiện trước khi người thực hành bắt tay vào hànhđộng phạm tội nhưng cũng có những trường hợp người giúp sức tham gia khi tội phạmđang tiến hành Hành vi hứa hẹn, bàn bạc, góp ý của người giúp sức có thể nhầm lẫn vớihành vi xúi giục, người giúp sức khác người xúi giục ở chổ hành vi giúp sức không có tínhchất quyết định trong việc kích động người khác phạm tội thực hiện tội phạm Mà họ chỉgiúp người khác vốn đã có ý định phạm tội thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện tội phạmhoặc yên tâm hon khi thực hiện tội phạm

Tóm lại qua sự phân tích trên thì Luật hình sự Việt Nam hiện nay chỉ quy định bốnloại người đồng phạm, đó là: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúpsức Như vậy đối với trường họp tội phạm được thực hiện bởi một hay nhiều tổ chức baogồm nhiều nguời nhằm mục đích phạm tội (mà ta hay gọi là tổ chức tội phạm, ví dụ: tổchức tội phạm ma tuý) thì đối với những nguời thành lập, tham gia tổ chức tội phạm đó mà

Ngày đăng: 12/03/2020, 22:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w